1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA KÍCH DỤC TỐ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA CẦY VÒI HƯƠNG (Paradoxurus hermaphroditus Pallas, 1777) TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI NHỐT

124 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 15,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ --- Nguyễn Thị Thu Hiền NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA KÍCH DỤC TỐ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA CẦY VÒI HƯƠNG

Trang 1

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

Nguyễn Thị Thu Hiền

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA KÍCH DỤC TỐ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN

CỦA CẦY VÒI HƯƠNG (Paradoxurus hermaphroditus Pallas, 1777)

TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI NHỐT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2019

Trang 2

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

Nguyễn Thị Thu Hiền

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ

ẢNH HƯỞNG CỦA KÍCH DỤC TỐ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN

CỦA CẦY VÒI HƯƠNG (Paradoxurus hermaphroditus Pallas, 1777)

TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI NHỐT

Chuyên ngành: Công nghệ sinh học

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Luận án này là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Thanh Bình và PGS TS Nguyễn Thị Phương Thảo

Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Những trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận án có nguồn gốc xác thực

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng 09 năm 2019

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận án này được hoàn thành tại Viện Sinh học Nhiệt đới, Học viện Khoa học

và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu của Thầy Cô, các nhà khoa học, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng nhất tới PGS TS Nguyễn Thanh Bình và PGS TS Nguyễn Thị Phương Thảo - những người Thầy đã tận tâm hướng dẫn khoa học, luôn động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Ban lãnh đạo Viện Sinh học Nhiệt đới, tập thể cán

bộ của Học viện và Viện đã quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm Ứng dụng công nghệ sinh học Tỉnh Đồng Nai, Trang trại động vật hoang dã Thanh Long, Trung tâm Công nghệ chăn nuôi-Phân viện chăn nuôi Nam Bộ về sự ủng hộ cơ sở, vật chất trong việc thực hiện luận án; BS thú y Đỗ Đức Thiện đã giúp đỡ thu thập mẫu trong quá trình nghiên cứu.

Tôi xin chân thành cảm ơn tới Trường Đại học Thủ Dầu Một, Khoa Khoa học

Tự nhiên và các đồng nghiệp đã ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian làm nghiên cứu sinh

Tôi xin chân thành cảm ơn Quỹ phát triển khoa học trường Đại học Thủ Dầu Một đã tài trợ kinh phí cho hai đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở để thực hiện luận

án này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè và những người thân

đã luôn quan tâm, khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC HÌNH x

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của luận án 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án 2

3 Nội dung nghiên cứu của luận án 2

4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án 2

5 Tính mới của luận án 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4

1.1 Sơ lược về cầy vòi hương 4

1.1.1 Phân loại 4

1.1.2 Đặc điểm ngoại hình 4

1.1.3 Tập tính và sinh sản 5

1.1.4 Phân bố 5

1.1.5 Tình hình nuôi cầy vòi hương 5

1.2 Tình hình nghiên cứu về cầy vòi hương 6

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 6

1.2.1.1 Nghiên cứu về tập tính, phân bố và hiện trạng loài trong tự nhiên 6

1.2.1.2 Nghiên cứu về đặc điểm giải phẫu, sinh lý-sinh hóa máu 9

1.2.1.3 Nghiên cứu về tính đa dạng di truyền và phát sinh loài 11

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 13

1.3 Tổng quan về PMSG và HCG 15

1.3.1 Cấu trúc, chức năng của PMSG 15

Trang 6

1.3.1.1 Nguồn gốc và cấu trúc của PMSG (eCG) 15

1.3.1.2 Vai trò của eCG trong ngựa cái 16

1.3.1.3 Hoạt động sinh học của eCG 17

1.3.1.4 Ứng dụng của PMSG 17

1.3.2 Cấu trúc, chức năng của HCG 19

1.3.2.1 Nguồn gốc và cấu trúc của HCG 19

1.3.2.2 Chức năng của HCG 19

1.3.3 Tình hình sử dụng kích dục tố PMSG và HCG trong hỗ trợ sinh sản 20

1.4 Tổng quan về estrogen và progesterone 25

1.4.1 Cấu trúc và chức năng của estrogen 25

1.4.2 Cấu trúc và chức năng của progesterone 25

1.4.3 Xác định con đường chuyển hoá và bài tiết hormone estrogen và progesterone 26

1.4.4 Phương pháp ly trích steroid 27

1.4.5 Xác định động thái sinh sản dựa vào đánh giá steroid trong phân 28

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 33

2.2 Chuồng trại, thức ăn, nước uống 33

2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 34

2.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt 34

2.3.1.1 Vật liệu 34

2.3.1.2 Chỉ tiêu khảo sát 34

2.3.1.3 Phương pháp xác định khối lượng và kích thước các chiều đo 35

2.3.1.4 Phương pháp nghiên cứu tốc độ sinh trưởng 35

2.3.1.5 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh sản 35

2.3.2 Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí – sinh hóa máu, nước tiểu của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt 36

2.3.2.1 Vật liệu 36

2.3.2.2 Chỉ tiêu khảo sát 36

Trang 7

2.3.2.3 Phương pháp thu mẫu và phân tích máu 37

2.3.3 Nghiên cứu sự thay đổi hàm lượng hormone sinh dục của cầy vòi hương cái trong điều kiện nuôi nhốt 38

2.3.3.1 Vật liệu 38

2.3.3.2 Chỉ tiêu khảo sát 38

2.3.3.3 Phương pháp thu mẫu và chiết xuất phân……… 39

2.3.3.4 Phương pháp xét nghiệm hormone 40

2.3.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của kích thích tố sinh dục (PMSG, hCG) đến khả năng sinh sản của cầy vòi hương cái 41

2.3.4.1 Vật liệu 41

2.3.4.2 Chỉ tiêu khảo sát 41

2.3.4.3 Loại hormone sinh sản sử dụng ……… 42

2.3.4.4 Các công thức tiêm hormone sinh sản 42

2.3.4.5 Bố trí thí nghiệm 42

2.3.4.6 Quy trình tiêm 42

2.3.4.7 Phương pháp xác định sự thay đổi hormone 42

2.4 Xử lí số liệu 43

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44

3.1 Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học 44

3.1.1 Đặc điểm hình thái, dinh dưỡng và một số tập tính của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt 44

3.1.2 Đặc điểm sinh trưởng của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt… 46 3.1.2.1 Tăng trưởng khối lượng 46

3.1.2.2 Tăng trưởng chiều dài thân đầu 47

3.1.2.3 Tăng trưởng chiều dài đuôi……… 48

3.1.2.4 Tăng trưởng vòng ngực 49

3.1.3 Đặc điểm sinh sản của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt……… 50

3.1.3.1 Tuổi thành thục sinh dục và biểu hiện động dục 51

3.1.2.2 Hoạt động giao phối, tỉ lệ mang thai và thời gian mang thai 53

Trang 8

3.1.3.3 Số cầy sinh ra trên lứa, tỉ lệ sống sót, đặc điểm con sơ sinh và tuổi cai

sữa 55

3.2 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí – sinh hóa máu, nước tiểu của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt 58

3.2.1 Một số chỉ tiêu sinh lí máu của cầy vòi hương theo giới tính 58

3.2.2 Một số chỉ tiêu sinh lí máu của cầy vòi hương theo tuổi 60

3.2.3 Các chỉ số sinh hóa máu của cầy vòi hương 62

3.2.4 Một số chỉ tiêu sinh hóa nước tiểu của cầy vòi hương theo giới tính 65

3.2.5 Một số chỉ tiêu sinh hóa nước tiểu của cầy vòi hương theo tuổi 68

3.3 Kết quả nghiên cứu sự thay đổi hàm lượng hormone sinh dục của cầy vòi hương cái trong điều kiện nuôi nhốt 70

3.3.1 Sự thay đổi hàm lượng estradiol và progesterone trong phân cầy vòi hương không mang thai 70

3.3.2 Sự thay đổi hàm lượng estradiol và progesterone trong phân cầy vòi hương mang thai 74

3.3.3 Sự thay đổi hàm lượng estradiol và progesterone trong phân cầy vòi hương mang thai giả 77

3.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của kích thích tố sinh dục (PMSG, HCG) đến khả năng sinh sản của cầy vòi hương cái 79

3.4.1 Sự thay đổi hàm lượng estradiol và progesterone sau khi tiêm kích dục tố 79

3.4.2 Thời gian xuất hiện các biểu hiện và kéo dài động dục 85

3.4.3 Kết quả sử dụng các công thức hormone lên một số chỉ tiêu sinh sản 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

1 Kết luận 91

2 Kiến nghị 92

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Diễn giải tiếng Anh Diễn giải tiếng Việt

người

Trang 10

HGB Hemoglobin Hemoglobin

Chromatography

Sắc ký lỏng hiệu năng cao

cầu

polymerase

phóng xạ

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2 1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm theo dõi các chỉ số sinh trưởng 35

Bảng 2 2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm theo dõi các chỉ số sinh lí - sinh hoá máu, nước tiểu ……… 37

Bảng 2 3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm theo dõi các chỉ số nội tiết estradiol và progesterone ……… 38

Bảng 2 4 Dữ liệu của 12 cá thể cầy cái được thu mẫu trong nghiên cứu 39

Bảng 2 5 Sơ đồ bố trí thí nghiệm tiêm kích dục tố 42

Bảng 3 1 Tốc độ tăng trưởng khối lượng của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi 46

Bảng 3 2 Tốc độ tăng trưởng chiều dài thân đầu của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi 48

Bảng 3 3 Tốc độ tăng trưởng chiều dài đuôi của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi 49

Bảng 3 4 Tốc độ tăng trưởng vòng ngực của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi 50

Bảng 3 5 Tuổi thành thục sinh dục của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt 51

Bảng 3 6 Tỉ lệ và thời gian mang thai ở cầy vòi hương 54

Bảng 3 7 Số cầy vòi hương con sinh ra trên lứa và tỉ lệ sống sót 55

Bảng 3 8 Một số chỉ số sinh lí máu của cầy vòi hương theo giới tính 59

Bảng 3 9 Các chỉ số sinh lí máu của cầy vòi hương theo nhóm tuổi 61

Bảng 3 10 Các chỉ số sinh hoá máu của cầy vòi hương theo giới tính 63

Bảng 3 11 Các chỉ số sinh hoá máu của cầy vòi hương theo tuổi 64

Bảng 3 12 Các chỉ số sinh hoá nước tiểu của cầy vòi hương theo giới tính 66

Bảng 3 13 Các chỉ số sinh hoá nước tiểu của cầy vòi hương theo nhóm tuổi 68

Bảng 3 14 Phạm vi, đỉnh và chu kỳ của P4 và E2 trong thời kỳ không mang thai ở cầy vòi hương 70

