MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc bảo đảm nguồn thu của ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu tài trợ cho các hoạt động của nhà nước cũng như tài trợ cho việc xây dựng, kiến thiết hệ thống kết cấu hạ tầng. Để giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, tăng cường nguồn lực đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng, một trong những biện pháp được áp dụng đó là thiết lập mối quan hệ đối tác giữa Nhà nước và tư nhân, hay còn được gọi là đầu tư theo hình thức đối tác công tư (Public Private Partnerships sau đây xin viết tắt là PPP). Đầu tư theo hình thức tác công tư được hiểu là việc thực hiện các dự án trên cơ sở hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư, theo đó các bên thỏa thuận về quyền, trách nhiệm và phân chia rủi ro giữa họ với nhau trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý, vận hành công trình kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trong một số lĩnh vực nhất định của nền kinh tế. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, nhờ áp dụng hình thức PPP, Nhà nước và doanh nghiệp cùng có lợi. Đầu tư theo hình thức này giúp chính phủ các nước giảm bớt gánh nặng đầu tư vốn bằng nguồn ngân sách nhà nước, thông qua cơ chế thu hút vốn đầu tư của khu vực tư nhân vào việc xây dựng kết cấu hạ tầng và dịch vụ công. Hình thức này cũng tạo cơ hội để các nhà đầu tư tư nhân được đóng góp ý kiến, đề xuất các chính sách phù hợp về kinh tế, xã hội nhằm tối đa hóa lợi ích cho tất cả các bên. Trên thế giới, hình thức đầu tư này đã từng được triển khai thực hiện ở các nước phát triển như Anh, Úc, Hàn Quốc, Trung Quốc và đã đem lại những thành công ngoài mong đợi trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của các quốc gia này. Trong khi đó, ở các nước ASEAN như Philippines, Thái Lan, Singapore, chính phủ các nước này cũng đã bước đầu đưa ra những cải cách pháp luật nhằm phát triển hình thức đầu tư theo hợp đồng đối tác công tư trong thời gian gần đây. Ở Việt Nam, mô hình PPP bắt đầu được thực hiện từ năm 1997 khi Chính phủ ban hành Nghị định 77/1997/NĐ-CP về quy chế đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT đối với nhà đầu tư trong nước. Tuy nhiên, việc áp dụng các mô hình này dường như chỉ có tính chất thử nghiệm và về lý thuyết thì các mô hình đầu tư BOT, BT hay BTO trong những năm trước đây cũng chưa phản ánh đúng bản chất của mô hình đầu tư theo hợp đồng đối tác công tư. Chính vì vậy, bắt đầu từ năm 2011, với sự ra đời của Quyết định số 71/QĐ-TTg ngày 9/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư, cơ chế đầu tư theo mô hình đối tác công tư mới bắt đầu được triển khai thực hiện ở Việt Nam. Xét về bản chất, BOT chính là một trong các hình thức PPP nhưng chính sự tồn tại đồng thời của nhiều văn bản pháp luật khác nhau cùng điều chỉnh quan hệ đối tác công tư đã gây ra nhiều khó khăn cho quá trình áp dụng và triển khai trên thực tiễn. Trong bối cảnh đó, Nghị định số 15/2015/NĐ-CP được ban hành, sau đó là Nghị định số 63/2018/NĐ-CP để đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật trong việc điều chỉnh quan hệ đối tác công tư. Tuy nhiên, do đây là một lĩnh vực còn khá mới ở Vi ệt Nam, kinh nghiệm thực tiễn để áp dụng cơ chế đầu tư này chưa nhiều nên khung pháp luật điều chỉnh mối quan hệ đặc biệt này đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Việc tìm kiếm một cơ chế đối thoại, đối tác thực sự hiệu quả giữa Nhà nước và nhà đầu tư tư nhân ở Việt Nam trong quá trình đầu tư theo hình thức đối tác công tư vẫn là vấn đề nan giải, cần được tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu và có giải pháp tháo gỡ. Từ thực tiễn nói trên, nghiên cứu sinh quyết định lựa chọn đề tài: “Pháp luật về đầu tƣ theo hình thức đối tác công tƣ ở Việt Nam” để nghiên cứu và làm luận án tiến sĩ vì các lý do chủ yếu sau đây:
Trang 1ĐOÀN THỊ HẢI YẾN
PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƢ THEO HÌNH THỨC
ĐỐI TÁC CÔNG TƢ Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2020
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu 6
5 Những đóng góp mới của luận án 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 8
7 Kết cấu của luận án 8
Phần thứ nhất: TỔNG QUAN 9
1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 9
1.1 Những công trình nghiên cứu về đầu tư nói chung và đầu tư theo hình thức đối tác công tư nói riêng 9
1.2 Những công trình nghiên cứu về pháp luật đầu tư nói chung và pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư nói riêng 21
2 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và hướng triển khai nghiên cứu đề tài luận án 24
2.1 Những kết quả đạt được về mặt lý thuyết và thực tiễn liên quan đến đề tài luận án 24
2.2 Những vấn đề liên quan đến đề tài luận án chưa được các công trình đã công bố giải quyết hoặc đã giải quyết nhưng chưa thỏa đáng, hoặc còn có ý kiến khác nhau cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án 27
3 Lý thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 28
3.1 Lý thuyết nghiên cứu 28
3.2 Câu hỏi nghiên cứu 29
3.3 Giả thuyết nghiên cứu 31
Phần thứ hai: NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN 32
Trang 3ĐỐI TÁC CÔNG TƯ 32
1.1 Những vấn đề lý luận về đầu tư theo hình thức đối tác công tư 32
1.1.1 Khái niệm đầu tư theo hình thức đối tác công tư 32
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư theo hình thức đối tác công tư 40
1.2 Những vấn đề lý luận về điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ đầu tư theo hình thức đối tác công tư 51
1.2.1 Khái niệm pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư 51
1.2.2 Nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư 53
1.2.3 Cấu trúc của pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư 56
Kết luận chương 1 63
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ Ở VIỆT NAM 65
2.1 Thực trạng quy định về chủ thể tham gia quan hệ đầu tư theo hình thức đối tác công tư 65
2.2 Thực trạng quy định về hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam 80
2.3 Thực trạng quy định về trình tự, thủ tục đối với hoạt động đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam 91
2.4 Thực trạng quy định về nguồn vốn thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư 99
2.5 Thực trạng quy định về ưu đãi và bảo đảm đầu tư cho các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư 106
2.6 Thực trạng quy định về quyết toán công trình dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư 110
2.7 Thực trạng quy định về hoạt động kiểm tra, giám sát đối với hoạt động đầu tư theo hình thức đối tác công tư 113
Trang 4Kết luận chương 2 120 Chương 3: MỤC TIÊU, YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ Ở VIỆT NAM 121
3.1 Mục tiêu và các yêu cầu cơ bản đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam 121 3.1.1 Mục tiêu của việc hoàn thiện pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam 121 3.1.2 Các yêu cầu cơ bản đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam 124 3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công
tư ở Việt Nam 127 3.2.1 Những giải pháp chung 127 3.2.2 Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam 132
Kết luận chương 3 150 KẾT LUẬN 151 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN
ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc bảo đảm nguồn thu của ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu tài trợ cho các hoạt động của nhà nước cũng như tài trợ cho việc xây dựng, kiến thiết hệ thống kết cấu hạ tầng
Để giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, tăng cường nguồn lực đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng, một trong những biện pháp được áp dụng đó là thiết lập mối quan hệ đối tác giữa Nhà nước và tư nhân, hay còn được gọi là đầu tư theo hình thức đối tác công tư (Public Private Partnerships sau đây xin viết tắt là PPP)
Đầu tư theo hình thức tác công tư được hiểu là việc thực hiện các dự án trên cơ sở hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư, theo đó các bên thỏa thuận về quyền, trách nhiệm và phân chia rủi ro giữa họ với nhau trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản
lý, vận hành công trình kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trong một số lĩnh
vực nhất định của nền kinh tế
Kinh nghiệm thế giới cho thấy, nhờ áp dụng hình thức PPP, Nhà nước và doanh nghiệp cùng có lợi Đầu tư theo hình thức này giúp chính phủ các nước giảm bớt gánh nặng đầu tư vốn bằng nguồn ngân sách nhà nước, thông qua cơ chế thu hút vốn đầu tư của khu vực tư nhân vào việc xây dựng kết cấu hạ tầng và dịch vụ công Hình thức này cũng tạo cơ hội để các nhà đầu tư tư nhân được đóng góp ý kiến, đề xuất các chính sách phù hợp về kinh tế, xã hội nhằm tối đa hóa lợi ích cho tất cả các bên Trên thế giới, hình thức đầu tư này đã từng được triển khai thực hiện ở các nước phát triển như Anh, Úc, Hàn Quốc, Trung Quốc
và đã đem lại những thành công ngoài mong đợi trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của các quốc gia này Trong khi đó, ở các nước ASEAN như Philippines, Thái Lan, Singapore, chính phủ các nước này cũng đã bước đầu đưa
Trang 6ra những cải cách pháp luật nhằm phát triển hình thức đầu tư theo hợp đồng đối tác công tư trong thời gian gần đây
Ở Việt Nam, mô hình PPP bắt đầu được thực hiện từ năm 1997 khi Chính phủ ban hành Nghị định 77/1997/NĐ-CP về quy chế đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT đối với nhà đầu tư trong nước Tuy nhiên, việc áp dụng các mô hình này dường như chỉ có tính chất thử nghiệm và về lý thuyết thì các mô hình đầu
tư BOT, BT hay BTO trong những năm trước đây cũng chưa phản ánh đúng bản chất của mô hình đầu tư theo hợp đồng đối tác công tư Chính vì vậy, bắt đầu từ năm 2011, với sự ra đời của Quyết định số 71/QĐ-TTg ngày 9/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư, cơ chế đầu tư theo mô hình đối tác công tư mới bắt đầu được triển khai thực hiện ở Việt Nam Xét về bản chất, BOT chính là một trong các hình thức PPP nhưng chính sự tồn tại đồng thời của nhiều văn bản pháp luật khác nhau cùng điều chỉnh quan hệ đối tác công tư đã gây ra nhiều khó khăn cho quá trình áp dụng và triển khai trên thực tiễn Trong bối cảnh đó, Nghị định số 15/2015/NĐ-CP được ban hành, sau đó là Nghị định số 63/2018/NĐ-CP để đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật trong việc điều chỉnh quan hệ đối tác công tư Tuy nhiên, do đây là một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam, kinh nghiệm thực tiễn để áp dụng cơ chế đầu tư này chưa nhiều nên khung pháp luật điều chỉnh mối quan hệ đặc biệt này đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập Việc tìm kiếm một cơ chế đối thoại, đối tác thực sự hiệu quả giữa Nhà nước và nhà đầu tư
tư nhân ở Việt Nam trong quá trình đầu tư theo hình thức đối tác công tư vẫn là vấn đề nan giải, cần được tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu và có giải pháp tháo gỡ
Từ thực tiễn nói trên, nghiên cứu sinh quyết định lựa chọn đề tài: “Pháp
luật về đầu tƣ theo hình thức đối tác công tƣ ở Việt Nam” để nghiên cứu và
làm luận án tiến sĩ vì các lý do chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, ở Việt Nam trong thời gian tới với nhu cầu phát triển kết cấu hạ
tầng ngày càng tăng, trong khi nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước ngày
Trang 7càng trở nên khan hiếm thì việc huy động nguồn vốn đầu tư từ các nhà đầu tư trong nước và đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài sẽ là giải pháp rất hiệu quả để cân bằng giữa khả năng nguồn vốn đầu tư của nền kinh tế và nhu cầu đầu tư Việc triển khai các dự án đầu tư theo hình thức PPP sẽ giúp Nhà nước giải quyết hiệu quả bài toán về nguồn vốn để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và dịch vụ công cho xã hội Ngoài ra, việc đầu tư theo mô hình này cũng đem lại những lợi ích mà ở các hình thức đầu tư khác không thể thực hiện được, đó là: giảm gánh nặng tài chính cho Nhà nước trong đầu tư kết cấu hạ tầng cũng như cung cấp các dịch vụ công; tạo cơ hội đầu tư để tìm kiếm lợi nhuận cho các nhà đầu tư tư nhân; nhà đầu tư tư nhân không chỉ cung ứng vốn, mà còn chuyển giao các phát minh công nghệ mới, cũng như kỹ năng quản trị tốt; cơ chế phân chia trách nhiệm quản lý rủi ro một cách hiệu quả nhất Đây chính là điểm khác biệt đáng
