Tình hình tổ chức thực hiện ở các địa phương Theo chỉ đạo của Quyết định 134, ở các địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh cóđối tượng đồng bào thuộc diện được hưởng hỗ trợ theo Quyết định 134
Trang 1KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA CHƯƠNG
TRÌNH 134 GIAI ĐOẠN 2004 2006
2.1.TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH 134 GIAI ĐOẠN 2004 - 2006
2.1.1 Tình hình tổ chức thực hiện
2.1.1.1 Tình hình chỉ đạo thực hiện của trung ương
a) Việc ban hành văn bản hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện Quyết định 134
Sau hội nghị quán triệt triển khai Quyết định 134/2004/QĐ TTg ngày 20 –21/9/2004 tại thành phố Hồ Chí Minh, các Bộ, ngành Trung ương đã gấp rút triển khaitheo công việc, theo chức năng, nhiệm vụ được phân công của Quyết định 134 và tạivăn bản số 1401/CP – NN ngày 28/9/2004 của Thủ tướng Chính phủ Liên bộ: Ủy banDân tộc, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn đã xây dựng và ban hành Thông tư liên tịch số 819/2004/TTLT/UBDT-KHĐT-XD-NNPTNT ngày 10/11/2004 hướng dẫn thực hiện Quyết định 134
Bộ Tài chính đã ban hành thông tư số 121/2004/TT – BTC ngày 16/12/2004 vềviệc hướng dẫn công tác lập dự toán, quản lý, cấp phát, thanh toán, quyết toán nguồnvốn ngân sách nhà nước thực hiện Quyết định 134 ;Quyêt định sô 146/2005/QĐ – TTgngày 15/06/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thu hồi đất sản xuất của cácnông trường, lâm trường để giao khoán cho hộ đồng bào dân tộc thiểu sô nghèo; Thông
tư số 111/2004/TT – BTC ngày 19/11/2005 hướng dẫn một số điểm về tổ chức thựchiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2005; Thông tư số 100/2005/TT – BTC ngày17/11/2005 hướng dẫn một số điểm về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nướcnăm 2006; Văn bản số 4348 TC/NSNN ngày 14/4/2005 về thực hiện chế độ báo cáo ởcác địa phương
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành Quyết định số03/2005/QĐ – BNN ngày 7/1/2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn ban hành Quy định về khai thác gỗ để hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo,
Trang 2đời sống khó khăn theo Quyết định 134; Dự thảo quyết định của Thủ tướng về việc bổsung chính sách thay thế chính sách hỗ trợ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu sốnghèo đối với các địa phương không còn quỹ đất sản xuất nông, lâm nghiệp, đã trìnhThủ tướng Chính phủ.
Với vai trò là cơ quan chủ trì theo dõi tình hình thực hiện Quyết định 134 , Ủyban Dân tộc đã ban hành công văn số 118/UBDT – CSDT ngày 25/2/2005 về việc báocáo tình hình thực hiện Quyết định 134 ; Công văn số 438/UBDT – CSDT ngày9/6/2005 về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện Quyết định 134 ; Công văn số982/UBDT – CSDT ngày 5/12/2005 đề nghị báo cáo tình hình 1 năm thực hiện Quyếtđịnh 134; Công văn số 13/UBDT – CSDT ngày 9/1/2006 về việc rà soát, chỉnh sửa, bổsung, hoàn thiện lại nội dung Đề án 134
Trong quá trình xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện Quyết định 134 đều có
sự tham gia, thống nhất với các Bộ, ngành liên quan Việc triển khai thực hiện chínhsách theo Quyết định 134 có nhiều vấn đề phức tạp , đòi hỏi ban hành nhiều văn bảnhướng dẫn, chỉ đạo có liên quan và đã được các Bộ, ngành chủ động, quan tâm giảiquyết Riêng về chính sách đất cho đồng bào Khơ me khu vực Đồng bằng Sông CửuLong đến nay chưa được ban hành được vì các địa phương chua làm tốt công tác khảosát, điều tra, thiếu cơ sở thông tin để xây dựng đề án trình Thủ tướng Chính phủ
b) Công tác rà soát tổng hợp và kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện Quyết định 134
Do công tác xây dựng đề án của các địa phương chưa đúng theo yêu cầu hướngdân của các nội dung chính sách, tháng 12/2005, Ủy ban Dân tộc đã chủ trì phối hợpvới các Bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đẩu tư, Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn, Tài nguyên và Môi trường rà soát các bươc một Đề án thực hiện Quyết định 134của các địa phương
Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn, tháng 3/2006, Liên bộ đã làm việc với 21tỉnh trọng điểm về nội dung các đề án rà soát, tổng hợp, nhu cầu đề án 53 tỉnh để báocáo trình Thủ tướng Chính phủ
Trang 3Về công tác kiểm tra tình hình thực hiện ở các địa phương, trong năm 2004 và
2005, Ủy ban Dân tộc đã tổ chức các đoàn kiểm tra, khảo sát tại các tỉnh Yên Bái,Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đắc Lắc, Gia Lai, Hà Giang, Quảng Nam và Ninh Thuận.Năm 2006, đã chủ trì đoàn công tác liên Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Xây dựng, Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Văn Phòng chính phủ làmviệc tại các tỉnh: khu vực Đông Bắc – Cao Bằng, Lạng Sơn và khu vực Đồng bằngSông Cửu Long – Đồng Nai, Vĩnh Long, Kiên Giang, Thanh Hóa, Nghệ An và LaiChâu