Bảng 3 15 Sự thay đổi hàm lượng P4 và E2 ở cầy vòi hương sau thụ tinh 75

Bảng 3 16 Kết quả theo dõi hiệu quả sinh sản sau khi tiêm kích dục tố của Nhóm 1 87 Bảng 3 17 Kết quả theo dõi hiệu quả sinh sản sau khi tiêm kích dục tố của Nhóm 2 88 Bảng 3 18 Kết quả theo dõi hiệu quả sinh sản sau khi tiêm kích dục tố của Nhóm 3 89 Bảng 3 19 Tổng hợp kết quả theo dõi hiệu quả sinh sản sau khi tiêm kích dục tố 90

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1 1 Cấu trúc tuyến tính của các gonadotropin ở động vật có vú 16

Hình 1 2 Cấu trúc của HCG 19

Hình 1 3 Cấu trúc hoá học của Estron, Estradiol và Estriol 25

Hình 1 4 Cấu trúc hoá học của progesterone 26

Hình 3 1 Cầy vòi hương (P hermaphroditus) trong điều kiện nuôi 44

Hình 3 2 Cầy vòi hương ăn hạt cà phê 45

Hình 3 3 Cầy vòi hương ăn dưa hấu 45

Hình 3 4 Cơ quan sinh dục của cầy vòi hương đực trưởng thành 52

Hình 3 5 Cơ quan sinh dục của cầy vòi hương cái trưởng thành 52

Hình 3 6 Cầy vòi hương nuôi theo từng ô chuồng, xen kẽ 53

Hình 3 7 Cầy vòi hương được ghép đôi theo cặp đực và cái trong mùa sinh sản 53

Hình 3 8 Cầy vòi hương mẹ và cầy con 10 ngày tuổi 57

Hình 3 9 Cầy vòi hương sau khi cai sữa (3 tháng) 57

Hình 3 10 Sự thay đổi hàm lượng P4 và E2 ở cầy vòi hương không mang thai (F1) 72 Hình 3 11 Sự thay đổi hàm lượng P4 và E2 ở cầy vòi hương không mang thai (F3) 72 Hình 3 12 Sự thay đổi hàm lượng P4 và E2 ở cầy vòi hương không mang thai (F5) 73 Hình 3 13 Sự thay đổi hàm lượng P4 và E2 ở cầy vòi hương không mang thai (F6) 73 Hình 3 14 Sự thay đổi hàm lượng P4 và E2 ở cầy vòi hương không mang thai (F8) 74 Hình 3 15 Sự thay đổi hàm lượng P4 và E2 ở cầy vòi hương không mang thai (F11) 74

Hình 3 16 Sự thay đổi hàm lượng P4 và E2 ở cầy vòi hương mang thai (F2, mang thai vào 6/2017) 76

Hình 3 17 Sự thay đổi hàm lượng P4 và E2 ở cầy vòi hương mang thai (F4, mang thai vào 4/2017) 76

Hình 3 18 Sự thay đổi hàm lượng P4 và E2 ở cầy vòi hương mang thai (F7, mang thai 2 lần vào 4/2017 và 1/2018) 77

Hình 3 19 Sự thay đổi hàm lượng P4 và E2 ở cầy vòi hương mang thai (F9, mang thai vào 2/2017) 77

Trang 13

Hình 3 20 Sự thay đổi hàm lượng P4 và E2 ở cầy vòi hương mang thai giả (presumed

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Cầy vòi hương -Paradoxurus hermaphroditus (Pallas, 1777) thuộc họ Cầy

(Viverridae), bộ ăn thịt (Carnivora) Loài thú này phân bố ở Nam Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Malaysia, Myanmar, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Campuchia [1]; Nepal, Singapore [2], Sri Lanka, Việt Nam và phân bố rải rác ở một số nơi khác trên thế giới [3] Đây là loài thú ăn tạp, thức ăn chủ yếu là các loại quả, và có vai trò quan trọng trong phát tán hạt giống trong rừng [4, 5, 6] Ở Việt Nam, cầy vòi hương phân bố rộng trên toàn quốc [7]

Cầy vòi hương là loài thú quý hiếm trong nhóm IIB, được ưu tiên bảo vệ và thực thi công ước về buôn bán quốc tế động, thực vật hoang dã nguy cấp Việc săn bắt và sử dụng cầy vòi hương với nhiều mục đích khác nhau như lấy thịt, da, lông, hương liệu;

sử dụng trong sản xuất “cà phê chồn”; mặt khác, sinh cảnh bị mất hoặc phân mảnh đang làm cạn kiệt loài này trong tự nhiên [2, 8] Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen là một trong những giải pháp khẩn cấp, thường xuyên và lâu dài [9] Để bảo tồn bền vững nguồn gen giống vật nuôi, việc khai thác và phát triển nguồn gen là giải pháp hữu hiệu [10] Hiện nay, ở Việt Nam đã gây nuôi cầy vòi hương nhằm phát triển kinh tế và góp phần giữ gìn sự đa dạng sinh học [11] Tuy nhiên, chưa có những nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về các đặc điểm sinh học của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi, làm cơ sở khoa học cho quá trình thuần hoá, hoàn thiện quy trình kĩ thuật nhân nuôi hiệu quả, góp phần bảo tồn bền vững loài

Trong công tác quản lí con giống, việc tăng năng suất sinh sản của chúng rất cần được chú ý Sự kết hợp PMSG và HCG với liều lượng hợp lí đã gây bài noãn, kích thích sinh sản hiệu quả trên nhiều đối tượng: chuột [12, 13], lợn [14], bò [15] Ở Việt Nam,

có các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của hormone sinh dục đến khả năng sinh sản của bò, lợn [16, 17, 18, 19] Kết quả nghiên cứu bước đầu về tác động của PMSG và HCG trên thú hoang dã cho thấy tăng hiệu quả sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt [20, 21] Do đó, việc nghiên cứu ảnh hưởng của kích dục tố lên khả năng sinh sản của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt là có cơ sở và rất cần thiết; nhằm cải thiện thành

Trang 15

tích sinh sản, nâng cao hiệu quả chăn nuôi để vừa khai thác, vừa bảo tồn ngoại vi situ conservation) loài động vật hoang dã quý hiếm này

(ex-Từ những lí do cấp thiết trên, đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và

ảnh hưởng của kích dục tố đến khả năng sinh sản của cầy vòi hương (Paradoxurus

hermaphroditus Pallas, 1777) trong điều kiện nuôi nhốt” được thực hiện

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

nước tiểu của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt

kích dục tố lên khả năng sinh sản của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt nhằm bảo

tồn loài theo hướng phát triển số lượng

3 Nội dung nghiên cứu của luận án

- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học (hình thái, dinh dưỡng, tập tính, sinh trưởng, sinh sản) của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt

- Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí – sinh hóa máu, nước tiểu của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt

- Nghiên cứu sự thay đổi hormone sinh dục của của cầy vòi hương cái trong điều kiện nuôi nhốt

- Nghiên cứu hiệu quả tác động của kích thích tố sinh dục (PMSG, HCG) đến sự sinh sản của cầy vòi hương cái

4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án

4.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo có giá trị trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ sinh học trong chăn nuôi thú hoang dã, đặc biệt là cầy vòi hương

- Tạo tiền đề cho các nghiên cứu tương tự trên các loài động vật hoang dã khác trong điều kiện nuôi

- Cơ sở khoa học cho việc ứng dụng công nghệ sinh học trên thú hoang dã

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trang 16

- Đề tài góp phần vào sự bảo tồn đa dạng sinh học (giá trị về kinh tế và giá trị tài

nguyên môi trường), bảo tồn và phát triển nguồn gen cầy vòi hương tại Việt Nam

- Làm phong phú thêm một vật nuôi mới phục vụ phát triển chăn nuôi, tăng thu nhập cho người chăn nuôi, góp phần vào sự phát triển nền nông nghiệp sinh thái bền vững ở nước ta

- Góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật nhân nuôi, tăng thành tích sinh sản của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt

- Cung cấp dữ liệu tư vấn quan trọng giúp tăng hiệu quả bảo tồn, lưu giữ và khai khác bền vững cầy vòi hương- một nguồn tài nguyên quý giá

5 Tính mới của luận án

- Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về đặc điểm sinh học (ngoại hình, dinh dưỡng, sinh trưởng, sinh sản, sinh lý- sinh hoá máu

và nước tiểu) của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt ở Việt Nam

- Là công trình nghiên cứu đầu tiên đánh giá về sự thay đổi các chỉ số nội tiết sinh dục của cầy vòi hương bằng phương pháp không xâm lấn nhằm xác định thời kì động dục và ảnh hưởng của kích dục tố lên khả năng sinh sản của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt

Trang 17

Loài: Paradoxurus hermaphroditus Pallas, 1777

Tên đồng nghĩa (Symnonyms): Paradoxurus lignicolor Miller, 1903;

Paradoxurus musangus Raffles, 1821; Paradoxurus philippinensis Jourdan, 1837; Viverra hermaphrodita Pallas, 1777 [3], Paradoxurus cochinesis Schwarz, 1911 [7]

Tên thường gọi (Common names): Common Palm Civet, Mentawai Palm Civet Tên tiếng Việt: cầy vòi hương, cầy vòi đốm [7]

1.1.2 Đặc điểm ngoại hình

Cầy vòi hương trưởng thành nặng khoảng từ 2 đến 5 kg Chiều dài thân khoảng

từ 480 đến 700 mm, đuôi dài từ 400 đến 660 mm Khuôn mặt dài nhọn đặc trưng của

họ cầy Các gờ mấu ở xương sọ khá phát triển Mấu sau mắt dài Xương trán tương đối bằng Eo sau mắt thắt nhỏ (nhỏ hơn gian mắt) Mấu bên xương chẩm dính với mặt sau bầu nhĩ tạo thành đế khá lớn Răng nhỏ thấp, gờ nhai tù Răng trước hàm số 1 rất nhỏ,

có thể mất Đế bàn chân lớn, đế bàn chân sau có thùy kéo dài để bám lúc leo trèo Khác với cầy hương, tuyến xạ của con đực nằm ngay trước tinh hoàn, lộ ra ngoài; tuyến xạ của cầy vòi hương nằm sâu phía trong mông, phân bố hai bên hậu môn mà không lộ ra ngoài [7, 11] Cả cầy đực và cái của loài này đều có mùi hương đáy chậu dưới đuôi của chúng Tuyến này nằm trong một túi dưới da bụng, được sử dụng để phun trong phòng

vệ, đánh dấu lãnh thổ và giao tiếp với những cá thể khác của loài [3, 7]

Trang 18

1.1.3 Tập tính và sinh sản

Cầy vòi hương chủ yếu sống ở rừng, thường đi đơn Sinh hoạt kiếm ăn đêm, ngày ngủ Vào mùa khan hiếm thức ăn, cầy vòi hương cũng có thể kiếm ăn vào ban ngày Cầy vòi hương là loài ăn tạp, thức ăn tự nhiên bao gồm cả thực vật (thành phần thức ăn chủ yếu gồm các loại quả chín kỹ, nhằn vỏ, nuốt hạt) lẫn động vật (gồm côn trùng, cua, ốc) chiếm tỷ lệ ít, tuy nhiên loài này thường ăn thực vật nhiều hơn động vật [4, 7]