kể so với mô hình đầu tư truyền thống
Thứ hai, mặc dù hình thức đầu tư này đã được triển khai và thực hiện ở
Việt Nam hơn 20 năm nhưng thực tiễn thực hiện trong thời gian qua cho thấy việc đầu tư theo hình thức PPP vẫn tồn tại những hạn chế, bất cập và trở thành rào cản đối với khu vực tư nhân khi tham gia đầu tư vào kết cấu hạ tầng, trong
đó có việc huy động vốn đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài Tình trạng này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân từ sự hạn chế, bất cập của khung pháp lý điều chỉnh mối quan hệ đầu tư theo hình thức đối tác công tư Điều đó thể hiện ở chỗ, các văn bản pháp luật quy định về PPP hiện nay mới chỉ dừng lại ở cấp độ là các Nghị định và thực tế cho thấy các văn bản này liên tục được sửa đổi, bổ sung, thay thế kể từ năm 2009 cho đến nay1
Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, các quy định pháp luật điều chỉnh trực tiếp về PPP luôn có sự thay đổi, trong khi đó dự án đầu tư theo hình thức
1
Kể từ năm 2009 cho đến nay, Nhà nước đã liên tục ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh mối quan hệ đầu tư theo hình thức đối tác công tư như: Nghị định số 108/2009/NĐ-CP; Nghị định số 24/2011/NĐ-CP; Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg; Nghị định số 15/2015/NĐ-CP; Nghị định số 63/2018/NĐ-CP
Trang 8đầu tư này thường diễn ra trong một thời gian dài, thậm chí có những dự án thực hiện từ 20 năm đến 30 năm Việc các quy định pháp luật không ổn định, sẽ gây
ra nhiều bất lợi cho cả Nhà nước và nhà đầu tư khi thực hiện dự án PPP Đây là một trong những lý do cơ bản khiến cho các nhà đầu tư, đặc biệt là đối với nhà đầu tư nước ngoài không mặn mà đầu tư theo hình thức này ở Việt Nam Ngoài
ra, việc chậm pháp điển hóa các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ đầu tư theo hình thức đối tác công tư theo hướng ban hành một đạo luật có tính chuyên biệt về đầu tư theo hình thức đối tác công tư cũng là nguyên nhân dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Thứ ba, không chỉ là những hạn chế, bất cập của pháp luật mà quá trình
thực hiện pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư cũng bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc, ví dụ như: hạn chế về tính công khai, minh bạch trong việc lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án, tính công khai, minh bạch của cơ chế chia
sẻ rủi ro giữa Nhà nước và nhà đầu tư tư nhân
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận án là nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý
luận về điều chỉnh pháp luật cũng như đánh giá thực trạng pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện khung pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài để đạt được mục đích nêu trên là:
- Nghiên cứu lý luận về đầu tư theo hình thức đối tác công tư và pháp luật
về đầu tư theo hình thức đối tác công tư
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở so sánh, đối chiếu với pháp luật về đầu
tư theo hình thức đối tác công tư ở một số quốc gia trên thế giới
- Đề xuất các giải pháp cụ thể để hoàn thiện khung pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 93 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm lý luận, các học thuyết,
lý thuyết về đầu tư theo hình thức đối tác công tư và lý thuyết điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ đầu tư theo hình thức đối tác công tư; các quy định pháp luật
về đầu tư theo hình thức đối tác công tư của Việt Nam và một số nước trên thế giới; thực tiễn thực hiện pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam; các giải pháp cần áp dụng để hoàn thiện khung pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề sau đây:
- Phạm vi nội dung nghiên cứu:
Về phương diện lý thuyết, tác giả tập trung làm rõ bản chất của quan hệ đầu tư theo hình thức đối tác công tư (với tính chất đặc thù là một quan hệ bất cân xứng giữa các bên tham gia – đối tác công và đối tác tư); chỉ rõ cách thức điều chỉnh bằng pháp luật đối với quan hệ đầu tư theo hình thức đối tác công tư (trong đó làm rõ cơ chế lựa chọn nhà đầu tư; trình tự, thủ tục đầu tư; hợp đồng đầu tư )
Về khía cạnh thực tiễn, tác giả tập trung đánh giá thực trạng pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập của lĩnh vực pháp luật này và từ đó đưa ra các đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam
- Phạm vi thời gian và không gian nghiên cứu:
Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về đầu tư theo hình thức đối tác công tư Trong trường hợp cần thiết, các quy định đã hết hiệu lực thi hành sẽ được viện dẫn nhằm làm sáng tỏ sự phù hợp của pháp luật hiện hành với những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn
Về không gian: Luận án nghiên cứu các quy định của pháp luật thực định
về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, khi cần, các quy định tương ứng của pháp luật cũng như kinh nghiệm thực thi pháp luật của một số nước đã thực hiện thành công PPP như Ấn
Độ và một số nước có điều kiện gần giống Việt Nam như Philippin, Hàn Quốc,
Trang 10sẽ được viện dẫn, đối sánh nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề tương ứng trong các quy định của pháp luật Việt Nam
4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của học thuyết Mác-Lênin Trên cơ sở phương pháp luận này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học xã hội, bao gồm:
- Phương pháp phân tích được sử dụng khi đánh giá, bình luận các quy
định pháp luật, thực tiễn và hiệu quả áp dụng pháp luật về PPP để làm cơ sở cho những kết luận khoa học Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng khi đánh giá nhằm rút ra những kết
luận tổng quan, những quan điểm, các đề xuất, kiến nghị cụ thể liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp so sánh được sử dụng khi phân tích, đánh giá các quy định
của pháp luật về vấn đề nghiên cứu trong mối tương quan với quy định pháp luật trong lĩnh vực khác, pháp luật của nước ngoài nhằm làm sáng tỏ những điểm chung, sự khác biệt trong các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các nước trên thế giới
- Phương pháp phân tích logic quy phạm được sử dụng khi đánh giá thực
trạng pháp luật, xem xét về tính thống nhất, tính đồng bộ để phát hiện mâu thuẫn, xung đột trong nội dung quy định pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư, làm cơ sở cho các đề xuất, kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật
về đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Ngoài các phương pháp nghiên cứu có tính phổ quát nêu trên, luận án còn
áp dụng phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê dựa trên các số liệu, báo cáo tổng kết hàng năm của Chính phủ, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Tài chính, Kiểm toán nhà nước và các địa phương cũng như những thông tin trên mạng Internet
để giải quyết các vấn đề đặt ra của đề tài luận án
5 Những đóng góp mới của luận án
Là một công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và mang
Trang 11tính toàn diện về pháp luật đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam, luận án có những đóng góp mới sau đây:
Thứ nhất, luận án nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận về
đầu tư theo hình thức đối tác công tư và pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư, trong đó luận án nhấn mạnh trọng tâm vào việc phân tích, luận giải
về bản chất pháp lý của quan hệ đầu tư theo hình thức đối tác công tư và cơ chế điều chỉnh pháp luật mang tính chất đặc thù đối với hình thức đầu tư này
Thứ hai, luận án đã chỉ rõ bản chất của quan hệ đầu tư theo hình thức đối
tác công tư vốn dĩ là một quan hệ có tính chất bất cân xứng giữa các bên tham gia (Nhà nước và Tư nhân), trong đó các bên xác lập quan hệ hợp tác dựa trên việc ký kết hợp đồng dự án để đạt được những mục tiêu mà mỗi bên theo đuổi
Thứ ba, luận án đã chỉ ra vai trò, chức năng, nhiệm vụ cũng như những ưu
thế và bất lợi của các chủ thể tham gia quan hệ đầu tư này Sự tham gia của nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các nhà đầu tư tư nhân thông qua hợp đồng sẽ phát huy thế mạnh của mỗi bên, trên cơ sở đó góp phần thực hiện thành công các dự án PPP trong bối cảnh khan hiếm các nguồn lực
Thứ tư, luận án làm rõ nhà đầu tư trong các dự án PPP là tổ chức và chỉ ra
các tiêu chí để lựa chọn được nhà đầu tư có năng lực thực hiện dự án Luận án cũng đã làm rõ quan điểm cho rằng, việc quy định cho phép doanh nghiệp nhà nước được tham gia với tư cách là nhà đầu tư trong các dự án PPP là không phù hợp với bản chất của quan hệ đầu tư theo hình thức PPP
Thứ năm, luận án đã chứng minh được những hạn chế trong các quy định
pháp luật về đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư còn có những bất cập như thế nào và cần phải chuyển đổi qua hình thức đấu thầu qua mạng để bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quá trình lựa chọn nhà đầu tư
Thứ sáu, luận án đã chứng minh được việc quyết toán công trình dự án
theo quy định pháp luật hiện nay đối với các dự án PPP là không phù hợp với hình thức đầu tư này và cần phải thay đổi theo hướng đảm bảo tôn trọng tính đặc thù của các dự án PPP
Thứ bảy, luận án đã chứng minh việc cần bổ sung các quy định nhằm bảo
đảm sự hỗ trợ, chia sẻ rủi ro của Nhà nước cho các dự án PPP thì mới có thể thu
Trang 12hút được sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân vào các dự án PPP
Thứ tám, trên cơ sở những hạn chế, tồn tại của các quy định hiện hành,
luận án đã đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án là công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện để giải quyết những vấn đề lý luận cốt lõi và thực tiễn sinh động, phức tạp về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam
- Luận án là nguồn tài liệu hữu ích đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc đánh giá hiệu quả của các quy định pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư, làm cơ sở, tiền đề cho việc hoàn thiện pháp luật về đầu
tư trong thời gian tới
- Luận án còn là nguồn tài liệu có giá trị đối với các cơ sở đào tạo, nghiên
cứu khoa học trong quá trình giảng dạy, học tập, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận án bao gồm:
Phần thứ nhất: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Phần thứ hai: Nội dung của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về đầu tư theo hình thức đối tác công tư
và pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Chương 2: Thực trạng pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam
Trang 13Phần thứ nhất TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.1 Những công trình nghiên cứu về đầu tư nói chung và đầu tư theo hình thức đối tác công tư nói riêng
Thực tế cho thấy các công trình nghiên cứu về đầu tư, đầu tư công, đầu tư theo hình thức đối tác công tư gồm các sách chuyên khảo, luận án và các bài báo, tạp chí là khá nhiều Tuy nhiên, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
- (Roberto, 2004) Resource Book On PPP Case Studies, Sách xuất bản vào tháng 6/2004 bởi Liên minh châu Âu, tác giả: Roberto Ridolfi
Công trình nghiên cứu về nhu cầu hỗ trợ chính trị và cam kết bền vững được thể hiện rõ ràng nhất là đối với các dự án lớn và những dự án đầu tiên mà phát triển và thực hiện theo hình thức PPP như thế nào? Kết hợp với đó là sự cần thiết nhận ra giá trị rõ ràng với tiền từ dự án và nêu lên một minh chứng rằng các cấu trúc PPP sẽ sử dụng chi phí hiệu quả hơn so với phương thức mua sắm truyền thống và sẽ mang lại giá trị vượt trội về tiền Điểm đáng lưu ý của công trình này là những phân tích, đánh giá về rủi ro, chia sẻ rủi ro trong các dự án PPP giữa các bên đối tác công tư như thế nào Những yếu tố nào góp phần tạo nên sự thành công của các dự án PPP như: sự cần thiết của một môi trường pháp
lý và quy định có hiệu lực và được quy định rõ ràng Điều này cho phép các hợp đồng được xác định chắc chắn và cho phép các bên hiểu được ranh giới của sự tương tác lẫn nhau; việc phân tích dự án chặt chẽ được thực hiện bởi cả hai bên Những vấn đề này sẽ được tác giả nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay, các quy định pháp luật hiện hành được ban hành để điều chỉnh về vấn đề chia sẻ rủi ro như thế nào, có bảo đảm nguyên tắc chung là rủi ro tốt nhất cần được chịu bởi bên có khả năng quản lý chi phí hiệu quả hay không?