Hội đồng Dân tộc của Quốc hội với vai trò là cơ quan giám sát trong quí I và IInăm 2006 đã trực tiếp khảo sát nắm tình hình và kết quả thực hiện tại 20 tỉnh, riêng khuvực Tây Nguyên khảo sát ở 5 tỉnh, 11 huyện, 18 xã, 6 đơn vị doanh nghiệp Ngay sau
kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI, tổ chức 5 đoàn khảo sát ở 9 tỉnh, 21 huyện Đối với cácđịa phương không trực tiếp giám sát, đề nghị Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực hộiđồng nhân dân, các ban Hội đồng nhân dân tiến hành tự giám sát và báo cáo kết quả
2.1.1.2 Tình hình tổ chức thực hiện ở các địa phương
Theo chỉ đạo của Quyết định 134, ở các địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh cóđối tượng đồng bào thuộc diện được hưởng hỗ trợ theo Quyết định 134 chịu tráchnhiệm trực tiếp và toàn diện trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chính sách hỗtrợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho các hộ đồng bào nghèo Cụ thể: Ủyban nhân dân tỉnh công bố công khai tiêu chuẩn, đối tượng và điều tra lập danh sách các
hộ đồng bào được hỗ trợ; lập và phê duyệt đề án thực hiện Quyết định 134 ở địa bàntỉnh mình; chỉ đạo các cơ quan có liên quan, các cấp chính quyền địa phương và phốihợp với các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn tổ chức hiệu quả các chínhsách hỗ trợ; kiểm tra việc thực hiện, đảm bảo các chính sách đến được hộ đồng bào dântộc
Trên cơ sở chỉ đạo của Trung Ương, các tỉnh đã triển khai thực hiện, lập ban chỉđạo các cấp tỉnh, huyện, xã theo mô hình: ở cấp tỉnh, thành lập ban chỉ đạo 134 do phóchủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh làm trưởng ban, trưởng ban dân tộc làm phó ban thườngtrực đồng thời lãnh đạo các sở ban ngành làm thành viên ban chỉ đạo; ở cấp huyện
Trang 4thành lập ban chỉ đạo huyện (một số địa phương lồng ghép cùng với Chương trình 135);
ở cấp xã thành lập tổ công tác hoặc lồng ghép vào với chương trình khác như Xoá đóigiảm nghèo, Chương trình 135 Việc tổ chức triển khai như trên đã tạo cơ chế chỉ đạo,quản lý thống nhất giữa các cấp chính quyền tỉnh - huyện – xã, đồng thời cho phép phốihợp đồng bộ, linh hoạt giữa các ban ngành liên quan
Để có thể thực hiện chương trình một cách tốt nhất, việc huy động sự tham giacủa các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể cũng hết sức quan trọng Các địa phương đãchỉ đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể các cấp tuyên truyền, giải thích rõ về mục đích củaChương trình đến tận người dân và được nhân dân nhiệt tỉnh hưởng ứng Thông quaChương trình, đồng bào đã nâng cao trách nhiệm của cộng đồng, tăng cường tình đoànkết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau và hạn chế tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách củaĐảng và Nhà nước Nhiều hộ đã tự nguyện tham gia đóng góp ngày công hoặc chủđộng vận động anh em trong dòng tộc tương trợ giúp đỡ lẫn nhau khai hoang ruộngnước, làm công trình nước sinh hoạt, xây dựng bể chứa nước, đổi công trong việc làmnhà, lợp nhà…
Về vấn đề xây dựng đề án, do yêu cầu về thời gian và tính phức tạp của nội dungchính sách nên đề án của các địa phương lập giai đoạn đầu nhìn chung chưa thật đầy
đủ và chuẩn xác, thời gian chậm, tổng nhu cầu vốn rất cao, một số tỉnh đề án làm lạinhiều lần Một số tỉnh thực hiện rất sớm và nghiêm túc việc lập đề án như Cao Bằng,Lào Cai, Sơn La, Thanh Hóa, Quảng Nam Bên cạnh đó cũng có những địa phương mớihoàn thành đề án vào tháng 1/2006 như Tây Ninh, Bạc Liêu, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc…
Cá biệt có những tỉnh không chấp hành chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương Đến tháng5/2006, cả nước đã có 53 tỉnh xây dựng xong đề án, có cả đề án điều chỉnh
2.1.2 Tình hình huy động và sử dụng vốn
2.1.2.1 Tình hình huy động vốn
a) Nhu cầu vốn cho Chương trình 134
Theo tiêu chuẩn hỗ trợ quy định tại quyết định và thông tư hướng dẫn của các
Bộ, Ngành trung ương, Ủy ban nhân dân các địa phương tổng hợp nhu cầu, xây dựng
và phê duyệt đề án để có căn cứ bố trí vốn ngân sách hàng năm Các địa phương đã chỉ
Trang 5đạo và hướng dẫn các huyện, xã tiến hành khảo sát điều tra và xây dựng đề án Việcbình xét được tiến hành từ cấp xã và tổng hợp lên cấp huyện, cấp tỉnh để đưa vào đề án.Đến nay đã có 54 tỉnh, thành phố xây dựng xong đề án và gửi về Ủy ban Dân tộc đểphối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính tổng hợp.