Cầy vòi hương sinh sản quanh năm và thường tập trung vào các thời điểm tháng

4, 5, 6 và tháng 10, 11, 12 Mỗi lứa 2 - 4 con [3, 7, 11, 22]

1.1.4 Phân bố

Cầy vòi hương phân bố ở các khu vực như Ấn Độ, Nepal, Bangladesh, Bhutan, Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Brunei, Lào, Campuchia, Việt Nam, Trung Quốc, Philippines và các quần đảo Sumatra, Java, Kalimantan, Bawean và Siberut của Indonesia Chúng được du nhập đến Irian Jaya, quần đảo Sunda, Maluku, Sulawesi và Nhật Bản Riêng ở Việt Nam, loài này phân bố rộng trên toàn quốc, kể cả

ở Côn Đảo, Phú Quốc [3, 7] Cầy vòi hương thường sinh sống ở các khu rừng nguyên sinh, kể cả rừng thứ sinh nhưng với mật độ thấp Loài thú này cũng được tìm thấy tại các khu vườn ở ngoại ô, nơi có nhiều trái cây chín

1.1.5 Tình hình nuôi cầy vòi hương

Cầy vòi hương được nuôi ở Ấn Độ, Sri Lanka, Mianmar, Nam Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Lào và Campuchia Việc nuôi cầy vòi hương sản xuất cà phê chồn hiện nay được thực hiện nhiều tại Indonesia với thương hiệu nổi tiếng Kopi Luwak [23]

Ở Việt Nam, việc nuôi cầy vòi hương để sản xuất cà phê chồn được thực hiện ở một số tỉnh có diện tích trồng cà phê lớn: Đắk Lắk, Lâm Đồng Trong đó Đắk Lắk là tỉnh có nhiều cơ sở nuôi cầy vòi hương để sản xuất cà phê chồn có quy mô lớn nhất cả nước Nhiều địa phương nuôi chủ yếu để cung cấp giống và thịt như Bắc Giang, Nam Định, Hà Nội, Thanh Hóa, Trà Vinh, Đắk Lắk, Long An, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh [11]

Trang 19

1.2 Tình hình nghiên cứu về cầy vòi hương

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.2.1.1 Nghiên cứu về tập tính, phân bố và hiện trạng loài trong tự nhiên

Cầy vòi hương (P hermaphroditus) đã được nghiên cứu ở Vườn Quốc gia

Chitwan Royal- Nepal, nhằm xác định hoạt động hàng ngày và thay đổi tập tính dinh dưỡng theo mùa Năm cá thể trưởng thành (hai cái và ba đực) được bắt và gắn với thiết

bị để theo dõi Mỗi con được theo dõi trong 12 tháng liên tiếp cả đêm lẫn ngày Kết quả nghiên cứu cho thấy, loài thú này hoạt động ban đêm nhiều hơn ban ngày Trong 193

dạ dày cầy vòi hương được thu thập, có 84,5% dạ dày tìm thấy có hạt của các loại trái cây Vào tháng tư, khi không có quả chín, cầy thay đổi chế độ ăn từ trái cây sang ăn các loài động vật không xương sống và động vật có xương sống kích thước nhỏ Cầy vòi

hương cũng được cho là ăn mật hoa và nhựa từ thân của cây Vallaris solanacea Tập

tính ăn động vật và hoạt động chủ yếu về đêm cho thấy cầy vòi hương rất dễ bị ăn thịt bởi các loài động vật ăn thịt cỡ lớn [4]

Cầy vòi hương có khả năng ăn hạt cà phê tuy nhiên không thể tiêu hóa được hoàn toàn quả cà phê, nó chỉ tiêu hóa được phần thịt quả cà phê, rồi thải ra ngoài phần hạt cứng không tiêu hóa được Những hạt này có hương rất khác biệt và hiếm có nên được chế biến thành một loại cà phê cao cấp và được gọi là “cà phê chồn” [1, 4]

Một báo cáo của viện nghiên cứu ở Triều Tiên vào năm 1997, về thói quen ăn uống của cầy vòi hương, đã liệt kê các loại thức ăn mà loài sử dụng bao gồm: nhóm động vật hữu nhũ nhỏ, các loài thuộc lớp chim, bò sát, lưỡng cư, cá, giáp xác, côn trùng, giun đất và hoa quả Trong đó, 4 nhóm thức ăn chính của cầy vòi hương là côn trùng, giun đất, hoa quả, và loài hữu nhũ [24]

Cầy vòi hương có lối sống đơn lẻ, trừ một thời gian ngắn vào mùa giao phối Chúng sống trên cạn và trên cây, hoạt động mạnh về đêm vào giữa buổi tối muộn đến

sau nửa đêm [5] Nakabayashi et al (2012) đã tiến hành nghiên cứu các tương tác xã

hội giữa cầy vòi hương đực, giữa cầy đực và cái Các quan sát được hỗ trợ bởi ống nhòm và đèn pha có bộ lọc màu để đảm bảo ánh sáng không chiếu trực tiếp vào động vật theo dõi Chiều cao của cây và các vị trí của động vật theo dõi được đo bằng máy

đo khoảng cách laser Giới tính được xác định bằng cách quan sát bộ phận sinh dục

Trang 20

ngoài Thông tin từ kết quả quan sát cho thấy rằng hoạt động kiếm ăn chung ở cầy vòi hương ít phổ biến [25]

Cầy vòi hương đánh dấu mùi và phản ứng khứu giác qua các chất tiết khác nhau của tuyến đáy chậu, nước tiểu và phân Sáu hình thức của hành vi đánh dấu mùi hương

đã được mô tả Các hoạt động và tỷ lệ hình thức của hành vi đánh dấu khác nhau ở con đực và con cái Hành vi đánh dấu bằng cách kéo các tuyến đáy chậu và để lại chất tiết trên bề mặt là phổ biến nhất được quan sát ở cả hai giới Các phản ứng khứu giác cũng thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào giới tính và loại chất bài tiết [26]

Spaan et al (2014) đã đặt camera quan sát để nghiên cứu theo dõi về sự phân bố

và tập tính của cầy vòi hương trong tự nhiên Kết quả cho thấy, chúng thường xuyên di chuyển trên cây, di chuyển theo đường ống nước hay các cấu trúc nhân tạo khác nhau

và đôi khi di chuyển trên mặt đất Ngoài ra, cầy cũng sử dụng hệ thống ống thoát nước

và mái nhà để ngủ Cầy vòi hương có thể sử dụng đường ống và các con đường nhân tạo khác để di chuyển, màng giữa các ngón chân của chúng giúp tăng diện tích tiếp xúc giữa mặt dưới của bàn chân với bề mặt chất nền Hơn nữa, sự giảm thấp của trọng lực

sẽ tăng cường sự an toàn của chúng khi đi bộ dọc theo các chất nền không ổn định hoặc mỏng [27]

Về tầm quan trọng của cầy vòi hương trong việc phát tán hạt, Nakashima và Sukor (2010) đã tiến hành nghiên cứu tại khu bảo tồn động vật hoang dã Tabin, trên đảo Borneo của Malaysia [6] Các tác giả đã ước tính và dự đoán rằng khoảng cách phát tán hạt của cầy vòi hương xa hơn so với khỉ, và là một bộ phận tham gia phát tán tiềm năng các loại hạt giống có kích thước lớn trong rừng Kết quả quan sát cho thấy, khi ăn cầy vòi hương thường nuốt hạt giống, thời gian lưu giữ hạt giống trung bình của cầy hương là 2,6 giờ Thời gian này là lâu hơn: 75 giây so với khỉ đuôi dài và 156 giây so với khỉ đuôi lợn Việc theo dõi các hoạt động của cầy vòi hương đã chứng minh rằng chúng đã đi vài trăm mét trong thời gian kiếm ăn Các ước tính trung bình khoảng cách

phát tán hạt là 216 m Ở một nghiên cứu khác, Nakashima et al (2010) cũng đã sử dụng

kỹ thuật phân tử để vượt qua những khó khăn trong việc phân biệt giữa các loài qua mẫu phân của chúng [28] Các mẫu phân thu thập đã được đưa vào túi nhựa và lưu trữ

dài và chiều rộng hạt được đo với thước kẹp có đơn vị đo micromet Sau đó, hạt được

Trang 21

trồng vào chậu đất và tưới nước hàng ngày, tối thiểu là sáu tháng để đánh giá khả năng phát triển hạt giống và xác định loài Để xác định các loài động vật trong các mẫu phân thu được, nhóm tác giả đã chiết xuất DNA từ khoảng 200 mg của mẫu phân Tổng cộng

111 mẫu phân (79,1%) từ 139 mẫu phân thu thập được phân tích trình tự DNA Kết quả cho thấy thành phần của phân cầy chủ yếu bao gồm hạt giống (92% các mẫu phân), động vật gặm nhấm (6,3%), động vật nhiều chân (5,5%), cua (4,5%), côn trùng (4,5%), chim (0,9%), ốc (0,9%), và hoa (0,9%) Các tần số xuất hiện của các mẫu phân có chứa hạt của cầy không thay đổi đáng kể trong những tháng khác nhau (χ2 = 10.0, P> 0,05) Hạt giống thuộc 30 loài thực vật khác nhau đã được xác định Trong nghiên cứu này, tác giả đã chứng minh rằng cầy vòi hương có thể nuốt và phát tán các loại hạt giống có kích thước lớn không tương xứng với khối lượng cơ thể của chúng và do đó đóng một vai trò quan trọng phát tán xa cho các loại hạt giống trong rừng Do vậy, chúng ta cần phải bảo tồn loài này để duy trì sự ổn định của hệ sinh thái, đặc biệt là ở các khu vực rừng bị suy thoái, khó tái sinh [28]

Về thực trạng của loài trong tự nhiên, nhiều công bố cho thấy cầy vòi hương bị

săn bắt và giảm số lượng đáng kể Theo Shepherd (2012); Marcus et al (2012); Chua

et al (2012) có đủ bằng chứng để chỉ ra rằng trên phạm vi rộng lớn loài này là một

trong những loài phổ biến nhất đã bị săn bắt ở Phillipines, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam, Lào [2, 8, 29] Các khảo sát cho thấy rằng gần đây đã giảm số lượng của loài này

ở khu vực Đông Nam Á Iseborn (2012) đã xác định độ phong phú của cầy vòi hương

ở khu bảo tồn động vật hoang dã Phnom Samkos và Khu bảo tồn Veun Sai-Siem Pang-

Campuchia, công bố chắc chắn gặp phải P hermaphroditus ở cả hai nơi, nhưng mật độ

thấp [1]

Một nghiên cứu khác góp phần bảo tồn loài được thực hiện bởi Nakashima et al

(2013) Kết quả cho thấy, đối với cả cầy đực và cái, việc sử dụng không gian sống phần lớn bị ảnh hưởng bởi sự phân bố sẵn có của các loại quả Vào các mùa không có trái cây trong rừng, cầy vòi hương thường đến các vườn trồng cây ăn quả ở bên ngoài khu vực phân bố Mặt khác, những khu vực sẵn có chỗ ngủ cho cầy vào ban ngày như cây

cọ hoặc dương xỉ cũng có ảnh hưởng đến mô hình phân bố khác nhau của cầy vòi hương Nghiên cứu chỉ ra rằng, độ sẵn có của trái cây và các vị trí ngủ thích hợp có thể là yếu