- (Europe, 2008) Guidebook on Promoting Good Governance in Private Partnerships (Sách hướng dẫn về thúc đẩy khuyến khích quản trị hiệu
Trang 14Public-quả trong quan hệ đối tác công tư), Sách xuất bản vào năm 2008, tại United Nations, Geneva (Switzerland), Tác giả: United Nations Economic Commission for Europe
Công trình đã chứng minh chính phủ và khu vực tư nhân có thể cải thiện quản trị trong PPP như thế nào, công trình nghiên cứu cũng giới thiệu định nghĩa
về PPP, các mô hình khác nhau và những lợi ích liên quan Công trình cho thấy việc thiếu các quy trình, thủ tục và tổ chức cho phép, tức là "quản trị", là rào cản chính để mở rộng việc sử dụng PPP Công trình nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản trị tốt trong các dự án PPP Nó xác định một số nguyên tắc chính và các lĩnh vực áp dụng PPP chính; giải thích sự cần thiết có một chính sách PPP để đặt ra một "lộ trình", mà đặt ra được các mục tiêu rõ ràng Xây dựng một khuôn khổ pháp lý rõ ràng, minh bạch là đặc biệt quan trọng với dự án PPP
và đưa ra các nguyên tắc và ưu tiên cho việc xây dựng các khuôn khổ này Đồng thời công trình nghiên cứu cũng chỉ ra các rủi ro khi thực hiện các dự án PPP và chính phủ nên quản lý rủi ro đó như thế nào Bên cạnh đó, công trình cho thấy tầm quan trọng của tính minh bạch, tính trung lập, và không phân biệt đối xử trong quá trình tham gia và thực hiện PPP Các trường hợp cụ thể của Hà Lan, Vương quốc Anh, và Mỹ được cung cấp như là ví dụ về các nguyên tắc trong hành động
- (Nutavoot, 2002) Regulation And Public-Private Partnerships (Sự điều tiết và PPPs), đăng năm 2002, trong Tạp chí quốc tế về quản lí khu vực công, trang 487-495
Công trình nghiên cứu cho rằng, quan niệm truyền thống về một khu vực
tư nhân biệt lập trong quá trình theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và một khu vực nhà nước với quyền lực tối thượng, theo đuổi các lợi ích công dài hạn, đang bị lung lay Quan niệm đó rõ ràng không còn phản ánh được sự thay đổi và
sự phụ thuộc lẫn nhau giữa yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội Khái niệm cùng đối tác giữa khu vực công và tư để hình thành một mối quan hệ đối tác liên tổ chức (inter-organisational partnership) ngày càng được chấp nhận rộng rãi và tiếp tục
Trang 15phát triển, đặc biệt ở những nước trong đó quá trình tư nhân hóa đang diễn ra mạnh mẽ Công trình nghiên cứu cho thấy tầm ảnh hưởng ngày càng được chú ý của cơ chế thị trường, và với sự thành công của quá trình tư nhân hóa ở nhiều nước, đang thúc đẩy mạnh mẽ sự quan tâm đến vấn đề quan hệ đối tác công tư
Công trình cũng đề cập đến kinh nghiệm về quan hệ đối tác công tư từ nhiều quốc gia cho thấy: trên các cơ sở quy phạm, quy định có thể được yêu cầu
để đảm bảo rằng một sự cân bằng lợi ích công cộng và tư nhân đạt được thông qua các thỏa thuận đối tác Các quy định phải được thiết kế và quản lý để bảo vệ phúc lợi tập thể, đảm bảo cạnh tranh công khai và phát huy lợi thế của kỷ luật thị trường mà không chèn ép thị trường với các điều kiện không cần thiết hoặc không thực tế Vai trò đối tác của khu vực tư nhân trong việc cung cấp các dịch
vụ công cộng tăng lên, và các quy định của chính phủ sẽ được giảm, là hợp lý
Như vậy, công trình này cho thấy vai trò của quan hệ đối tác công tư ngày càng có tầm quan trọng và để có thể thực hiện tốt quan hệ này, cần dựa trên một
hệ thống luật thi hành ổn định và đáng tin cậy, bao gồm các vấn đề về quyền sở hữu, hợp đồng, tranh chấp, và trách nhiệm pháp lý Một khung pháp lý rõ ràng xác định vai trò của khu vực công và tư nhân, các mối quan hệ, và các lĩnh vực cần đối tác là điều cần thiết để xây dựng quan hệ đối tác bền vững Việc nghiên cứu công trình này giúp cho tác giả của luận án nắm được một cách khái quát về vai trò của quan hệ đối tác công tư và vai trò quan trọng của pháp luật trong việc thiết lập và thực hiện mối quan hệ đối tác công tư thành công Trên cơ sở đó, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ hơn vai trò của pháp luật về đầu tư theo hình thức PPP
ở Việt Nam
- (Xueqing, 2005) Critical Success Factors for Public–Private Partnerships in Infrastructure Development (Các yếu tố thành công thiết yếu cho PPP trong phát triển kết cấu hạ tầng), tác giả Xueqing Zhang Bài báo đăng vào tháng 1/2005, trong Journal of Construction Engineering and Management, volume 131, issue 1, trang 3-14
Trang 16Trong nghiên cứu này, cách tiếp cận có hệ thống được áp dụng để phân tích các yếu tố thành công thiết yếu (CSFs) cho PPP Đầu tiên, mục nghiên cứu tài liệu được tiến hành để xác định CSFs như được quan sát thấy trong các nghiên cứu trước đó, hoặc từ góc nhìn khu vực tư nhân hoặc từ góc nhìn khu vực công Qua đó, công trình đưa ra 5 nhóm yếu tố: Môi trường đầu tư thuận lợi; khả năng phát triển của nền kinh tế; khả năng hoạt động dài hạn của nguồn cung đáp ứng các yêu cầu của hoạt động của dự án; gói tài chính tốt; phân bổ rủi ro thích hợp thông qua việc phân bổ rủi ro trong hợp đồng Thứ hai, kinh nghiệm sẽ được rút ra từ các dự án và bài học thành công và qua cả những dự án thất bại được nêu trong các trường hợp nghiên cứu về nhiều kịch bản PPP khác nhau tại cả nhóm nước phát triển và đang phát triển, bao gồm các dự án PFI ở Vương quốc Anh, các dự án giao thông theo Đạo Luật vận tải bề mặt đa phương thức hiệu quả tại Hoa Kỳ và các dự án BOT ở Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông), Ấn
Độ, Malaysia, Philippines, Sri Lanka và Thái Lan Công trình này nghiên cứu về các yếu tố thành công của PPP và kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện PPP ở một số nước Bằng việc nghiên cứu công trình này, tác giả luận án có thể tìm ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình nghiên cứu các quy định pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam
- (Yescombe, 2007) Public–Private Partnerships: Principles of Policy and Finance (PPPs: Các nguyên tắc về Chính sách và Tài chính), tác giả: E R
Yescombe, Công ty TNHH Tư vấn Yescombe Sách xuất bản năm 2007, bởi
công ty TNNH Elsevier, London, Anh
Công trình này nghiên cứu các vấn đề chính sách nói chung phát sinh từ khu vực công trong việc xem xét liệu có nên chấp nhận cách mua sắm PPP, và các ứng dụng cụ thể của cách tiếp cận chính sách này trong hợp đồng PPP Cuốn sách cũng cung cấp một cách tiếp cận có hệ thống và hợp nhất để tài trợ PPP trong khuôn khổ chính sách công tư Chính sách và tài chính được gắn bó chặt chẽ với PPP, vì vậy, khu vực công phải xây dựng chính sách PPP có tính ràng
Trang 17buộc tài chính, và phải cận trọng không để các thỏa thuận PPP ghi nhận các tác động tài chính bị hiểu sai, hoặc không hiểu, khiến làm mất lợi ích của PPP Tương tự, các nền tảng chính sách và các tác động ảnh hưởng đến các quyết định của khu vực công, tư cũng thường không rõ ràng đối với các nhà đầu tư khu vực
tư nhân và những người cho vay Công trình đã đưa ra định nghĩa dự án PPP và đánh giá tầm quan trọng của nó trong việc cung cấp kết cấu hạ tầng công cộng chung; đưa ra các luận điểm ủng hộ và chống lại PPP; khảo sát sự phát triển của chính sách hiện hành đối với PPP tại một số quốc gia đại diện trên thế giới; đưa
ra cách đầu tư PPP từ góc nhìn của khu vực tư nhân; công trình xem xét vốn vay cho các dự án PPP; giải thích kỹ thuật tài trợ dự án, và lý do tại sao chúng được
sử dụng cho PPP; giải quyết chủ đề quan trọng về bảo hiểm rủi ro tài chính, và ảnh hưởng của biến động lãi suất và lạm phát trong một dự án PPP và việc tài trợ nó; đánh giá các phương pháp phát triển cơ chế thanh toán cho PPP; giải thích cách đánh giá rủi ro và chuyển giao được giải quyết trong PPP Dưới góc độ tài chính, có thể thấy đây là một công trình nghiên cứu một cách tổng quát nhiều khía cạnh liên quan đến vấn đề tài chính của PPP
- (Yongjian K., ShouQing W., Albert P.C., Patrick T.I., 2010) Preferred
Risk Allocation in China's Public– Private Partnership (PPP) Projects (Phân bổ rủi
ro ưu tiên trong các dự án PPP tại Trung Quốc), tác giả: Yongjian K., ShouQing W., Albert P.C., Patrick T.I Bài báo đăng 7/2010, trong tạp chí International Journal of Project Management (Tạp chí Quốc tế về Quản lí dự án), trang 482–492
Công trình nghiên cứu về việc phân bổ rủi ro trong các dự án PPP của Trung Quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy khu vực công chịu phần lớn trách nhiệm cho 12 rủi ro khác liên quan đến chính phủ hay quan chức chính phủ và những hành động của họ Mười bốn rủi ro không thuộc về khu vực công, cũng không thuộc về khu vực tư nhân mà có thể tự giải quyết thì được ưu tiên phân bổ đồng đều Khu vực tư nhân chịu phần lớn trách nhiệm cho 10 rủi ro ở cấp độ dự
