1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐỐI VỚI XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY

194 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay” làm đề t

Trang 1

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy

đủ theo quy định

Tác giả

Trần Thị Thúy Chinh

Trang 4

nghiên cứu của luận án 25

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC

2.1 Đạo đức Nho giáo 29 2.2 Gia đình văn hóa và xây dựng gia đình văn hóa 49 2.3 Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng gia đình văn hóa 58

Chương 3: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐỐI VỚI XÂY DỰNG

GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY -

3.1 Những nhân tố tác động đến ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với

xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay 73 3.2 Thực trạng ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng gia đình

văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay - một số biểu hiện chủ yếu 82 3.3 Một số vấn đề đặt ra từ ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng

gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay 106

Chương 4: QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT

HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA

ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐỐI VỚI XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở

4.1 Quan điểm cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh

hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng gia đình văn hóa

vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay 116 4.2 Giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh

hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng gia đình văn hóa

vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay 120

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

PHỤ LỤC

Trang 5

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng

ĐĐNG : Đạo đức Nho giáo

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội, gia đình luôn có vị trí đặc biệt quan trọng, bởi gia đình là nền tảng của xã hội, gia đình yên ấm, hạnh phúc là “tế bào” lành mạnh để xã hội ổn định và phát triển Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì vậy, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải chú ý hạt nhân cho tốt”[29, tr.523] Nhận thức được tầm quan trọng của gia đình, để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, trong Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 tại Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa

VIII về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng ta xác định: Coi trọng xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội Trong chặng

đường gần 20 năm xây dựng gia đình văn hóa (GĐVH), bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, thì còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, mà một trong những nguyên nhân đó là sự tác động của các yếu tố văn hóa truyền thống, trong đó có đạo đức Nho giáo

Nội dung đạo đức Nho giáo đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau, bên cạnh nội dung chủ yếu về “luân thường” thì còn có tư tưởng “hiếu đễ”, tư tưởng “tứ đức” Mặc dù, nội dung đạo đức của Nho giáo có sự thay đổi trong quá trình tồn tại và phát triển qua các thời kỳ, nhưng nhìn chung nó đã thẩm thấu và ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là đến đời sống gia đình, không chỉ ở trên mảnh đất nó sinh ra mà còn ở các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam Du nhập vào Việt Nam, đạo đức Nho giáo được dung hợp và hòa đồng vào đời sống người Việt, tạo thành một bộ phận của văn hóa truyền thống Việt Nam, được “Việt Nam hóa” thành Nho giáo bản địa Tồn tại lâu dài trong lòng xã hội Việt Nam, Nho

Trang 7

giáo nói chung, đạo đức Nho giáo nói riêng đã tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của xã hội, đặc biệt trong văn hóa, đạo đức của các gia đình

Đồng bằng sông Hồng là cái nôi của nền văn minh lúa nước, là địa bàn duy trì sự tồn tại, phát triển lâu dài của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam trong lịch sử, vì thế Nho giáo nói chung, đạo đức Nho giáo nói riêng được dung dưỡng và ảnh hưởng sâu sắc đến vùng đất này Các chuẩn mực đạo đức Nho giáo đã thẩm thấu một cách tự nhiên vào từng gia đình, cá nhân, góp phần hình thành nên các phong tục, tập quán của cộng đồng truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính đặc thù về văn hóa ở nơi đây Do đó, trong quá trình xây dựng GĐVH ở vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các yếu tố đạo đức Nho giáo (ĐĐNG), đặc biệt trong các mối quan hệ (MQH) đạo đức gia đình Một mặt, ĐĐNG đề cao sự tôn ti, trận

tự, nền nếp gia phong; đề cao tình yêu thương và trách nhiệm giữa các thành viên trong GĐ; đề cao sự hiếu kính; đề cao lối sống tình nghĩa giữa gia đình đối với cộng đồng điều này phù hợp với những tiêu chí của GĐVH, góp phần củng cố, xây dựng các mối quan hệ đạo đức gia đình Mặt khác, chủ nghĩa gia đình trị, bè phái dòng họ; nghi lễ, thủ tục rườm rà; tính gia trưởng cực đoan, tư tưởng trọng nam khinh nữ… trong quan niệm của đạo đức Nho giáo lại đi ngược với tiêu chí tiến bộ, văn minh của GĐVH, trở thành lực cản lớn trong xây dựng

GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả lựa chọn vấn

đề: “Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ của

mình, với mong muốn đánh giá một cách khách quan ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay; đồng thời tìm ra các giải pháp phù hợp để phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của ĐĐNG, góp phần xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH phát triển bền vững

Trang 8

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án làm rõ thực trạng ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng GĐVH vùng ĐBSH và đề xuất các giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, ngoài phần tổng quan tình hình nghiên cứu, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:

Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối

với xây dựng GĐVH

Thứ hai, làm rõ thực trạng ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với xây

dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay và những vấn đề đặt ra cần giải quyết

Thứ ba, xác định quan điểm cơ bản và đề xuất các giải pháp chủ yếu

nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu: Đạo đức Nho giáo và xây dựng GĐVH có nội

dung khá rộng Do vậy, luận án chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung chủ yếu của đạo đức Nho giáo có ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất đối với xây dựng GĐVH, đó là: Tư tưởng “tam cương”, tư tưởng “ngũ thường”, tư tưởng “hiếu” và tư tưởng “tứ đức” Về xây dựng GĐVH, luận án tập trung nghiên cứu các mối quan hệ đạo đức trong gia đình, đó là mối quan hệ giữa: cha mẹ và con cái, chồng và vợ, anh - chị - em, và mối quan hệ giữa gia đình với cộng đồng, nhằm hướng tới xây dựng gia đình “no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh” [19, tr.128]

Trang 9

Không gian nghiên cứu: Luận án giới hạn và tập trung nghiên cứu một

số tỉnh, thành phố, đó là: Thành phố Hà Nội, tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Thái Bình, tỉnh Ninh Bình

Thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu ảnh hưởng của đạo đức Nho

giáo đối với xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH trong giai đoạn hiện nay (từ năm

1998 - triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đến nay)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước về vấn đề gia đình, xây dựng GĐVH; Tiếp thu, kế thừa có chọn lọc và phát triển những giá trị khoa học của một số công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến nội dung của luận án

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp logic - lịch sử; so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê… Đặc biệt, trong luận án, tác giả có sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể cơ bản sau:

- Phương pháp phân tích tài liệu

Luận án sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để thu thập, nghiên cứu, đánh giá vấn đề Trên cơ sở dữ liệu thu thập được từ các nguồn: Văn kiện Đại hội và Hội nghị Ban chấp hành Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam;

Hồ Chí Minh toàn tập - phần về gia đình (GĐ) và GĐVH; sách, báo, tạp chí chuyên ngành; các báo cáo khoa học của các đề tài nghiên cứu có liên quan; các niên giám thống kê được công bố hàng năm của Tổng cục thống kê; báo cáo của cơ quan quản lý thuộc các tỉnh, thành phố, các tổ chức chính trị - xã hội có liên quan và các tài liệu tham khảo khác Những dữ liệu thu được từ quá trình phân tích tài liệu giúp tác giả có cái nhìn tổng quan, cụ thể về thực trạng ảnh hưởng của ĐĐNG đối với xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay

Trang 10

- Phương pháp quan sát thực tế

Phương pháp quan sát thực tế thông qua cuộc sống và cách thức ứng xử thường ngày giữa các thành viên trong gia đình vùng ĐBSH để hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của ĐĐNG đến văn hóa gia đình và xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH Những thông tin thu được từ phương pháp quan sát thực tế giúp tác giả có thêm

dữ liệu để luận giải và đánh giá về đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát xã hội học/ điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp khảo sát xã hội học (điều tra bằng bảng hỏi) được tác giả sử dụng để thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu Phương pháp này được tác giả thực hiện qua quy trình các bước như sau:

Thứ nhất, xây dựng bảng hỏi Để thấy rõ được thực trạng ảnh hưởng của

ĐĐNG đối với xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay, tác giả xây dựng 01 bảng hỏi để khảo sát ý kiến của người dân Trên cơ sở các thông tin thu thập được, tác giả tiến hành xây dựng cấu trúc bảng hỏi để thu thập thông tin định lượng Bảng khảo sát ý kiến người dân gồm 14 câu hỏi, tập trung vào các vấn đề chính, đó là: Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của ĐĐNG đến các MQH (cha mẹ - con cái; chồng - vợ; anh - em) trong gia đình và mối quan hệ giữa gia đình với cộng đồng trên cả hai mặt (tích cực và tiêu cực); phương thức ảnh hưởng và những giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của ĐĐNG đối với xây dựng GĐVH ở địa phương Sau khi hoàn thành bảng hỏi, tác giả đã tiến hành điều tra thử 10 bảng hỏi (phiếu) để kiểm tra tính sát thực của các câu hỏi và phương án trả lời Trên cơ sở đó, tác giả hoàn thiện bảng hỏi để tiến hành khảo sát

Thứ hai, chọn mẫu Sau khi bảng hỏi được hoàn thành, tác giả tiến hành

chọn mẫu và thu thập thông tin Trong số 11 tỉnh, thành phố của vùng ĐBSH, tác giả đã lựa chọn 04 tỉnh, thành phố để tiến hành khảo sát định lượng, đó là: thành phố Hà Nội, tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Thái Bình và tỉnh Ninh Bình Việc lựa chọn 04 tỉnh, thành phố đại diện này dựa trên cơ sở về mặt địa lý đặc trưng của Vùng, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa thành thị và nông thôn; đặc biệt là yếu tố

Trang 11

lịch sử văn hóa gắn với sự ảnh hưởng của ĐĐNG Về số lượng phiếu, tác giả tiến hành khảo sát 600 phiếu, mỗi tỉnh khảo sát 150 phiếu

Thứ ba, tiến hành thu thập dữ liệu Sau khi hoàn thành phiếu khảo sát, tác

giả tiến hành khảo sát dựa trên mẫu đã xác định trước, đó là người dân ở 04 tỉnh, thành phố (thành phố Hà Nội; tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Thái Bình và tỉnh Ninh Bình)