Theo các đề án được duyệt, nhu cầu thực hiện Quyết định 134 như sau:
Tổng số hộ trong diện đối tượng 134 là 475.408 hộ với nhu cầu vốn hỗ trợ từ ngân sáchTrung ương là 3.948,1 tỷ đồng, trong đó:
o Số hộ cần hỗ trợ nhà ở là 333.313 hộ, nhu cầu vốn từ ngân sách trung ương là 1.655,9
- Ngân sách Trung ương cho các địa phương để thực hiện quyết định là 1610 tỷđồng
- Ngân sách địa phương là 292 tỷ đồng
- Huy động khác 0,121 triệu đồng
Trang 6Nguồn: Tài liệu hội nghị toàn quốc sơ kết tình hình thực hiện Quyết định 134/2004/QD-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ (giai đoạn 2004 – 2006) – UBDT – Bộ NNPTNT
Biểu đồ 2.1 cho thấy nguồn vốn cho Chương trình 134 chủ yếu là vốn ngân sách trungương, phần còn lại là vốn ngân sách địa phương và một phần rất nhỏ là huy động từ cácnguồn khác
Nguồn vốn ngân sách trung ương cấp năm 2005 qua 2 đợt là 780 tỷ đồng cho 44tỉnh, năm 2006 là 800 tỷ đồng cho 51 tỉnh và bổ sung 30 tỷ đồng từ nguồn vượt chingân sách Tuy vậy, nguồn vốn nói trên so với nhu cầu của các địa phương vẫn cònthấp, trung bình đạt khoảng 41% nhu cầu của các tỉnh
Về nguồn vốn ngân sách địa phương, tính bình quân trên cả nước, nguồn vốn địaphương đã đạt yêu cầu gần 20% vốn ngân sách trung ương Có những địa phương đãtích cực triển khai, chủ động vận dụng nhiều giải pháp tích cực, phù hợp tình hình cụthể của địa phương để đảm bảo nguồn vốn đối ứng theo quy định như Thừa Thiên Huế,Ninh Thuận, Bình Dương…Nhiều địa phương đã huy động được nguồn lực cộng đồng,dòng họ để hỗ trợ làm nhà, san nhượng đất ở, đất sản xuất Bên cạnh đó, vẫn còn rấtnhiểu tỉnh nguồn vốn đối ứng không đáp ứng đủ 20% vốn ngân sách
2.1.2.1 Sử dụng vốn
a) Phân bổ vốn ngân sách cho các địa phương
Sau 2 năm thực hiện, lượng vốn từ Ngân sách Trung ương cấp là 1610 tỷ đồngcho 51 tỉnh thành trong cả nước Việc phân bổ vốn không được chia đều mà có sự khácnhau giữa các địa phương Khu vực Tây Nguyên, các tỉnh trọng điểm ở Tây Bắc, TâyNam Bộ được ưu tiên bố trí nguồn vốn lớn.Khu vực Tây Nguyên: Đắc Lắc 84 tỷ đồng,Gia Lai 88 tỷ đồng, Kon Tum 72 tỷ đồng, Đắc Nông 70 tỷ đồng Khu vực Đồng bằngsông Cửu Long: Trà Vinh 65 tỷ đồng, Sóc Trăng 70 tỷ đồng Các khu vưc khác: LaiChâu 52 tỷ đồng, Thanh Hóa 57 tỷ đồng, Ninh Thuận 48 tỷ đồng… các tỉnh còn lạiđược phân bổ ít hơn và chỉ đạt 20 – 35% kế hoạch
b) Sử dụng vốn theo các mục tiêu của chương trình
b1) Hỗ trợ nhà ở:
Nhà ở là mục tiêu được ưu tiên của nhiều địa phương để giải quyết nhu cầu thiếtyếu và cấp bách cho đồng bào, do đó lượng vốn phân bổ cho mục tiêu hỗ trợ nhà ở đạtcao nhất là 691 tỷ đồng, đạt 42 % kế hoạch Trong đó các tỉnh Tây Nguyên và Tây Bắc
Trang 7chiếm trên 50 % lượng vốn đầu tư vì đây là vùng có miền núi có nhiều hộ đồng bàothuộc đối tượng hỗ trợ của Chương trình Tính riêng trong các tỉnh miền núi phía Bắcđược đầu tư hỗ trợ thì Lai Châu, Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai là những tỉnh được đầu tưnhiều nhất, chiếm 72% vốn đầu tư cho vùng này, còn các tỉnh như Vĩnh Phúc, Quảng Ninh
do kinh tế xã hội phát triển hơn nên mức đầu tư thấp hơn Miền Đông Nam Bộ do có trình
độ phát triển cao hơn lại là vùng đồng bằng do đó được đầu tư ít vốn hơn