Trang 18án Điều thú vị là, không có rủi ro nào phân bổ riêng chỉ cho khu vực tư nhân Phân tích sâu hơn về những lý do đằng sau các ưu đãi phân bổ cũng được tiến hành Bài viết này cố gắng phát triển một cơ chế phân bổ rủi ro công bằng cho việc thực hiện các dự án PPP ở Trung Quốc Các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc thực hành và nghiên cứu quản lý rủi ro cho các dự án PPP tại Trung Quốc và cũng cung cấp thông tin có giá trị cho những công ty quốc tế có ý định đầu tư vào xây dựng hạ tầng ở Trung Quốc Công trình này chỉ nghiên cứu về việc phân bổ rủi ro trong các dự án PPP được thực hiện tại Trung Quốc Công trình này là tài liệu rất có giá trị để tác giả luận án tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế trong việc phân bổ rủi ro ra sao Ở Việt Nam, pháp luật có vai trò như thế nào trong việc giảm thiểu rủi ro của các dự án đầu tư theo phương thức PPP
- (Rui, 2010) Public-Private Partnership Contracts: A Tale of Two Cities with Different Contractual Arrangements (Những hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư: câu chuyện về hai thành phố với thỏa thuận hợp đồng khác nhau), Tác giả: Rui Cunha Marques Đơn vị: Centre of Urban and Regional Systems (Trung tâm hệ thống Đo thị và Khu vực), Technical University of Lisbon (Đại học kĩ thuật Lisbon), và Sanford V Berg Đơn vị: Public Utility Research Center (Trung tâm nghiên cứu Công ích), Đại học Florida Bài báo đăng vào 1 tháng 6 năm 2010, trong Public Administration
Bài viết này phân tích quy định của hợp đồng trong quan hệ đối tác công
tư (PPP) cho các dịch vụ kết cấu hạ tầng Công trình đưa ra nghiên cứu tại EU, PPP được xếp vào thể chế PPP (công ty hỗn hợp) và hợp đồng hoàn toàn PPP Hợp đồng hoàn toàn PPP bao gồm hợp đồng chuyển nhượng, giao thầu và quản
lý Một số tính năng của các hợp đồng PPP bao gồm việc chia sẻ trách nhiệm và rủi ro giữa các đối tác nhà nước và tư nhân, một cách tiếp cận vòng đời dự án, và khuyến khích (đầu ra) thanh toán đề án Công trình cho thấy rất nhiều nghiên cứu về PPP đã tập trung vào các nước đang phát triển, nơi mà thường là thiếu minh bạch và chuyên nghiệp trong thực hiện và quản lý các dự án PPP, thiếu các
Trang 19thủ tục để ngăn chặn tham nhũng Nghiên cứu này rút ra bài học từ một phân tích chi tiết của hai trường hợp nghiên cứu PPP tại Bồ Đào Nha, hợp đồng chuyển nhượng và thể chế hoá (công ty hỗn hợp) khác trong khu vực địa phương Các PPP thể chế ít được thảo luận trong các nghiên cứu nhưng rất quan trọng trong tại một số quốc gia (ví dụ Société d'economie mixte ở Pháp, Stadtwerke ở Đức hoặc Empresa mixte ở Tây Ban Nha) Phân tích này cung cấp bước đầu tìm hiểu
rõ hơn về ý nghĩa đầy đủ của thỏa thuận thể chế được rộng rãi sử dụng Công trình này đã nghiên cứu khái quát về hợp đồng PPP, và đồng thời chỉ ra thế mạnh
và hạn chế, vấn đề thiết kế hợp đồng và các lý do phổ biến của một số hợp đồng thất bại Nghiên cứu này giúp cho tác giả luận án thấy được tầm quan trọng của việc thiết kế và giám sát các hợp đồng PPP để từ đó nghiên cứu các quy định pháp luật của Việt Nam khi điều chỉnh vấn đề này như thế nào? Việc kiểm soát các thủ tục đấu thầu và thiết kế hợp đồng được pháp luật quy định ra sao? Trên
cơ sở đó, tác giả luận án có thể đưa ra các khuyến nghị về việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng liên quan đến PPP
- (Eduardo E., 2004), Finance and Public-Private Partnerships (Tài chính và Đầu tư theo hình thức đối tác công tư), tác giả: Eduardo Engel, Ronald Fischer, Alexander Galetovic Bài report trong hội nghị 2014, Ngân hàng dự trữ Australia
tổ chức
Công trình nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng các quan hệ đối tác công tư (PPP) để thay thế hoặc bổ sung cho việc cung cấp kết cấu hạ tầng đã trở nên phổ biến trong những năm gần đây Các dự án kết cấu hạ tầng công cộng cần vốn đầu
tư lớn, chẳng hạn như đường cao tốc, đường sắt, cầu, cảng biển, sân bay, nước, thoát nước, bệnh viện, nhà tù và trường học, hiện nay thường được cung cấp thông qua PPP Công trình đưa ra các phân tích kinh tế và hợp đồng tài chính PPP và kết luận rằng sự tập trung các tổ chức nhỏ hẹp bị ràng buộc bởi tài chính
dự án và công cụ mục đích đặc biệt (SPVs), thúc đẩy hiệu quả và khuyến khích
sự liên kết Hơn nữa, vì các dự án PPP có quy mô lớn, yêu cầu quản lý độc lập,
Trang 20một SPV có vẻ như một hình thức tổ chức đặc biệt thích hợp Như vậy, tài chính
dự án góp phần vào hiệu quả - một trường hợp của tài chính gia tăng hiệu suất
Tóm lại, công trình nghiên cứu cho rằng cho dù một PPP là một cách tốt hơn để cung cấp kết cấu hạ tầng công cộng, nó phụ thuộc gần như hoàn toàn vào các đặc điểm kinh tế của các dự án cụ thể, không phải phụ thuộc vào cách nó được hỗ trợ hoặc tài trợ Đồng thời kiểm nghiệm mối quan hệ giữa rủi ro và PPP Các chi phí cao bất thường của PPP - cái gọi là phí bảo hiểm PPP - không phải là một lập luận ủng hộ việc cung cấp công, vì nó xuất hiện là do sự kết hợp của thiết kế hợp đồng kém cộng với ưu đãi cắt giảm chi phí trong PPP Như vậy, trong trường hợp của một hợp đồng PPP được thiết kế một cách chính xác, chi phí vốn cao có thể cũng là cái giá phải trả cho những lợi thế hiệu quả của PPP so với việc cung cấp công
- Pierre Jacquet, “Cải cách dịch vụ công và các phương thức đối tác công tư”, Tạp chí Lao động và Xã hội số 271, năm 2005
Công trình này cho thấy hiện nay ở Việt Nam đang phải thay đổi cách thức quản lý và phương thức cấp vốn cho hầu hết các kết cấu hạ tầng và dịch vụ công của mình Các phương thức đối tác công tư có thể là trọng tâm của những thay đổi sắp tới, nên cần phải được nghiên cứu Công trình cũng cho thấy tính hữu ích của các phương thức đối tác công tư: nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn nhà nước và cải thiện chất lượng/giá cả của một số dịch vụ công ích; góp phần giảm thiểu tình hình căng thẳng trong ngân sách nhà nước vì huy động được nguồn vốn tư nhân trong việc đầu tư kết cấu hạ tầng Công trình cho thấy, nhu cầu dịch vụ công ở Việt Nam gia tăng nhanh chóng nên việc kêu gọi vốn tư nhân thông qua phương thức đối tác công tư cần phải được quan tâm một cách thích đáng Nghiên cứu công trình này, tác giả thấy được vai trò quan trọng của phương thức đối tác công tư đối với việc cải cách dịch vụ công ở Việt Nam như thế nào Tuy nhiên, trong phạm vi một bài báo, công trình chỉ để cập một cách khái quát nhất về việc cần thiết phải cải cách dịch vụ công ở Việt Nam theo
Trang 21hướng thu hút nguồn vốn tư nhân Công trình không đề cập đến vấn đề pháp lý cần phải có những quy định như thế nào để khuyến khích các nhà đầu tư tham gia cùng nhà nước Vấn đề này sẽ được tác giả nghiên cứu trong luận án của mình
- Nguyễn Đức Cảnh, “Một số thách thức với đầu tư theo hình thức đối tác công tư trong lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật”, Báo Xây dựng số 3, năm 2013
Công trình nghiên cứu cho thấy Việt Nam đang trong giai đoạn pháp triển, nhu cầu đầu tư xây dựng ngày càng cao, trong khi đó các nguồn vốn ngày càng hạn chế Do đó, cần tập trung nghiên cứu mở rộng mô hình đầu tư theo hình thức đối tác công tư nhằm thu hút vốn đầu tư từ khu vực tư nhân Tuy nhiên, đầu tư theo hình thức này cũng có rất nhiều thách thức cần phải giải quyết, các thách thức được công trình đưa ra đó là: Thách thức từ hệ thống cơ chế chính sách, hành lang pháp lý thiếu minh bạch và chưa phù hợp; thách thức về việc chưa có một mô hình tổ chức, quy trình triển khai cụ thể các dự án PPP; thách thức về xác định các nội dung tiêu chí cách thức lựa chọn, phương pháp đánh giá hiệu quả các dự án PPP; thách thức về nguồn kinh phí chuẩn bị dự án đầu tư PPP; thách thức do đặc thù mang tính an sinh xã hội, kém hấp dẫn của các dự án PPP trong lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật; thách thức về khả năng thu hút tài chính và cách thức quản lý vốn, luân chuyển vốn giữa khu vực công và tư; thách thức về năng lực hạn chế của đội ngũ cán bộ chuyên gia tham gia PPP từ trung ương đến địa phương; thách thức về kinh nghiệm xử lý rủi ro trong triển khai dự án đầu tư theo hình thức PPP Công trình nghiên cứu này chỉ ra những mặt khó khăn khi thực hiện đầu tư theo hình thức đối tác công tư ra sao Khi tìm hiểu những thách thức được công trình chỉ ra sẽ là căn cứ, cơ sở cho tác giả khi nghiên cứu dưới góc độ pháp lý tìm hiểu cần phải hoàn thiện các quy định pháp luật về PPP như thế nào để có thể khắc phục những khó khăn đó, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút nguồn vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư
- Luận án tiến sĩ của Miranda Sarmento J.J tại Trường Kinh doanh và Kinh tế Catolica Lisbon School, Bồ Đào Nha (Miranda Sarmento, 2014) Public
Trang 22Private Partnerships (Đầu tư theo quan hệ đối tác công tư) Công trình đã nghiên
cứu vấn đề này từ góc độ tài chính, do đó công trình nghiên cứu này xem xét một
số khía cạnh PPP như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu về phân bổ rủi ro, định giá và VFM, sử dụng một số
ví dụ từ Bồ Đào Nha Công trình nghiên cứu cụ thể đối với trường hợp Bồ Đào Nha, vì đây là một trong những nước áp dụng PPP sớm từ năm 1993, Bồ Đào Nha đã được sử dụng PPP mạnh mẽ, chủ yếu để xây dựng đường cao tốc và trong ngành y tế Bồ Đào Nha đã sử dụng PPP để xây dựng một mạng lưới đường cao tốc rộng khắp Nhờ đó, Bồ Đào Nha trở thành một trong những nước
có mật độ đường cao tốc nhiều nhất ở châu Âu