Thứ tư, xử lý dữ liệu bằng chương trình ecxel Sau khi hoàn thành việc

thu thập thông tin thông qua bảng hỏi, tác giả sử dụng phần mềm ecxel để xử

lý dữ liệu thu thập được

5 Những đóng góp mới của luận án

Thứ nhất, làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của đạo đức Nho giáo ảnh

hưởng đối với các mối quan hệ gia đình trong xây dựng GĐVH

Thứ hai, góp phần làm rõ thực trạng ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo

đối với xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay

Thứ ba, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng

tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay

6 Ý nghĩa của luận án

6.1 Về mặt khoa học

Thành công của luận án góp phần cung cấp luận cứ, cơ sở khoa học cho việc đề xuất, thực thi chính sách liên quan đến công tác gia đình, đến việc phát huy ảnh hưởng tích cực và khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay

6.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy về ĐĐNG, về xây dựng GĐVH Các tỉnh, thành phố vùng ĐBSH có thể sử dụng kết quả nghiên cứu này vận dụng vào việc xây dựng GĐVH

ở địa phương

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các công trình của tác giả đã được công

bố, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 10 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Nghiên cứu về Nho giáo, đạo đức Nho giáo; nghiên cứu về gia đình, GĐVH; nghiên cứu sự ảnh hưởng của Nho giáo, vận dụng Nho giáo vào việc xây dựng gia đình thì có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, tiếp cận, luận giải dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể phân thành các nhóm sau đây:

1.1.1 Những nghiên cứu về Nho giáo, đạo đức Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó trong xã hội Việt Nam

Các công trình đi sâu luận giải nguồn gốc, nội dung của Nho giáo; nghiên cứu về quá trình du nhập và phát triển Nho giáo ở Việt Nam; nghiên cứu về sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với đời sống xã hội Việt Nam trên các các lĩnh vực chính trị - xã hội, hệ tư tưởng, văn hoá, đạo đức, giáo dục - khoa cử Cụ thể được biểu hiện ở các công trình tiêu biểu sau đây:

Quang Đạm, Nho giáo xưa và nay [17] Cuốn sách bao gồm 10 chương,

tập trung trình bày một cách cụ thể các vấn đề liên quan đến Nho giáo, như: phạm trù tam tài: trời, đất và người; đạo đức và chính trị; phạm trù Nhà, Nước

và Thiên Hạ; vấn đề học tập; vấn đề con người… từ đó đối chiếu, so sánh sự tồn tại của các nội dung này trong xã hội xưa và nay như thế nào Từ đó, cho chúng ta thấy sự phát triển xuyên suốt của Nho giáo trong tiến trình lịch sử của

nó có nhiều sự biến đổi gắn với sự thay đổi của thời đại

Nguyễn Tài Thư, Vấn đề con người trong Nho học sơ kỳ [90] Luận án đã

luận giải những quan điểm của Nho giáo sơ kỳ xoay quanh vấn đề con người, nguồn gốc, bản chất, vai trò của con người Từ nền tảng cơ sở lý luận đó, luận

án nêu lên những yêu cầu đối với giáo dục con người Việt Nam trong thời đại mới, đặc biệt là giáo dục đạo đức, nhân cách

Nguyễn Tài Thư, Nho học và Nho học ở Việt Nam (Một số vấn đề lý luận

và thực tiễn) [92] Cuốn sách tập trung luận giải 3 nội dung chính: Nho học ở

Trang 13

Trung Quốc - lịch sử và hiện tại; Nho học và một số vấn đề lịch sử tư tưởng Việt Nam; Vai trò của Nho học trong lịch sử và hiện tại ở Việt Nam Thông qua 3 nội dung chính, cuốn sách cho chúng ta một cái nhìn tổng thể có tính lôgic - lịch sử

về Nho học không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở Việt Nam

Phan Đại Doãn, Một số vấn đề Nho giáo ở Việt Nam [15] Trong cuốn

sách này, tác giả đã phân tích rõ những nét cơ bản của tiến trình xác lập vị thế và những thành tựu của Nho giáo trong chặng đường lịch sử từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX Đây là thời kỳ mà Nho giáo ở Việt Nam chiếm địa vị độc tôn trong

sự toàn thịnh của chế độ quân chủ chuyên chế ở nước ta Tác giả cũng chỉ rõ, mặc dù Nho giáo ở Việt Nam hiện nay không còn đáp ứng được yêu cầu của xã hội, nhưng những thành tựu của nó, đặc biệt là những tiến bộ, hợp lý về xây dựng gia đình, xây dựng cộng đồng, tu dưỡng cá nhân…cần được khai thác, phát huy theo hướng gạn đục khơi trong, góp phần vào sự phát triển đất nước

Nguyễn Đăng Duy, Nho giáo với văn hóa Việt Nam [16] Thông qua 9

chương, cuốn sách đã cho chúng ta thấy được một cách toàn diện các nội dung

cơ bản của Nho giáo và sự tác động của nó đến văn hóa Việt Nam trên tất cả các mặt, như: Nho giáo - chữ nho với khoa cử; Nho giáo với vũ trụ quan; Nho giáo với nhân sinh quan; Nho giáo với văn học nghệ thuật; Nho giáo với văn hóa gia đình; Nho giáo với đạo đức; Nho giáo với văn hóa chính trị; Nho giáo với y học… Từ đó rút ra những giá trị tích cực cần được phát huy, vận dụng trong xã hội đương đại

Nguyễn Khắc Viện, Bàn về đạo Nho [117] Tác giả đã nêu ra mặt tích cực

và hạn chế của Nho giáo Đặc biệt ông nhấn mạnh mặt tích cực của đạo Nho khi cho rằng: “Đạo Nho đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành lòng yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, Mai Xuân Thưởng, Phan Đình Phùng là những nhà Nho, không thể xuyên tạc sự thật, bảo những chí sĩ ấy không liên quan gì đến Nho giáo cả” Khi đánh giá những điều tâm đắc của mình về Nho giáo, Ông đánh giá cao tư tưởng về “Đạo làm người” và “Đối nhân xử thế” của Nho giáo

Trần Trọng Kim (2001), Nho giáo, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội [40]

Trong cuốn sách này, tác giả đã nghiên cứu một cách toàn diện về những nội

Trang 14

dung cơ bản của Nho giáo, sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam, cũng như những ảnh hưởng của nó đến lịch sử đất nước ta Từ đó, tác giả đưa ra nhận xét, đánh giá, luận giải về những đóng góp, tác động tích cực của Nho giáo (đặc biệt

là đạo đức Nho giáo) cần được kế thừa và phát huy, đồng thời chỉ ra những hạn chế, lạc hậu, bảo thủ của tư tưởng Nho giáo cần xóa bỏ trong quá trình xây dựng

xã hội và con người hiện nay

Nguyễn Văn Hoài, Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh [28] Thông qua cuốn sách, tác giả luận giải bức

tranh tổng thể về lịch sử tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam, đặc biệt tập trung vào hai triều đại phong kiến Lê Thánh Tông và Minh Mệnh Tác giả đi sâu nghiên cứu thể chế chính trị và hoạt động của nhà nước phong kiến cùng các hiện tượng, quá trình chính trị xã hội, tư tưởng, văn hóa dưới ảnh hưởng của Nho giáo trong việc khẳng định mạnh mẽ ý thức dân tộc, củng cố quốc gia thống nhất Đồng thời cuốn sách cũng đánh giá khách quan về tư tưởng chính trị Nho giáo nói riêng và vai trò của Nho giáo nói chung ở Việt Nam, từ đó góp phần giải bài toán “truyền thống và hiện đại”, tạo động lực cho công cuộc đổi mới đất nước

Nguyễn Thị Nga, Hồ Trọng Hoài, Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con người [57] Các tác giả đã phân tích một cách sâu sắc, toàn diện quan điểm

của Nho giáo về giáo dục, vai trò của giáo dục đối với việc hình thành nhân cách con người, các chuẩn mực đạo đức cơ bản trong giáo dục đạo làm người…, từ

đó đưa ra đánh giá, phê phán và rút ra những giá trị vận dụng vào việc giáo dục con người Việt nam hiện nay, đặc biệt là giáo dục về phẩm chất đạo đức

Nguyễn Thị Thanh Mai, Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay [51] Trong luận án này,

tác giả đi sâu tìm hiểu các nội dung chủ yếu và một số nét riêng biệt của đạo đức Nho giáo ở Việt Nam so với Trung Quốc, phân tích thực trạng ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức người cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay ở nước ta và một số vấn đề đặt ra từ sự ảnh hưởng này, từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của đạo đức Nho

Trang 15

giáo trong việc xây dựng đạo đức con người, đặc biệt là đạo đức người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay

Lương Khải Siêu, Triết học Nho gia [70] Thông qua cuốn, sách tác giả đã

trình bày những nội dung cơ bản liên quan đến triết học Nho gia, như: triết học Nho gia là gì? Tại sao phải nghiên cứu triết học Nho gia? Phương pháp nghiên cứu triết học Nho gia, quá trình phát triển triết học Nho gia, những vấn đề quan trọng của triết học Nho gia Qua những nội dung đó, cho chúng ta thấy cái nhìn toàn diện về triết học Nho gia, trong đó có tư tưởng về đạo đức

Phan Bội Châu, Khổng học đăng [10] Phan Bội Châu đã có những

đánh giá toàn diện về Nho giáo, đặc biệt là các nội dung của Nho giáo được trình bày trong các cuốn sách kinh điển Luận ngữ, Mạnh Tử, Trung Dung, Đại học Ông khẳng định: “Nghiên cứu lại tứ thư theo quan niệm mới có liên hệ với lịch sử Trung Quốc, Việt Nam và với một số nước khác trên thế giới, đồng thời chỉ ra cái hay, cái tích cực, phê phán những cái tiêu cực có liên quan đến tư tưởng Nho giáo, rút ra bài học kinh nghiệm, đem ứng dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam” Và như lời nhận xét của Nhà xuất bản Minh Anh: “có lẽ đây

là di cảo có giá trị và công phu nhất của cụ Phan Bội Châu Với nhan đề

“Khổng học đăng”, nhà chí sĩ tiền bối có ý đưa ra cái tinh hoa của nền Khổng học, một nền cổ học siêu việt đã chế ngự nền tư tưởng phương Đông”