Trang 22

tố quan trọng cho sự sống sót của cầy vòi hương và nên cần được chú ý bảo tồn hoặc khôi phục để bảo tồn cầy vòi hương trong tự nhiên [30]

1.2.1.2 Nghiên cứu về đặc điểm giải phẫu, sinh lí - sinh hóa máu

Về đặc điểm giải phẫu, Guraya (1979; 1981) đã mô tả đặc điểm hình thái học và

cấu tạo của buồng trứng cầy vòi hương [31, 32] Rung-ruangkijkrai et al (2006) mô tả

đặc điểm cấu tạo hệ tuần hoàn, trong đó có mô hình động mạch vành và cung động mạch chủ của cầy vòi hương [33] Tim của cầy vòi hương có hình bầu dục và tương tự tim của mèo Mô hình phân nhánh của động mạch vành được gọi là song phương loại

vành tương tự như của ngựa, lợn, người và khỉ Patil et al (2016) đã nghiên cứu cấu tạo

giải phẫu hệ bài tiết của cầy vòi hương [34] Nghiên cứu sử dụng thận của một cá thể cầy vòi hương trưởng thành bị bắt ở miền nam Ấn Độ Các tác giả đã cân khối lượng

và đo kích thước của thận, sau đó chụp ảnh để kiểm tra mạng lưới mao dẫn hiện diện

trên bề mặt Kết quả cho thấy hệ tiết niệu của P hermaphroditus cũng giống như các

loài động vật có vú khác bao gồm thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo Thận cấu tạo đơn giản, hình hạt đậu và được bao phủ bởi một màng collagen mỏng Thận nằm ở thành sau của khoang bụng, bên dưới phúc mạc và gần như tương đương nhau về kích thước và khối lượng Thận phải có khối lượng 6,19 gram với kích thước 31x19x11 mm, thận trái nặng 6,20 gram và kích thước 29x21x12 mm Nghiên cứu cũng đã mô tả cấu tạo hiển vi của cấu trúc nang Bowman, hệ thống các ống lượn gần dày đặc, quai Henle

và sự hiện diện của chùm vi ống dày đặc ở bề mặt của các tế bào biểu mô cột tạo điều kiện thuận lợi cho việc hấp thụ lại glucose, phosphate, các khoáng chất khi chất lọc đi qua nó

Để tìm hiểu cơ chế sản xuất hormone steroid của tinh hoàn, Sasaki et al (2008)

đã kiểm tra các thụ thể enzyme và steroid trong tinh hoàn và tuyến đáy chậu của cầy vòi hương [35] Các tinh hoàn và tuyến đáy chậu thu được từ cầy vòi hương đực bị bắt

ở đảo Sumatra, Indonesia được sử dụng trong nghiên cứu này Các mẫu mô đã được cố định trong dịch Bouin, phần paraffin được cắt lát dày 4 µm, sau đó nhuộm hóa mô miễn dịch bằng hematoxylin và eosin (HE) Để phát hiện sự có mặt của enzyme steroidogenic (P450scc) và các thụ thể steroid (AR, ERα, ERβ), các lát cắt được nhuộm màu bằng cách sử dụng phương pháp avidin-biotin peroxidase (ABC) Trong tất cả các mẫu, chỉ

Trang 23

trong tế bào chất của tế bào Leydig, các phản ứng miễn dịch cho P450scc được phát hiện Các nhuộm miễn dịch tích cực cho AR đã được xác định có mặt trong các tế bào Sertoli, các tế bào Leydig, và các tế bào myoid, nhưng không có ở tế bào mầm Ở con trưởng thành, ERα đã được phát hiện chỉ có trong các tế bào Leydig, trong khi phản ứng miễn dịch cho ERβ đã được ghi nhận Trong nghiên cứu này, P450scc đã được phát hiện trong các tế bào Leydig của cầy vòi hương P450scc là chất chủ yếu trong con đường tổng hợp testosterone từ cholesterol Ở cầy vòi hương, testosterone được tổng hợp trong các tế bào Leydig, và điều chỉnh các chức năng của các tế bào Sertoli, các tế bào Leydig, và các tế bào myoid qua AR Testosterone tiết ra từ tinh hoàn có thể thúc đẩy sự bài tiết từ apocrine và tuyến bã nhờn ERα của tinh hoàn cầy vòi hương đã được xác định chỉ có trong các tế bào Leydig, và ERβ đã được phát hiện chỉ có trong tế bào mầm

Các chỉ số sinh lí, cấu trúc, hình thái các tế bào máu của cầy vòi hương đã được nghiên cứu trên bốn cá thể cầy được nuôi ở vườn thú Khaokeaw Open Zoo, Thái Lan [36] Kết quả cho thấy, không có ký sinh trùng trong tất cả các mẫu máu ở cầy vòi hương được nghiên cứu Hồng cầu tương đối đồng đều về kích thước, đường kính trung bình là 4,3 µm Bạch cầu đa nhân trung tính có các hạt nhân nhỏ liên kết chặt chẽ, có nhiều hạt, phát hiện rõ bằng kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) Bạch cầu đa nhân trung tính bắt màu mạnh mẽ với Sudan B đen (SBB) và peroxidase (PO) nhưng âm tính với alpha-naphthyl acetate esterase (ANAE) và '-glucuronidase (`G) Quan sát bằng kính hiển vi điện tử quét (SEM) đã cho thấy nhiều vi lông và một số vi lỗ trên bề mặt

tế bào bạch cầu Bạch cầu ái toan chứa nhiều vòng hạt khúc xạ lớn màu đỏ và bắt màu mạnh mẽ tích cực với SBB và PO, nhưng âm tính với ANAE và 'G Bạch cầu ưa kiềm

âm tính với SBB và PO, nhưng bắt màu tích cực với ANAE và bắt màu vừa với `G Qua SEM, bề mặt của tế bào basophil trơn với các đường viền hạt nhỏ Về siêu cấu trúc, chúng chứa các hạt electron dày, nhỏ, đồng nhất và ít hơn so với nhóm bạch cầu ái toan Lympho bào âm tính với SBB và PO, nhưng có 2 mẫu phản ứng với ANAE và 'G Bạch cầu đơn nhân âm tính với SBB, PO và 'G nhưng phản ứng vừa phải với ANAE Các hạt bạch cầu ái toan có cấu trúc tròn, kích thước lớn là những đặc trưng của bạch cầu ở cầy vòi hương Kết quả của nghiên cứu là cơ sở để thực hiện các phản ứng nhuộm màu cũng như quan sát cấu trúc hiển vi và siêu hiển vi của tế bào máu trên loài này Tuy nhiên,

Trang 24

về chỉ số trung bình của các loại tế bào máu thì với 4 cá thể nên số liệu chưa đáng tin cậy

Ahmad et al (2017) thực hiện một nghiên cứu khác về các chỉ số sinh lí, sinh

hóa máu khảo sát trên 33 cá thể cầy vòi hương được giải cứu trước khi đưa trở lại môi trường tự nhiên ở Singapore [37] Có sự khác biệt đáng kể theo độ tuổi (P <0,05) về hàm lượng hemoglobin, số lượng hồng cầu, nồng độ globulin tổng số và protein huyết thanh Cầy vòi hương trưởng thành có các giá trị này cao hơn so với với cầy chưa trưởng thành Thể tích trung bình hồng cầu (MCV), alkaline phosphatase (ALP) và nồng độ phốt pho cao hơn đáng kể (P <0,05) ở cầy non so với cầy trưởng thành Hemoglobin, tổng số hồng cầu (RBC) và thể tích khối tiểu cầu (PCV) của cầy trưởng thành là cao hơn đáng kể (P <0,05) so với cầy non Thể tích hồng cầu (MCV) của cầy non có cao hơn giá trị so với cầy trưởng thành (P <0,05) Tuy nhiên, ở nghiên cứu này, độ tuổi của cầy được phỏng đoán dựa theo cân nặng và các chỉ số huyết học chưa được theo dõi theo giới tính Vì vậy, các đặc điểm sinh lí máu của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt theo độ tuổi và theo giới tính cần được tiếp tục nghiên cứu; làm cơ sở cho việc đánh giá tình trạng sức khỏe, góp phần chẩn đoán và điều trị bệnh của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi hiệu quả

1.2.1.3 Nghiên cứu về tính đa dạng di truyền và phát sinh loài

Phân tích tính đa dạng di truyền của họ cầy (Viverridae), phát sinh loài bộ ăn thịt (Carnivora) lần đầu tiên được khám phá bởi Yu và Zhang (2005) bằng cách giải trình

tự DNA [38] Nhóm tác giả đã sử dụng hai gen ti thể đầy đủ (ND2 và ND4) và gen nhân beta-fibrinogen intron 7 Việc kết hợp (ND5, cytb, 12S, và 16SrRNA) và hai gen nhân (IRBP và TTR) chuỗi locus cũng được kết hợp để tái tạo lại phát sinh loài của 14 loài thuộc họ cầy có quan hệ họ hàng

Patou et al (2008) đã tiến hành giải mã trình tự của hai gen ti thể (Cytochrome

b và ND2) và hai gen nhân (một đoạn không mã hóa: intron 7 của β-frinogen và một đoạn mã hóa: exon 1 của IRBP) Nhóm tác giả kết luận, việc bổ sung các dữ liệu DNA nhân, đặc biệt là các β -fibrinogen intron 7, đóng vai trò trọng yếu trong giải thích việc phát sinh loài của hai giống Hemigalinae và Paradoxurinae [39]

Trang 25

Tiếp tục nghiên cứu về chủng loại phát sinh loài, Patou et al (2010) sử dụng dữ

liệu phân tử, các đặc điểm của răng và hàm để nghiên cứu sự đa dạng di truyền và hình

thái của các loài trong chi Paradoxurus; tập trung vào loài cầy bản địa Paradoxurus

hermaphroditus (Carnivora, Viverridae) [40] Veron et al (2015) đã nghiên cứu sự đa

dạng di truyền của chi Paradoxurus bằng cách sử dụng hai gen ti thể (cytochrome b, khu vực kiểm soát CR) và một gen nhân (intron 7 của β-fibrinogen) đánh dấu [41]

Nhóm tác giả đã sử dụng mẫu từ 85 cá thể thuộc loài P hermaphroditus (bao gồm 20

mẫu vật bảo tàng) và một đại diện của mỗi loài khác trong chi Paradoxurus:

Paradoxurus jerdoni và Paradoxurus zeylonensis để phân tích trình tự DNA Mặt khác,

nhóm tác giả kiểm tra đặc điểm hàm và răng từ các mẫu vật; so sánh sự biến đổi về hình

thái với các dữ liệu phân tử Phân tích phát sinh loài cho thấy rằng P hermaphroditus

là cận ngành Nhóm tác giả nhận thấy có ba dòng phân phối chính: (1) Ấn Độ, phía nam Trung Quốc, đảo Hải Nam và khu vực Đông Dương; (2) ở bán đảo Malaysia, Java, Sumatra; và (3) ở Borneo, Philippines và quần đảo Mentawai Quan sát hình thái học cũng tương đồng với ba dòng phân tử Theo kết quả nghiên cứu này thì cầy vòi hương

ở Việt Nam nằm trong nhánh (1), theo đề nghị thuộc loài: P hermaproditus (Indian

palm civet)

Một số nghiên cứu khác liên quan đến khả năng sản xuất “cà phê chồn” của cầy vòi hương cũng được chú ý Cầy vòi hương tiêu hóa trái cà phê và thải ra hạt cà phê, nông dân thu thập, rửa, rang và đã một trở thành một thức uống đặc biệt [42] Quá trình lên men tự nhiên xảy ra trong hệ tiêu hóa của cầy vòi hương đã làm ra sự khác biệt Sản xuất cà phê chồn bắt đầu khi các hạt cà phê được thu thập trong tự nhiên từ phân của những con cầy, như là một phương tiện để đánh dấu lãnh thổ của mình Sau khi qua đường tiêu hóa của cầy vòi hương, hạt cà phê giữ nguyên hình dạng và còn bao phủ một

ít thịt quả Sau khi được thu gom, rửa kỹ lưỡng và loại bỏ các phần bao bên ngoài; đồng thời quá trình rang xay sẽ loại bỏ những vi khuẩn còn sót Marcone (2004) đã xem xét các quá trình trong đó các axit trong dạ dày của cầy và các enzyme tiêu hóa bao phủ và lên men hạt cà phê [23] Nghiên cứu cho thấy enzyme tiêu hóa nội sinh của cầy vòi hương thấm vào hạt cà phê Các enzyme phân giải protein phá vỡ các protein của cà phê, tạo ra peptide ngắn hơn và nhiều axit amin tự do Các protein này cũng được tham gia vào các phản ứng không enzyme về sau bằng cách rang Một phân tích bằng mũi

Trang 26

điện tử về các hợp chất dễ bay hơi có vai trò trong tạo hương vị của cà phê Kết quả cho thấy rằng có sự khác biệt đáng kể về hương và vị giữa cà phê chồn và cà phê thường Nhóm tác giả kết luận rằng, enzyme trong hệ tiêu hóa cầy đã làm cấu trúc protein bị thay đổi, làm giảm vị đắng và có khả năng ảnh hưởng đến hương vị [23]

Tóm lại, các nghiên cứu về cầy vòi hương trên thế giới chủ yếu công bố các đặc điểm sinh học của loài này trong điều kiện tự nhiên Các nghiên cứu tập trung vào các tập tính, đặc điểm sinh lí máu của loài này trong tự nhiên, về tính đa dạng di truyền và

sự phát sinh loài Như vậy, chưa có công bố nào về đặc điểm sinh học (sinh trưởng, sinh sản, chu kì động dục), cũng như việc sử dụng kích dục tố nhằm tăng khả năng sinh sản của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu trong nước chủ yếu đề cập đến lợi ích kinh tế của loài và một số đặc điểm sinh học trong tự nhiên Cầy vòi hương là một loài có giá trị kinh tế cao, thịt thơm ngon Tuyến xạ (xạ hương) của cầy vòi hương được sử dụng trong sản xuất mỹ phẩm cao cấp Xạ của cầy vòi hương cũng là một vị thuốc vô cùng quý trong y học cổ truyền và được sử dụng như xạ hương của hươu xạ [7] Đây cũng là loài có khả năng nhân nuôi tốt cùng với các loài thú khác thuộc họ cầy (Viverridae) ở Việt Nam [22]

Cầy vòi hương thuộc nhóm động vật ăn tạp, có tập tính kiếm ăn vào ban đêm Thức ăn chủ yếu là những loại quả chín của các loài cây mọc trong tự nhiên và các loài gặm nhấm, côn trùng mà chúng săn bắt được [7, 11] Có khá nhiều tài liệu đề cập đến sinh học, sinh thái và tập tính của cầy vòi hương trong tự nhiên Đây chính là thông tin

cơ sở để xây dựng chuồng trại, chăm sóc và nuôi dưỡng trong điều kiện nuôi nhốt Cầy vòi hương là loài thích trái cây mềm và chúng lựa chọn rất kỹ các trái cây để ăn Chúng cũng ăn quả cà phê song chỉ chọn những quả chín mọng, có vị ngọt, hương thơm Về phía thức ăn động vật, cầy vòi hương thường ăn những côn trùng như rắn, bọ hung, giun đất, chuột, trứng chim Về thức ăn có nguồn gốc thực vật, chúng ăn những loại trái cây chín có vị ngọt như nhãn, mít, chuối, đu đủ [7, 11]

Cầy vòi hương có kiểu hình bộ máy tiêu hóa của loài ăn tạp: dạ dày phát triển, gồm có 4 vùng: vùng thượng vị, vùng đường cong lớn, vùng trung vị và vùng hạ vị Đây là kiểu hình vừa tiêu hóa thức ăn tinh vừa tiêu hóa thức ăn xanh tùy theo khẩu

Trang 27

phần Trong điều kiện hoang dã, nguồn thức ăn không ổn định về chất lượng và số lượng, nên bộ máy tiêu hóa đa dạng là một lợi thế Với tập tính kiếm ăn vào ban đêm, thường là đầu hôm đến giữa đêm nên thời gian tiêu hóa thức ăn chủ yếu vào ban đêm, giảm hoạt động vào ban ngày Chính vì thế, nếu thuần hóa và chăn nuôi dạng sinh thái, nên cho ăn bữa ăn chính vào buổi chiều tối, tốt nhất là sau 6 giờ chiều nhằm không làm thay đổi tập tính vốn có của loài này [11]

Roberton (2007) đã nghiên cứu đặc điểm sinh học của cầy vòi hương hoang dã tại Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức quan sát một số đặc điểm sinh học, đánh giá thực trạng, phân bố của loài và đưa ra những cảnh báo về việc bảo

tồn loài này trong điều kiện hoang dã [43] Đặng Huy Huỳnh và cs (2010) đã mô tả khá

chi tiết về đặc điểm phân bố và đặc điểm sinh học của loài này ở Việt Nam Theo Đặng Huy Huỳnh, cầy vòi hương còn có các tên gọi khác là cầy vòi đen, cầy vòi đốm, chồn ngận hương, chồn mướp; hên moóng meo (Tày); nhển moòng, nhển củn (Thái); cui vằng (Mường); đèn bảo minh, đền tây diền (Dao) Cầy vòi hương có tuyến xạ phát triển

và thường tỏa mùi thơm khi hoạt động Tuyến xạ của cầy vòi hương nằm sâu phía trong

mông, phân bố hai bên hậu môn mà không lộ ra ngoài; khác với cầy hương (Viverricula

india), tuyến xạ của con đực nằm ngay trước tinh hoàn, lộ ra ngoài [7]

Tập tính của cầy vòi hương (P hermaphroditus) cơ bản gần giống cầy vòi mốc (Paguma larvata) Cầy vòi hương chủ yếu sống ở rừng, chúng sống cả ở rừng nguyên

sinh và rừng thứ sinh Cầy vòi hương thường trú ẩn trong các bọng và tán cây, sinh hoạt kiếm ăn vào ban đêm, ban ngày ngủ Loài này thường hoạt động chủ yếu trên cây ít khi xuống đất Cầy sống đơn, chỉ ghép đôi trong mùa sinh sản [7] Cầy vòi hương thuộc bộ thú ăn thịt nhưng loài này thường ăn thực vật nhiều hơn động vật Trong điều kiện nuôi nhốt, cầy ăn tạp, kể cả rau, thịt, cá, cơm, canh [7, 11]

Cầy vòi hương động dục vào các tháng 2 – 4, đẻ con vào tháng 5 – 6, mỗi lứa 2 – 4 con Thời gian chửa 60 – 63 ngày Tuổi thọ của cầy vòi hương trong điều kiện tự nhiên khoảng 14 năm Trong điều kiện nuôi, có cá thể sống tới 22 năm 5 tháng [7] Cầy vòi hương sống ở rừng cây gỗ núi đất, núi đá và cả rừng ngập nước ven biển hay rừng tràm ở Đồng bằng sông Cửu Long Loài này không đào hang ở và không có chỗ ở cố định [7, 22]

Trang 28

Tóm lại, các nghiên cứu trong nước về cầy vòi hương còn khá ít, chủ yếu là công

bố về đặc điểm phân loại và phân bố của loài này trong tự nhiên, chưa có những nghiên cứu mang tính hệ thống về các đặc điểm sinh học của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi, các kỹ thuật đánh giá về chu kì sinh sản và sử dụng kích dục tố nhằm tăng số lượng đàn trong điều kiên nuôi nhốt

1.3 Tổng quan về PMSG và HCG

1.3.1 Cấu trúc, chức năng của PMSG

1.3.1.1 Nguồn gốc và cấu trúc của PMSG (eCG)

Equine Chorionic Gonadotropin (eCG) là một hormone được sản xuất trong màng đệm sinh dục của ngựa cái mang thai, thường được gọi là huyết thanh ngựa chửa (Pregnant Mare's Serum Gonadotropin -PMSG) PMSG tiết ra từ nội mạc tử cung của ngựa cái từ ngày thứ 40 đến ngày 130 thai kỳ, có bản chất là một kích thích tố glycoprotein, gồm có hai tiểu đơn vị là alpha và beta Các tiểu đơn vị alpha là chung cho tất cả các hormone glycoprotein (LH, FSH, TSH) Các tiểu đơn vị beta là đặc trưng theo loài [44]

Trong những nghiên cứu đầu tiên, huyết thanh từ những con ngựa mang thai được tiêm vào động vật thí nghiệm đã kích thích sự tăng trưởng buồng trứng Thành phần hoạt tính sinh học của kích thích tố này được đặt tên là gonadotropin huyết thanh mang thai (PMSG) để phản ánh sự xuất hiện trong tháng thứ 2-5 của thai kỳ Một thời gian sau đó, chất đóng vai trò kích thích buồng trứng này đã được xác định có mặt trong

tử cung ngựa, dẫn đến gợi ý rằng nó có nguồn gốc từ bào thai [44] Các nghiên cứu vào đầu những năm 1970 đã xác nhận rằng, nguồn gốc của hormone này là từ các tế bào chorionic bào thai xâm nhập biểu mô tử cung để tạo thành các lớp nội mạc tử cung Phát hiện này đã dẫn đến việc đổi tên hormone PMSG thành gonadotropin chorionic (eCG) [44] Phân tích protein đã chứng minh rằng eCG được tổng hợp và tiết ra tương

tự như gonadotropin tuyến yên (FSH, LH), nó được chuyển hóa sau khi được glycosyl hóa [45] Giải trình tự axit amin cho thấy cấu trúc chính của eCGß giống hệt với LHß