Thứ hai, công trình chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm của mô hình PPP
là gì, và chúng tương tác với nhau như thế nào - khi mà một số lợi thế có thể dẫn đến một số bất lợi
Thứ ba, mô tả các kinh nghiệm của Bồ Đào Nha trong đàm phán lại PPP
từ đó rút ra kết luật: Một khuôn khổ thể chế tốt hơn, được định nghĩa khi rủi ro chính trị thấp, một bộ quy tắc pháp luật mạnh, và tình hình tham nhũng thấp hơn,
sẽ có xu hướng giảm xác suất của đàm phán lại Cũng có bằng chứng rằng trong thời kỳ tham nhũng cao, nhiều đàm phán lại xảy ra
Thứ tư, công trình đề cập đến hiệu quả của khu vực công trong việc xây
dựng kết cấu hạ tầng bằng cách mua sắm công Có một mối quan hệ rõ ràng giữa hiệu quả của khu vực công trong các dự án kết cấu hạ tầng và PPP Để đạt được VfM, chi phí PPP phải thấp hơn chi phí của khu vực công
Công trình nghiên cứu là căn cứ để cho tác giả của luận án tiếp tục nghiên cứu dưới góc độ pháp lý và áp dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trên cơ
sở đó đưa ra các kiến nghị xây dựng pháp luật để giảm thiểu các rủi ro có thể xảy
ra trong quá trình thực hiện dự án PPP Ngoài ra, công trình đã cung cấp cho tác giả của luận án kinh nghiệm của Bồ Đào Nha khi thực hiện PPP
Trang 23- Luận án tiến sĩ của tác giả Huỳnh Thị Thúy Giang (2012) với đề tài:
“Hình thức đối tác công tư để phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ
Việt Nam” Luận án nghiên cứu cho thấy sự tương tác chặt chẽ giữa khu vực nhà
nước và khu vực tư nhân trong suốt quá trình đối tác là tuyệt đối cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn đầu mới áp dụng PPP Sự tương tác này phải hướng đến dung hòa sự khác biệt giữa hai khu vực và quan trọng nhất là đạt được các mục tiêu khẩn cấp – vốn đầu tư và chất lượng hạ tầng Nếu không, bất kỳ nỗ lực nào hướng tới một quan hệ đối tác công tư đều có thể thất bại Đây là phương pháp tiếp cận phù hợp cho những nền kinh tế đang phát triển chưa sử dụng PPP là chính phủ cần nắm bắt chính xác các kỳ vọng của nhà đầu tư để có những điều chỉnh chính sách hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu mong đợi thông qua PPP Luận án đã phân tích, đánh giá tình hình đầu tư tư nhân trong lĩnh vực giao thông đường bộ Việt Nam thời gian qua cho thấy hiệu quả đầu tư thấp, nhiều rào cản khiến tư nhân không thể tham gia Công trình này chỉ nghiên cứu trong một lĩnh vực, đó là giao thông đường bộ và nghiên cứu mối quan hệ này dưới góc độ kinh tế Hiện nay, chính phủ Việt Nam muốn áp dụng hình thức PPP cho tất cả các dự án kết cấu hạ tầng như đường sắt, cảng biển, sân bay Vì vậy, đây chính là hướng nghiên cứu tiếp theo của tác giả cho luận án của mình là nghiên cứu dưới góc độ pháp lý và mở rộng xem xét hình thức PPP ở tất cả các lĩnh vực
- Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Thế Vinh (2015) với đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng hình thức đối tác công tư trong quản lý đầu tư xây dựng công trình
giao thông đô thị” Luận án nghiên cứu việc ứng dụng hình thức đối tác công tư
trong quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông đô thị nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân, nâng cao chất lượng quản lý công trình giao thông đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội phù hợp với các giai đoạn phát triển trong tương lai
Luận án tập trung nghiên cứu các nội dung chính sau: Tổng kết, nghiên cứu và làm rõ khái niệm hình thức đối tác công tư; hệ thống hóa những vấn đề
cơ sở lý luận, thực tiễn cho việc ứng dụng hình thức đối tác công tư trong quản
Trang 24lý đầu tư xây dựng công trình giao thông đô thị; lựa chọn, ứng dụng mô hình đối tác công tư phù hợp với công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông
đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội; đề xuất một số giải pháp nhằm ứng dụng hình thức đối tác công tư trên thực tế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thành phố Hà Nội Luận án góp phần bổ sung phương pháp luận trong việc ứng dụng hình thức đối tác công tư vào quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông đô thị nhằm khai thác hợp lý và tối ưu vai trò của các bên liên quan trong lĩnh vực giao thông đô thị, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư trong hoạt động xây dựng Công trình này của tác giả gắn liền với nhu cầu bức thiết hiện nay trong việc thu hút nguồn lực đầu tư, nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư xây dựng công trình có ý nghĩa thực tiễn cao
Luận án đã đưa ra những giải pháp đồng bộ cho việc ứng dụng hình thức đối tác công tư trong quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông đô thị gắn liền với điều kiện thực tiễn của thành phố Hà Nội Công trình này là tài liệu để tác giả của luận án tham khảo và nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về pháp luật đầu tư, trên cơ sở đó đề xuất hướng xây dựng pháp luật về PPP như thế nào để đảm bảo tính hiểu quả khi điều chỉnh quan hệ đầu tư theo hình thức PPP
- Luận án tiến sĩ của tác giả Thân Thanh Sơn (2015) với đề tài: “Nghiên cứu phân bổ rủi ro trong hình thức đối tác công tư phát triển kết cấu hạ tầng giao
thông đường bộ ở Việt Nam” Về cơ sở lý luận, luận án hệ thống hóa cơ sở lý
luận về hình thức PPP, lựa chọn, bổ sung một số khái niệm trong việc xác định
và phân bổ các yếu tố rủi ro trong các dự án phát triển CSHT giao thông đường
bộ theo hình thức PPP Xác định danh mục các yếu tố rủi ro trong các dự án phát triển CSHT GTĐB theo hình thức PPP phù hợp với điều kiện chính trị - luật pháp - KTXH ở Việt Nam Về mặt thực tiễn, luận án xác định các yếu tố rủi ro trong các dự án phát triển CSHT GTĐB theo hình thức PPP ở Việt Nam, từ đó, thực hiện phân bổ các yếu tố rủi ro đến các bên đối tác Trên cơ sở đó, luận án đề xuất kiểm soát một số yếu tố rủi ro cơ bản nhằm phát triển CSHT giao thông
Trang 25đường bộ ở Việt Nam Ý nghĩa khoa học của đề tài thể hiện ở việc luận án góp phần làm rõ, bổ sung thêm lý luận về rủi ro và phân bổ rủi ro trong hình thức PPP phát triển CSHT giao thông đường bộ Đồng thời, đề tài luận án nhận diện được danh mục các yếu tố rủi ro trong các dự án phát triển CSHT theo hình thức PPP phù hợp với điều kiện chính trị - luật pháp – KTXH ở Việt Nam Đây là một trong những công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về phân bổ các yếu tố rủi ro trong các dự án phát triển kết cấu hạ tầng Công trình này là một trong các nguồn tài liệu để tác giả của luận án tiếp tục nghiên cứu dưới góc độ pháp lý các quy định pháp luật hiện nay ở Việt Nam trong việc điều chỉnh phân bổ rủi ro như thế nào trong các dự án PPP
1.2 Những công trình nghiên cứu về pháp luật đầu tư nói chung và pháp luật
về đầu tư theo hình thức đối tác công tư nói riêng
Ở mức độ khái quát, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới đây về pháp luật đầu tư nói chung và pháp luật đầu tư theo hình thức đối tác công tư nói riêng:
- (Henrik A., Fuguo C., Christina D., Ping W., 2010) Public-Private Partnerships: An international analysis - from a legal and economic perspective (PPPs: Một nghiên cứu quốc tế từ góc độ luật pháp và kinh tế) Sách xuất bản tháng 8/2010, bảo trợ bởi The EU Asia Inter University Network for Teaching and Research in Public Procurement Regulation (Mạng lưới Đại học Liên minh Châu Á EU về giảng dạy và nghiên cứu trong Quy chế mua sắm công) Tác giả: Henrik A., Fuguo C., Christina D., Ping W
Cuốn sách này cung cấp một góc nhìn từ phân tích luật pháp, kinh tế và chính sách của quan hệ đối tác công tư Cuốn sách tiếp cận từ góc độ pháp lý về quan hệ đối tác công tư của EU, WTO và Trung Quốc Công trình nghiên cứu trình bày các khái niệm PPP và mô tả các kiến thức nền của PPP và cũng chỉ ra
về sự khác biệt giữa một dự án công truyền thống và PPP Một dự án PPP được dựa trên sự thay thế tính chất kinh tế với những gì là truyền thống được nhìn
Trang 26thấy trong các dự án mua sắm công Một trong các mục đích của PPP là để cung cấp một mô hình mới và hiệu quả hơn cho việc cung cấp kết cấu hạ tầng PPP được dựa trên ý tưởng rằng kinh nghiệm từ khu vực tư nhân được sử dụng trong các dự án kết cấu hạ tầng sẽ tạo ra mô hình kinh tế hiệu quả nhất và tốt nhất cho các chính phủ Công trình nghiên cứu kinh nghiệm quy định mua sắm của EU và Anh Các dự án PPP trong Liên minh châu Âu thường sẽ được điều chỉnh trong những quy định đấu thầu Ngoài ra còn đề cấp đến các quy định của Trung Quốc liên quan đến PPP Hướng dẫn lập pháp của UNCITRAL về tài chính tư trong các dự án kết cấu hạ tầng sẽ được tìm hiểu trong bối cảnh tại Trung Quốc
Nghiên cứu công trình này giúp cho tác giả của luận án tìm hiểu về cách thức mà luật pháp quốc gia, luật pháp EU và luật pháp quốc tế có thể hỗ trợ các
ý tưởng kinh tế của PPP và nhu cầu về các giải pháp hiệu quả và có hiệu lực kinh
tế để xây dựng kết cấu hạ tầng Trên cơ sở đó, liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, so sánh và đối chiếu xem các quy định trong pháp luật của Việt Nam khi điều chỉnh về đầu tư theo hình thức đối tác công tư có phù hợp với thông lệ quốc tế không?
