THỰC TRẠNG CUNG CẤP CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC II - HAIBÀ TRƯNG 2.1 - KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC II
Trang 1THỰC TRẠNG CUNG CẤP CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC II - HAI
BÀ TRƯNG
2.1 - KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC II - HAI BÀ TRƯNG.
2.1.1 - Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh
Ngân hàng Công thương Việt Nam là một trong bốn Ngân hàng Thương mạiquốc doanh lớn ở Việt Nam, có một mạng lưới tổ chức rộng lớn, bao gồm trụ sởchính tại Hà nội cùng với 68 chi nhánh phụ thuộc và 30 chi nhánh trực thuộc.Trong đó chi nhánh Ngân hàng Công thương Khu vực II - Hai Bà Trưng là mộttrong những chi nhánh hoạt động hiệu quả, có được vị trí quan trọng trong toàn hệthống Ngân hàng Công thương Việt nam
Sự ra đời và phát triển của chi nhánh Ngân hàng Công thương Khu vực II Hai Bà Trưng gắn liền với tiến trình đổi mới của Ngân hàng Công thương Khi haipháp lệnh Ngân hàng được ban hành năm 1990 Ngân hàng Công thương quận Hai
-Bà Trưng đã chuyển từ chi nhánh Ngân hàng Nhà nước sang trực thuộc thành phố
Hà Nội Năm 1993, Ngân hàng Công thương có sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức :
bỏ qua Ngân hàng Công thương cấp thành phố chỉ còn Ngân hàng Công thươngcấp quận Sự thay đổi này nhằm giảm bớt các khâu không cần thiết, mọi văn bản,báo cáo của chi nhánh gửi trực tiếp đến hội sở chính, bỏ qua các cấp trung gianv v Do vậy, ngày 01 tháng 04 năm 1993, Tổng giám đốc Ngân hàng Côngthương Việt Nam có quyết định thành lập chi nhánh Ngân hàng Công thương Khuvực II - Hai Bà Trưng trực thuộc Ngân hàng Công thương Việt Nam tại số 306-BàTriệu nay chuyển về số 285 - Trần Khát Chân
Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng Công thương Khu vực II - Hai BàTrưng luôn bám sát và thực hiện định hướng vừa kinh doanh tiền tệ - tín dụng-dịch vụ Ngân hàng trong cơ chế thị trường có hiệu quả và an toàn, vừa góp phầntăng trưởng kinh tế và thực thi chính sách tiền tệ của nhà nước
Trong mười năm hoạt động gần đây kể từ khi là chi nhánh của Ngân hàngCông thương Việt Nam, cùng với sự trưởng thành và phát triển của Ngân hàngCông thương Việt Nam Ngân hàng Công thương Khu vực II - Hai Bà Trưng đã trảiqua nhiều khó khăn và thử thách để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị
Trang 2trường Tập thể lãnh đạo và cán bộ công nhân viên đã quyết tâm phấn đấu thựchiện có hiệu quả các chức năng và nhiệm vụ mà cấp trên giao phó Đến nay chinhánh đã khẳng định được vị trí vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường,đứng vững và phát triển trong có chế mới, chủ động mở rộng mạng lưới giao dịch,
đa dạng hoá các mặt kinh doanh, dịch vụ tiền tệ Ngân hàng, thường xuyên tăngcường có sở vật chất kỹ thuật để từng bước đổi mới công nghệ - hiện đại hoá Ngânhàng
Mục tiêu chi nhánh đề ra là " Vì sự thành đạt của mọi người, mọi nhà, mọidoanh nghiệp Sự thành đạt của doanh nghiệp cũng chính là sự thành đạt của Ngânhàng " Chính nhờ có đường lối đúng đắn mà kết quả kinh doanh của Ngân hàngluôn có lãi và năm sau luôn cao hơn năm trước, đóng góp lợi ích cho Nhà nướcngày càng nhiều, đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng được cải thiện
Để có được một kết quả như vậy là do chi nhánh đã củng cố và xây dựngđược một hệ thống tổ chức tương đối hợp lý, phù hợp với khả năng và trình độquản lý, hoạt động kinh doanh của mình
2.1.2 - Cơ cấu tổ chức của chi nhánh Ngân hàng Công thương Khu vực II - Hai
Bà Trưng.
