Ngân hàng đã đặt ra định hướng đối với hoạt động tín dụng trong thời gian tới với một số nội dung cụ thể sau: Tiếp tục phát triển nguồn huy động VND và ngoại tệ từ các tổ chức kinh tế và
Trang 1MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
NINH BÌNH
3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG TRONG NHỮNG NĂM TỚI.
Thành quả đạt được của Chi nhánh NHĐT&PT Ninh Bình sau hơn 10 năm đổi mới gắn liền với đổi mới của hệ thống ngân hàng và sự đổi mới trong chỉ đạo điều hành nền kinh tế của Đảng và Nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên không tự bằng lòng với kết quả đạt được, Chi nhánh không ngừng phấn đấu phát huy những mặt tích cực, nâng cao hơn nữa chất lượng kinh doanh nhằm đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế thị trường nói chung và của hoạt động kinh doanh ngân hàng nói riêng trong từng giai đoạn Ngân hàng đã đặt ra định hướng đối với hoạt động tín dụng trong thời gian tới với một số nội dung cụ thể sau:
Tiếp tục phát triển nguồn huy động VND và ngoại tệ từ các tổ chức kinh
tế và dân cư bằng cách đa dạng hoá các hình thức huy động Mở rộng tín dụng đối với mọi TPKT trong đó đặc biệt chú trọng tới các khách hàng NQD, thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần.
Thực hiện đầu tư có trọng điểm, chú trọng vào những ngành nghề mũi nhọn có nhiều triển vọng phát triển đang được Đảng và Nhà nước quan tâm
hỗ trợ, tăng cường tài trợ cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, ưu tiên những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, đóng góp vào quá trình CNH- HĐH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước.
Tiếp tục thực hiện đề án tái cơ cấu ngân hàng, trong đó chú trọng lộ trình thực hiện năm 2001-2003 và thực hiện kế hoạch kinh doanh 5 năm từ 2001-2005 Không ngừng chấn chỉnh hoạt động ngân hàng, khắc phục kịp thời những hạn chế và ngăn ngừa hiệu quả những vấn đề mới phát sinh, tìm ra các giải pháp để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp NQD tiếp xúc nhiều hơn với nguồn vốn của ngân hàng đồng thời giảm thấp tỉ lệ nợ quá hạn.
Trang 2Gắn liền mở rộng tín dụng NQD với nâng cao chất lượng tín dụng Lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chuẩn để mở rộng tín dụng và là thước đo để đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng.
Củng cố hoạt động kinh doanh, xử lý tốt vấn đề tài sản thế chấp, giảm thiểu rủi ro Không ngừng nâng cao hình ảnh và vị thế của ngân hàng trên thị trường nhằm thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với ngân hàng.
Coi trọng công tác cán bộ, xắp xếp và bố trí hợp lý, khoa học lao động vào các phòng ban, bộ phận, nghiệp vụ Thực hiện công tác quy hoạch và đào tạo, đảm bảo nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển trong thời gian tới.
Thành lập phòng Marketing, xây dựng chiến lược khách hàng và bạn hàng dài hạn, tập trung vào việc xây dựng phong cách phục vụ riêng, hình ảnh ngân hàng trong khách hàng.
Với định hướng hoạt động như vậy, ngân hàng đặt ra mục tiêu hoạt động cụ thể trong năm 2003 như sau:
+Ổn định, an toàn và phát triển vốn.
+Tăng trưởng tổng tài sản 22%
+Tăng trưởng huy động vốn bình quân: 20% Trong đó tăng trưởng nguồn vốn VND bình quân 19%
+Thu dịch vụ dòng tăng 30% so với năm 2002.
+Chênh lệch thu chi (chưa tính dự phòng rủi ro) đạt 5 tỷ đồng.
+Tổng dư nợ đạt: 450.000 triệu đồng, trong đó cho vay đối với NQD chiếm 25- 30%
TPKT-+Nợ quá hạn ở mức cho phép (Chỉ tiêu do Trung ương giao < 5%).