Bảng 2.1: Vốn đầu tư thực hiện mục tiêu hỗ trợ nhà ở với các
Đồng bằng Sông Cửu Long 137.607 40
Nguồn: Tài liệu hội nghị toàn quốc sơ kết tình hình thực hiện Quyết định 134/2004/QD-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ (giai đoạn 2004 – 2006) – UBDT – Bộ NNPTNT
Các hộ đồng bào được hỗ trợ nhà ở, mức thanh toán tối đa không quá mức quy định hỗtrợ của Nhà nước đối với từng hộ dân được cấp có thẩm quyền phê duyệt ( Ngân sáchnhà nước hỗ trợ tối thiểu 6 triệu đồng trong đó ngân sách trung ương hỗ trợ 5 triệuđồng, ngân sách địa phương hỗ trợ tối thiểu 1 triệu đồng và nguồn huy động khác) Một
số địa phương đã thực hiện rất tốt mục tiêu này, đã đảm bảo và vượt mức tối thiểu 20%vốn đối ứng, tiêu biểu là Thừa Thiên Huế, Ninh Thuận, Quảng Nam, Đắc Nông…Trong
đó Thừa Thiên Huế bố trí ngân sách tỉnh hỗ trợ nhà ở với mức 10 triệu đồng /nhà; NinhThuận 3 triệu đồng/nhà; Quảng Nam cho phép khai thác hỗ trợ 10m3 gỗ/nhà
b2) Hỗ trợ đất sản xuất
Ngược lại với mục tiêu hỗ trợ nhà ở, mục tiêu hỗ trợ đất ở được thực hiện chậmhơn, hiệu quả thấp hơn Kinh phí hỗ trợ đất sản xuất là 42,8 tỷ đồng, đạt 9% so với kếhoạch Cụ thể ở các vùng miền như sau:
Bảng 2.2 : Vốn đầu tư thực hiện mục tiêu hỗ trợ đất sản xuất
với các vùng trên cả nước
Vùng Kinh phí đã thực hiện Tỷ lệ hoàn thành(%)
Trang 8Đồng bằng Sông Cửu Long -
-Nguồn: Tài liệu hội nghị toàn quốc sơ kết tình hình thực hiện Quyết định 134/2004/QD-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ (giai đoạn 2004 – 2006) – UBDT – Bộ NNPTNT
Như vậy tính trong cả nước, khu vực Đông Bắc và Đông Nam Bộ thực hiện tốt nhấtmục tiêu này với tỷ lệ hoàn thành lần lượt là 22% và 28% Tuy nhiên con số này vẫncòn rất thấp so với mục tiêu đặt ra là “đến cuối năm 2006 phải cơ bản thực hiện xongmục tiêu” Riêng đối với các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, cho đến nayvẫn chưa thực hiện được việc giao đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo vìchưa có chính sách
b3) Hỗ trợ nước sinh hoạt
Cùng với mục tiêu hỗ trợ nhà ở, mục tiêu hỗ trợ nước sinh hoạt cũng được các địaphương ưu tiên và đạt kết quả tốt Nước sinh hoạt hỗ trợ cho các hộ đồng bào gồm 2 loạicông trình: công trình nước sinh hoạt tập trung và công trình nước sinh hoạt phân tán Sau
2 năm thực hiện, Chương trình đã hỗ trợ công trình nước sinh hoạt tập trung cho 52.805
hộ với số vốn đầu tư là 41,2 tỷ đồng đạt tỷ lệ hoàn thành 38 % Với công trình nước sinhhoạt tập trung, Chương trình đã hoàn thành được 1.652 công trình, kinh phí thực hiện là
222 tỷ đồng, hoàn thành 13% so với kế hoạch
Bảng 2.3: Vốn đầu tư thực hiện mục tiêu hỗ trợ nước sinh hoạt
với các vùng trên cả nước
Vùng
Nước phân tán Nước tập trungKinh phí đã
thực hiện (tỷđồng)
Tỷ lệ hoànthành(%)
Kinh phí đãthực hiện (tỷđồng)
Tỷ lệhoànthành(%)
Đông Bắc 17,069 53 88,009 15
Tây Bắc 5,061 19 14,977 6
Trang 9Đồng bằng sông Cửu Long 5,889 45 22,470 12
Nguồn: Tài liệu hội nghị toàn quốc sơ kết tình hình thực hiện Quyết định 134/2004/QD-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ (giai đoạn 2004 – 2006) – UBDT – Bộ NNPTNT
b4)Hỗ trợ đất ở
Mục tiêu hỗ trợ đất ở là mục tiêu mà kinh phí thực hiện là ít nhất, sau 2 năm là1,14 tỷ đồng, đạt tỷ lệ hoàn thành 9%