Lê Văn Thăng, Ảnh hưởng của tư tưởng “ngũ thường” đối với văn hóa Việt Nam [80] Thông qua bài viết, tác giả đã luận giải quá trình du nhập, truyền

bá tư tưởng “ngũ thường” vào Việt Nam và sự ảnh hưởng của nó đến văn hóa Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện tại Từ đó rút ra ý nghĩa trong việc vận dụng, kế thừa tư tưởng “ngũ thường” vào việc xây dựng văn hóa ở Việt Nam hiện nay

Ngộ Mộc Tài, Nghiên cứu về “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín” [77] Thông qua

bài viết, tác giả đã luận giải nội dung cơ bản của tư tưởng “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”, từ đó rút ra giá trị của nó trong việc giáo dục đạo đức con người Trung Quốc ngày nay

Trang 16

Cao Vọng Chi, Đạo hiếu trong Nho gia [11] Cuốn sách trình bày một

cách hệ thống về nội dung tác phẩm “Hiếu Kinh” của Nho gia, về cơ sở của hệ

tư tưởng, những lời dạy của chữ “hiếu” đối với các đối tượng khác nhau trong xã hội và tác động của đạo Hiếu đối với các nước chịu sự ảnh hưởng của Nho gia, trong đó có Việt Nam

Trần Thị Lan Hương, Đạo đức trung, hiếu trong Nho giáo và ý nghĩa của

nó đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm ở Việt Nam hiện nay [32] Tác giả đi

sâu nghiên cứu những nội dung cơ bản của đạo đức trung, hiếu trong lịch sử từ Nho giáo nguyên thủy đến Hán Nho và Tống Nho; chỉ ra một số yếu tố cơ bản quy định sự tiếp biến của Nho giáo ở Việt Nam và một số nội dung cơ bản của đạo đức trung, hiếu trong Nho giáo ở Việt Nam Tác giả khẳng định: Những quan điểm đạo đức trung, hiếu đã được luật hóa gắn với nghĩa vụ và trách nhiệm của con người trong xã hội phong kiến, do đó nó ảnh hưởng sâu đậm đến ý thức trách nhiệm của con người Việt Nam trong lịch sử Tác giả đã khẳng định những giá trị cơ bản của đạo đức trung, hiếu trong xã hội Việt Nam hiện đại, từ đó đề ra những nội dung cơ bản của việc giáo dục ý thức trách nhiệm ở Việt Nam hiện nay trên nền tảng đạo đức trung, hiếu của Nho giáo Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh việc giáo dục ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với chính bản thân mình, với gia đình và xã hội

Nguyễn Thị Vân, Thuyết tam tòng, tứ đức trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay [115] Trong luận án này, tác giả

đã phân tích tác động hai mặt của thuyết Tam tòng, Tứ đức đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay cả trong gia đình và ngoài xã hội trên hai mặt tích cực và tiêu cực Từ đó, tác giả chỉ rõ một số vấn đề đặt ra cần giải quyết và đề xuất những giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của thuyết Tam tòng, Tứ đức đến người phụ nữ Việt Nam hiện nay

Tần Tại Đông, Trần Hoa Châu, Nhân [21] Cuốn sách tập trung luận giải

vai trò đức “nhân” của Nho giáo đối với xây dựng, giáo dục đạo đức của con người, từ tu dưỡng tâm tính, kiểm soát nghiêm khắc bản thân, xây dựng chuẩn

Trang 17

mực hành vi trong đối nhân xử thế, trong giao tiếp xã hội, trong chốn “quan trường” đến trong quản lý, trong dùng người

Tiêu Hồng Quân, Nghê Diệc Trinh, Nghĩa [65] Cuốn sách tập luận giải

vai trò đức “nghĩa” của Nho giáo giáo dục đạo đức con người hướng tới Đạo nghĩa - con đường chân chính của loài người, hướng đến trọng đạo nghĩa trong giao tiếp giữa người với người, hướng đến làm giàu phải hướng đến việc nghĩa, hướng đến quản lý xã hội phải biết chính nghĩa…

Hạng Cửu Vũ, Chiêm Dật Thiên, Lễ [121] Thông qua cuốn sách các tác

giả khẳng định vai trò đức “lễ” của Nho giáo trong việc giáo dục, rèn luyện tu dưỡng đạo đức cá nhân, trong xử lý công việc, trong đối nhân xử thế, trong giao kết bạn bè, trong thực hiện lễ tiết đời sống hàng ngày, trong quan trường, trong quản lý con người…

Lê Văn Phục, Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho giáo Việt Nam và Nho giáo Trung Quốc [63] Thông qua bài viết tác giả luận giải xét về mặt

nguồn gốc cũng giống như các nước Nhật Bản, Triều Tiên - Hàn Quốc, Nho giáo

ở Việt Nam được bắt nguồn từ Trung Quốc Nho giáo được du nhập và truyền bá vào Việt Nam từ rất sớm Khi đến Việt Nam về cơ bản kinh điển, hệ thống của Nho giáo vẫn được giữ nguyên, tuy nhiên, khi du nhập vào một môi trường mới, với con người, văn hóa xã hội mới thì cũng có ít nhiều thay đổi Du nhập và truyền bá vào Việt Nam, Nho giáo được dung hợp và hòa đồng vào cách nghĩ của người Việt Nam, đã tạo thành một bộ phận của văn hóa truyền thống Việt Nam, được “Việt Nam hóa” thành Nho giáo Việt Nam Cho nên giữa Nho giáo Trung quốc và Nho giáo Việt Nam bên cạnh những nét tương đồng thì cũng có nhiều nét khác biệt

Hoàng Thị Thu Trang, Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đời sống tinh thần của người Việt Nam hiện nay [102] Tác giả đã phân tích làm rõ những

nội dung cơ bản của đạo đức Nho giáo ở Trung Quốc và sự du nhập vào Việt Nam Cùng với việc phân tích làm rõ sự ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam, tác giả đã nêu rõ phương thức ảnh hưởng; những nội dung ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo trên một số phương

Trang 18

diện: Về đời sống chính trị, đời sống pháp luật, đời sống đạo đức của người Việt Nam; chỉ ra nguyên nhân dẫn tới sự ảnh hưởng đó là xuất phát từ nguyên nhân: Kinh tế, lịch sử, gióa dục, văn hóa… Từ đó tác giả chỉ ra những phương hướng

và đề xuất các giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam hiện nay

1.1.2 Những nghiên cứu về gia đình, xây dựng gia đình văn hóa ở Việt Nam

Nghiên cứu về gia đình, GĐVH, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, các công trình đã tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến sự biến đổi gia đình, sự giao thoa ảnh hưởng các giá trị truyền thống đến việc xây gia đình; nghiên cứu về việc xây dựng gia đình văn hóa… Cụ thể được biểu hiện trong các công trình nghiên cứu sau đây:

Phạm Xuân Nam, Gia đình Việt Nam - các giá trị truyền thống [55]

Trong cuốn sách này, tác giả nhấn mạnh vai trò của các giá trị gia đình truyền thống Những giá trị truyền thống quý báu đã được gia đình Việt Nam gìn giữ và phát huy trong suốt tiến trình dựng nước và giữ nước Tác giả cũng đưa ra những

dự báo về xu hướng vận động, biến đổi của các giá trị truyền thống trước sự tác động của kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế là căn cứ cho những cơ

sở khoa học Nhưng làm thế nào để giữ gìn và phát huy được những giá trị truyền thống đó thì chưa được tác giả đề cập

Đặng Cảnh Khanh, Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các giá trị truyền thống

[37] Cuốn sách gồm ba chương, trình bày một cách hệ thống về các vấn đề liên quan đến gia đình, trẻ em và mối quan hệ giữa gia đình với việc giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc Từ đó tác giả đã nêu ra thực trạng giáo dục giá trị truyền thống trong các gia đình, nhà trường và xã hội hiện nay Trên

cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy các giá trị truyền thống trong xây dựng gia đình thời đại mới Đây là cuốn sách có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn để tác giả vận dụng vào việc nghiên cứu vấn đề xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay

Trang 19

Nguyễn Ngọc Lê, Để gia đình phát triển bền vững [44] Trong bài viết

này, tác giả đã chỉ ra những vấn đề đáng báo động trong gia đình trẻ hiện nay như tình trạng bạo lực gia đình, ly hôn, đặc biệt là sự mâu thuẫn tư tưởng trong gia đình trẻ hiện nay về các vấn đề như: Quyền chăm sóc cha mẹ, ông bà, thờ cúng tổ tiên; việc sinh con trai, con gái; bất đồng về tư tưởng bình đẳng giới…

Từ những vấn đề báo động trên, tác giả đề xuất những giải pháp để khắc khục các vấn đề bất ổn trong gia đình hiện nay và góp phần xây dựng gia đình phát triển bền vững

Viện Xã hội học, Đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược gia đình Việt Nam giai đoạn 2005- 2010 tại 8 tỉnh phía Bắc [119] Báo cáo đã chỉ ra thành

công và hạn chế trong việc thực hiện Chiến lược gia đình đối với từng mục tiêu

và chỉ tiêu cụ thể Một số thành tựu là: Số gia đình đạt tiêu chuẩn “Gia đình văn hóa” đã tăng nhanh trong những năm vừa qua, nhiều tỉnh đạt trên 80% Các cặp

vợ chồng sinh con thứ ba giảm rõ rệt Tỷ lệ các vụ bạo lực gia đình và tỷ lệ gia đình mắc vào tệ nạn xã hội có xu hướng giảm Đồng thời, báo cáo tổng kết cũng chỉ ra một số hạn chế trong triển khai, thực hiện từng mục tiêu cụ thể

Nguyễn Thị Thọ, Xây dựng đạo đức gia đình ở nước ta hiện nay [83]

Cuốn sách đã luận giải một số vấn đề lý luận về đạo đức gia đình và đạo đức gia đình Việt Nam; luận giải về sự tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức gia đình Việt Nam, chỉ ra sự tác động tích cực, sự tác động tiêu cực, từ đó xác định những vấn đề đặt ra cần giải quyết đối với đạo đức gia đình nước ta hiện nay Giá trị lớn nhất của cuốn sách là tác giả đề xuất một số giải pháp định hướng đối với việc xây dựng đạo đức gia đình ở nước ta hiện nay