Chi nhánh Ngân hàng Công thương Khu vực II - Hai Bà Trưng là một chinhánh trực thuộc Ngân hàng Công thương Việt Nam, với sự chỉ đạo của Ngânhàng Công thương Việt Nam, ban lãnh đạo của chi nhánh đã kết hợp chặt chẽnhững thay đổi chính sách đầu tư tín dụng với cải tiến để cơ cấu lại tổ chức chophù hợp với nền kinh tế thị trường Từ chỗ chỉ có hai nơi giao dịch đến nay ngoàitrụ sở chính - 285 Trần Khát Chân, Ngân hàng đã mở thêm các phòng giao dịchnhư : Phòng giao dịch chợ Hôm, Trương Định, cùng với một cửa hàng kinh doanhvàng bạc ngoại tệ và 12 quỹ tiết kiệm
Về cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Công thương Khu vực II - Hai Bà Trưng,tại trụ sở chính có một Giám đốc, dưới quyền và chịu trách nhiệm với Giám đốc là
03 Phó Giám đốc Mỗi Phó giám đốc điều hành và quản lý một số các phòng ban ,tại chi nhánh gồm có các phòng ban sau :
Trang 3- Phòng thông tin điện toán
- Phòng kế toán - tài chính
- Phòng kho quỹ
- Phòng kiểm soát
- Phòng tiếp dân
Các phòng ban này được chuyên môn hoá hoạt động theo chức năng nhiệm
vụ công tác riêng của mình, nhưng đều có trách nhiệm là tham mưu cho Giám đốctrong việc tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng - Nhà nước
và chế độ, thể lệ của Ngân hàng
Ngân hàng có đội ngũ 334 cán bộ công nhân viên, trong đó 60% có trình độĐại học và trên Đại học Với đội ngũ cán bộ này được bố trí hơp lý vào các phòngban theo trình độ nghiệp vụ chuyên môn của từng người Ngân hàng Công thươngKhu vực II - Hai Bà Trưng là một chi nhánh lớn, kinh doanh liên tục có hiệu quảcủa Ngân hàng Công thương Việt Nam Có được vị thế và kết quả hoạt động nhưtrên là do những kinh nghiệm quý báu của lớp lớp cán bộ Ngân hàng kế tiếp nhau,với những khách hàng truyền thống qua gần 45 năm hoạt động trên địa bàn khuvực
Có thể hiểu rõ hơn về bộ máy tổ chức của chi nhánh Ngân hàng Côngthương Khu vực II - Hai Bà Trưng qua sơ đồ sau :
Việc xây dựng một hệ thống quản lý thống nhất với những quy định rõràng khiến hoạt động của chi nhánh được tiến hành nhịp nhàng, hiệu quả cao.Tuy nhiên, để có được một chi nhánh Ngân hàng Công thương phát triển nhưhiện nay không thể bỏ qua một thế mạnh của nó - đó là địa bàn hoạt động khuvực Hai Bà Trưng Đây chính là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởngtrực tiếp đến kết quả hoạt động của Ngân hàng
Trước tiên, phải khẳng định rằng quận Hai Bà Trưng là một trong nhữngquận lớn của thành phố Hà Nội, nơi được đánh giá là có nhiều điều kiện thuận lợi
để Ngân hàng mở rộng địa bàn hoạt động kinh doanh : Khách hàng giao dịch đông,nguồn vốn trong dân cư dồi dào, đời sống nhân dân ổn định Ở đây tập trung rấtnhiều nhà máy lớn như: Tổng công ty giấy Việt Nam , Tổng công ty lâm sản ViệtNam, Tổng công ty dệt Việt Nam, Công ty dầy Thăng Long, Nhà máy đóng tàu HàNội Ngoài ra còn có các tổ chức kinh tế tư nhân, cá thể, v v Hầu hết các tổchức kinh tế trong khu vực tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất khiến hoạt
Trang 4động của chi nhánh ít nhiều phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất Nếu như tại Ngân hàngCông thương Hoàn Kiếm chủ yếu cho vay để phát triển các hoạt động thương mại,dịch vụ thì ở đây các món vay chủ yếu là phục vụ cho quá trính sản xuất kinhdoanh, chi nhánh đã chú trọng đáp ứng phần lớn nhu cầu của khách hàng, giúp cho
họ duy trì sản xuất đều đặn, hoàn thành kế hoạch sản xuất, tạo ra sản phẩm phục vụtrong nước và xuất khẩu
Sự phát triển đa dạng và phong phú của các thành phần kinh tế trong khuvực là một lợi thế để Ngân hàng mở rộng lĩnh vực kinh doanh của mình, không chỉgiới hạn trong các nghiệp vụ nhận gửi và cho vay truyền thống mà còn tạo khảnăng đa dạng hoá các dịch vụ Ngân hàng, đặc biệt dịch vụ thanh toán qua Ngânhàng Không phải Ngân hàng nào cũng có được một thị trường đa dạng và phongphú như địa bàn Hai Bà Trưng Vì khai thác được lợi thế này một cách có hiệu quả,chi nhánh đã khẳng định được vị trí , vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường,đứng vững và phát triển trong cơ chế mới, chủ động mở rộng mạng lưới kinhdoanh, đa dạng hoá các mặt kinh doanh-dịch vụ tiền tệ Ngân hàng, thường xuyêntăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật để từng bước đổi mới công nghệ hiện đại hoáNgân hàng theo phương châm : " Phát triển, an toàn và hiệu quả"
2.1.3-Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh
a - Hoạt động huy động vốn.