Bảng 2.4: Vốn đầu tư thực hiện mục tiêu hỗ trợ đất ở
với các vùng trên cả nước
-Đồng bằng Sông Cửu Long -
-Nguồn: Tài liệu hội nghị toàn quốc sơ kết tình hình thực hiện Quyết định 134/2004/QD-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ (giai đoạn 2004 – 2006) – UBDT – Bộ NNPTNT
Trong 8 vùng trên cả nước thì chỉ có 3 vùng thực hiện và có con số báo cáo, tuy nhiênlượng vốn hỗ trợ là rất ít 5 vùng còn lại không đưa đất ở vào mục tiêu cần hỗ trợ màđịa phương sẽ tự giải quyết
b5) So sánh vốn thực hiện giữa các mục tiêu
Như vậy, sau 2 năm thực hiện Chương trình 134 , tình hình phân bổ vốn theo các mụctiêu so với kế hoạch như sau:
Trang 10Nguồn: Tài liệu hội nghị toàn quốc sơ kết tình hình thực hiện Quyết định 134/2004/QD-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ (giai đoạn 2004 – 2006) – UBDT – Bộ NNPTNT
Nhà ở và nước sinh hoạt là những nhu cầu thiết yếu với cuộc sống nhân dân đã đượccác tỉnh ưu tiên và tập trung thực hiện Bên cạnh đó, 2 mục tiêu này người dân có thểnhận hỗ trợ và tự tiến hành làm không phải phụ thuộc và chờ đợi do đó 2 mục tiêu nàyđược thực hiện tốt hơn cả và giải ngân được nhiều nhất so với kế hoạch
2.1.3 Tình hình thực hiện các mục tiêu của Chương trình
2.1.3.1 Hỗ trợ nhà ở
Nhà ở là một trong những nhu cầu thiết yếu trong đời sống con người Cải thiệnchỗ ở ngày một tốt hơn là yêu cầu cấp bách để nâng cao mức sống nhân dân Trongđiều kiện nước ta là một quốc gia đang phát triển, thu nhập bình quân đầu người cònthấp thì việc tự tạo cho mình một chỗ ở tương đối khang trang và ổn định là vấn đề khókhăn đối với nhiều hộ gia đình ở nước ta, đặc biệt là đối với các hộ đồng bào dân tộcthiểu số thuộc vùng sâu, vùng xa Với những hộ đồng bào này, do điều kiện địa lý phứctạp, giao thông đi lại khó khăn, trình độ dân trí còn thấp nên việc tạo lập nhà ở rất cần
có sự hỗ trợ của Nhà nước Chính vì lẽ đó Chương trình 134 ra đời và một nhiệm vụtrọng tâm là hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa xây dựng nhà ở
Sau khi Quyết định 134 được ban hành, các bộ, ngành trung ương đã tiến hànhtriển khai, chỉ đạo và cụ thể hoá Quyết định 134 Các địa phương đã khẩn trương tổchức triển khai thực hiện chính sách từ tỉnh tới cơ sở, tổ chức quán triệt và tập huấnnghiệp vụ cho các cán bộ trực tiếp tham gia, đồng thời thực hiện tốt việc tuyên truyềnsâu rộng đến tận thôn, bản và người dân để người dân hiểu rõ ý nghĩa, mục tiêu, yêucầu đạt được của chính sách
Ngoài sự hỗ trợ của Nhà nước, các địa phương đã căn cứ vào điều kiện và khảnăng cụ thể để hỗ trợ thêm kinh phí cho các hộ đồng bào nghèo, hộ chính sách từ nguồnngân sách địa phương Ngoài ra, với phương châm xã hội hoá vấn đề nhà ở, các địaphương đã tích cực huy động nguồn lực tại chỗ, nguồn vốn trong dân, huy động sự giúp
đỡ của cộng đồng, dòng họ để hỗ trợ các hộ nghèo cải thiển nhà ở
Trang 11Nhiều địa phương đã phát động các phong trào rộng rãi, vận động cộng đồngtích cực hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào nghèo cải thiện nhà ở Đã có rất nhiều hình thứcphong phú, cách làm thiết thực và hiệu quả để hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo được triểnkhai tại các địa phương.