Cả hai hiển thị một phần mở rộng đầu cuối carboxyl của 30 axit amin, và đuôi này được glycosyl hóa mạnh (Hình 1.1) Các nghiên cứu sau đó đã chứng minh rằng chúng là hai sản phẩm của một gen đơn [46] Sự glycosyl hóa đã phân biệt chúng, vì chuỗi LH được

Trang 29

bổ sung với oligosaccharides sialyl hóa và sulfat, trong khi các dạng sialyl hóa chiếm

ưu thế trong phân tử eCGß glycosyl hoá mạnh hơn [47] Sự khác biệt này, đặc biệt là

sự gắn kết của axit sialic, dẫn tới một trong những tính chất quan trọng nhất là thời gian bán rã sinh học kéo dài của PMSG, dài hơn sáu lần so với LH [48]

Màng đệm bắt đầu phát triển trong giai đoạn phôi sớm trong tuần thứ 7 của thai

kỳ và bắt đầu xâm nhập nội mạc tử cung để tạo thành các ống nội mạc tử cung Vào thời gian này, eCG có thể được phát hiện trong huyết thanh của ngựa Trong một mô hình chung, đỉnh eCG tồn tại ở ngày thứ 70-80 của thai kỳ [44]

Hình 1 1. Cấu trúc tuyến tính của các gonadotropin ở động vật có vú [44]

1.3.1.2 Vai trò của eCG trong ngựa cái

Các thụ thể LH của ngựa cho thấy tương đồng cao với các thụ thể LH ở động vật

có vú khác, cũng như khả năng liên kết LH từ các loài khác [49] Trong khi eCG tương tác độc quyền với thụ thể LH ở ngựa, nó chỉ hiển thị một phần nhỏ hoạt động như LH [50] Tuy nhiên, eCG liên kết với hoàng thể ngựa trong thời gian mang thai sớm, có thể cung cấp hỗ trợ nội tiết tố để duy trì thai kỳ Vào khoảng ngày thứ 40 của thai kỳ, các cấu trúc hoàng thể xuất hiện trong buồng trứng, trùng hợp với sự bắt đầu bài tiết eCG

từ các ống nội mạc tử cung Đây có thể là kết quả của sự rụng trứng bổ sung, vì sự khởi đầu của chúng đã được chứng minh là đi kèm với sự xuất hiện của noãn bào trong buồng trứng và có sự gia tăng đồng thời progesterone trong máu Mối quan hệ thời gian giữa hai sự kiện này cho thấy eCG có thể gây ra sự rụng trứng bổ sung và hỗ trợ nội tiết tố

đủ để tiếp tục mang thai [44] Khi sự sản xuất eCG giảm đáng kể kéo theo sự gia tăng đồng thời tần suất hư thai trong thời gian mang thai sớm [51]

Trang 30

1.3.1.3 Hoạt động sinh học của eCG

Như đã nói ở trên, eCG có thể hoạt động như hormone LH ở ngựa, mặc dù ít mạnh hơn eLH [50] Vai trò đáng chú ý của eCG đã được khai thác trong nhiều bối cảnh thử nghiệm và thương mại, là khả năng thể hiện hoạt động hormone kích thích nang trứng (FSH) ở các loài khác ngựa Cơ sở sinh học cho hiện tượng này vẫn chưa được hiểu đầy đủ, giải thích chủ yếu dựa trên hoạt động kép của yếu tố quyết định cấu trúc của eCG hoặc của các thụ thể LH và FSH ở các loài không phải là ngựa

Một trong những đặc điểm của eCG là độ dài bán rã của nó Khi tiêm vào chuột, eCG hiển thị thời gian bán rã vượt quá 5 giờ; trong khi ở cừu, giá trị này là 21 giờ Ở gia súc, thời gian bán rã được ước tính là 45,6 giờ [44] Cơ sở cho sự kéo dài này là do

sự glycosyl hóa mạnh, bao gồm khoảng 45% trọng lượng phân tử của nó [52] Cả hai chuỗi được glycosyl hóa tại các liên kết asparagine (N-glycosyl hoá) và serine-threonine (O-glycosyl hóa) và phần mở rộng C-terminal của chuỗi β được glycosyl hóa mạnh, trong đó các chuỗi carbohydrate chứa axit sialic, tạo ra thời gian bán rã dài [48] Loại

bỏ axit sialic khỏi eCG làm giảm thời gian bán rã, và khi loại bỏ 80% thì giảm thời gian bán rã xuống dưới 60 phút [48] Tuy nhiên, mô hình glycosyl hóa eCG không chỉ quyết định sự tồn tại của nó trong huyết thanh mà còn hoạt động sinh học của nó trong mô đích [48, 53] Vì cấu trúc có khả năng liên kết với các thụ thể, đặc biệt trong thụ thể của FSH, là cơ sở cho hoạt động kép (vai trò như LH và FSH) của eCG Hiệu ứng này được tăng cường bởi thời gian bán rã kéo dài của nó

Trang 31

thành dẫn đến biểu hiện của động dục ở 90% trong vòng 6 ngày [54] Điều trị bằng PMSG ít được sử dụng hơn để gây dậy thì ở động vật nhai lại, mặc dù nó đã được sử dụng thành công trong cừu [55]

Trong quá trình chuyển phôi, PMSG được sử dụng để kích thích buồng trứng ở động vật cho phôi Thời gian bán rã dài của nó tạo ra lợi thế của sự siêu nạp bằng phương pháp tiêm đơn, vì nó có khuynh hướng kích thích buồng trứng, dẫn đến tạo nhiều nang và năng suất của phôi khả thi rất cao [56] Tuy nhiên, ở một số trường hợp, chất lượng phôi giảm cũng đã được quy cho hoạt động LH của PMSG, vì nó có thể gây

ra sự tái phát sớm của giảm phân trong tế bào trứng [57] Một chiến lược được sử dụng

để giải quyết những vấn đề này là quản lý antiserum PMSG tại một thời điểm sau khi điều trị bằng PMSG [58] Điều trị với antiserum sau 60 giờ sau khi tiêm PMSG tăng gấp đôi cả số lượng trứng rụng và số lượng phôi chuyển giao [58] Các biến thể gần đây

về chủ đề siêu kích thích đã bao gồm thay thế FSH tuyến yên với liều thấp PMSG (200 IU) vào hai ngày cuối cùng của giao thức siêu kích thích [59] Cách tiếp cận này đã chứng tỏ có lợi trong việc tăng số lượng phôi chuyển giao

Việc sử dụng PMSG trong các giao thức đồng bộ hóa đã cho phép cố định thời gian thụ tinh ở bò [60], cừu [61] và gây động dục đồng pha ở bò cái nhận phôi [62] Đối với thụ tinh vào thời gian cố định, việc điều trị dựa trên liều thấp PMSG (300 IU) sau khi tiêm prostaglandin (PGF2a) hoặc progesterone để đồng bộ hóa đã được áp dụng cho

bò Zebu (Bos indicus) với kết quả khác nhau [63] Sử dụng PMSG tỏ ra thuận lợi trong

việc tăng tỷ lệ mang thai trong thời gian chuyển phôi cố định, độc lập với giao thức được sử dụng để gây động dục đồng pha [62]

Như đã mô tả ở trên, PMSG hiển thị cả hoạt động của FSH và LH, và được biết rằng cả hai kích thích tố này là cần thiết cho sự trưởng thành và rụng trứng của nang trứng ở động vật có vú Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, điều trị này làm tăng tần suất rụng trứng và dẫn đến progesterone tuần hoàn tăng cao Nhưng ở một số nghiên cứu khác, tăng progesterone không tương quan với tăng tỷ lệ mang thai [64] Tuy nhiên, trong một số giao thức, sự tăng tổng hợp progesterone do PMSG gây ra đã dẫn đến thành công trong thai kỳ được cải thiện [65] Hiện nay, cơ chế duy nhất được biết đến

Trang 32

để cải thiện khả năng sinh sản với điều trị liều thấp PMSG là sự tăng cường chức năng của hoàng thể

1.3.2 Cấu trúc, chức năng của HCG

1.3.2.1 Nguồn gốc và cấu trúc của HCG

Human chorionic gonadotropin (HCG) là một nội tiết tố glycoprotein được sản xuất trong thời kỳ mang thai bởi phôi thai đang phát triển và sau này bởi hợp bào (syncytiotrophoblast, một phần của nhau thai) Vai trò của nó là để ngăn chặn sự tiêu hủy thể vàng (corpus luteum) của buồng trứng và do đó duy trì tiết progesterone, quan trọng đối với bào thai [66] HCG là một glycoprotein gồm 244 axit amin có khối lượng

gồm tiểu đơn vị β có 145 amino acid và tiểu đơn vị α có 92 amino acid Có 2 oligosaccharides liên kết với N trên tiểu đơn vị α của HCG và 2 oligosaccharides liên kết N trên tiểu đơn vị beta của HCG Ngoài ra còn có 4 oligosaccharides liên kết O trên vùng peptide C-terminal của tiểu đơn vị β của HCG (Hình 1.2) [67]

Hình 1 2. Cấu trúc của HCG [68]

1.3.2.2 Chức năng của HCG

HCG có nhiều chức năng: thúc đẩy sản xuất progesterone bởi các tế bào luteal corpus; thúc đẩy sự hình thành mạch máu trong mạch máu tử cung; thúc đẩy sự hợp nhất của tế bào bạch cầu và sự biệt hoá để tạo ra các tế bào lympho bào; gây cản trở bất

kỳ hoạt động miễn dịch hoặc đại thực bào nào của mẹ trên các tế bào nhau thai xâm

Trang 33

nhập; gây tăng trưởng tử cung song song với sự phát triển của bào thai; ngăn chặn bất

kỳ sự co thắt tử cung trong quá trình mang thai; gây ra sự tăng trưởng và sự biệt hoá của dây rốn; báo hiệu nội mạc tử cung về việc cấy ghép; hoạt động trên thụ thể trong não của mẹ gây ra chứng tăng sinh, và dường như thúc đẩy sự tăng trưởng của các cơ quan bào thai trong thai kỳ [66]

HCG tương tác với các thụ thể LHCG và thúc đẩy sự duy trì thể vàng trong thời gian đầu của thai kỳ, để tiết ra hormone progesterone Progesterone làm dày thêm hệ thống mạch máu và mao mạch trên màng tử cung giúp duy trì sự phát triển của bào thai HCG có thể đẩy lùi các tế bào miễn dịch của thú mẹ, bảo vệ bào thai trong ba tháng đầu tiên [67]