Trong những năm gần đây, với phương châm "tự chủ về nguồn vốn, đi vay
để cho vay" do đó việc khai thác các nguồn vốn tiềm tàng trong xã hội là mục tiêuhàng đầu được đặt ra Bằng các hình thức huy động vốn hấp dẫn và phong phú,nhạy bén trong công tác tiếp thị, đổi mới phong cách giao dịch và phát triển mạnglưới các quỹ tiết kiệm hợp lý, Ngân hàng Công thương Khu vực II - Hai Bà Trưng
đã thu hút được nguồn tiền gửi lớn của các tầng lớp dân cư và các tổ chức kinh tế
Tính đến 31/12/2001
Tổng nguồn vốn huy động đạt 1579 tỷ đồng tăng so với cuối năm 2000 là
216 tỷ, tốc độ tăng là 15,8% và đạt 107,9% so với kế hoạch
Ta có thể thấy rõ hơn về sự tăng trưởng nay qua bảng sau :
Trang 5BẢNG 1 : CƠ CẤU NGUỒN VỐN
B1 [ 1,2]
Qua bảng số liệu sau cho thấy:
- Các chỉ tiêu huy động vốn của Ngân hàng đều tăng so với năm 2000 cụ thểlà: Tiền gửi các tổ chức kinh tế tăng với số tuyệt đối là 130 tỷ, với tốc độ tăng là32,7% Tiền gửi dân cư tăng 86 tỷ, với tốc độ tăng là 8,9%, Tiền gửi VND tăng 49
tỷ, với tốc độ tăng là 4,4% và tiền gửi ngoại tệ tăng là 165 tỷ, với tốc độ tăng là63,9% Điều này chứng tỏ chi nhánh đã làm tốt công tác huy động vốn, nguồn vốntăng liên tục và ổn định, đáp ứng thoả mãn nhu cầu hoạt động đầu tư tín dụng củachi nhánh
- Cơ cấu huy động vốn của Ngân hàng đã có nhiều chuyển biến tích cựctheo hướng vừa tăng trưởng vững chắc vừa có lợi cho kinh doanh
+ Nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng nhiều so với cuối năm 2000,với tỷ lệ tăng 32,7%-tỷ lệ này là khá lý tưởng đối với một Ngân hàng Thương mại,
vì nguồn này thường ổn định và lãi suất phải trả thấp
+ Nguồn tiền gửi bằng ngoại tệ cũng tăng mạnh, tăng với tỷ lệ là 63.9% sovới cùng kỳ năm 2000 Nguồn này giúp cho Ngân hàng đáp ứng cho hoạt độngkinh doanh ngoại hối và thanh toán quốc tế
Đây chính là mặt rất thuận lợi trong hoạt động đầu vào, nó sẽ tạo điều kiệnthúc đẩy đầu ra của chi nhánh
b - Hoạt động sử dụng vốn
Cũng như bất kỳ một Ngân hàng Thương mại nào, công tác sử dụng vốn vẫngiữ vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, vì đây là hoạt độngđem lại thu nhập chính cho Ngân hàng Hiểu được tình hình sử dụng vốn của Ngân
Trang 6hàng sẽ đem lại một cái nhìn thấu đáo hơn về hoạt động của Ngân hàng, biết đượcNgân hàng đang ở trong tình thế nào và thực sự nguồn vốn huy động đã sử dụngvào mục đích gì ?