Trang 33.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NINH BÌNH
Sau khi nghiên cứu phần thực trạng và những hạn chế cũng như nguyên nhân của những hạn chế đã làm cho việc mở rộng tín dụng của ngân hàng đối với KT-NQD gặp khó khăn, em xin đề xuất một số giải pháp sau.
3.2.1 Xây dựng chiến lược khách hàng cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Kinh tế ngoài quốc doanh là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, khách hàng NQD có quan hệ giao dịch với ngân hàng rất đa dạng, bao gồm các Doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Hợp tác xã và các tư nhân các thể khác Vì thế xây dựng một chiến lược khách hàng đúng đắn, phù hợp để thực hiện mục tiêu tăng trưởng dư nợ lành mạnh, mở rộng và phát triển các dịch vụ của ngân hàng là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Với mục tiêu thu hút ngày càng nhiều khách hàng NQD làm ăn hiệu quả, có uy tín trên thương trường thì chiến lược khách hàng phải tập trung vào những vấn đề sau:
Tạo lập bạn hàng tin cậy, có uy tín, có mối quan hệ lâu dài Các doanh nghiệp NQD rất đa dạng và phong phú, vì vậy cần thiết phải phân loại khách hàng theo những tiêu thức nhất định để có những chính sách thích hợp với từng đối tượng Ngân hàng sẽ lựa chọn và ưu đãi đối với những khánh hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả, làm ăn uy tín và sẵn sàng trả nợ đúng hạn Tuy nhiên, cách làm này chỉ có thể áp dụng với những doanh nghiệp đã ít nhiều
có quan hệ tín dụng với ngân hàng hoặc nắm bắt được các mối quan hệ của khách hàng với các tổ chức kinh tế trong nhiều năm mới đánh giá được mức
độ uy tín của khách hàng Để có những kết quả đáng tin cậy hơn ngân hàng có thể dưa vào các công ty kiểm toán để xếp hạng các doanh nghiệp Trong tương lai khi thị trường tài chính và thị trường chứng khoán đã phát triển, việc xếp hạng các doanh nghiệp trở nên phổ biến và các doanh nghiệp NQD có thực lực
có thể hy vọng vào sự ưu đãi tín dụng từ phía ngân hàng.
Trang 4Ngoài việc phân loại khách hàng cũ, ngân hàng phải tạo điều kiện cho việc tiếp nhận, chọn lọc khách hàng mới khi họ tới giao dịch, để mở rộng tín dụng Đây là vấn đề chưa được chưa được chú ý đúng mức vì ngân hàng rất thận trọng với những khách hàng mới khi quyết định cho vay Để mở rộng hoạt động tín dụng cần thiết phải có sự quan tâm đánh giá đúng mức từ phía ban lãnh đạo ngân hàng Ngân hàng cần tích cực tiếp xúc, phỏng vấn khách hàng, điều tra thu thập thông tin từ phía khách hàng một cách nhanh chóng đồng thời hướng dẫn cho khách hàng hiểu được quy trình tín dụng, để khách hàng
dễ dàng tiếp nhận, qua đó lựa chọn khách hàng theo những quy định và tiêu chuẩn chung Ngân hàng cần phải có mối quan hệ chặt chẽ với trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của NHNN để có thể thu thập những thông tin cần thiết trước khi quyết định một khoản vay đối với một khách hàng mới Để giải quyết vấn đề này về mặt tổ chức ngân hàng cần bố trí các cán bộ có kinh nghiệm, trình độ cho lần đầu tiên tiếp xúc với khách hàng.