- Ủy ban Kinh tế của Quốc hội (2013) với nghiên cứu: “Phương thức đối tác công tư (PPP): kinh nghiệm quốc tế và khuôn khổ thể chế tại Việt Nam”
Nghiên cứu này giới thiệu bản chất, đặc điểm của hình thức PPP, xem xét thực tiễn áp dụng hình thức PPP ở một số nước (trong các dự án cụ thể) và bài học rút ra cho Việt Nam Công trình đã nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế theo các nhóm nước phát triển và đang phát triển, một số dự án đặc thù về phát triển kết cấu hạ tầng theo hình thức PPP, kể cả các dự án thành công và chưa thành công Các quy định pháp luật về PPP ở Việt Nam được nghiên cứu tập trung vào việc thực hiện Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo phương thức đối tác công tư, có liên hệ đến các quy định trước đó về đầu tư theo hình thức BOT, BTO, BT Qua đó công trình nghiên cứu đánh giá quy định pháp luật về PPP và việc áp dụng hình thức
Trang 27PPP ở Việt Nam, đặc biệt là những bất cập và những nội dung cần sửa đổi trong Nghị định số 108 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức BOT, BTO và BT, và Quyết định 71 về thí điểm hình thức PPP Trên cơ sở đó, nghiên cứu khuyến nghị những vấn đề cần lưu ý để hoàn thiện khuôn khổ thể chế PPP cho Việt Nam Nghiên cứu này giúp cho tác giả có một cách nhìn khái quát nhất về kinh nghiệm quốc tế của một số nước khi xây dựng và áp dụng PPP vào thực tiễn như thế nào, trên cơ sở đó giúp cho tác giả trong quá trình nghiên cứu áp dụng vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam hiện nay, để từ đó thấy được các quy định trong pháp luật các nước ra sao, còn quy định pháp luật về PPP ở Việt Nam như thế nào? Thông qua nghiên cứu để có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng và áp dụng pháp luật đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, công trình chủ yếu tập trung nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về phương thức đầu tư theo hình thức đối tác công tư Công trình không làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến đầu tư và pháp luật đầu tư theo hình thức PPP ở Việt Nam Đây là một trong những vấn đề mà tác giả của luận án sẽ tập trung nghiên cứu và luận giải trong công trình của mình
- Bài báo có tiêu đề: Đầu tư theo hình thức đối tác công tư nhìn từ góc độ pháp lý của ThS Đặng Hoàng Mai, đăng trên Tạp chí Nghề Luật số 5 - 2014 Công trình này đã đề cập đến những quan điểm về PPP và các đặc trưng pháp lý của PPP cũng như thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về PPP Trên cơ
sở đó, công trình đưa ra những kiến nghị góp phần xây dựng một khung pháp lý đồng bộ, minh bạch để áp dụng rộng rãi PPP tại Việt Nam
- Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Láng (2008) với đề tài: “Hợp đồng BOT trong pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam” Trong công trình này, tác giả đã phân tích các vấn đề lý luận cơ bản của hợp đồng BOT; nghiên cứu thực trạng pháp luật, kết hợp việc phân tích những khó khăn bất cập trong việc áp dụng các quy định đó trong thực tiễn để từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về vấn đề này
Trang 28Luận án đã tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề cụ thể về hợp đồng BOT, qua đó chuyển tải đến người đọc thông điệp về tính đặc thù của loại hợp đồng này và các khía cạnh chủ yếu của hợp đồng BOT Luận án đã phân tích, đánh giá có hệ thống các quy định pháp luật về hợp đồng BOT, chỉ ra những tiến
bộ căn bản so với các quy định trước đây, đồng thời nêu lên những hạn chế, bất cập của pháp luật thực định điều chỉnh vấn đề này cũng như thực tiễn áp dụng các quy định đó và lý giải các nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan dẫn đến thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng như hiện nay
Luận án đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng BOT: Hoàn thiện các quy định về trình tự ký kết và chủ thể hợp đồng BOT; hoàn thiện các quy định về nội dung hợp đồng BOT và doanh nghiệp BOT; hoàn thiện các quy định về vấn đề tài chính trong hợp đồng BOT
Nghiên cứu công trình này giúp tác giả của luận án có một cái nhìn chung nhất về hợp đồng BOT, với tư cách là một hình thức cụ thể của hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (hợp đồng PPP) Kết quả nghiên cứu, đề xuất của luận án có ý nghĩa quan trọng đối với tác giả luận án khi nghiên cứu về các hình thức tồn tại của hợp đồng PPP
2 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và hướng triển khai nghiên cứu đề tài luận án
Qua khảo sát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, tác giả rút
ra một số nhận định và đánh giá sau đây:
2.1 Những kết quả đạt được về mặt lý thuyết và thực tiễn liên quan đến đề tài luận án
2.1.1 Những kết quả đạt được về mặt lý thuyết và thực tiễn của các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Về phương diện lý thuyết: Các công trình nghiên cứu đã đề cập, phân tích
và làm rõ nhiều vấn đề lý luận về đầu tư theo hình thức đối tác công tư như khái niệm, đặc điểm và vai trò của hình thức đầu tư này trong việc thu hút nguồn vốn
Trang 29đầu tư vào kết cấu hạ tầng và cung cấp dịch vụ công Đây là cơ sở, tiền đề về mặt lý luận để tác giả luận án tiếp tục kế thừa và phát triển khi phân tích, luận giải về cơ sở
lý luận của đầu tư theo phương thức này trong điều kiện của Việt Nam
Về phương diện thực tiễn: Các công trình nghiên cứu đã đề cập tới thực
tiễn về đầu tư theo hình thức đối tác công tư của các quốc gia điển hình trên thế giới, các kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng đối với tác giả và đối với luận án là đã khái quát được một cách đầy đủ thực trạng đầu tư theo hình thức này trên thế giới được quy định như thế nào, từ đó giúp cho tác giả có cơ sở
để nghiên cứu so sánh và nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam và có thể đưa đến một số câu hỏi nghiên cứu và giải pháp xây dựng Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam Ngoài ra, các công trình nghiên cứu đã đề cập tới thực tiễn về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam nói chung và ở một số tỉnh thành cụ thể nói riêng như ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó, các công trình nghiên cứu chủ yếu xem xét khía cạnh quản lý rủi ro và thiết kế Hợp đồng đối tác công tư, quản lý dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư Đồng thời nghiên cứu về việc thực hiện các dự án đó trong xây dựng kết cấu hạ tầng đã đạt được những thành tựu như thế nào, góp phần thu hút nguồn vốn đầu tư ra sao Đồng thời các công trình cũng chỉ ra những ưu và nhược điểm khi thực hiện đầu tư theo phương thức này như thế nào
2.1.2 Những kết quả về mặt lý thuyết và thực tiễn của các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề pháp luật đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Về phương diện lý thuyết: Các công trình nghiên cứu của các học giả nước
ngoài về pháp luật đầu tư theo hình thức đối tác công tư đã đề cập và phân tích
về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật tại một số quốc gia điển hình Không chỉ có vậy, các học giả còn chỉ ra những bài học kinh nghiệm về điều chỉnh pháp luật đối với phương thức đầu tư này tại các quốc gia Đây là nguồn tư liệu quý giá để giúp tác giả luận án kế thừa và phát triển trong quá trình giải quyết các yêu cầu đặt ra của luận án Mặt khác, các công trình nghiên cứu trong nước về pháp luật đầu tư theo hình thức đối tác công tư cũng đã bước đầu
Trang 30tiếp cận và phân tích dưới góc độ lý luận và thực tiễn về đầu tư theo hình thức đối tác công tư Trong đó chủ yếu các công trình tập trung nghiên cứu các vấn đề
lý luận về pháp luật điều chỉnh hợp đồng BOT như bản chất, đặc điểm và vai trò của pháp luật về hợp đồng BOT Các phân tích này sẽ tiếp tục được tác giả luận
án nghiên cứu, đánh giá, bình luận và đưa ra nhận định riêng của bản thân về cơ
sở lý luận và thực trạng pháp luật của Việt Nam về đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Về phương diện thực tiễn: Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có tính
thực nghiệm về PPP trên thế giới rất phong phú, nhiều kết quả quan trọng đã được công bố, cụ thể các nghiên cứu khẳng định không tồn tại một hình thức PPP chuẩn và mỗi nước đều có chiến lược riêng tùy thuộc bối cảnh, thế chế, nguồn tài trợ và tính chất của dự án Các công trình của các học giả đã nghiên cứu cách thức mà luật pháp quốc gia, luật pháp EU và luật pháp quốc tế có thể
hỗ trợ các ý tưởng kinh tế của PPP và nhu cầu về các giải pháp hiệu quả và có hiệu lực kinh tế để xây dựng kết cấu hạ tầng Cụ thể các công trình đã phân tích quy định của hợp đồng PPP, cho các dịch vụ kết cấu hạ tầng, công trình cũng nghiên cứu những thiết kế hợp đồng thất bại, đồng thời trình bày các khuyến nghị để hoàn thiện các quy định về hợp đồng
Phân tích quy định về vấn đề rủi ro và phân bổ rủi ro có thể xảy ra khi đầu