Trong công tác sử dụng vốn, chi nhánh Ngân hàng Công thương Khu vực II
- Hai Bà Trưng đã đặt ra mục tiêu : Tạo ra thế "ổn định", đầu tư tín dụng "an toàn
có hiệu quả" và tạo tiền đề để phát triển Với quyết tâm cao, bằng nhiều giải pháptích cực, kịp thời cùng với chủ trương, chính sách đúng đắn của Nhà nước, củangành nhằm thống nhất một mục tiêu chung là "Phục vụ khách hàng một cách tốtnhất" Những nét nổi bất trong hoạt động cho vay của chi nhánh có thể kể đến là :Trong năm qua chi nhánh đã tập trung đầu tư dài hạn cho các khách hàng truyềnthống, tích cực thực hiện tốt công tác tiếp thị, chủ động tìm kiếm thu hút kháchhàng mới và tăng cường tiếp cận dự án khả thi, dư nợ tăng trưởng cao chất lượng
dự nợ được nâng lên rõ rệt Tính đến 31/12/2001 tổng dư nợ cho vay nền kinh tế vàcác khoản đầu tư là 604,3 tỷ đồng tăng 45,9% so với năm 2000
Để có một hướng nhìn toàn diện về công tác sử dụng vốn của chi nhánh taxét đến chỉ tiêu dư nợ
BẢNG 2 : PHÂN TÍCH CƠ CẤU DƯ NỢ
(Đơn vị : triệu đồng)
Chỉ tiêu 31/12/2001 % trong
dư nợ
% so với 31/12/2000
1 Phân theo thành phần kinh tế
2 Phân theo kỳ hạn cho vay
3 Theo nội và ngoại tệ
đã đặt ra mục tiêu của Ngân hàng là phục vụ kinh tế quốc doanh Vì vậy qua bảng
Trang 7phân tích cơ cấu dư nợ, dư nợ của thành phần cơ cấu quốc doanh chiếm tới 91,7%tổng dư nợ, trong khi dư nợ của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chỉ là 9,3%khoảng cách trênh lệch quá lớn giữa hai con số đã khẳng định Ngân hàng vẫn chưathu hút được thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Đây chính là sự mất cân đốicần khắc phục.
Bằng việc nghiên cứu kỹ hồ sơ và đối tượng vay vốn trên cơ sở thẩm định
dự án đảm bảo tính pháp lý có tính khả thi, Ngân hàng Công Thương Hai Bà TrưngNgân đã từng bước đẩy mạnh cho vay các thành phần kinh tế nhất là các doanhnghiệp làm ăn có hiệu quả Đặc biệt, khối kinh tế quốc doanh và doanh số cho vayliên tục tăng góp phần giúp cho nhiều doanh nghiệp thuộc ngành kinh tế mũi nhọncủa thành phố để đổi mới trang thiết bị công nghệ, nhập nguyên liệu, nâng cao chấtlượng sản phẩm Năm qua tổng số có 22 dự án được thẩm định và 17 dự án đượcphát tiền vay, do đó đưa tốc độ dư nợ trung và dài hạn tăng lên 121,2% so với năm
2000 Đây là hướng đầu tư phù hợp góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoáhiện đại hoá đất nước
Qua phân tích ở trên ta thấy công tác sử dụng vốn của chi nhánh lấy mụctiêu "phát triển, an toàn, và hiệu quả" đã bước đầu đi vào ổn định Ngân hàng đãtập trung mở rộng đầu tư đối với khu vực kinh tế quốc doanh, những dự án lớn,khả thi và có hiệu quả, chủ động tạo mọi thuận lợi hỗ trợ tích cực cho các doanhnghiệp được vay vốn Ngân hàng, đã tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh.Ngoài ra chi nhánh cũng đã đa dạng hoá việc đầu tư của mình bằng nhiều nguồnvốn khác nhau như ngoại tê, nội tệ, các nguồn tài trợ uỷ thác, cho vay tạo việc làm,hùn vốn liên doanh ngày càng đáp ứng tốt hơn đòi hỏi cao của khách hàng
c Kết quả kinh doanh
Những năm cuối của thể kỷ 20, đầu thể kỷ 21 có những vị trí hết sức quantrọng trong tiến trình đổi mới, đưa nền kinh tế bước sang giai đoạn phát triển chiềusâu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, từng bước hội nhập vàokinh tế khu vực và thế giới Là một lĩnh vực nhậy cảm, đòi hỏi phải có những bước
đi thận trọng trong quá trình đổi mới, hệ thống Ngân hàng nói chung và Ngân hàngCông thương Khu vực II - Hai Bà Trưng nói riêng, có những nhiệm vụ rất nặng nề,vừa phải khắc phục những tồn tại cũ, vừa phải vươn lên để đáp ứng nhu cầu củamình trong tình hình mới, trước những khó khăn thách thức lớn phải vượt qua Ýthức được mặt mạnh mặt yếu của mình, trong những năm qua chi nhánh luôn tích
Trang 8cực tìm ra phương hướng hình thức nâng cao hiệu quả hoạt động Chính vì vậyluôn được đánh giá là một chi nhánh "ổn định, an toàn, hiệu quả và phát triển".