Xây dựng và hướng tới một chiến lược khách hàng đủ sức cạnh tranh với các ngân hàng khác bằng cách đa dạng hoá khách hàng Xuất phát từ thực
tế nguồn vốn huy động của ngân hàng chưa được sử dụng hiệu quả nhất, năm
2002 hệ số sử dụng vốn chỉ đạt 76%, số vốn còn lại được giữ một phần trong két còn phần lớn được điều hoà về NHNN trên địa bàn tỉnh, nhịp độ tăng trưởng tăng đều qua các năm nên vấn đề mở rộng thị trường đang đặt ra khá gay gắt Nhìn bảng cơ cấu dư nợ theo các TPKT ta thấy dư nợ quốc doanh đang chững lại và có dấu hiệu giảm sút trong khi những nghiên cứu về tiềm năng đối với khu vực KT-NQD cho thấy ngân hàng hoàn toàn có khả năng mở rộng thị trường ra khu vực này Để mở rộng thị trường ngân hàng cần phải tiến hành tuần tự và đồng bộ từng bước của một kế hoạnh marketing tổng hợp, bắt đầu từ khâu nghiên cứu thị trường, phân loại khách hàng, định vị khách hàng, đưa ra kế hoạnh sản phẩm - dịch vụ đến thiết lập các kênh phân phối (các quỹ tín dụng), thực hiện các biện pháp xúc tiến thương mại và các
Trang 5biện pháp hỗ trợ khách hàng Về lâu dài công tác marketing cần phải được chuyên môn hoá thành một phòng ban cụ thể, nhưng trước mắt nó phải được quán triệt và triển khai ở mọi bộ của ngân hàng, đặc biệt là những bộ phận giao dịch trực tiếp với khách hàng.
3.2.2 Giải pháp về nguồn vốn
Cũng như doanh nghiệp đối với ngân hàng vốn là tiền đề cho mọi hoạt động Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển cần phải có vốn không những thế nguồn vốn này phải thường xuyên tăng trưởng theo quá trình hoạt động của ngân hàng Theo hình thức sở hữu, nguồn vốn được cấu thành từ hai bộ phận,
đó là: Vốn tự có và vốn huy động, do đặc thù của ngân hàng là “đi vay để cho vay” nên vốn huy động chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn vốn Vì vậy muốn tăng nguồn vốn sử dụng trước hết và chủ yếu là tăng vốn huy động, sẽ làm cơ
sở và tiền đề cho việc tăng vốn tự có Hầu hết nguồn này được huy động từ các
tổ chức kinh tế và dân cư Tính chất nguồn vốn ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động ngân hàng Một nguồn vốn tốt là nguồn vốn có cơ cấu hợp lý và chi phí thấp nhất, đáp ứng tốt các hoạt động của ngân hàng Vì vậy để hoạt đông ngân hàng diễn ra một cách thường xuyên liên tục và hiệu quả, điều đầu tiên phải có
đủ vốn, điều này được thực hiện bằng cách:
Đa dạng hoá các hình thức huy động, mở ra nhiều hình thức mới bên cạnh các phương thức truyền thống như kỳ phiếu, hối phiếu Đưa ra nhiều loại
kỳ hạn khác nhau cho người ký gửi lựa chọn Tuy nhiên những hoạt động này chỉ có hiệu quả, khi đi liền với một chính sách lãi suất hợp lý, đảm bảo tính cạnh tranh, hấp dẫn được người gửi đồng thời chấp hành đúng chính sách lãi suất của NHNN.
Bên cạnh việc đa dạng hoá hình thức huy động, đa dạng hoá các loại kỳ hạn ngân hàng nên mở rộng mạng lưới các phòng giao dịch, các quỹ tiết kiệm
ở các khu vực đông dân cư có nhiều tổ chức kinh tế hoạt động Nhằm tạo ra một mạng lưới huy động phủ kín, người gửi không phải đi quá xa khi có nhu cầu gửi tiền Hiện nay Chi nhánh mới chỉ có một phòng giao dịch Tam Điệp.
Trang 6Trong khi đó những nơi kinh tế phát triển như Huyện Kim Sơn, Nho Quan và một số huyện khác chưa thiết lập phòng giao dịch.