Nhìn chung các địa phương đều nhận thức được việc giải quyết nhà ở cho hộnghèo nói chung và nhà ở cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo có khó khăn về nhà ở
là vấn đề cấp thiết Việc hỗ trợ cải thiện nhà ở cho các đối tượng này có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng trong việc từng bước nâng cao đời sống của các hộ gia đình, góp phần
ổn định xã hội Trong 4 mục tiêu của Chương trình 134 là hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà
ở và nước sinh hoạt thì mục tiêu hỗ trợ nhà ở được ưu tiên ở nhiều địa phương nên cácđịa phương triển khai khá sớm và cũng đạt được kết quả tương đối tốt Theo báo cáocủa các địa phương sau gần 2 năm thực hiện, tính đến tháng 7/2006 các tỉnh đã thựchiện hỗ trợ nhà ở cho gần150.007 hộ - đạt khoảng 42%, kinh phí 691 tỷ đồng - đạt 42%
so với kế hoạch Một số tỉnh đã hoàn thành cơ bản hỗ trợ nhà ở gắn liền với hỗ trợ đất ởnhư Thừa Thiên Huế, Đắc Nông, Vĩnh Long, Phú Yên, Hà Tây Một số khu vực đạt tỷ
lệ hoàn thành khá cao như Đồng bằng Sông Hồng đạt 82%, Tây Nguyên đạt 78%
Tỷ lệhoànthành(%)
Kinh phí
đã thựchiện
Đề án ràsoát
Tỷ lệhoànthành(%)Tổng số 150.007 333.313 45 691.642 1.655.918 42
Trang 12Ngoài mức hỗ trợ của Nhà nước, nhiều địa phương đã hỗ trợ thêm từ nguồnngân sách địa phương và huy động thêm sự hỗ trợ của cộng đồng nên nhiều gia đình đãxây dựng được những căn nhà tương đối khang trang, chắc chắn Qua kiểm tra thực tếtại một số địa phương cho thấy tại khu vực phía Bắc đa số các căn nhà hỗ trợ được xâydựng bằng gạch, mái lợp tôn hoặc fibrô xi măng Diện tích căn nhà từ 40 đến 50 m2, giátrị căn nhà từ 15 – 20 triệu đồng Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long đa số nhà ở
hỗ trợ có kết cấu khung chịu lực bằng bê tông cốt thép, mái lợp tôn, bao che bằng vậtliệu đơn sơ hoặc những vật liêu do người dân tự tìm kiếm Diện tích căn nhà khoảng 30– 32m2, giá trị căn nhà từ 6 – 7 triệu đồng Nhà được đánh giá tốt hơn cả về diện tích vàchất lượng là ở các tỉnh Quảng Nam, Nghệ An, Thừa Thiên Huế và Cao Bằng
Các căn nhà được xây dựng phần lớn đều phù hợp với phong tục, quán lối sốngcủa đồng bào dân tộc miền núi Trong quá trình xây dựng, bà con cũng được tư vấn đểxây, thiết kế và sử dụng những vật liệu sao cho phù hợp với điều kiện tự nhiên và khảnăng kinh tế của hộ gia đình Rất nhiều vật liệu được khai thác trong làng bản như tre,
gỗ, đá, sỏi, cát… do đó tiết kiệm được một phần chi phí cho đồng bào
Một số địa phương tận dụng gỗ từ các lòng hồ thuỷ điện, thủy lợi hoặc đượcphép khai thác gỗ theo quy định để hỗ trợ cho các hộ xây dựng nhà ở ( Như QuảngNam mỗi hộ được hỗ trợ khoảng 10m3 gỗ khai thác tại chỗ)
Về hình thức hỗ trợ, có hai hình thức hỗ trợ là bằng tiền và vật liệu Vật liệuthường được dùng để hỗ trợ là tấm lợp, gỗ hoặc xi măng Nhưng phần lớn các hộ đềumuốn nhận phương hỗ trợ bằng tiền để các hộ tự xây dựng Nhiều địa phương hướngdẫn, giúp đỡ các gia đình trong việc chọn mẫu thiết kế, công bố giá cả gạch, ngói cátsỏi, giúp hợp đồng thuê thợ, đồng thời vận động dòng họ, bà con trong thôn bản giúp
đỡ về nhân công nên giá thành xây dựng thấp, bảo đảm chất lượng, phù hợp với yêucầu của bà con
2.1.3.2 Hỗ trợ nước sinh hoạt
Cũng như nhà ở, nước sinh hoạt cũng là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Dođiều kiện sống ở vùng núi cao, giao thông đi lại khó khăn, nguồn nước lại ở xa nơi sinhsống nên rất nhiều hộ đồng bào dân tộc thiếu nước sinh hoạt hoặc có nhưng không đảm
Trang 13bảo vệ sinh Để có được nước ăn, đồng bào thường phải đi bộ rất xa hoặc trông chờ vàonhững cơn mưa, do đó điều kiện sinh hoạt thường xuyên bấp bênh, không được đảmbảo Chương trình 134 ra đời trong đó có mục tiêu hỗ trợ nước sinh hoạt đã giải quyếtđược nhu cầu cấp bách về nước của đồng bào.