tư theo đối tác công tư (PPP), để từ đó đưa các các kiến nghị để hoàn thiện các quy định về vấn đề này Các kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng đối với tác giả và đối với luận án là đã khái quát được một cách đầy đủ thực trạng đầu tư theo hình thức này trên thế giới được quy định như thế nào, từ đó giúp cho tác giả có cơ sở để nghiên cứu so sánh và nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam và có thể đưa đến một số câu hỏi nghiên cứu và giải pháp xây dựng Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam Trong khi đó, các công trình nghiên cứu ở trong nước về thực tiễn thực hiện pháp luật đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam đã đặt trọng tâm nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng BOT Qua đó các công trình đã phân tích, đánh giá
Trang 31có hệ thống các quy định pháp luật về hợp đồng BOT, chỉ ra những điểm phù hợp, những điểm còn hạn chế, bất cập để từ đó đưa các các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng BOT ở Việt Nam
2.2 Những vấn đề liên quan đến đề tài luận án chưa được các công trình đã công bố giải quyết hoặc đã giải quyết nhưng chưa thỏa đáng, hoặc còn có ý kiến khác nhau cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Thứ nhất, về phương diện lý thuyết, đã có nhiều nghiên cứu về bản chất
của quan hệ đầu tư theo hình thức đối tác công tư nhưng chủ yếu dưới góc độ kinh tế, dưới góc độ pháp lý đã có nghiên cứu nhưng chưa nghiên cứu toàn diện
về quan hệ đầu tư theo hình thức đối tác công tư, đặc biệt trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế
Thứ hai, về phương diện thực tiễn, đã có các công trình nghiên cứu về
thực trạng pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư nhưng chưa nghiên cứu và đánh giá một cách toàn diện và đặc biệt là chưa chỉ ra và phân tích một cách đầy đủ, sâu sắc về những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam để trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam hiện nay
Tóm lại, có thể khẳng định rằng những công trình nghiên cứu về đầu tư theo hình thức đối tác công tư dưới góc độ pháp lý mới chỉ nghiên cứu ở một số vấn đề nhất định Đây là thuận lợi nhưng cũng là khó khăn đối với tác giả luận
án khi triển khai đề tài này Tuy vậy, có thể cho rằng những vấn đề lý luận và thực tiễn mà các công trình đã công bố đề cập đến như đã phân tích ở trên chắc chắn có ý nghĩa tham khảo rất quan trọng đối với việc hoàn thành luận án của tác giả liên quan đến chủ đề pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam
Từ các nhận định nêu trên, tác giả luận án cho rằng nhiệm vụ của tác giả luận án là phải tiếp tục nghiên cứu, làm rõ các vấn đề sau đây:
Trang 32Một là, trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên
cứu đã công bố, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu, làm rõ bản chất pháp lý của quan
hệ đầu tư theo hình thức đối tác công tư, đặc biệt là làm rõ các vấn đề lý thuyết
về hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư giữa Nhà nước và tư nhân trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng và cung cấp dịch vụ công
Hai là, tiếp tục kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu của những
công trình nghiên cứu đã công bố, luận án tiếp tục nghiên cứu làm rõ mô hình lý thuyết về điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ đầu tư theo hình thức đối tác công
tư, đặc biệt là vấn đề cơ chế điều chỉnh bằng pháp luật đối với quan hệ đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Ba là, trên nguyên tắc kế thừa và phát triển kết quả nghiên cứu của các
công trình đã công bố, luận án sẽ phân tích, đánh giá và làm rõ thực trạng pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam, trong đó tập trung vào việc phân tích, đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc về những hạn chế, bất cập, các khó khăn, vướng mắc của pháp luật hiện hành về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam hiện nay
Bốn là, dựa trên cơ sở lý luận về đầu tư theo hình thức đối tác công tư và
pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư, cũng như cơ sở thực tiễn là các nhận xét, đánh giá về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về đầu tư theo hình thức dối tác công tư ở Việt Nam, luận án sẽ nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam hiện nay
3 Lý thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
3.1 Lý thuyết nghiên cứu
Sự xuất hiện của hình thức đầu tư theo cơ chế đối tác công tư đã được chứng minh là có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thu hút nguồn vốn đầu
tư cho dự án cơ sở hạ tầng, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước đồng thời
Trang 33đem lại cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư, đối với người dân thì được hưởng dịch
vụ tốt hơn với chi phí hợp lý Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả sử dụng các lý thuyết nghiên cứu chủ đạo sau đây:
- Lý thuyết về đầu tư: Nội dung luận án được triển khai dựa trên cơ sở lý thuyết chung về đầu tư, trong đó trọng tâm là lý thuyết về đầu tư theo hình thức đối tác công tư Đầu tư theo hình thức đối tác công tư được thực hiện bởi sự tham gia của đối tác công và đối tác tư Hình thức đầu tư này với ưu điểm là có thể tập trung ưu thế của cả hai bên để thực hiện dự án PPP và từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư cả về mặt kinh tế và xã hội Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm mà hình thức đầu tư này đem lại, thì việc đầu tư theo hình thức đối tác công tư cũng có bộc lộ những điểm hạn chế nhất định
- Lý thuyết về hợp đồng: Trong quan hệ đối tác công tư có sự tham gia của một bên là nhà nước, một bên là nhà đầu tư nhưng quan hệ này không phải được thiết lập trên cơ sở mệnh lệnh hành chính là một bên có quyền đưa ra quyết định, mệnh lệnh và bên kia phải thực hiện theo quyết định mệnh lệnh được đưa
ra đối với mình Mà đây là quan hệ hợp tác giữa hai bên chủ thể thông qua hình thức là hợp đồng, trong quan hệ hợp đồng các bên tham gia có quyền bình đẳng, thực hiện theo cam kết đã đạt được trong hợp đồng và nếu một trong hai bên vi phạm thì sẽ phải gánh chịu trách nhiệm do hành vi của mình gây ra
- Lý thuyết về phân bổ rủi ro và quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư: Đầu tư là hoạt động luôn tiềm ẩn rủi ro Việc phân bổ, chia sẻ rủi ro trong hoạt động đầu tư giữa các bên đối tác công tư và cách thức quản trị rủi ro như thế nào đang là vấn đề quan trọng đặt ra trong lĩnh vực đầu tư theo hình thức đối tác công tư, cần được tiếp cận và sử dụng trong luận án
3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Dựa trên kết quả đánh giá tình hình nghiên cứu đề tài và dự kiến hướng triển khai nghiên cứu đề tài luận án, tác giả xác định các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu chủ yếu cần được chứng minh trong luận án như sau:
Trang 34Đề tài nghiên cứu được thực hiện để tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Quy định pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam có những hạn chế nào cần khắc phục để đảm bảo các quy định pháp luật về PPP thực sự thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam?” Để tìm đáp án cho câu hỏi này, luận án sẽ nghiên cứu để tìm câu trả lời
cho một số câu hỏi nhỏ sau:
- Bản chất pháp lý của quan hệ đầu tư theo hình thức đối tác công tư?
- Pháp luật cần điều chỉnh như thế nào, theo cơ chế, nguyên lý như thế nào đối với quan hệ đầu tư theo hình thức đối tác công tư?
- Để xác lập quan hệ hợp đồng đầu tư do các bên toàn quyền quyết định hay theo chịu sự chỉ đạo của Nhà nước? Các bên chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đầu tư có địa vị pháp lý bình đẳng với nhau hay không? Pháp luật Việt Nam khi quy định về chủ thể tham gia quan hệ này có đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên chủ thể hay chưa?
- Trình tự, thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay
đã phù hợp với bản chất của quan hệ này cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế hay chưa? Việc lựa chọn nhà đầu tư theo quy định hiện hành đã bảo đảm tính công khai, minh bạch chưa? Các tiêu chí để lựa chọn nhà đầu tư đã thực sự phù hợp để bảo đảm lựa chọn được nhà đầu tư có năng lực tốt nhất để thực hiện dự
án hay không?
- Việc quy định về quyết toán dự án đối với dự án thực hiện đầu tư theo hình thức PPP đã phù hợp và phản ánh đúng bản chất của mối quan hệ này hay không?
- Hoạt động đầu tư theo hình thức PPP thường diễn ra trong một thời gian dài nên dễ xảy ra tranh chấp giữa các bên chủ thể tham gia hoặc tranh chấp giữa người sử dụng dịch vụ và nhà đầu tư Vậy khi xảy ra tranh chấp thì cơ chế giải quyết tranh chấp nào sẽ được áp dụng để giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng xảy ra?
