Khi sản xuất phát triển ở trình độ cao, thanh toán bằng tiền mặt trong nhiều trường hợp đã bộc lộ những nhược điểm nhất là khi quan hệ mua bán phát sinh giữa người mua và người bán cách
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT VÀ NỘI DUNG CÁC THỂ THỨC THANH TOÁN
I SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1 Sự cần thiết của thanh toán không dùng tiền mặt
Lịch sử ra đời và phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá gắn liền với sự ra đời và phát triển của tiền tệ và lưu thông tiền tệ Trong nền kinh tế của bất kỳ xã hội nào thì sản xuất luôn luôn tồn tại và phát triển, hàng hoá sản xuất phải được chuyển từ nơi này sang nơi khác từ người này sang tay người khá Quá trình mua bán giữa các chủ thể kinh tế, cá nhân được thanh toán với nhau bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp Đó là tổng thể thanh toán chung của toàn xã hội trong sản xuất và lưu thông hàng hoá dẫn đến sự ra đời của tiền tệ và lưu thông tiền tệ Trong quá trình trao đổi hàng hoá, tiền tệ giữ vai trò trung gian
đã tạo điều kiện cho lưu thông hàng hoá thực hiện trôi chảy, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển
Trong sản xuất và lưu thông hàng hoá do có sự khác nhau về không gian, thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng, khác nhau về chu kỳ sản xuất giữa các đơn vị… cho nên trong quan hệ mua bán nảy sinh ra những nhu cầu mua bán chịu hàng hoá hay thanh toán dài ngày, lúc này tiền tệ thực hiện chức năng là phương tiện thanh toán.
Quá trình sản xuất xã hội được diễn ra một cách liên tục và không ngừng mở rộng do đó nó có nhiều mối quan hệ phức tạp đa dạng như: giữa các chủ thể kinh tế, giữa các đơn vị sản xuất với dân, giữa nhà nước với nhân dân, tập thể hay giữa sản xuất và tiêu dùng Mặt khác, do đặc điểm và yêu cầu sản xuất của các ngành khác nhau, vì vậy để giải quyết tốt các mối quan hệ kinh tế trên để không ảnh hưởng đến quá
Trang 2trình sản xuất đòi hỏi phải tổ chức tốt khâu thanh toán Đó cũng là yêu cầu khách quan của nền kinh tế sản xuất hàng hoá.
Thanh toán bằng tiền mặt là tổng thể các chu chuyển tiền mặt trong nền kinh tế quốc dân thông qua các chức năng là phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán Hình thức thanh toán bằng tiền mặt thường được sử dụng trong quan hệ chi trả thông thường giữa nhân dân với nhau.
Khi trình độ của sản xuất và lưu thông hàng hoá còn ở mức độ thấp, tiền mặt chưa được ứng dụng phổ biến và đã thể hiện tính linh hoạt của nó, tức là giúp cho quan hệ mua bán được diễn ra nhanh chóng
ở mọi lúc mọi nơi Tiền mặt là h vận động đồng thời từ người mua sang người bán và ngược lại đồng thời những khó khăn trở ngại trong việc thanh toán cũng ít xảy ra Khi sản xuất phát triển ở trình độ cao, thanh toán bằng tiền mặt trong nhiều trường hợp đã bộc lộ những nhược điểm nhất là khi quan hệ mua bán phát sinh giữa người mua và người bán cách xa nhau hoặc với những giá trị hàng hoá lớn thì việc thanh toán bằng tiền mặt sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc vận chuyển, bảo quản và tốn nhiều chi phí để in ấn, kiểm điểm… Điều đó tất yếu, dẫn đến 1 hình thức thanh toán mới cho phù hợp với những yêu cầu của quá trình mua bán đó chính là thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế quốc dân là tổng hợp các khoản thanh toán được thực hiện bằng cách trích trả những tài khoản hoặc bù trừ giữa các đơn vị thông qua cơ quan trung gian là Ngân hàng hoặc cơ quan tài chính.
Việc thanh toán không dùng tiền mặt được thực hiện qua Ngân hàng bằng cách dịch chuyển số dư từ tài khoản này sang tài khoản khác
ở cùng Ngân hàng hay khác Ngân hàng trong cùng 1 hệ thống hay khác
hệ thống
Trang 3Tiền tệ dùng trong trao đổi thanh toán không dùng tiền mặt là tiền ghi sổ, không có sự xuất hiện của tiền mặt Khi thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng được phổ biến và phù hợp với trình độ của sự phát triển của sản xuất hàng hoá thì vai trò trung gian thanh toán của Ngân hàng đối với nền kinh tế ngày càng quan trọng Như vậy thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán dùng tiền mặt để thanh toán đều có
vị trí, vai trò với nền kinh tế và có tính chất bổ xung, hỗ trợ lẫn nhau Tuy nhiên thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức mang lại nhiều hiệu quả kinh tế phù hợp với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Việc tổ chức tốt cho thanh toán không dùng tiền mặt nhằm làm cho vòng tuần hoàn chu chuyển vốn sản xuất rút ngắn, tăng vòng quay vốn tham gia vào sản xuất, thúc đẩy nền sản xuất phát triển Đó vừa là mục tiêu vừa là nhiệm vụ quan trọng của ngành Ngân hàng.