HCG có tác dụng giống một hormone luteinizing mạnh (LH), có hiệu lực trong kéo dài thời gian tồn tại của hoàng thể (CL) HCG làm tăng tổng hợp progesterone, gây rụng trứng trong suốt chu kỳ động dục, thúc đẩy sự hình thành của lutea corpora khi áp dụng trong giai đoạn hoàng thể sớm; làm thay đổi động lực sóng nang, tăng tần số của

chu kỳ nang trội Theo Rensis et al (2010), do HCG tác động lên các tế bào buồng

trứng độc lập với hormone của tuyến yên và tác động của nó kéo dài lâu hơn so với LH sản xuất nội sinh; nên việc sử dụng HCG lợi thế hơn gonadotropin-releasing hormone (GnRH) và có thể được nhắm mục tiêu vào quần thể vật nuôi [69]

Nghiên cứu cho thấy có ít nhất 4 biến thể của HCG, mỗi loại được tạo ra bởi các

tế bào khác nhau với các chức năng sinh học riêng biệt Tất cả các phân tử đều có chung chuỗi amino acid HCGβ Đây là các phân tử thúc đẩy sản xuất progesterone bởi các tế bào hoàng thể buồng trứng và có nhiều chức năng sinh học khác nhau [66, 67] Các chức năng HCG tăng đường huyết để thúc đẩy sự phát triển của các tế bào tế bào lympho bào và sự xâm nhập của các tế bào này; xảy ra trong sự cấy ghép của thai kỳ;

sự tăng trưởng và xâm lấn của các tế bào ung thư

Trang 34

đã công bố sự kết hợp cả PMSG và HCG có khả năng gây rụng trứng Sự kiện này có liên quan với sự kích thích tử cung nhưng thường xảy ra trong trường hợp không đánh dấu sự gia tăng trọng lượng buồng trứng hoặc xuất huyết nang Tác dụng của PMSG và HCG gây rụng trứng trên một phạm vi rộng của cả hai liều lượng kích thích tố Với liều thấp của PMSG số lượng trứng tạo ra là độc lập với liều HCG

Corbin và McCabe (2002) đã kiểm tra phản ứng của các nhóm chuột khác nhau

để đề xuất phương pháp điều trị nội tiết tố gây siêu rụng trứng Chuột cái chưa trưởng thành Sprague Dawley (SD), FBN1, và F344 (30 đến 35 ngày tuổi) đã được sử dụng cho nghiên cứu này Động vật từ mỗi dòng được phân thành bốn nhóm của phương pháp điều trị nội tiết tố như sau: 1) 30 IU PMSG, sau 52 giờ với 25 IU HCG ; 2) 15 IU PMSG, sau 52 giờ với 7,5 IU HCG; 3) 1.0 IU FSH mỗi ngày qua kim tiêm Alzet trong

60 giờ; 4) 1.0 IU FSH và 54 giờ tiếp theo là 10 mg LH Hiệu quả của phương pháp điều trị nội tiết tố được đánh giá qua các tiêu chí: tỉ lệ giao phối, tỉ lệ rụng trứng, tổng số trứng rụng ở mỗi con cái và tỉ lệ thụ tinh Nghiên cứu đã chứng minh rằng, điều trị bằng PMSG + HCG là một phương pháp hiệu quả gây phản ứng siêu rụng trứng ở hầu hết các tiêu chí kiểm tra Kết quả của nhóm tác giả cũng cho thấy, các chủng chuột khác nhau có nhiều mức độ nhạy cảm và phản ứng với các giao thức khác nhau của hormone siêu rụng trứng [12] Đây chính là cơ sở khoa học để thực hiện nghiên cứu nhằm xác định liều lượng sử dụng kích dục tố thích hợp trên các đối tượng khác, trong đó có cầy vòi hương

Tương tự hướng nghiên cứu này, nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng

PMSG thay thế cho FSH, Popova et al (2002) đã thực hiện các giao thức gây siêu rụng

trứng bằng cách sử dụng tiêm đơn PMSG hoặc FSH được so sánh ở chuột Dawley (SD) chưa trưởng thành Các tiêu chí theo dõi bao gồm: tổng số trứng thu được,

Sprague-tỉ lệ thụ tinh, phôi phát triển in vitro, độ nhạy của các hợp tử trong việc đưa DNA ngoại lai vào nhân và sự phát triển trong cơ thể của chúng sau khi cấy ghép vào ống dẫn trứng của cá thể nhận Những con chuột SD cái được kích thích bằng 15 IU PMSG hoặc FSH

10 mg sau khi tiêm HCG ở liều 20 và 30 IU cho mỗi cá thể Kết quả của nghiên cứu này chứng minh rằng việc điều trị trên chuột SD chưa trưởng thành của PMSG có hiệu quả tương đương như điều trị bằng FSH, và do đó thích hợp hơn cho công nghệ chuột chuyển gen do chi phí thấp hơn và dễ xử lý hơn [70]

Trang 35

Để xác định liều lượng điều trị nhằm thực hiện tối ưu hóa siêu rụng trứng ở

chuột, Cornejo-Corte et al (2006) đã tiến hành nghiên cứu nhằm sản xuất một số lượng

lớn các phôi có chất lượng tốt phù hợp để phát triển các tế bào gốc phôi chuột (RES) Nhóm tác giả đánh giá động học rụng trứng của ba chủng chuột: Wistar, Fisher và ACI/N Động vật thí nghiệm được điều trị bằng 50 IU PMSG, và 50 IU HCG sau 50 giờ Tiếp theo, nhóm tác giả đánh giá các đường cong đáp ứng liều của PMSG và HCG

ở chuột Wistar để có được số lượng cao nhất của phôi Các thông số đánh giá cho khả năng siêu rụng trứng là: tỉ lệ phần trăm của chuột cái đã giao phối, tỉ lệ chuột cái mang thai và số lượng trung bình của phôi thu được trên mỗi con Kết quả của những thí nghiệm chỉ ra rằng sự kết hợp liều tốt nhất là 50IU cho mỗi loại hormone Thí nghiệm sau đó, chuột Wistar được thiết kế để thử nghiệm mà trong bốn phương pháp điều trị nội tiết tố kết hợp (30/30, 30/50, 50/30, 50/50 IU PMSG/HCG) để tạo ra số lượng phôi đạt chất lượng nhiều nhất Chất lượng phôi được đánh giá theo các tiêu chí: phôi phát triển đồng nhất, hình thái phôi thai, sự sống của phôi trong tử cung và phôi trong ống nghiệm có khả năng cấy ghép Kết quả của những thí nghiệm cho thấy 30/50 IU PMSG/HCG là liều điều trị tạo ra chất lượng phôi tốt nhất [13] Đây chính là cơ sở để lựa chọn liều lượng trong điều trị đối với cầy vòi hương

Schilling và Cern (2008) đã công bố kết quả về điều trị để gây động dục ở lợn nái hậu bị với tỉ lệ 400 IU PMSG và 200 IU HCG Năm thí nghiệm đã được thực hiện tại một trang trại nuôi lợn công nghiệp Nam Tư với hơn 2.500 lợn nái giống Landrace Thụy Điển Có 93 đến 100% lợn được điều trị động dục 3-7 ngày sau tiêm Trong các động vật kiểm soát động dục không được quan sát trước 6 tháng tuổi; 33% cho thấy các triệu chứng động dục từ 6 đến 6,5 tháng Tỷ lệ thụ thai của động vật thí nghiệm là rất cao: hơn 80% của các lợn nái được thụ tinh được hình thành ở chu kỳ đầu tiên gây ra (82,1% của tất cả các loài động vật được điều trị, 76,7% đẻ sau khi điều trị sáu tháng (ở chu kỳ đầu tiên) và 80% sau khi tiêm 5,5 tháng (ở chu kỳ thứ hai,) so với 23,3 và 40% của nhóm đối chứng Tác giả khẳng định, sự kết hợp PMSG và HCG có thể sử dụng trong kích thích sinh sản ở lợn nái, tỷ lệ thụ thai cao, tổn thất sau khi sinh thấp, thời kỳ cho con bú ngắn, tỷ lệ thụ thai cao sau khi cai sữa sớm và lợi nhuận cao hơn do có thể gây động dục sớm, thụ tinh và đẻ đồng loạt trong các nhóm lớn hơn của vật nuôi [14]

Trang 36

Đánh giá mô tả việc sử dụng lâm sàng của HCG để cải thiện năng suất sinh sản

của bò sữa được Rensis et al (2010) thực hiện Nhóm tác giả mô tả những phát triển

trong việc sử dụng điều trị của HCG và nghiên cứu giải quyết những lợi ích của việc đưa HCG trong các phát đồ gây động dục và đồng bộ hóa rụng trứng [15] Nghiên cứu của tác giả dựa trên kết quả về phát hiện trước đó liên quan đến phản ứng buồng trứng khi dùng HCG để điều trị, có thể được giải thích dưới hiểu biết của những tiến bộ trong ứng dụng lâm sàng của HCG

Luo et al (2011) đã kiểm tra phạm vi trọng lượng và liều lượng hormone khác

nhau để xác định các giao thức gây siêu rụng trứng cho 6 chủng chuột thường được sử dụng trong kỹ thuật di truyền: C57BL/6N HSD, B6 (Cg) -Tyrc-2J/J, B6D2F1/HSD, FVB/NHsd, BALB/cAnNCr, và CRL: CD1 (ICR) Chuột từ mỗi dòng được chia thành các nhóm dựa trên trọng lượng, tương ứng với 3, 4, 5 và 6 tuần tuổi Chuột được điều trị bằng 5 IU PMSG và 5 IU HCG Nhóm tác giả kết luận rằng, phản ứng để gây siêu rụng trứng có thể được tối ưu hóa dựa trên dòng chuột, trọng lượng, và liều lượng và thời gian tiêm hormone [71]

Ở Việt Nam, Trần Tiến Dũng (2004) đã sử dụng kết hợp hormone sinh sản PMSG và HCG để điều trị hiện tượng chậm động dục lại sau đẻ ở lợn nái ngoại trên hai giống Yorkshire và Landrace Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ lợn nái động dục sau

đẻ chiếm 80%, thời gian động dục, tỉ lệ thụ thai, số con trên lứa của những con nái khỏi bệnh đều đạt yêu cầu Với phác đồ điều trị PMSG 3.000 đvc/nái, nếu động dục tiêm tiếp HCG 1.000 đvc/nái cho kết quả tốt với thời gian động dục lại sau đẻ 5,8 ngày, tỉ lệ thụ thai 91,67%, số son sinh ra trên lứa 9,8 con [72] Nguyễn Văn Thành và Nguyễn Thanh Bình (2009) đã đánh giá ảnh hưởng của liệu pháp hormone bằng cách đặt vòng PRID (chứa progesterone) đến khả năng điều trị rối loạn sinh sản ở bò cái sinh sản kém, kết

quả cho thấy quy trình đạt hiệu quả tốt [16] Đỗ Văn Thu và cs (2013) đã sử dụng kết

hợp PMSG và Prosolvin (PGF2α) để gây động dục hàng loạt kết hợp với thụ tinh nhân tạo nhằm nâng cao năng suất và chất lượng đàn bò trên hai giống bò vàng và bò lai Sind Với quy trình tiêm bò hai mũi PGF2α (2 ml) cách nhau 11 ngày kết hợp tiêm PMSG (500 IU) ở mũi thứ hai, xác định tỉ lệ thụ thai bằng phương pháp khám thai qua trực tràng Kết quả cho thấy rằng cho tỉ lệ động dục là 84,9%, tỉ lệ thụ thai 82,88% và

tỉ lệ đẻ đạt 93,52% Để gây siêu bài noãn trên bò, Hoàng Nghĩa Sơn và cs (2013) đã sử