Để có cái nhìn toàn diện về kết quả kinh doanh của ngân hàng, ta xem xétbảng sau:
BẢNG 3 : KẾT QUẢ KINH DOANH
111.466,439.229,172.237,3
93.350,935.452,757.898,2
2 Chi phi
- Chi phí về hoạt động kinh doanh
- Chi nộp thuế
- Chi dịch vụ thanh toán
- Chi nhân viên
- Chi khác
87.033,379.452,6480,4150,44.097,62.852,5
96.435,187.998,590,4154,94.964,73.227,4
76.426,963.422,3175,4158,47.349,8532,1
- Đối với công tác huy động vốn, có thể nói Ngân hàng đã đạt được sự tăngtrưởng đáng kể Tổng nguồn vốn huy động đến ngày 31/12/2001 đạt 1,579 tỷ đồng,tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước và đạt 107,9% so với kế hoạch Với doanh sốtrên Chi nhánh được đánh giá là một trong những Ngân hàng có vốn huy động tiếtkiệm lớn trên địa bàn Hà Nội
- Công tác sử dụng vốn ở Ngân hàng cũng đạt được kết quả đáng ghi nhận,
dư nợ tín dụng tăng trưởng lành mạnh và vững chắc - cụ thể tổng dư nợ tín dụngcuối năm 2001 tăng 45,9% so với cuối năm 2000, việc tăng này chủ yếu do mởrộng đầu tư đối với thành phần kinh tế quốc doanh - chiếm 91,7% trong tổng dưnợ
Trang 9- Để xem xét tín dụng của Ngân hàng phải đề cập tới vấn để nợ quá hạn(NQH) Việc tổ chức, triển khai, xử lý NQH, Chi nhánh đã thực hiện tốt, phát huytrí tuệ tập thể đảm bảo đúng tinh thần chỉ đạo Bằng những biện pháp cụ thể nênviệc thu NQH của Chi nhánh đã đạt được kết quả đáng khích lệ Với doanh số thuNQH 2,5 tỷ đồng trong đó thu nợ khó đòi 1,4 tỷ đồng, đưa tỷ lệ dư NQH đến31.12.2001 xuống 3,1% trong tổng dư nợ và đầu tư, giảm 1,6% so với cuối năm
2000 Như vậy vấn đề NQH của Chi nhánh đã có những chuyển biến tích cực, nókhông còn là vấn đề không thể giải quyết
Qua phân tích trên chúng ta đã có một cái nhìn khá toàn diện cả về nhữngthuận lợi cũng như khó khăn trong công tác huy động vốn và tín dụng - hai lĩnhvực truyền thống của ngân hàng
2.2- HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ Ở CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC II - HAI BÀ TRƯNG.