Trang 353.3 Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết nghiên cứu thứ nhất:
Để hoàn thiện các quy định pháp luật về đầu tư theo hình thức PPP, các quy định pháp luật được ban hành cần phản ánh đúng bản chất của quan hệ đầu
tư theo hình thức đối tác công tư; Quy định rõ ràng về địa vị pháp lý các chủ thể tham gia quan hệ này quyền hạn, trách nhiệm, năng lực của các bên khi tham gia quan hệ; Nhà đầu tư trong quan hệ này phải thỏa mãn những điều kiện nhất định nên không phải cá nhân, tổ chức nào cũng có thể tham gia với tư cách là nhà đầu tư; Để đảm bảo lựa chọn được nhà đầu tư có năng lực cần phải thực hiện đấu thầu công khai, minh bạch hạn chế đến mức thấp nhất việc áp dụng chỉ định thầu; Sự tham gia của nhà nhà nước bằng việc hỗ trợ về mặt tài chính là cần thiết đối với một số dự án nhất định; Cần phải quy định các biện pháp bảo đảm của nhà nước để bù đắp những rủi ro mà nhà đầu tư có thể phải gánh chịu; Cần phải
có các quy định nhằm bảo đảm lợi ích của những người sử dụng dịch vụ được cung cấp; Các chế tài được áp dụng phải đủ mạnh để có thể ngăn ngừa vi phạm xảy ra, đồng thời trừng phạt nghiêm khắc đối với chủ thể vi phạm
- Giả thuyết nghiên cứu thứ hai:
Để hoàn thiện các quy định pháp luật về đầu tư theo hình thức PPP các quy định pháp luật được ban hành hướng tới bảo đảm quyền và lợi ích cho phía đối tác công nhiều hơn để thực hiện mục tiêu quản lý đối với hoạt động đầu tư Trong quan hệ này nhà nước có quyền can thiệp bằng các mệnh lệnh hành chính
để yêu cầu nhà đầu tư thực hiện hoặc không thực hiện một công việc nhất định
mà không được giao kết trong hợp đồng; Nhà đầu tư chỉ cần đáp ứng điều kiện năng lực về tài chính là có thể tham gia dự án PPP; Nhà nước không cần hỗ trợ
về mặt tài chính cũng như các biện pháp bảo đảm đầu tư để chia sẻ rủi ro với nhà đầu tư vì nếu như vậy rất có thể dẫn đến việc nhà nước sẽ phải gánh chịu mọi rủi ro; Không cần có các quy định pháp luật nhằm bảo đảm lợi ích của người sử dụng dịch vụ vì đây là quan hệ này được xác lập thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng giữa nhà nước và nhà đầu tư
Trang 36Phần thứ hai NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC
CÔNG TƯ
1.1 Những vấn đề lý luận về đầu tư theo hình thức đối tác công tư
1.1.1 Khái niệm đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Bất cứ quốc gia nào, để tồn tại và phát triển cũng đều cần phải thực hiện các hoạt động đầu tư Thông qua hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư đều kỳ vọng thỏa mãn những mục tiêu nhất định, mặc dù trên thực tế các mục tiêu này có thể không hoàn toàn giống nhau giữa các chủ thể đầu tư
Xét trên quan điểm vĩ mô, quan niệm về “đầu tư” theo nghĩa rộng cho rằng: “Đầu tư là sự từ bỏ giá trị chắc chắn ở hiện tại để đạt được giá trị (có thể không chắc chắn) trong tương lai” Giá trị hiện tại có thể hiểu là tiêu dùng, còn giá trị tương lai hiểu là năng lực sản xuất có thể làm tăng sản lượng quốc gia2
Theo nghĩa hẹp, khái niệm “đầu tư” được hiểu chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó
Từ sự phân tích nêu trên về khái niệm đầu tư theo nghĩa rộng và nghĩa
hẹp, có thể cho rằng bản chất của đầu tư “là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian xác định nhằm đạt được kết quả hoặc một tập hợp các mục tiêu xác định trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định” 3
Trang 37Nếu dựa vào tiêu chí nguồn vốn đầu tư, có thể phân loại thành đầu tư bằng nguồn vốn trong nước và đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài Đầu tư bằng nguồn vốn trong nước là hình thức đầu tư theo đó việc đầu tư được tài trợ bằng nguồn vốn của Nhà nước, nguồn vốn từ các tổ chức, cá nhân trong nội bộ nền kinh tế Trong đó, nguồn vốn ngân sách Nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của các nhà đầu tư tư nhân là nguồn vốn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của mỗi quốc gia Đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài là hình thức đầu
tư theo đó việc đầu tư tài chính vào một quốc gia được tài trợ bởi nguồn vốn đầu
tư trực tiếp hoặc gián tiếp của các quốc gia khác, nhờ đó hình thành nên sức mạnh tài chính của nền kinh tế của quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư
Nếu dựa vào hình thức đầu tư, hoạt động đầu tư có thể được phân loại thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư mà người có vốn tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động đầu tư và quản lý đầu
tư, họ biết được mục tiêu đầu tư cũng như phương thức hoạt động của các loại
vốn mà họ bỏ ra Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư vào hoạt động kinh tế
nhằm đem lại hiệu quả cho bản thân người có vốn cũng như cho xã hội, nhưng người có vốn không trực tiếp tham gia quản lý quá trình thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư
Nếu dựa vào tiêu chí chủ thể đầu tư, hoạt động đầu tư có thể phân loại thành đầu tư công, đầu tư tư và đầu tư theo hình thức đối tác công tư Đầu tư
công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án và đối tượng
đầu tư công khác theo quy định của pháp luật về đầu tư công4 Đầu tư công được thực hiện bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và những nguồn vốn hợp pháp khác với mục tiêu chủ yếu là kiến tạo kết cấu hạ tầng về kinh tế - xã hội để làm nền tảng cho việc xây dựng, phát triển nền kinh tế và ổn định xã hội Ngoài ra, các dự án đầu tư công cũng có thể sử dụng một phần nguồn vốn tín dụng đầu tư
4 Xem thêm: Khoản 15, Điều 4 Luật Đầu tư công
Trang 38phát triển của Nhà nước và vốn của các tổ chức công nhưng đều có mục đích
chung là nhằm kiến thiết kết cấu hạ tầng của nền kinh tế - xã hội Đầu tư tư là
hoạt động đầu tư được thực hiện bởi chủ thể đầu tư là các nhà đầu tư thuộc khu vực tư nhân (tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài) bằng nguồn vốn tích lũy của các chủ thể này nhằm tìm kiếm lợi nhuận Hoạt động đầu tư của khu vực
tư nhân trong nền kinh tế chủ yếu được thực hiện dưới dạng là hoạt động đầu tư kinh doanh để thu lợi nhuận cho nhà đầu tư
Khác với các hình thức đầu tư công hay đầu tư tư, đầu tư theo hình thức đối tác công tư là hình thức đầu tư có tính chất “hỗn hợp” giữa công và tư, trong
đó có sự tham gia của hai bên đối tác công và tư, cùng với những khác biệt về mục tiêu đầu tư, phương pháp đầu tư và nguyên tắc đầu tư của mỗi bên đối tác công, tư Tuy nhiên, cũng chính từ sự khác biệt đó giữa các bên đối tác công, tư
mà mỗi bên đều tìm thấy cho mình các lợi ích cần theo đuổi khi tham gia vào quan hệ hợp tác đặc biệt này Ví dụ: Nhà nước cần vốn đầu tư, kinh nghiệm chuyên môn trong xây dựng và vận hành các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng – vốn
dĩ là thế mạnh của khu vực tư nhân; trong khi nhà đầu tư tư nhân cần môi trường kinh doanh, cơ chế chính sách thuận lợi để kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong đầu tư – vốn dĩ là vấn đề mà chỉ Nhà nước mới có thể làm được
Theo nghiên cứu của Henrik A., Fuguo C., Christina D., Ping W.(2010):
Một trong các mục đích của đầu tư mtheo hình thức đối tác công tư (PPP) là để cung cấp một mô hình mới và hiệu quả hơn cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng và cung cấp dịch vụ công PPP được hình thành dựa trên ý tưởng rằng kinh nghiệm
từ khu vực tư nhân được sử dụng trong các dự án kết cấu hạ tầng sẽ tạo ra mô hình kinh tế hiệu quả nhất và tốt nhất cho các chính phủ5
Hiện nay, rất nhiều quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang rất quan tâm tới đầu tư theo hình thức đối tác công tư, xuất phát từ đặc
5 Xem: Henrik A., Fuguo C., Christina D., Ping W., 2010 Public-Private Partnerships: An international analysis - from a legal and economic perspective
Trang 39điểm, vai trò và những ưu điểm nổi bật của hình thức đầu tư này đem lại Lịch sử hình thành và phát triển của phương thức đầu tư theo hình thức đối tác công tư trên thế giới cho thấy, các mối quan hệ đối tác công tư xuất hiện từ những năm
1960, khi mà các mối liên hệ này được Chính phủ liên bang Hoa Kì sử dụng như
là một công cụ thúc đẩy đầu tư từ tư nhân cho kết cấu hạ tầng nội đô Mối quan
hệ đối tác công tư có thể hỗ trợ và bảo vệ các lợi ích công trong khi vẫn phát huy các tiềm năng đầu tư và giá trị gia tăng từ khu vực tư nhân Kinh tế suy thoái những năm 1970 cũng khiến các tiểu bang và liên bang Hoa Kì tìm kiếm các cách thức hiệu quả để các công ty tư nhân đồng thuận cung cấp dịch vụ công Trong suốt những năm đầu thập kỉ 80 của thế kỉ XX, mối liên minh công tư đã được xem như là một hình thức biến thể của sự phát triển tư nhân hóa Kể từ đó, quan hệ đối tác công tư được phổ biến rộng rãi tại Anh, EU, Bắc Mỹ và dần dần được chú ý tại các nước đang phát triển
Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, các nước trên thế giới nói chung
và Việt Nam nói riêng đều gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc bảo đảm nguồn thu của ngân sách nhà nước để có thể đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu cho các hoạt động của nhà nước cũng như chi cho xây dựng kết cấu hạ tầng Để giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, tăng cường nguồn lực đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng, một trong những biện pháp được áp dụng đó là thiết lập mối quan hệ đối tác giữa nhà nước và tư nhân trong lĩnh vực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và dịch vụ công
Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về mô hình đối tác công tư trong đầu tư kết cấu hạ tầng và dịch vụ công đã bắt đầu được triển khai và có nhiều thành tựu rất đáng ghi nhận Một trong những thành tựu đó chính là việc nghiên cứu, làm rõ khái niệm về đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), thuật ngữ “mối quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân miêu tả một loạt các mối quan hệ có thể có giữa các tổ
Trang 40chức nhà nước và tổ chức tư nhân liên quan đến lĩnh vực kết cấu hạ tầng và các lĩnh vực dịch vụ khác”6
Trong thực tế, rất khó để đưa ra một định nghĩa chính xác, chuẩn mực về hình thức đối tác công tư do cách tiếp cận và quan điểm khác nhau
Khái niệm đầu tư theo hình thức đối tác công tư, mặc dù được định nghĩa khác nhau theo quan điểm của từng học giả, cơ quan nhà nước và tổ chức quốc
tế nhưng về bản chất, tất cả các khái niệm đều khẳng định rằng đây là hình thức hợp tác đặc biệt giữa Nhà nước và Tư nhân trong quá trình xây dựng và triển khai dự án đầu tư, nhằm cung cấp kết cấu hạ tầng và các dịch vụ công cho xã hội7 Mối quan hệ giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân được xây dựng dựa trên những khả năng chuyên môn và lợi thế sẵn có của từng đối tác để có thể đáp ứng được tốt nhất những mục tiêu chung của dự án thông qua sự phân phối hợp lý các nguồn lực, các rủi ro và lợi ích Theo hướng dẫn của Bang British Columbia, Canada thì hình thức đối tác công tư được hiểu là những thỏa thuận giữa chính phủ và các tổ chức tư nhân nhằm mục đích cung cấp kết cấu hạ tầng, tiện nghi cho cộng đồng và các dịch vụ công Đặc điểm của thỏa thuận này là sự chia sẻ đầu tư, rủi ro, trách nhiệm và lợi ích giữa các bên tham gia Quan hệ đối tác công tư được triển khai áp dụng theo nhiều hình thức khác nhau, nhưng có các nội dung chính liên quan đến tài chính, thiết kế, xây dựng, vận hành và bảo trì kết cấu hạ tầng và dịch vụ công8 Hình thức đối tác công tư là một thuật ngữ chung để chỉ các mô hình hợp tác giữa Nhà nước và Tư nhân nhằm cung cấp các dịch vụ công Nó thường được thể hiện bằng hợp đồng hay sự thỏa thuận trong
đó nhà đầu tư tư nhân thực hiện một phần trách nhiệm hoặc chức năng của dịch
vụ công theo cách chấp nhận các rủi ro trong việc hoàn vốn đầu tư9