Ngoài ra ngân hàng cần trú trọng nguồn tiền gửi thanh toán của khách hàng Đây là nguồn vốn mà ngân hàng có thể sử dụng nhưng chi phí lại thấp nhất Để thu hút được tiền gửi thanh toán ngân hàng cần phải nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, có thể khuyến khích khách hàng mở tài khoản thanh toán bằng cách áp dụng mức thưởng lãi suất Việc thu hút được nhiều tiền gửi loại này tạo điều kiện cho ngân hàng hạ thấp lãi suất đầu ra, thúc đẩy hoạt động tín dụng.
3.2.3 Xây dựng cơ chế chính sách cho vay đơn giản, khoa học, sát với tình hình thực tế kinh tế ngoài quốc doanh
Một trong những nguyên nhân làm hạn chế việc mở rộng tín dụng NQD
đó là những vướng mắc, bất cập trong cơ chế cho vay Vì vậy để có thể mở rộng tín dụng NQD các ngân hàng nên đổi mới và hoàn thiện cơ chế chính sách cho vay theo hướng đơn giản, khoa học, phù hợp với tình hình thực tế khu vực NQD
Đối với thủ tục cho vay: Để vay được vốn ngân hàng, khách hàng phải đáp ứng rất nhiều điều kiện và các thủ tục về giấy tờ Từ khi lập hồ sơ đến khi
ký kết hợp đồng tín dụng khách hàng phải cung cấp các báo cáo tài chính, đến các giấy tờ chứng minh tài sản đảm bảo, phương án sản xuất kinh doanh Mỗi
bộ hồ sơ vay vốn phải có nhiều chữ ký, con dấu của nhiều cấp, cơ quan làm mất khá nhiều thời gian của khách hàng và bản thân ngân hàng Mặc dù những giấy tờ đó là hết sức cần thiết nhưng dẫu sao vẫn gây cho khách hàng tâm lý ngại khi đến vay vốn tại ngân hàng, họ có xu hướng đi tìm kiếm các nguồn tài trợ trong dân cư mặc dầu chịu lãi cao hơn song thủ tục đơn giản gọn nhẹ Trong thời đại bùng nổ thông tin, sự cạnh tranh diễn ra gay gắt, cơ hội chợt đến chợt đi Nhìn thấy cơ hội đã khó, huy động các nguồn lực để nắm bắt cơ hội còn khó hơn Mọi sự chậm trễ, trần chừ, do dự có thể đánh mất lợi nhuận
Trang 7lớn, cho nên sự chậm trễ trong vay vốn ngân hàng có thể làm mất cơ hội làm
ăn của họ.
Những bức xúc, mâu thuẫn này đang đòi hỏi ngân hàng phải nhanh chóng giải quyết Một mặt, cán bộ tín dụng phải tiến hành công việc một cách nhanh chóng, xác định khẩn trương các loại giấy tờ mà khách hàng cung cấp, mặt khác cần phải khéo léo giải thích để khách hàng hiểu được tầm quan trọng của các chứng từ, thủ tục mà ngân hàng đặt ra Để làm được điều đó cần phải có sự kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các bộ phận phòng ban có liên quan, đảm bảo công việc luôn đuợc trôi chảy, những bộ phận đó là: Phòng tín dụng - kế toán - kho quỹ và ban giám đốc Đồng thời những người chịu trách nhiệm, những lãnh đạo thường trực phải luôn có mặt, hạn chế sự đi vắng để ký kết, xác nhận, ra các quyết định tạo nên sự nhanh chóng khi có một khoản vay nào đó vượt thẩm quyền của cấp đang được quyết định Đối với những giấy tờ mang tính chuẩn, lập theo khung mẫu ngân hàng nên tổ chức, xây dựng trước
để khách hàng chỉ việc điền vào và ký nhận rút ngắn thời gian.