2 Vai trò của hạch toán không dùng tiền mặt trong nền kinh
tế thị trường
Xuất phát từ những đặc điểm khác biệt so với thanh toán bằng tiền mặt đó là:
-Thanh toán không dùng tiền mặt là sử dụng tiền ghi sổ, không dùng tiền mặt để thanh toán, do đó sự vận động của tiền tệ không đồng thời cùng với sự vận động của hàng hoá.
-Chủ thể tham gia trong thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm: bên mua, bên bán và ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính đóng vai trò
là trung gian thanh toán.
Như vậy thanh toán không dùng tiền mặt là nghiệp vụ trung gian của ngân hàng, ngân hàng chỉ thực hiên thanh toán khi có lệnh của chủ
Trang 4tài khoản bao gồm: các tổ chức kinh tế, cá nhân mở tài khoản ở nghân hàng.
Bất kỳ một chu trình sản xuất nào cũng theo một chu trình T…H… sản xuất…H…T.Do vậy thanh toán nói chung, thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng là khâu mở đầu cũng là khâu kết thúc một chu kỳ sản xuất, nếu không có nó sẽ không tiến hành được điều đó chúng ta thấy nó có một vai trò quan trọng như thế nào trong nền kinh tế hàng hoá.
Bởi vậy thanh toán không dùng tiền mặt làm tốt sẽ phát huy vai trò to lớn đối với nền kinh tế cũng như ngành ngân hàng đó laf:
Tăng tốc độ lưu thông tiền mặt giải phóng vốn ra khỏi lĩnh vực thanh toán nhanh hơn tiếp tục tham gia vào chu kỳ sản xuất tiếp theo…
từ đó làm giảm khối lượng tiền mặt cần thiết trong lưu thông, góp phần tiết kiệm chi phí lưu động.
-Như ta đã biết bất cư doanh nghiệp nào muốn sản xuất cũng cần phải có vốn, vốn đó phải được vận động thường xuyên liên tục, khi thanh toán cũng thực hiện tốt thì thời gian vốn đợi thanh toán cũng được rút ngắn đồng thời số lần tham gia vào chu kỳ sản xuất cũng tăng lên Mặt khác trong thanh toán không dùng tiền mặt công cụ được sử dụng trong thanh toán là \\\uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm khu…thay tiền mặt
đã tiết kiệm được chi phí lưu động (in ấn,bảo quản ) giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông tiền mặt.
-Tạo điều kiện tập trung mọi nguồn nhàn rỗi trong nền kinh tế làm tăng nguồn vốn trong ngân hàng.
Nghiệp vụ thanh toán này được thực hiện tốt sẽ thu hút được nhiều khách hàng mở tài khoản ở ngân hàng, nhờ đó nhân hàng có thể tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế quốc dân để mở rộng hoạt động tín dụng của mình bằng cách đầu tư số vốn đó vào các đơn vị
Trang 5có nhu cầu vốn nhằm thu lợi nhuận, hiệu quả ứng dụng đồng vốn cao tránh lãng phí Mặt khác việc nhận và chuyển trả tiền giữa hai ngân hàng khác địa phương do không tiến hành đồng thời cũng tạo cho ngân hàng một nguồn vốn lớn trong thanh toán và khi sử dụng nó để đầu tư cũng đem laị lợi nhuận cho ngân hàng một nguồn vốn lớn trong thanh toán và khi sử dụng nó để đầu tư cũng đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng và tiết kiệm được vốn cho nền kinh tế.
Thông qua thanh toán không dùng tiền mặt, Nhà nước có thể kiểm soát được mọi hoạt động kinh tế của tất cả các tổ chức xã hội trong nền kinh tế Qua việc tổ chức công tác thanh toán giữa các tổ chức kinh tế hay cá nhân,Ngân hàng thực hiện kiểm soát các quan hệ mua bán, quá trình thanh toán sử dụng vốn hay việc chấp hành các chế độ nguyên tắc hay quản lý kinh tế, tài chính … Từ đó giúp cho các xí nghiệp
có được tình hình tài chính lành mạnh và lợi nhuận cao.
II SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT Ở VIỆT NAM.
1 Thời kỳ nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung:
Trong nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung kinh tế nước
ta còn chưa phát triển nên thanh toán không dùng tiền mặt không được khách hàng ưa chuộng do khoa học kỹ thuật chưa phát triển, trình độ cán bộ còn thấp nên việc thanh toán tiền, hàng còn chậm, xảy ra tình trạng chiếm dụng vốn trong thanh toán, gây ách tắc trong sản xuất kinh doanh, làm cho nhu cầu về tiền mặt tăng lên tạo ra sự có mặt cân đối trong quan hệ tiền hàng Mặt khác việc quản lý chính sách tiền tệ còn yếu kém, lỏng lẻo, làm cho việc điều hoà lưu thông tiền tệ gặp khó khăn, dẫn đến tình trạng lạm phát kéo dài, tiền tệ không ổn định.
Trang 6Thời kỳ này áp dụng cơ chế cứng nhắc chủ yếu thanh toán cho các doanh nghiệp quốc doanh với kỹ thuật lạc hậu.
2, Thời kỳ nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường
Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước đã tác động sâu sắc đến sự nghiệp đổi mới
cơ bản của hệ thống Ngân hàng Như chúng ta đã biết nước ta hiện nay đang trong thời kỳ quá độ mới một nền kinh tế nhiều thành phần, nếu nền sản xuất hàng hoá của xã hội đang ngày càng phát triển tất yếu đòi hỏi phải có một chế độ hạch toán thuận tiện nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
ở nước ta trong giai đoạn này các thành phần kinh tế đang ra sức cạnh tranh phát triển hàng hoá, các công ty cổ phần, các công ty liên doanh ngày càng nhiều, việc đầu tư ở nước ngoài vào nước ta ngày càng lớn Do vậy việc thanh toán cho các quan hệ mua bán vật tư hàng hoá giữa các tổ chức chức kinh tế ngày càng phát triển Vì vậy để đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế ngày một phát triển, Thống đốc Ngân hàng đã thông qua áp dụng chế độ thanh toán không dùng tiền mặt Chế độ này
đã khắc phục được những tồn tại trong thanh toán không dùng tiền mặt phù hợp với xu thế phát triển của xã hội.
Trong những năm trở lại đây ngành Ngân hàng đã chú trọng hoàn thiện hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt bằng nhiều biện pháp như hình thành các hệ thống tiền tệ các Ngân hàng thương mại và cùng với kho bạc nhà nước lập hệ thống thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng do Ngân hàng tổ chức và chủ trì Đến nay thanh toán không dùng tiền mặt để được thực hiện qua mạng thanh toán điện tử, ứng dụng đường cáp riêng nên thời gian thanh toán được rút ngắn (trước đây từ 4-7 ngày ngày nay từ 1/2ngày-1 ngày) cùng với các hình thức thanh toán phong phú đã tạo ra được sự gần gữi và tín nhiệm của khách
Trang 7hàng với Ngân hàng từ đó làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, tăng nhanh vòng quay vốn, thúc đẩy sản xuất phát triển.
III NHỮNG QUY ĐỊNH MANG TÍNH NGUYÊN TẮC TRONG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT
Đề thống nhất công tác tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia vào quá trình thanh toán cũng như đảm bảo góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Ngân hàng nhà nước đã ban hành quyết định số 22/QĐNH1 ngày 21/2/1996 về "Các thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt" đề ra những quy định chung nhất nhằm cho quá trình thanh toán được thực hiện đúng đắn và đảm bảo cho sự kiểm soát bằng đồng tiền của hệ thống Ngân hàng đối vơí các hoạt động của các đơn vị có hiệu quả.
1 Những quy định chung
-Các đơn vị các tổ chức kinh tế có đủ điều kiện pháp lý để mở tài khoản đều có thể được mở tài khoản tại một hay nhiều Ngân hàng thuộc hệ thống Ngân hàng thương mại và thực hiện thanh toán quỹ Ngân hàng Các tài khoản mở tại Ngân hàng phải có số chi để đảm bảo thanh toán Mọi trường hợp thanh toán vượt quá số chi đều vi phạm và
xử lý theo quy định.
-Mọi khoản thanh toán giữa các đơn vị tổ chức kinh tế với nhau đã
mở tài khoản ở Ngân hàng đều phải tập trung qua Ngân hàng (trừ các khoản chi trả trước định mức được thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt).