Mục tiêu hỗ trợ nước sinh hoạt gồm 2 phần là hỗ trợ xây dựng công trình nướctập trung và xây dựng công trình nước phân tán Công trình nước phân tán được hỗ trợ
để xây dựng ngay tại hộ gia đình và công trình nước tập trung được xây dựng tronglàng bản để phục vụ chung cho cộng đồng
Với công trình nước phân tán.
Chương trình đã hỗ trợ xây dựng được 52.805 công trình nước phân tán với sốvốn 41,26 tỷ đồng
Bảng 2.6: Tổng hợp tình hình thực hiện mục tiêu hỗ trợ công trình nước sinh
hoạt phân tán trong giai đoạn 2004 – 2006
Vùng Để án rà soát Số hộ đã
thực hiện
Tỷ lệ hoànthành(%)
Kinh phí đãthực hiện(tỷ đồng)
Tỷ lệ hoànthành(%)
Trang 14hoạt đảm bảo vệ sinh lại thiếu trầm trọng Tuy nhiên, không phải vùng nào thiếu nướcđều thực hiện mục tiêu này tốt, như vùng Tây Bắc mặc dù có nhiều đối tượng thuộcdiện được hỗ trợ nhưng do công tác triển khai chậm nên tỷ lệ hoàn thành chưa cao, giảingân còn chậm.
Về hình thức hỗ trợ, các hộ được lựa chọn các hình thức hỗ trợ là hỗ trợ bằngtiền, cấp lu, téc đựng nước, cấp xi măng xây bể chứa hoặc đào giếng Thông qua đăng
ký với chính quyền, các hộ sẽ được hỗ trợ theo nguyện vọng của mình.Số tiền hỗ trợ sẽ
do ngân sách trung ương cấp là 300.000 đồng/hộ, phần còn lại nếu thiếu sẽ do ngânsách địa phương cân đối hoặc người dân tự lo Với những hộ đăng ký nhận hỗ trợ bằng
xi măng, ngân sách trung ương sẽ hỗ trợ 0,5 tấn, phần còn lại nếu thiếu cũng do ngânsách địa phương đảm nhiệm Trong số các hộ được hỗ trợ, hơn 60% hộ đăng ký nhậntiền, 20% đăng ký nhận lu, téc còn lại là nhận xi măng
Về nguồn nước, nước sinh hoạt được người dân lấy từ trong lòng đất, từ mạchnước ngầm trong lòng núi, hoặc từ công trình nước sinh hoạt chung của thôn bản Dođặc thù địa hình cũng như tập quán, các hộ ở đồng bằng chủ yếu lấy nước từ giếng (đàohoặc khoan), ngược lại các hộ ở miền núi chủ yếu lấy nước từ mạch nước trong núihoặc đầu nguồn
Với công trình nước tập trung.