Bùi Thị Ngọc Lan, Mấy vấn đề đặt ra trong xây dựng gia đình văn hóa thời kỳ đổi mới [41] Từ việc nghiên cứu và chỉ ra những yếu tố tác động đến quá

trình xây dựng gia đình văn hóa hiện nay, tác giả đã nêu lên những vấn đề bất cập về chính sách và quản lý nhà nước trong xây dựng gia đình văn hóa thời kỳ hội nhập hiện nay Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục tình trạng bất

Trang 20

cập trên, góp phần phát triển phong trào xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay

Nguyễn Thế Long, Gia đình - Những giá trị truyền thống [47] Thông qua

tập hợp các bài viết, tác giả đã đưa ra quan điểm của mình về các giá trị văn hóa truyền thống của gia đình và đất nước, từ đó khẳng đình: đất nước ta hiện nay cần phải kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống này trong xây dựng gia đình mới, gia đình văn hóa hiện nay Đặc biệt, tác giả cho rằng: Các gia đình hiện nay cần giáo dục con kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống, các giá trị đạo đức của gia đình và dân tộc như: truyền thống nhân nghĩa, hiếu thảo, uống nước nhớ nguồn… Đây là việc làm cần thiết và rất quan trọng trong xây dựng gia đình và xã hội hiện nay

Nguyễn Thị Hoa, Động cơ hoạt động xây dựng gia đình văn hóa của nhân dân trong phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư [26] Thông qua kết quả khảo sát gần 600 khách thể trên 4 đại bàn (Hà

Nội, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng), tác giả đã chỉ ra những động cơ khác nhau của các gia đình trong việc đăng ký thực hiện xây dựng GĐVH như:

Vì lợi ích mà hoạt động này mang lại cho gia đình họ và cho xã hội; vì muốn làm giống như mọi người; vì tinh thần thi đua; vì danh dự và thành tích của địa phương… Trong đó, động cơ để có được lợi ích mà hoạt động này đem lại là động cơ của hầu hết các gia đình Qua khảo sát, tác giả cũng cho thấy, ở những nhóm khách thể khác nhau thì động cơ tác động cũng có sự khác nhau Từ kết quả khảo sát của tác giả cho thấy: nhóm gia đình ở thành thị và nhóm gia đình

có học vấn các cao thì càng ít bị tác động bởi các động cơ trên Đây là một nghiên cứu có giá trị khoa học sâu sắc, Từ kết quả nghiên cứu này có thể rút ra bài học về việc sự dụng cơ chế tâm lý xã hội vào việc thu hút sự tham gia của nhân dân vào hoạt động xây dựng GĐVH ở ĐBSH một cách hiệu quả hơn

An Thị Ngọc Trinh, Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong xây dựng văn hóa gia đình hiện nay [103] Trong luận án này, tác giả đã tập trung

vào nghiên cứu một số giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu của dân tộc và nhấn

Trang 21

mạnh sự cần thiết phải giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống này trong xây dựng văn hóa gia đình hiện nay Từ cơ sở lý luận đó, Tác giả đi vào nghiên cứu thực trạng việc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống trong gia đình Việt Nam hiện nay, chỉ rõ một số vấn đề bất cập đặt ra và đặc biệt là đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm phát huy có hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống trong các gia đình hiện nay

Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sơ kết chiến lược phát triển gia đình Việt Nam, các văn bản, đề án về công tác gia đình giai đoạn 2011 - 2015 và tổng kết kế hoạch hành động phòng, chống bạo lực gia đình giai đoạn 2008 - 2015

[5] Cuốn kỷ yếu gồm bài viết của nhiều tác giả, các ban ngành tổng kết về Chiến lược gia đình Việt Nam với các con số báo cáo về việc thực hiện công tác gia đình; những thành tựu và hạn chế của công tác này gia đoạn 2011 - 2015 Cuốn kỷ yếu cũng gồm có một phần đánh giá về việc tổng kết kế hoạch hành động phòng, chống bạo lực gia đình giai đoạn 2008-2015 Đây là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu về gia đình, trong công tác xây dựng GĐVH và phòng chống bạo lực gia đình hiện nay

Trần Thị Thái Hà, Giáo dục các hộ gia đình nông thôn hiện nay - thực trạng và giải pháp [24] Cuốn sách gồm 4 chương, phân tích khá toàn diện vấn

đề giáo dục của các hộ gia đình ở khu vực nông thôn cả về mặt lý luận và thực tiễn trên cơ sở nghiên cứu, phân tích kỹ lưỡng các kết quả khảo sát được thực hiện ở các vùng, miền trong phạm vị cả nước Từ kết quả khảo sát thực trạng giáo dục của nhiều vùng nông thôn điển hình trong cả nước, tác giả chỉ ra các nguyên nhân, đồng thời đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục của các hộ gia đình ở khu vực nông thôn Việt Nam hiện nay

1.1.3 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của Nho giáo, đạo đức Nho giáo đối với xây dựng gia đình

Có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của Nho giáo và đạo đức Nho giáo đối với xây dựng gia đình ở Việt Nam, tiêu biểu như:

Trang 22

Vũ Khiêu, Nho giáo và gia đình [39] Cuốn sách trình bày về các vấn đề

như: quan điểm của Nho giáo về gia đình; về vị trí, vai trò của gia đình và những nguyên tắc, quy tắc ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến phạm trù “hiếu” Cùng với đó, ông nêu lên quan điểm của một số nhà Nho Việt Nam bàn về vấn đề Nho giáo và gia đình, ảnh hưởng của quan điểm Nho giáo (đặc biệt quan điểm về đạo đức) đối với việc xây dựng gia đình trong xã hội hiện đại Từ đó rút ra những giá trị vận dụng vào quá trình xây dựng gia đình trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước

Minh Anh, Tư tưởng Nho giáo về gia đình và việc xây dựng gia đình gia đình mới ở Việt Nam hiện nay [1] Tác giả đã đưa ra quan niệm của Nho giáo về

gia đình, về vai trò của gia đình đối với xã hội, về các chuẩn mực đạo đức khắt khe của Nho giáo trong các quan hệ gia đình Từ đó tác giả khẳng định công cuộc xây dựng gia đình mới ở Việt Nam cần lọc bỏ đi những yếu tố phản tiến bộ của đạo đức Nho giáo, kế thừa và phát huy những giá trị tích cực của nó vào quá trình xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay

Phan Mạnh Toàn, Lễ giáo Nho gia Phong kiến với vấn đề xây dựng gia đình nước ta hiện nay [94] Tác giả đưa ra quan niệm Nho giáo về vai trò của

gia đình, khẳng định tính ưu việt của Nho giáo so với các tôn giáo khác trong quan niệm về gia đình Tác giả đã phân tích mặt tích cực và hạn chế của lễ giáo Nho gia Từ đó đặt ra vấn đề xây dựng gia đình Việt Nam hòa thuận, trên kính dưới nhường, yêu thương đùm bọc nhau… thì nhất thiết phải vận dụng lễ giáo Nho gia Đồng thời cần lọc bỏ yếu tố lạc hậu, bảo thủ của lễ giáo đạo Nho trong quá trình xây dựng gia đình ở nước ta hiện nay

Lê Văn Phục, Vận dụng những giá trị truyền thống của Nho giáo trong việc xây dựng gia đình văn hóa [61] Tác giả đã đi sâu luận giải những giá trị của

đạo đức Nho giáo đối với việc xây dựng gia đình trong xã hội ngày xưa, tạo dựng nên những gia đình truyền thống gia giáo tốt đẹp Từ đó chỉ ra những yếu

tố hợp lý, có giá trị để vận dụng vào xây dựng gia đình văn hóa ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt đối với phương diện đạo đức trong gia đình

Trang 23

Lê Văn Phục, Từ chữ Hiếu của Nho giáo đến việc giáo dục đạo hiếu trong gia đình ở Việt nam hiện nay [62] Tác giả đưa ra quan niệm của Nho giáo về

chữ hiếu, về vai trò của chữ hiếu trong sự ổn định của gia đình Ảnh hưởng của chữ hiếu đến cách giáo dục gia đình trong các triều đại phong kiến Việt Nam Tầm quan trọng của việc giáo dục đạo hiếu trong gia đình Việt Nam trước những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường hiện nay Đồng thời tác giả đã đề xuất các giải pháp vận dụng chữ hiếu của Nho giáo vào xây dựng đạo đức gia đình ở Việt Nam hiện nay

Thái Doãn Việt, Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đến giáo dục đạo đức trong gia đình ở Việt Nam hiện nay [120] Trong luận án này, tác giả đã làm rõ

nội dung cơ bản của Nho giáo về đạo đức và đạo đức gia đình; nhấn mạnh đạo đức Nho giáo là nhân tố trực tiếp tác động đến giáo dục đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam Luận án còn làm rõ những nhân tố tác động, phương thức, thực trạng của ảnh hưởng đạo đức nho giáo đối với đạo đức gia đình hiện nay ở Việt Nam Luận án cũng xác định các vấn đề đặt ra, phương hướng và giải pháp để xây dựn gia đình Việt Nam trên cơ sở phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo

Từ cơ sở lý luận trên, tác giả đã phân tích làm rõ những nhân tố tác động đến ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo trong giáo dục đạo đức gia đình ở Việt Nam hiện nay và phương thức ảnh hưởng của nó; thực trạng ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đến giáo dục đạo đức trong gia đình ở Việt Nam hiện nay

Từ thực trạng này, tác giả chỉ rõ những vấn đề đặt ra cần giải quyết, từ đó nêu

ra những phương hướng và giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt tiêu cực của đạo đức Nho giáo đến việc giáo dục đạo đức trong gia đình ở Việt Nam hiện nay

Lê Văn Phục, Tư tưởng Ngũ thường của Nho giáo - Lịch sử và sự tác động ở Việt Nam [64] Cuốn sách gồm 4 chương đi sâu trình bày có hệ thống các

nội dung cơ bản: chương 1: trình bày lịch sử ra đời và phát triển tư tưởng “ngũ thường” của Nho giáo qua các thời kỳ lịch sử gắn liền với sự phát triển của Nho giáo; chương 2: trình bày quá trình Nho giáo nói chung, “ngũ thường” nói riêng