Có như vậy sẽ tập trung được toàn bộ nghiệp vụ thanh toán trong nền kinh tế vào Ngân hàng Trên cơ sở đó Ngân hàng phát huy được chức năng gián đối bằng đồng tiền trên mọi mặt hoạt động của nền kinh tê.
-Về phía Ngân hàng phải tạo điều kiện thuận lợi để phục vụ và đáp ứng các yêu cầu của các đơn vị, các tổ chức kinh tế trong việc mở mở và
Trang 8sử dụng các tài khoản tại Ngân hàng Ngân hàng được phép thu lệ phí theo quy định của Thống đốc Ngân hàng nhà nước khi thực hiện các dịch vụ thanh toán cho khách hàng.
-Trong quá trình thanh toán nếu bên nào vi phạm những quy định
về nguyên tắc, chế độ thanh toán gây thiệt hại cho đối phương kể cả Ngân hàng đều phải chịu phạt về vật chất để đền bù cho bên bị thiệt hại.
2 Quy định đối với người mua là đơn vị mua (người phải trả)
-Chủ tài khoản phải có toàn quyền sử dụng số tiền trên tài khoản
để chi trả hay rút tiền mặt và phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc chi trả của mình nếu không thực hiện đúng nguyên tắc sẽ chịu các khoản phạt theo quy định.
-Để thực hiện việc thanh toán đầy đủ kịp thời tài khoản của đơn vị phải có số chi.
3 Quy định đối với người bán
-Khi nhận được các chứng từ thanh toán bênmua phải kiếm tra tính hợp pháp của chứng từ thanh toán tiền trên mọi hoạt động của nền kinh tế.
-Về phía Ngân hàng phải tạo điều kiện thuận lợi để phục vụ việc đáp ứng các yêu cầu của các đơn vị, các tổ chức kinh tế trong việc mở và
sử dụng các tài khoản tại Ngân hàng Ngân hàng được phép thu phí theo quy định của thống đôchính sách Ngân hàng nhà nước khi thực hiên các dịch vụ thanh toán cho khách hàng,
-Trong quá trình thanh toán nếu bên nào vi phạm n quy định về nguyên tắc, chế độ thanh toán gây những thiệt hại cho đối phương kể cả Ngân hàng đều phải chịu phạt về vật chất để đền bù cho bên bị thiệt hại.
-Quy định đối với người mua là đơn vị mua (người phải trả)
Trang 9-Chủ tài khoản phải có toàn quyền sử dụng số tiền trên tài khoản
để chi trả hay rút tiền mặt và phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc chi trả của mình nếu không thực hiện đúng nguyên tắc sẽ chịu các khoản phạt theo quy định.
-Để thực hiện việc thanh toán đầy đủ, kịp thời tài khoản đơn vị phải có số chi.
*Quy định đối với người bán.
-Khi nhận được các chứng từ thanh toán bên mua thanh toán (đặc biệt là séc) chứng từ không được sửa chữa, tẩy xoá, thời gian hiệu lực của chứng từ.
-Khi làm mất séc phải thông báo cho Ngân hàng, đơn vị phát hành séc và chịu trách nhiệm về tính trung thực của việc bảo mật séc.
Có quyền đòi đơn vị thanh toán bồi thường trong trong trường hợp tờ séc bị lợi dụng sau khi đơn vị đă không bảo mật séc.
4 Quy định đối với Ngân hàng - kho bạc
Vì Ngân hàng là trung tâm thanh toán của nền kinh tế quốc dân nên Ngân hàng phải có trách nhiệm tổ chức tốt công tác thanh toán, hướng dẫn các đơn vị thực hiện tốt công tác thanh toán cũng như sự lựa chọn thể thức thanh toán phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất của từng đơn vị, đồng thời phải hướng dẫn các thủ tục, nghiệp vụ thanh toán của các hình thức thanh toán qua Ngân hàng.
Khi nhận được chứng từ thanh toán Ngân hàng phải có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ để có thể xử lý kịp thời các vi phạm Đồng thời để đảm bảo an toàn vốn, tài sản của khách hàng và các Ngân hàng Đảm bảo quyền lợi của mỗi bên tham gia thanh toán qua Ngân hàng.
Trang 10Ngân hàng có quyền từ chối thanh toán trong các trường hợp: tài khoản không đủ số chi, sec không hợp lệ (tẩy xoá, không đủ dấu, chữ ký…) séc hết thời hạn thanh toán … trong các trường hợp séc đã có thông báo mất nhưng vẫn chi thanh toán hay chứng từ có đủ tính hợp
lệ, hợp pháp mà không thanh toán kịp thời gây thiệt hại cho đơn vị thanh toán thì phair bồi thường cho khách hàng.