Đối với một Ngân hàng Thương Mại phần lớn lợi nhuận thu được là nhờthực hiện các nghiệp vụ tín dụng Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư đảm bảo cho cácngân hàng một khoản thu nhập bổ xung và cho phép phân tán rủi ro Ngoài ra cònmột sản phẩm mang lại lợi nhuận đáng kể cho Ngân hàng, đó là dịch vụ Ngânhàng
Nhận thức được tầm quan trọng trong việc thu hút khách hàng và mở rộngthu nhập cho ngân hàng Chi nhánh Ngân hàng Công thương Khu vực II - Hai BàTrưng đã cố gắng đa dạng hoá dịch vụ của mình Trong nội dung hoạt động củaChi nhánh gồm những dịch vụ chủ yếu sau:
BẢNG 4: DANH MỤC PHỤC VỤ NH
1 Thanh toán chi trả hộ Tài chính kế toán
3 Thanh toán chuyển tiền cá nhân trong nước Tài chính kế toán
5 Dịch vụ thanh toán séc du lịch Kinh doanh đối ngoại
7 7 Nhận chuyển tiền mặt từ địa phương này đến
địa phương khác
Kế toán tài chính
Trang 10Để có một danh mục các dịch vụ như trên, là sự cố gắng rất lớn của Chinhánh Khởi đầu hoạt động khi trên địa bàn đã có nhiều Ngân hàng Thương Mạikhác, Ngân hàng Công thương Khu vực II - Hai Bà Trưng vừa khẩn trương triểnkhai thực hiện nghiệp vụ mới , vừa tích cực học tập kinh nghiệm từ các đơn vị bạn.Trong nhiều năm triển khai, hoạt động của Chi nhánh đã có nhiều đổi mới, hoạtđộng được nhiều nghiệp vụ như kinh doanh ngoại tệ, chi trả kiều hối, kỹ thuậtnghiệp vụ L/C xuất nhập khẩu, chuyển tiền thanh toán
Với đội ngũ cán bộ, nhân viên được đào tạo bồi dưỡng qua trường lớp cơbản, cùng với công nghệ Ngân hàng tiên tiến, những năm qua Chi nhánh đãcungcấp cho khách hàng một khối lượng lớn dịch vụ đa dạng phong phú Khi đềcập đến mảng dịch vụ của một Ngân hàng người ta thường nhắc đến "hoạt độngthanh toán phục vụ xuất nhập khẩu, mở L/C và các dịch vụ khác" Trong thực tế,các hoạt động thanh toán như nhờ thu thanh toán liên hàng, mở L/C, bảo lãnh đãthu hút phần lớn sự quan tâm của các nhà Ngân hàng, họ luôn chú trọng tìm ra giảipháp để nâng cao hiểu quả các hoạt động trên, mà đôi khi lại tỏ ra lơ là đối với các
"dịch vụ" khác Vậy dịch vụ khác gồm những gì? Đó là những dịch vụ nhỏ, khôngmang nặng tính chất nghiệp vụ Ngân hàng mà chỉ liên quan đến tiền tệ nói chung,được Ngân hàng thể hiện để bổ xung cho các hoạt động của mình như chuyển tiềndân cư, chi trả kiều hối, cầm đồ tuy nhiên nếu Ngân hàng muốn hiện đại hoá hoạtđộng của mình thì việc đa dạng lĩnh vực kinh doanh phải đi liền với hiệu quả củatừng nghiệp vụ Chính vì vậy để đạt tới một tỷ trọng dịch vụ trên tổng thu nhập caohơn thì tất yếu phải phát triển đồng đều các hoạt động
Như chúng ta đã trình bày ở trên Ngân hàng Công thương Khu vực II - Hai
Bà Trưng là một Ngân hàng có địa bàn thuận lợi, có rất nhiều các tổ chức kinh tế,
cá nhân đều sử dụng dịch vụ tại Ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ chi trả hộ hay còngọi là dịch vụ thanh toán Trong những năm qua, hoạt động thanh toán tại Chi
Trang 11nhánh diễn ra rất nhanh chóng, chính xác, thuận lợi cho các khách hàng và Ngânhàng Do đó, doanh số qua Ngân hàng mỗi năm một tăng Ta có thể nhận thấy quabảng sau:
BẢNG 5 : DOANH SỐ THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG
2001 tăng 29.360 món tỷ lệ tăng là 50,2%, với số tiền tăng là 2.002.971 triệu
đồng-tỷ lệ tăng là 21,8% Như vậy có thể thấy rằng hình thức thanh toán qua Ngân hàngngày càng được ưa chuộng Sở dĩ như vậy là do:
- Các đơn vị kinh tế ngày càng được mở rộng mối quan hệ kinh tế với nhau
và thông qua việc thanh toán qua Ngân hàng
- Sự đổi mới, cải tiến và đa dạng hoá các thể thức thanh toán tại chi nhánh,
sử dụng hệ thống thanh toán điện tử thay thế cho hệ thống thanh toán liên hàngtrước kia qua mạng vi tính Do vậy tạo điều kiện cho công tác thanh toán ngàycàng nhanh chóng, chính xác, thu hút ngày càng nhiều khách hàng hơn và nâng cao
uy tín của Ngân hàng
- Bên cạnh những cải tiến về mặt công nghệ Ngân hàng như việc triển khaithực hiện thanh toán qua mạng điện tử nhanh chóng, chính xác làm cho doanh sốthanh toán qua mặt Ngân hàng tăng lên, còn một lý do khác nữa là do Ngân hàngthu phí hợp lý, thường là 2001 đồng với món bù trừ và 0,1% với số món đi liênhàng Với mức phí tương đối thấp như vậy, nhưng doanh số chi trả hộ nhiều nên