Trang 24

du nhập và phát triển ở Việt Nam, trải qua quá trình tồn tại lâu dài Nho giáo nói chung và tư tưởng “ngũ thường” nói riêng dần dần ăn sâu bám rễ, trở thành nét văn hóa không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, góp phần đáng kể vào việc tạo dựng nên nền văn hóa Việt Nam; chương 3: phân tích làm sáng tỏ sự kế thừa và vận dụng tư tưởng “ngũ thường” vào việc giáo dục đạo đức con người Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử của các nhà nho Việt; chương 4: cuốn sách nêu lên một số ý tưởng, kế thừa, phát huy những giá trị tích cực của tư tưởng “ngũ thường” trong việc giáo dục đạo đức con người Việt Nam, thể hiện trên ba phương diện đạo đức gia đình, đạo đức nhà trường và đạo đức xã hội Nhìn chung, các tác giả đã lược đi những mặt hạn chế, khai thác những luận điểm tích cực của Nho giáo và vận dụng nó vào xây dựng gia đình Những tư tưởng Nho giáo được các tác giả khai thác nhiều như tư tưởng về “ngũ thường”,

tư tưởng “hiếu đễ”, tư tưởng “nhân nghĩa”…, đó là những phạm trù cơ bản của Nho giáo có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng gia đình ổn định, hạnh phúc

1.1.4 Những nghiên cứu về xây dựng gia đình, gia đình văn hóa và ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng gia đình, gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng

Nghiên cứu về xây dựng gia đình, GĐVH, và sự kế thừa, vận dụng giá trị đạo đức Nho giáo vào việc xây dựng gia đình, GĐVH ở vùng đồng bằng sông Hồng cho đến nay có nhiều công trình khác nhau, cụ thể là:

Mai Huy Bích, Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng [2] Trong cuốn

sách này, tác giả nêu ra những đặc điểm về cấu trúc, quy mô, cách thức giáo dục, biểu hiện tâm lý của các thành viên và các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình Tác giả luận giải sâu sắc về nguồn gốc những phong tục, tập quán của gia đình đồng bằng sông Hồng dẫn đến các đặc điểm tâm lý, tính cách và quy

mô, cấu trúc gia đình hiện nay

Chu Thị Thoa, Bình đẳng về giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay [84] Tác giả đã trình bày cơ sở lý luận về vấn đề gia đình

và vấn đề bình bẳng giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng Thực

Trang 25

trạng bất bình đẳng giới trong quan hệ vợ chồng, anh em, con cái của gia đình ở nông thôn đồng bằng sồng Hồng Luận án vạch ra nguyên nhân và những tác động dẫn đến tình trạng này Từ đó đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay

Nguyễn Thị Luân, Một số vấn đề cần quan tâm trong xây dựng gia đình văn hóa ở làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh [48] Trong bài viết này, tác giả

đã khẳng định vai trò của việc xây dựng gia đình văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển làng văn hóa ở làng nghề Bắc Ninh Cùng với sự phát triển

về kinh tế thì các làng nghề truyền thống này cũng vẫn còn lưu giữ nhiều thói quen và những yếu tố truyền thống quý báu của gia đình, tiêu biểu là truyền thống trọng tình nghĩa, truyền thống kính hiếu ông bà, cha mẹ… Bên cạnh đó, cũng có những thói quen, nét tâm lý gây cản trở quá trình xây dựng gia đình văn hóa, đặc biệt là tư tưởng gia trưởng, tư tưởng cọi trọng con trai, chỉ truyền bí kíp gia truyền của gia đình cho con trai… Từ đó, tác đã đã đề xuất các giải pháp khắc phục những mặt hạn chế và phát huy những điểm tích cực trong tâm lý, văn hóa của các gia đình làng nghề truyền thống ở tỉnh Bắc Ninh

Cao Thị Vũ Quỳnh, Xây dựng mô hình gia đình văn hóa ở Thủ đô Hà Nội

[68] Tác giả đã nghiên cứu thực tiễn phong trào xây dựng gia đình văn hóa ở Thủ đô Hà Nội, đánh giá những thành tựu đạt được và những khó khăn hạn chế trong việc xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn Từ đó, tác giả đề xuất những khuyến nghị, giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại trong hoạt động xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn Thủ đô

Nguyễn Thị Kim Hoa, Mấy vấn đề về thực trạng xây dựng gia đình văn hóa tại đồng bằng sông Hồng [27] Tác giả khẳng định tính cấp thiết của việc

xậy dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng Qua khảo sát thực trạng xây dựng gia đình văn hóa ở 1 số tỉnh của đồng bằng sông Hồng (Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hải Phòng), tác giả đã thu thập được các kết quả khảo sát, từ đó

Trang 26

rút ra những đánh giá và đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng xây dựng gia đình văn hóa ở đồng bằng sông Hồng

Lê Thị Thanh Hương, Ứng xử của người dân vùng đồng bằng sông Hồng trong gia đình [31] Bằng ba phương pháp nghiên cứu chủ yếu (điều tra xã hội

học, phỏng vấn sâu và quan sát cuộc sống thường ngày của người dân), nhóm tác giả đã nghiên cứu về cách thức ứng xử trong các mối quan hệ gia đình của người dân vùng ĐBSH Cụ thể là: Mối quan hệ giữa vợ và chồng trong lĩnh vực

tổ chức sinh hoạt gia đình, trong lĩnh vực nghề nghiệp, trong lĩnh vực tình cảm; mối quan hệ giữa ông bà và con cháu trong mô hình sống chung, quan hệ hiếu thảo giữa con cháu với ông bà; mối quan hệ giữa bố mẹ già và con cái đã trưởng thành; mối quan hệ giữa bố mẹ và con trẻ hiện nay… Từ đó, tìm hiểu các đặc điểm ứng xử trong gia đình của người dân ĐBSH, phát hiện những thay đổi theo thời gian từ truyền thống đến hiện đại

Trịnh Duy Luân, Gia đình nông thôn đồng bằng Bắc bộ trong chuyển đổi

[49] Với việc sử dụng phương pháp quan sát thực tế, điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu, tác giả đã chỉ rõ sự thay đổi trong suy nghĩ và quan điểm sống của người dân vùng đồng bằng Bắc bộ (ĐBSH), đặc biệt là thế hệ thanh niên với các vấn đề trong cuộc sống như quan niệm về công việc, các mối quan hệ gia đình, tình yêu, tình dục… Qua đó cho thấy, người dân ngày các có quan điểm tự

do, cởi mở, dân chủ, bình đẳng hơn, nhưng cũng chính điều đó cũng đặt ra những vấn đề cho thấy các giá trị truyền thống đang bị ảnh hưởng và mai một trước sự chuyển đổi của nền kinh tế - xã hội của đất nước và cần có các chủ trương, chính sách mang tính định hướng để gia đình vùng đồng bằng Bắc bộ phát triển bền vững

Lê Ngọc Lân, Một số yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu trong gia đình hiện nay (Nghiên cứu trường hợp ở Bắc Ninh)

[42] Thông qua khảo sát người dân ở tỉnh Bắc Ninh, tác giả đã phân tích làm rõ thực trạng mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu trên hai mặt đời sống vật chất và đời sống tinh thần; thực trạng chăm sóc người cao tuổi trong các gia

Trang 27

đình; Đặc biệt, đề tài đã chỉ ra những yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa người cao tuổi với con cháu trong gia đình, sự khác biệt giữa các thế hệ về mặt nhận thức và các giải quyết các vấn đề trong cuộc sống đã dẫn đến những xung đột giữa các thế hệ người trong gia đình Từ thực tiễn nghiên cứu, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế bất đồng, tăng cường trách nhiệm và tình yêu thương giữa các thành viên gia đình nói chung, mối quan hệ giữa người cao tuổi với con cháu nói riêng

Nguyễn Thị Ngân, Sự biến đổi của chức năng gia đình ở vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh hiện nay [58] Đề tài đã nghiên cứu và chỉ rõ sự biến

đổi các chức năng của gia đình ở khu vực ĐBSH, phân tích những yếu tố tác động dẫn đến sự biến đổi các chức năng của gia đình như chức năng sinh đẻ, chức năng nuôi dưỡng và giáo dục, chức năng tổ chức đời sống gia đình Trên cơ

sở đó, tác giả đưa ra các khuyến nghị về việc thực hiện chức năng gia đình ở vùng ĐBSH trong giai đoạn hiện nay

Nguyễn Phương Thảo, Ứng xử của cha mẹ đối với con cái vị thành niên” (Qua cuộc khảo sát tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh) [79] Tác giả

nghiên cứu về ứng xử của cha mẹ với nhu cầu và lối sống của con cái vị thành niên; ứng xử khi con mắc lỗi và những biện pháp cha mẹ áp dụng để quản lý hành vi nguy cơ của con cái Những phát hiện thông qua khảo sát thực tế cho thấy: Ứng xử của cha mẹ đối với nhu cầu và lối sống của con trẻ mang tính tiêu cực nhiều hơn tích cực; cha mẹ thường hay áp đặt ý kiến cho con; cha mẹ thường hay quát tháo, đánh đòn con cái, thậm chí đuổi con cái ra khỏi nhà khi con cái mắc lỗi, ít cha mẹ có những hành vi tích cực như lắng nghe con cái, tâm

sự, động viên, khuyên nhủ con cái… Cách ứng xử này thể hiện sự thiếu dân chủ của cha mẹ đối với con cái và là nguyên nhân dẫn đến một số hành vi tiêu cực của trẻ vị thành niên trong xã hội

Nguyễn Hữu Minh, Gia đình Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập từ cách tiếp cận so sánh (Qua khảo sát ở vùng đồng bằng sông Hồng) [54] Cuốn sách đã nghiên cứu về các đặc trưng và sự biến đổi

Trang 28

về cấu trúc, chức năng của gia đình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập từ cách tiếp cận so sánh Thông qua cuốn sách này, tác giả khẳng định: Mặc dù gia đình hiện nay có nhiều biến đổi, nhưng những giá trị truyền thống gia đình vẫn được lưu giữ trong tính đa dạng của nó thông qua kết quả khảo sát thực tiễn người dân ở Thủ đô Hà Nội Đồng thời, cuốn sách cũng đưa ra những chính sách và hành động đối với sự phát triển của gia đình nhằm đẩy mạnh phát triển gia đình Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay

Nguyễn Thị Hảo, Vai trò của phụ nữ nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trong xây dựng gia đình văn hóa hiện nay [25] Luận án đi sâu vào nghiên

cứu về người phụ nữ và vai trò của người phụ nữ vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng, về gia đình văn hóa và các tiêu chí xây dựng gia đình văn hóa gắn với các điều kiện cụ thể của cùng, chỉ ra thực trạng bất bình đẳng giới và những yếu tố tác động dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới Từ đó, luận án vạch ra một

số quan điểm cơ bản và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hơn nữa vai trò của người phụ nữ trong quá trình xây dựng gia đình văn hóa ở đồng bằng sông Hồng hiện nay

Trần Thị Thanh Loan, Thái độ sống của thanh niên Hà Nội về giá trị sống

vì gia đình và các yếu tố tác động [46] Tác giả đã phân tích các yếu tố tác động

tới giá trị sống vì gia đình của nam, nữ thanh niên Hà Nội dựa trên số liệu Điều tra về tình dục và sức khỏe sinh sản vị thành niên tại Hà Nội năm 2006 Thông qua bài viết, tác giả khẳng định: các yếu tố như mối liên kết gần gũi với mẹ, nơi sinh ra và lớn lên có tác động đến khả năng đề cao giá trị sống vì gia đình của cả nam và nữ thanh niên Hà Nội Cũng từ kết quả nghiên cứu này, tác giả cho thấy: Mối liên hệ gần gũi giữa cha mẹ và con cái đóng vai trò quan trọng trong định hướng, cũng như duy trì thái độ sống tích cực vì gia đình của nam, nữ thanh niên

Hà Nội Đây là kết quả có ý nghĩa quan trọng, góp phần đề ra giải pháp trong việc giáo dục con trẻ về thái độ sống vì gia đình và những người xung quanh hiện nay

Trang 29

Trần Thị Cẩm Nhung, Thái độ của người dân Hà Nội đối với vấn đề ly hôn: Kết quả phân tích bước đầu từ một cuộc khảo sát [60] Tác giả phân tích

thái độ của người dân Hà Nội với vấn đề ly hôn Thông qua khảo sát người dân

về các tình huống như: Bạo lực gia đình, ngoại tình, khó khăn về kinh tế, mâu thuẫn về lối sống, tình trạng bệnh tật, vấn đề con cái, vấn đề việc làm hoặc các vấn đề liên quan đến tệ nạn xã hội…Thông qua kết quả điều tra cho thấy: Hiện nay người dân Hà Nội có thái độ khá cởi mở về vấn đề ly hôn Đặc biệt, nhóm người có học vấn cao hơn, sống ở thành thị và trẻ tuổi hơn có thái độ ủng hộ ly hôn trong các tình huống cụ thể đưa ra

Trần Thị Minh Thi, Thực trạng phân chia con cái và nhà ở sau ly hôn hiện nay (Nghiên cứu trường hợp đồng bằng sông Hồng) [82] Từ nguồn số liệu

thống kê về vấn đề Hôn nhân và gia đình, đặc biệt số liệu thống kê về ly hôn của Tòa án nhân dân tối cao, tác giả đã phản ánh thực trạng phân chia con cái chưa trưởng thành, phân chia nhà ở và mối quan hệ giữa cha mẹ - con cái sau ly hôn Qua bài viết này, tác giả đã cho thấy, sau các vụ ly hôn hiện nay, đa số con cái chưa trưởng thành sống với mẹ là phổ biến, đặc biệt là phụ nữ ở thành thị Việc phân chia nhà ở sau ly hôn ở thành thị và nông thôn cũng có sự khác biệt Nam giới ở nông thôn thường chiếm ưu thế hơn trong việc xác lập quyền sở hữu nhà

ở, vì thế mà phụ nữ nông thôn gặp nhiều thiệt thòi hơn sau ly hôn

Lê Ngọc Văn chủ biên, Hệ giá trị gia đình Việt Nam - hướng tiếp cận xã hội học (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Thái bình) [114] Cuốn sách là kết quả

của một đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Thông qua kết quả khảo sát người dân ở tỉnh Thái Bình về “hệ giá trị gia đình” hiện nay Mặc dù, nhìn từ những góc độ khác nhau như về: Mức sống, trình độ học vấn, độ tuổi, khu vực sinh sống là nông thôn hay thành thị… nhưng nhìn chung đều có điểm tương đồng

là “Các giá trị truyền thống được coi trọng và ưu tiên lựa chọn nhiều hơn các giá trị hiện đại”, đặc biệt là giá trị về sự chung thủy trong quan hệ vợ chồng Cũng từ kết quả khảo sát này, nhóm tác giả đã đưa ra những nhận định về sự biến đổi của các hệ giá trị gia đình Việt Nam theo cả hai hướng tích cực và tiêu

Trang 30

cực Trong quá trình biến đổi đó, đã dẫn tới sự xung đột, mâu thuẫn nhất định giữa các giá trị gia đình truyền thống và các giá trị gia đình hiện đại, giữa cái mới và cái cũ Chính điều này đã tạo nên sự tiếp biến về mặt văn hóa, tạo ra nền văn hóa gia đình đa dạng, phong phú Trong quá trình tiếp biến đó, các giá trị gia đình truyền thống không mất đi mà tiếp tục được giữ vững

Nguyễn Thị Thu Thủy, Phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay [88] Luận án đã

nghiên cứu và làm rõ các vấn đề lý luận về gia đình, gia đình truyền thống và sự cần thiết phát huy các giá trị gia đình truyền thống trong việc xây dựng GĐVH hiện nay Thông qua nghiên cứu thực trạng về việc phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH, tác giả đã chỉ rõ những vấn

đề bất cập cần giải quyết, từ đó đưa ra những quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm phát huy giá trị gia đình truyền thống trong xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay

1.2 ĐÁNH GIÁ CHUNG CÁC CÔNG TRÌNH TỔNG QUAN VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1.2.1 Đánh giá chung các công trình tổng quan

Qua nghiên cứu các công trình liên quan đến đề tài luận án, có thể rút ra giá trị chủ yếu của các công trình trên như sau:

Thứ nhất, mảng nghiên cứu chung về Nho giáo, ĐĐNG và sự ảnh hưởng

của nó trong xã hội Việt Nam.Trên khía cạnh này, tập trung rất nhiều công trình nghiên cứu trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, điểm nổi bật của mảng nghiên cứu này là đã làm rõ được các vấn đề như: lịch sử hình thành và phát triển của Nho giáo; làm rõ nội dung, đặc điểm của Nho giáo, của ĐĐNG; làm rõ quá trình Nho giáo du nhập vào Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội Việt Nam

Thứ hai, nghiên cứu về mảng ĐĐNG với vấn đề gia đình, các tác giả đã

làm rõ vai trò của chuẩn mực đạo đức Nho giáo đối với xây dựng gia đình; ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo với xây dựng gia đình truyền thống (GĐTT) xưa,

Trang 31

đặt ra những vấn đề cần kế thừa, vận dụng các giá trị đạo đức Nho giáo, cũng như những hạn chế cần khắc phục trong gia đình hiện đại

Thứ ba, nghiên cứu về mảng GĐVH, các tác giả đã làm rõ một số vấn đề

lý luận về: khái niệm GĐVH, tiêu chí xác định GĐVH, tầm quan trọng của việc xây dựng gia đình văn hóa, những yếu tố tác động đến việc xây dựng GĐVH; chỉ ra thực trạng vấn đề xây dựng gia đình văn hóa hiện nay, từ đó đề xuất một

số quan điểm chỉ đạo và giải pháp chủ yếu để xây dựng GĐVH trong bối cảnh hiện nay

Thứ tư, nghiên cứu về mảng đạo đức Nho giáo với việc xây dựng gia đình

văn hóa ở khu vực đồng bằng sông Hồng, các tác giả đã xem xét ở những khía cạnh khác nhau trong ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng gia đình ở vùng đồng bằng sông Hồng Cụ thể, với việc thực hiện bình đẳng giới, với đạo đức người phụ nữ, với hoàn thiện nhân cách của thế hệ trẻ, với đời sống tinh thần của các GĐ Tất cả các công trình trên đều chỉ ra những thực trạng, từ

đó đề xuất các giải pháp để xây dựng gia đình ở vùng đồng bằng sông Hồng từ các góc độ, khía cạnh mà các tác giả nghiên cứu

Bên cạnh những giá trị đạt được, thì còn “khoảng trống” những vấn đề chưa được tiếp cận, hoặc nghiên cứu đang còn mờ nhạt

Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về ĐĐNG, chủ yếu các tác giả

nghiên cứu các vấn đề chung, thể hiện trên phạm vi rộng, ít đi vào cụ thể, nhất là mối quan hệ giữa đạo đức Nho giáo với xây dựng GĐVH

Thứ hai, những công trình nghiên cứu về sự ảnh hưởng của Nho giáo và

đạo đức Nho giáo đến việc xây dựng gia đình, GĐVH, mặc dù đã được đề cập ở các góc độ nghiên cứu khác nhau nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu dưới góc độ chính trị - xã hội để làm rõ những ảnh hưởng tích cực, cũng như ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng GĐVH

Thứ ba, mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về Nho giáo, nhưng nhìn

chung, nghiên cứu Nho giáo gắn với một vùng cụ thể - có tính đặc thù như vùng đồng bằng sông Hồng thì chưa nhiều, đặc biệt là nghiên cứu sự ảnh hưởng của

Trang 32

đạo đức của Nho giáo đối với xây dựng GĐVH cấp luận án, dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học thì chưa ai làm - một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cấp thiết nhưng chưa được khai thác, đó là “khoảng trống” và cũng chính là mong muốn đạt được của tác giả khi lựa chọn đề tài này

1.2.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, với những kết quả nghiên cứu đã đạt được và những góc độ chưa được tiếp cận trong nghiên cứu về Nho giáo, ĐĐNG và sự ảnh hưởng của nó trong xã hội Việt Nam; nghiên cứu về gia đình, xây dựng GĐVH ở Việt Nam; về ảnh hưởng của ĐĐNG trong việc xây dựng GĐ, GĐVH ở vùng ĐBSH,… Luận án cần tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề sau:

Thứ nhất, luận án tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống về nội dung

ĐĐNG, về GĐVH, đặc biệt, luận án tập trung nghiên cứu sự ảnh hưởng của ĐĐNG (mặt tích cực và mặt tiêu cực) đối với việc xây dựng GĐVH và các phương thức ảnh hưởng của nó

Thứ hai, luận án nghiên cứu thực trạng ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo

đối với việc xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH, từ đó xác định những vấn đề đặt ra cần thực hiện trong thời gian tới để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của đạo đức Nho giáo trong việc xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH hiện nay