Trang 37

dụng PMSG với liều 2500 IU để đối sánh với sử dụng FSH (200 mg) Kết quả nghiên cứu cho thấy, số thể vàng và số phôi thu được ở nhóm điều trị bằng PMSG ít hơn so với nhóm sử dụng FSH; tuy nhiên cao hơn so với các nghiên cứu trước đó Nhóm tác giả cũng chỉ ra rằng, việc kết hợp siêu âm buồng trứng để xác định giai đoạn nang trứng để lựa chọn thời điểm và phương pháp xử lí tối ưu để kích thích bằng hormone nhằm thu được lượng trứng và phôi tốt nhất trong phương pháp tạo trứng, phôi in vivo [18] Nguyễn Ngọc Tấn và Bùi Ngọc Hùng (2017) đã đánh giá hiệu quả của các liệu pháp điều trị bằng hormone khác nhau trên bò chậm gieo tinh Kết quả của liệu pháp đặt vòng CIDR (chứa progesterone) 7 ngày, kết hợp hormone GnGH và PGF2α để gây động dục

và rụng trứng có hiệu quả đối với bò cái sữa [17]

Tuy các liệu pháp điều trị trong mỗi nghiên cứu đều được mô tả khá chi tiết, song nhìn chung chủ yếu được thực hiện trên nhóm vật nuôi truyền thống là lợn và bò, chưa

có nghiên cứu nào được thực hiện trên động vật hoang dã được thuần dưỡng Mở đầu cho hướng nghiên cứu sử dụng kích dục tố nhằm cải thiện thành tích sinh sản của động vật hoang dã trong điều kiện nuôi nhốt, Nguyễn Thanh Bình (2015) đã đánh giá ảnh

hưởng của HCG và PMSG đến kết quả sinh sản của cầy vòi hương (Paradoxurus

hermaproditus) Kết quả cho thấy, việc sử dụng kích dục tố có cải thiện đáng kể khả

năng sinh sản của cầy vòi hương ở các chỉ tiêu số con mang thai và số con sinh ra trên lứa Điều này có ý nghĩa trong việc tăng số lượng cầy trong điều kiện nuôi nhốt, là cơ

sở khoa học đáng tin cậy để tiếp tục thực hiện các nghiên cứu tiếp theo đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng kích dục tố trên loài này [20] Một nghiên cứu trương tự đã

được thực hiện trên dúi mốc lớn (Rhizomys pruinosus) cũng cho thấy tăng hiệu quả sinh

sản trong điều kiện nuôi nhốt [21] Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa được lặp lại và thực hiện trên nhiều nghiệm thức khác nhau, tác giả cũng chưa đánh giá được những thay đổi tập tính sinh sản (biểu hiện động dục) sau khi tiêm, sự thay đổi hormone cũng như cấu trúc giải phẫu của tử cung, âm đạo trên động vật thí nghiệm

Như vậy, việc sử dụng kết hợp PMSG và HCG với liều lượng và thời gian thích hợp có tác dụng trong việc kích thích gây bài noãn, tăng cường khả năng sinh sản ở thú cái Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ đánh giá hiệu quả việc sử dụng kích dục tố dựa trên thành tích sinh sản, chưa có đánh giá sự thay đổi động thái hormone trước và sau điều trị, chưa mô tả những thay đổi lâm sàng trước và sau khi tiêm kích dục tố Mặt khác,

Trang 38

các nghiên cứu về việc sử dụng kích dục tố để cải thiện thành tích sinh sản trên động vật hoang dã trong điều kiện nuôi nhốt còn khá khiêm tốn Đây chính là cơ sở khoa học

và sự cần thiết cho việc nghiên cứu sử dụng PMSG và HCG trên cầy vòi hương

1.4 Tổng quan về estrogen và progesterone

1.4.1 Cấu trúc và chức năng của estrogen

Estrogen là hormone steroid được sản xuất chủ yếu bởi buồng trứng, một số lượng ít hơn được sản xuất bởi vỏ thượng thận, nhau thai và tinh hoàn Estrogen giúp kiểm soát và phát triển giới tính, bao gồm những thay đổi về thể chất liên quan đến tuổi thành thục sinh dục Nó cũng ảnh hưởng đến quá trình rụng trứng, cho con bú sau khi mang thai, các tình trạng tâm lý và quá trình lão hóa Estrogen tồn tại tự nhiên trong cơ thể ở 3 dạng: estron (E1), 17β-estradiol (E2), và estriol (E3) (Hình 1.3) Trong đó 17β-estradiol là estrogen được bài tiết nhiều nhất và có tác dụng sinh học mạnh nhất Còn estriol là estrogen yếu nhất, nó là dạng chuyển hóa của 17β-estradiol và estrone [73]

Hình 1 3 Cấu trúc hoá học của Estron, Estradiol và Estriol

1.4.2 Cấu trúc và chức năng của progesterone

Progesterone (viết tắt là P4) là một hormone steroid nội sinh, chứa 4 vòng hydrocacbon liền nhau, chứa gốc ceton và các nhóm chức năng oxi hoá cùng 2 nhánh methyl (Hình 1.4) Progesterone được sản xuất bởi thể vàng, nhau thai và một phần nhỏ bởi tuyến thượng thận; có vai trò quan trọng trong chu kỳ kinh nguyệt và duy trì phát triển bào thai Trong khi mang thai, progesterone cũng kích thích sự phát triển của tuyến

Trang 39

vú Hoàng thể tổng hợp progesterone từ cholesterone, qua gan nó bị thoái hóa và biến thành pregnandione và đào thải qua nước tiểu [73]

Hình 1 4 Cấu trúc hoá học của progesterone

Progesterone làm phát triển và gây nhiều biến đổi trong dạ con để chuẩn bị đón trứng thụ tinh; tạo điều kiện thuận lợi cho phôi và thai phát triển bằng cách làm cho cơ

dạ con phát triển, mềm, không co bóp; làm cho niêm mạc dạ con phát triển dày lên, các tuyến dạ con dài ra, ngoằn ngoèo như hình ren thêu, kìm hãm hiện tượng động dục và

sự rụng trứng Lúc mang thai nếu thiếu progesterone thì thai không phát triển được, nên progesterone được gọi là hormone an thai Nếu trứng không được thụ thai thì thể vàng, nơi tiết ra progesterone sẽ thoái hóa đi, quá trình chuẩn bị để đón trứng đến làm tổ đều ngừng lại [73]

1.4.3 Xác định con đường chuyển hoá và bài tiết hormone estrogen và progesterone

Hormone steroid được tổng hợp bởi một loạt các mô, nổi bật nhất là tuyến thượng thận và tuyến sinh dục Tiền thân từ cholesterol được tổng hợp trong tế bào từ acetate,

từ các thành phần este-cholesterol trong các giọt lipid của tế bào hoặc từ sự hấp thu của lipoprotein tỉ trọng thấp chứa cholesterol [73]

Hormone gắn phóng xạ (progesterone, estrogen, androgens, cortisol) đã được sử dụng để xác định con đường bài tiết, thời gian bài tiết và loại chất chuyển hóa các chất steroid trong nước tiểu và phân ở các loài vật nuôi (domestic) và không phải vật nuôi (non-domestic) Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng steroid chuyển hóa trong gan, bài tiết vào ruột chủ yếu là thông qua mật, một tỷ lệ nhỏ của steroid được tiết ra thông qua niêm mạc của ruột già [74]

Con đường bài tiết có thể thay đổi đáng kể giữa các loài, cũng như giữa các steroid trong cùng một loài Thời gian chậm trễ (delay time) giữa steroid trong huyết

Trang 40

tương và sự xuất hiện của chúng trong các mẫu nước tiểu khá ngắn (dưới 5 giờ), nhưng các chất chuyển hóa steroid phân có thời gian trễ đáng kể tương ứng với thời gian cần thiết cho việc đi vào mật, ruột và trực tràng [75] Thời gian trễ (lag time) của steroid phân khoảng 12-24 giờ ở động vật nhai lại và khoảng 24 đến trên 48 giờ ở những động vật tiêu hóa qua manh tràng (ngựa, lợn, tê giác, voi) [76] Ở những loài không thuộc động vật nhai lại, nghiên cứu về tốc độ tiêu hóa của thức ăn có thể ước tính thời gian trễ của các chất chuyển hóa steroid qua phân Đường đi của thức ăn ở động vật nhai lại dài hơn thời gian di chuyển của steroid phân, vì steroid phải qua mật trước khi vào ruột Thời gian trễ còn bị ảnh hưởng bởi khả năng tiêu hóa của loại thức ăn và tốc độ của quá trình tiêu hóa Tuy nhiên, lượng steroid phóng xạ cuối cùng thải ra trong phân của cừu

ở các nhóm hạn chế hay tăng cường dinh dưỡng là tương tự [77]

Các loại sản phẩm cuối cùng chuyển hóa của steroid trong phân được xác định bằng phương pháp sắc ký (HPLC) hoặc xét nghiệm miễn dịch (RIA hoặc ELISA)

được thu thập ngay sau khi bài tiết, nước tiểu được lấy mẫu qua ống thông tiểu cố định

ở con cái và sau khi tiểu tiện tự nhiên ở con đực [78] Kết quả nghiên cứu cho thấy các chất steroid có chứa phóng xạ trong huyết tương kết hợp nhanh chóng và bài tiết vào mật và nước tiểu Ở hầu hết các loài, steroid trong phân chứa một tỉ lệ steroid tự do cao hơn các steroid liên hợp Việc xác định con đường, thời gian và sản phẩm bài tiết steroid phân ngày càng được mở rộng danh sách các loài: cừu [77]; ngựa, lợn [79], khỉ đầu chó [80], mèo nhà [81] Về bản chất, những nghiên cứu này chỉ ra rằng estrogen trong phân chứa chủ yếu là oestrone, oestradiol-17α và -17β Oestrogen là sản phẩm cuối cùng của

sự trao đổi chất steroid Như vậy, các hợp chất trong huyết tương và phân cũng tương

tự nhau Ngược lại, progesterone được chuyển hóa mạnh mẽ trước khi đào thải qua phân

và một số nghiên cứu cho thấy rằng các chất chuyển hóa phân của nó bao gồm các chất chuyển hóa từ 5α và 5β -pregnan (pregnaned- iones, mono và dihydroxylated pregnans) [76]

1.4.4 Phương pháp ly trích steroid

Steroid có thể chiết xuất theo phương pháp ethanol [82, 83] hoặc methanol [84, 85] Các mẫu phân được thu thập từ 2-3 lần mỗi tuần (12 tháng) Các mẫu trong thời

Ngày đăng: 18/06/2020, 16:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w