Chương trình đã hỗ trợ xây dựng 1.652 công trình với sô vốn 222 tỷ đồng
Trang 15Bảng 2.7 : Tổng hợp tình hình thực hiện mục tiêu hỗ trợ công trình nước sinh
hoạt tập trung trong giai đoạn 2004 – 2006
Vùng Đề án rà
soát
Số côngtrình thựchiện
Tỷ lệ hoànthành(%)
Kinh phí đãthực hiện(tỷ đồng)
Tỷ lệ hoànthành(%)
Số vốn bình quân đầu tư cho mỗi công trình cũng khá cao, trung bình chung mỗi côngtrình là 134,4 triệu đồng Các công trình được xây dựng thường là giếng khoan kèm bểlọc, bể chứa nước đối với vùng đồng bằng, giếng hoặc đường dẫn nước từ mạch nước
và hệ thống bể chứa to đối với vùng miền núi Các công trình này được xây dựng lớn đểphục vụ cho cộng đồng Tùy vào địa bàn khác nhau, số lượng dân cư khắc nhau màtrong thôn, bản có số lượng công trình khác nhau
Trang 16giai đoạn 2004 – 2006
Vùng Đề án rà
soát
Số hộ đãthực hiện
Tỷ lệ hoànthành(%)
Kinh phí đãthực hiện(tỷ đồng)
Tỷ lệ hoànthành(%)
Thứ nhất, theo Quyết định 134 , những hộ đồng bào thuộc đối tượng được hỗ trợ đất ở
sẽ được hỗ trợ từ vốn ngân sách trung ương là 5 triệu đồng, từ ngân sách địa phương tốithiểu 1 triệu đồng (bằng 20% vốn ngân sách trung ương) Số tiền này là quá nhỏ bé vàkhông đủ để người dân có thể sở hữu đất ở là quá nhỏ bé Không thể làm chuyển biến
từ việc hộ chưa có đất trở thành có đất nhờ số tiền trên Chính vì lẽ đó rất nhiều địaphương đã không đưa vào nhu cầu hỗ trợ đất ở
Thứ hai, trên thực tế, sau khi các hộ đồng bào được hỗ trợ xây dựng nhà ở, các hộ đều
có thể có đất để xây nhà Đất các hộ có được là nhờ có sự chia sẻ từ gia đình, bà con họhàng Vì lẽ đó không cần hỗ trợ nhưng các hộ vẫn có đất ở
Xuất phát từ 2 nguyên nhân trên, trong chuyến kiểm tra, đánh giá của đoàn kiểm tra liênngành vào đầu năm 2006 tại một số tỉnh, ban chỉ đạo đã quyết định mục tiêu đất ở docác địa phương tự giải quyết Những địa phương nào cần hỗ trợ vẫn sẽ được hỗ trợ vàphải báo cáo đầy đủ tình hình về các cơ quan trung ương
Trang 172.1.3.4 Hỗ trợ đất sản xuất
Theo báo cáo của các địa phương, tổng số hộ trong diện đối tượng của Quyếtđịnh 134 cần được hỗ trợ đất sản xuất là 237.616 hộ với tổng diện tích là 73.535 ha.Nhu cầu vốn hỗ trợ của nguồn ngân sách Trung ương của các địa phương để giải quyếtđất sản xuất là 450,9 tỷ đồng Tính đến tháng 6/2006, theo số liệu tổng hợp của 46/51tỉnh được cấp vốn thực hiện mới có 32.811 hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và khókhăn được hỗ trợ đất sản xuất, đạt 14% tổng số hộ với diên tích 11500 ha, đạt 14 %tổng nhu cầu diện tích đất Kinh phí cấp cho các địa phương để tạo quỹ đất sản xuất hỗtrợ đồng bào dân tộc thiểu số mới chỉ có 41,58 tỷ đồng, đạt 9,2% nhu cầu vốn hỗ trợ
Kết quả thực hiện cụ thể ở các vùng như sau:
Trang 18Bảng 2.9: Kết quả thực hiện mục tiêu hỗ trợ đất sản xuất của các vùng trên cả
nước sau 2 năm thực hiện Quyết định 134
Bên cạnh đó, có rất nhiều địa phương còn lúng túng trong việc giải quyết đất sảnxuất cho đồng bào dân tộc Do vậy, trong gần 2 năm qua mới chỉ hoàn thành bước lậpphương án giải quyết đất sản xuất hoặc mới chỉ thực hiện được việc giao đất cho mộtvài hộ như Sơn La, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hòa Bình, Cao Bằng ở miền núi phía Bắc;Ninh Bình ở đồng bằng Sông Hồng; Thừa Thiên Huế ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.Như vậy, so sánh kết quả đạt được với mục tiêu đặt ra trong Quyết định 134 là “ đếncuối năm 2006 phải cơ bản thực hiện xong các chính sách quy định tại Quyết định này”
sẽ không thể đạt được với mục tiêu hỗ trợ đất sản xuất Tính đến giữa năm 2006, vẫncòn 204.805 hộ (chiếm 86% tổng số hộ) chưa được hỗ trợ về đất sản xuất, trong đóvùng Đông Bắc với 29.621 hộ, Duyên hải miền Trung 29.029 hộ, Bắc Trung Bộ 28.650
hộ, Tây Bắc 25.897 hộ, Tây Nguyên 20.489 hộ, Đông Nam Bộ 7.467 hộ
Một trong những hướng giải quyết hỗ trợ đất sản xuất cho đồng bào dân tộcthiểu số nghèo thiếu đất sản xuất là phát triển nghề rừng, giao rừng, khoán bảo vệ rừng,giúp cho đồng bào thu lợi được từ rừng Để có cơ sở giao rừng, khoán bảo vệ rừng, BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức hướng dẫn các địa phương quy hoạchrừng, tiến hành phân loại rừng để có biện pháp quản lý phù hợp với từng loại rừng.Trong 2 năm qua, Đà Nẵng là địa phương thực hiện tốt việc giao đất lâm nghiệp cho