Thứ ba, luận án đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng

tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của ĐĐNG đối với xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH trong thời gian tới

Trang 33

có liên quan đến đề tài luận án cho thấy, các công trình khoa học đã luận giải làm sáng tỏ các vấn đề: ĐĐNG và sự ảnh hưởng của nó trong xã hội Việt Nam; vai trò của các chuẩn mực đạo đức Nho giáo đối với việc xây dựng GĐTT thống xưa, đặt ra những vấn đề kế thừa, vận dụng đối với xây dựng gia đình hiện nay; làm rõ một số vấn đề lý luận về: khái niệm GĐVH, tiêu chí xác định GĐVH, tầm quan trọng của việc xây dựng GĐVH, những yếu tố tác động đến việc xây dựng gia đình văn hóa; chỉ ra thực trạng vấn đề xây dựng GĐVH hiện nay, từ đó

đề xuất một số quan điểm chỉ đạo và giải pháp chủ yếu để xây dựng GĐVH trong bối cảnh hiện nay; các công trình đã nghiên cứu về những khía cạnh khác nhau trong việc ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng gia đình ở vùng đồng bằng sông Hồng

Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình khoa học nào được tiếp cận dưới góc độ chính trị - xã hội, đi sâu nghiên cứu làm rõ ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng GĐVH ở vùng ĐBSH một cách đầy đủ,

hệ thống Do vậy, việc nghiên cứu sinh tiếp tục đi sâu nghiên cứu vấn đề “Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay” là sản phẩm nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với

các công trình đã được công bố; vừa chứa đựng những giá trị khoa học mới, vừa

có sự kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đã công bố

Trang 34

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA

ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐỐI VỚI XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA

2.1 ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO

Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức - xã hội, do Khổng Tử (551

- 479TCN) sáng lập trong thời Xuân Thu chiến quốc, là giai đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội Trung Hoa cổ đại trong quá trình chuyển biến sang xã hội phong kiến, kéo dài từ thế kỷ thứ VII trước Công nguyên đến thế kỷ thứ III trước Công nguyên Nhìn chung, Nho giáo là một hệ thống quan niệm về thế giới, xã hội và con người, nhưng khi nói đến Nho giáo, phần lớn mọi người chủ yếu nói

về đạo đức, nhấn mạnh về vai trò của đạo đức Nho giáo trong xã hội Nội dung

cơ bản của đạo đức Nho giáo là luân thường, được thể hiện thành hai mảng: đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân Đạo đức xã hội bao gồm năm mối quan hệ đó là ngũ luân: quan hệ vua - tôi, quan hệ cha - con, quan hệ chồng - vợ, quan hệ anh -

em, quan hệ bạn bè Đối với đạo đức cá nhân, Nho giáo nêu lên ngũ thường, bao

gồm: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín Bên cạnh đó, còn có tư tưởng “hiếu đễ”, tư tưởng

về “tứ đức”

2.1.1 Nội dung chủ yếu của đạo đức Nho giáo Trung Hoa

2.1.1.1 Tư tưởng Tam cương

Tam cương chỉ ba mối quan hệ chủ yếu của con người từ gia đình đến xã hội, cụ thể là: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ Thuật ngữ “tam cương” xuất hiện trong tư tưởng của Đổng Trọng Thư vào thời Hán Vũ Đế, tuy nhiên, nguồn gốc xuất xứ của nó thì có ngay từ thời Khổng - Mạnh Trong tư tưởng Khổng Tử thì gọi là “nhân luân”, trong tư tưởng của Mạnh Tử thì gọi là “ngũ luân”, bao gồm: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn bè Trong đó, nhấn mạnh đến ba mối quan hệ: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ được xem là cơ bản nhất

Trong MQH vua - tôi (quân - thần), Nho giáo Khổng - Mạnh đưa ra hai

chuẩn mực đạo đức để ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ giữa vua và thần dân

Trang 35

Theo đó, để cai trị dân thì vua phải dùng “đức trị”, “nhân trị” Để làm được điều

đó thì đòi hỏi vua (người cầm quyền) phải tu thân, phải rèn luyện đạo đức Chính

vì vậy, Nho giáo rất mực đề cao việc rèn đạo đức không chỉ đối với vua mà cả đối với thường dân, trong sách Đại học đã viết: “Từ bậc thiên tử cho tới thường dân, tất cả đều phải lấy việc sửa mình làm gốc Gốc rối loạn, mà ngọn được sửa trị, chẳng có vậy” [104, tr.1043] Còn đối với dân thì phải lấy lòng “trung” để thờ vua “Vua lấy lễ sai khiến bề tôi, bề tôi lấy lòng trung để thờ vua” [35, tr.255] Tuy nhiên, đến thời Đổng Trọng Thư thì trong mối quan hệ vua - tôi trở nên gay gắt theo hướng một chiều, vua giữ vai trò quyết định so với bề tôi, bề tôi phải tuyệt đối trung thành với vua đến mức: Vua bảo thần chết, thần không thể không chết

Trong mối quan hệ cha - con (phu - tử), Nho giáo Khổng - Mạnh đưa ra

hai chuẩn mực đạo đức là “từ” và “hiếu” Theo đó, cha mẹ phải thương yêu và

có trác nhiệm dưỡng dục con cái và ngược lại, con cái phải kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ Tuy nhiên, trong MQH này, Nho giáo luôn đề cao vị trí, vai trò của cha mẹ đối với con cái, thể hiện rõ trong Nho giáo Đổng Trọng Thư khi khẳng định người cha giữ vai trò quyết định đối với con Do đó, các nhà Nho yêu cầu con cái phải có nghĩa vụ đối với cha mẹ - đó là “hiếu” Có thể khẳng định, từ xưa đến nay, hiếm có một học thuyết nào, một trường phái nào đề cập đến chữ “hiếu” một cách sâu sắc và cụ thể như Nho giáo

Trong MQH chồng - vợ (phu - phụ), Nho giáo Khổng - Mạnh đưa ra

phạm trù “nghĩa” - là chuẩn mực đạo đức nhằm ràng buộc trách nhiệm giữa vợ

và chồng Theo đó, vợ chồng phải yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ chia sẻ cùng nhau Mặc dù vậy, theo quan niệm của các nhà Nho, vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội luôn được nhìn nhận và đánh giá thấp hơn nhiều so với nam giới Đến Nho giáo Đổng Trọng Thư trong mối quan hệ này thì tuyệt đối hóa vai trò của người chồng, yêu cầu vợ phải theo chồng, phải giữ tiết hạnh với chồng và trong mối quan hệ này thì người chồng giữ vai trò quyết

Trang 36

định đối với người vợ Để thực hiện điều này, Nho giáo đã xây dựng nên hệ thống học thuyết “tam tòng”, “tứ đức” kìm hãm, trói buộc người phụ nữ

Như vậy, có thể thấy rằng “tam cương” chứa đựng cả ưu điểm và hạn chế Một mặt, “tam cương” có giá trị điều chỉnh hành động của con người theo những chuẩn mực của xã hội, góp phần giữ gìn trật tự, nền nếp từ trong gia đình đến ngoài xã hội Nhưng mặt khác, với những quy định khắt khe đã trói buộc con người vào các khuôn khổ trong những mối quan hệ định sẵn, làm mất đi động lực và tính sáng tạo của con người Hơn nữa, “tam cương” của Đổng Trọng Thư thể hiện mối quan hệ một chiều, mang tính chất mệnh lệnh, tuyệt đối phục tùng, làm mất đi quyền dân chủ, bình đẳng của con người

2.1.1.2 Tư tưởng Ngũ thường

Tư tưởng “ngũ thường” là một nội dung cốt lõi trong học thuyết đạo đức của Nho giáo, có lịch sử hình thành từ rất sớm, nằm rải trong các kinh điển thời

kỳ Tiên Tần, sau đó được các nhà tư tưởng Nho gia bổ sung và phát triển, tạo nên hệ thống chỉnh thể đầy đủ Được bắt đầu từ Khổng Tử, sau đó được Mạnh

Tử, Đổng Trọng Thư khẳng định, bổ sung và hoàn chỉnh Lúc ban đầu, theo Khổng Tử, muốn hợp “lễ” thì con người cần phải có các đức “nhân”, “trí”,

“dũng” Đến Mạnh Tử, bỏ “dũng” và nói nhiều về “lễ nghĩa”, do vậy thành bốn đức: “nhân”, “nghĩa”, “lễ”, “trí” Sau đó Đổng Trọng Thư thêm “tín” và thành năm đức như ngày nay - “nhân”, “nghĩa”, “lễ”, “trí”, “tín” Về sau, “ngũ thường” trở thành quan niệm đạo đức cơ bản của xã hội tông pháp phong kiến Trung Quốc, là quy tắc đạo đức cơ bản trong việc xử lý mối quan hệ giữa người với người trong xã hội phong kiến, có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của nền văn minh đạo đức Trung Hoa

- Nhân:

“Nhân” hay còn gọi là “đức nhân”, trong đạo làm người được Khổng Tử đặt lên hàng đầu, là tiêu chuẩn cao nhất, là điều hợp với đạo trời và lòng người Chữ “nhân” đối với mọi người dân trong thiên hạ còn hơn cả nước và lửa, người

ta có thể đạp lên nước, lửa mà chết, chứ không thể đạp lên chữ “nhân” mà chết

Trang 37

được, Khổng Tử nói: “Dân chi ư nhân dã, thậm ư thủy hỏa Thủy hỏa, ngô kiến đạo nhi tử giả hỹ, dĩ vi kiến đạo nhân nhi tử giả dã” (Dân chúng đối với đức nhân, rất cần hơn nước lửa Nước lửa người ta có thể dẫm lên mà chết; chưa thấy người dẫm lên đức nhân mà chết) [Luận ngữ - Vệ linh công 15.34] Theo Nho giáo, chữ “nhân” có nhiều ý nghĩa khác nhau, nhưng nổi bật nhất là nói về lòng yêu thương con người, là “ái nhân” - yêu người Để xác định được chủ thể của mình trong mối quan hệ xã hội và phát huy được phẩm chất của chủ thể ấy đối với người xung quanh, theo Khổng Tử phải luôn “Khắc kỷ phục lễ vi nhân” (Luôn sửa mình theo lễ để làm điều nhân) [Luận ngữ - Nhan Uyên 12.1] Khi học trò Phan Trì hỏi về chữ “nhân”, Khổng Tử trả lời: “Ái nhân” (yêu thương con người) [Luận ngữ - Nhan Uyên 12.21] Nhân ái, yêu người phải chính như yêu thương bản thân bản thân mình Do vậy: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (cái

gì mình không muốn thì đừng gán cho người khác) [Luận ngữ - Nhan uyên 12.2] hay “Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” (muốn lập thân thì giúp người khác lập thân, muốn thành đạt thì giúp người khác thành đạt) [Luận ngữ - Ung Dã 6.28] Có nhân mới có ái, có ái mới bộc lộ ra tính nhân Vậy, nhân ái là phải đầy lòng yêu thương, mong muốn tất cả mọi người đều thành đạt

Như vậy, Nho giáo lấy “nhân” làm gốc, mở đầu của đạo đức Điều cốt yếu

là ở đức “nhân”, “nhân” là đích tu dưỡng quan trọng của con người, ai đạt được bậc nhân thì làm việc gì cũng được lòng người, ích cho đời

- Nghĩa

Gắn liền với “nhân” là “nghĩa” - cũng là phạm trù được Nho giáo rất quan tâm Theo Nho giáo, người có đức “nghĩa” là thấy việc phải làm mà không làm là cắn rứt lương tâm, thấy sự bất bằng là không để yên “Nghĩa” bao gồm sự trả nghĩa, trả cái ân huệ mà người khác vô tư giúp mình qua hoạn nạn,

và không tiếc thân mình để giữ lấy chủ tướng, với bạn bè, với nghĩa cả Ở đời

“nghĩa” rất cao quý, như Mạnh Tử nói: “Sinh diệc ngã sở dục dã; nghĩa diệc ngã sở dục dã Nhị dã bất khả đắc kiêm, xã sinh nhi thủ nghĩa giả dã” (Sự sống cũng là điều ta muốn, nghĩa cũng là điều ta muốn, hai cái đó không giữ được cả hai, thì bỏ sống mà giữ lấy nghĩa) [Mạnh tử - Cáo Tử thượng 10] Ông kêu gọi:

Trang 38

“Quân tử chi ư thiên hạ dã, vô thích dã, vô mịch dã, nghĩa chi dữ tỷ” (Người quân tử đối với mọi việc trong thiên hạ, không quy định phải làm như thế nào, cũng không quy định không được làm như thế nào, chỉ xét hợp nghĩa thì làm)

- Lễ

Cùng với “nhân nghĩa” thì “lễ” cũng là phạm trù cơ bản của đạo đức Nho giáo Theo Nho giáo, “lễ” là biểu hiện hình thức của “nhân”, “lễ” đóng vai trò quan trọng trong việc đưa “nhân nghĩa” vào cuộc sống hàng ngày, trở thành quy tắc, đi sâu vào tâm lý con người, giáo dục con người tự nguyện theo những đức tính ấy để duy trì trật tự kỷ cương xã hội Theo Nho giáo, cần phải thực hiện “lễ”

vì “lễ” có tác dụng nhiều mặt với con người như: “Lễ” gây thiện cảm thẩm mỹ;

“lễ” tiết chế sống có đức độ và đặc biệt Nho giáo nhấn mạnh “lễ” giúp con người giữ đúng đạo phải trái; trật tự trên dưới Nho giáo cho rằng: “Đạo đức nhân nghĩa phi lễ bất thành, giáo huấn chính trực phi lễ bất vị, phân tranh kiện tụng phi lễ bất quyết, quân thần, thượng hạ, phu tử, huynh đệ phi lễ bất định, hoạn học

sự sư phi lễ bất thân, ban triều trị quân, lị quan hành pháp phi lễ uy nghiêm bất hành, đảo từ tế tự cung cấp quỷ thần phi lễ bất thành, bất tang” (Đạo đức nhân nghĩa không có lễ không thành, dạy bảo, sữa đổi phong tục không lễ không đủ,

xử việc phân tranh kiện tụng không lễ không quyết, vua tôi, trên dưới, cha con, anh em không lễ không định, học tập thờ thầy không lễ không thân thiết, xếp đặt triều chính, điều hành quân lính ở chốn công đường, thi hành pháp luật không lễ không nghiêm, cầu khấn tế lễ không lễ không kính) [Kinh Lễ - Khúc Lễ thượng] Như vậy, “lễ” là đạo lý, là phép tắc, là hành vi, qua đó mà duy trì, phân rõ tôn ti trật tự trong gia đình và ngoài xã hội “Lễ chủ giáo hoá dã vi, kỳ chỉ tà dã ư vi hình, sử nhân vật tỉ thiện, viễn tội nhi bất tri trí dã” (Sự giáo hoá của lễ rất lớn,

Trang 39

ngăn cấm điều lâm nguy khi chưa xảy ra, khiến người ta càng gần điều thiện, tránh xa điều ác mà tự mình không biết) [Kinh Lễ - Kinh giải 26]

- Trí

Ngay từ đầu, Khổng Tử rất đề cao chữ “trí”, được đặt sau chữ “nhân” (nhân, trí, dũng), vì ông cho rằng: con người cần phải có sự hiểu biết, có trí tuệ mới thực hiện được đạo đức có hiệu quả Nhờ có “trí” con người mới sáng suốt, minh mẫn để hiểu biết được đạo lý, xét đoán được sự việc, phân biệt được sự đúng sai, phải trái, thiện ác, để trau dồi đạo đức và hành động hợp với “thiên lý” Nếu không có “trí” sáng suốt thì chẳng những không giúp được người mà còn làm hại đến thân mình nữa Theo Nho giáo, trí còn là sự năng động, sáng tạo, mà sự năng động, sáng tạo này đặt trên nền tảng của nhân, do vậy, khi xác định đặc tính của người có trí, Khổng Tử viết: “Trí giả nhạo thủy; nhân giả nhạo sơn; trí giả động; nhân giả tỉnh; trí giả lạc; nhân giả thọ” (Người trí thích nước; người nhân thích núi; người trí thì hiếu động; người nhân thì yên tĩnh; người trí vui thích; người nhân sống lâu) [Luận ngữ - Ung giả 6.21] Nho giáo nhấn mạnh, Người có trí là người chính trực, có nhân đức, nên giới thiệu, đề cử

họ đứng ra giúp đời, Khổng Tử viết: “Cử uổng thố chư trực, tắc dân bất phục” (Cân nhắc người ngay thẳng, tách rời người gian tà thì dân tuân theo) [Luận ngữ - Vi chính 2.19]

Cùng với đề cao vai trò của “trí”, Nho giáo cũng chú ý đến chuẩn mực của người có đức “trí”, đó là: 1 Cách vật (hiểu biết hết mọi sự vật, sự việc), 2 Trí tri (hiểu biết vấn đề gì cũng đến nơi đến chốn), 3 Thành ý (ý thức chân thành, kiêm tốn trong sự hiểu biết), 4 Chính tâm (hiểu biết trong sự ngay thẳng, chính trực, khiêm tốn) Người có đức “trí” cần hội đủ các chuẩn mực đó thì mới đạt đến “nhân” và thực hiện được “nhân”

- Tín

“Tín” trong Nho giáo là lời nói và việc làm phải thống nhất với nhau, là lòng tin của con người với nhau Trong “ngũ luân” thì “tín” được coi là tiền đề trong mối quan hệ bạn bè: “bằng hữu hữu tín Tuy nhiên, nội hàm của “đức tín” không chỉ bó hẹp trong mối quan hệ duy nhất này mà nó còn bao hàm cả lòng tin

Trang 40

tuyệt đối vào chính đạo, vào đạo lý thánh hiền, vào MQH giữa vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bằng hữu Chữ “tín” không chỉ thể hiện niềm tin, sự thống nhất trước sau như một trong suy nghĩ và hành động của chính bản thân mình,

mà nó còn thể hiện niềm tin đối với người khác Thông qua đó góp phần làm cho mối MQH con người với con người, gia đình, bạn bè, bằng hữu với nhau thêm bền chặt Người xa có câu: “Một lần bất tín, vạn sự bất tin” Quả đúng như vậy, chữ “tín” là một chuẩn mực đạo đức rất quan trọng trong mọi mối quan hệ xã hội: Vua phải tin dân, cha phải tin con, chồng phải tin vợ, đặc biệt bạn hữu phải tin nhau Và niềm tin ấy chỉ có được khi con người biết giữ và coi trọng chữ “tín”, lời nói và hành động trước sau như một Do vậy Khổng

Tử khẳng định: “Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã” (Người không có uy tín thì không biết có làm được gì) [Luận ngữ - Vi chính 2.22] hay “Dân vô tín bất lập” (Dân mất niềm tin thì không giành được thành tựu) [Luận ngữ - Nhan Uyên 12.7]

2.1.1.3 Tư tưởng Hiếu đễ

Trong quan niệm về đạo đức gia đình, Nho giáo đặc biệt nhấn mạnh sự hiếu thuận của con cái đối với cha mẹ, xem đó là một phẩm chất đạo đức cao đẹp của con người Theo Nho giáo: Hiếu kính cha mẹ tức là phải tôn trọng, yêu thương, phụng dưỡng cha mẹ, biết công ơn sinh thành, giáo dưỡng của cha mẹ, thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của người con đối với cha mẹ Nho giáo cho rằng: “Hiếu hữu Tam: Đại hiếu tôn thân, kỳ hiếu phất nhục, kỳ hạ năng dưỡng” Hiếu phân làm ba: thứ nhất, đại hiếu tôn kính cha mẹ; thứ hai, không làm nhục cha mẹ; thứ ba, nuôi dưỡng cha mẹ” [85, tr.165-166]

Theo Nho giáo, “hiếu” là “nết đầu trong trăm nết” Hành vi của người ta không gì lớn bằng chữ “hiếu”, người con có hiếu, có ý thức đầy đủ về tình cảm

và bổn phận của mình đối với cha mẹ, đó là sự biết ơn, cù lao chín chữ “cha sinh

ra ta, mẹ nuôi ta, thương thay cha mẹ” (ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao), đó là ý nguyện thường xuyên làm sao để cha mẹ được vui sướng, dù mình có phải ăn gạo xấu, uống nước lã cũng thỏa lòng (Lễ ký)

Ngày đăng: 18/06/2020, 17:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w