Đối với lãi suất áp dụng phải phù hợp với điều kiện thực tế của khách hàng: Ngân hàng cần sử dụng nhiều mức lãi suất cho vay tuỳ thuộc vào từng loại khách hàng Lãi suất là một vấn đề quan trọng đối với khoản vay, vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của ngân hàng và khách hàng Vì thế ngân hàng nên
đa dạng hoá lãi suất cho phù hợp với các đối tượng khách hàng khác nhau, lấy lãi suất làm công cụ mở rộng tín dụng cụ thể là:
Phân loại khách hàng vay vốn thành các nhóm khác nhau theo những tiêu chí nhất định để áp đặt các mức lãi suất phù hợp Đối với những khách hàng có quan hệ thường xuyên, vay trả sòng phẳng, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, dư nợ lớn, không phát sinh nợ quá hạn thì nên áp dụng mức lãi suất cho vay ưu đãi hơn so với các đối tượng khác trên cơ sở đảm bảo những chi phí cần thiết cho ngân hàng và thu lợi nhuận hợp lý Việc này là có thể thực
Trang 8hiện được khi mà cơ chế lãi suất thoả thuận vừa được NHNN áp dụng vào qúy
IV năm 2002.
Đa dạng hoá các loại hình lãi suất, các loại kỳ hạn là để phù hợp với chu
kỳ kinh doanh của khách hàng Dựa vào từng loại lãi suất, kỳ hạn khách hàng
có nhièu cơ hội lựa chọn khoản vay thích hợp để hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, đảm bảo trả nợ ngân hàng.
Đa dạng hoá hình thức cho vay: Tuỳ theo khả năng về nguồn vốn và đặc điểm của nền kinh tế cũng như tính chất của khách hàng mà ngân hàng đưa ra những hình thức cho vay phù hợp Thực tế cho thấy đối với KT-NQD ngân hàng mới chủ yếu cho vay phục vụ sản xuất với kỳ hạn ngắn (bổ sung sự thiếu hụt về vốn lưu động) và không theo dự án Cho nên phương hướng đa dạng hoá hình thức cho vay nên tài trợ cho vay trung và dài hạn theo dự án khi KT-NQD có nhu cầu, triển khai áp dụng hình thức tín dụng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu trong dân cư, tiếp tục mở rộng cho vay đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay, bước đầu cho vay bằng hình thức tín chấp với những khách hàng làm
ăn lâu dài và có quan hệ tín nhiệm đối với ngân hàng
Đối với phương thức cho vay: Hiện nay NHĐT&PT Ninh Bình mới chỉ sử dụng phương thức cho vay từng lầu (theo món) đối với khu vực NQD với điều kiện người vay vốn phải có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo hành Trong khi hoạt động KT-NQD rất đa dạng, mang nhiều đặc thù riêng biệt vì vậy để mở rộng tín dụng NQD ngân hàng nên đa dạng hoá phương thức cho vay Như cho vay theo theo tài khoản vãng lai (vừa dư nợ, dư có) Tuy nhiên bước đầu thử nghiệm những phương thức này, ngân hàng lựa chọn những khách hàng được đánh giá tốt để áp dụng nhằm hạn chế rủi ro và đúc rút kinh nghiệm cho quá trình
áp dụng rộng rãi sau này.
Căn cứ vào tình hình sản xuất kinh doanh và tài sản đảm bảo của khách hàng Ngân hàng và khách hàng cùng thoả thuận một hạn mức dư nợ tối đa trong thời hạn nhất định Căn cứ vào mức dư nợ đó khách hàng lập đầy đủ các
Trang 9thủ tục cần thiết như hợp đồng tín dụng, hợp đồng cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh, đơn vay xin, các hồ sơ pháp lý khác Những thủ tục này chỉ phải làm một lần Trong phạm vi hạn mức tín dụng thoả thuận trong hợp đồng khách hàng
có thể rút ra một cách linh hoạt, thuận tiện theo nhu cầu sử dụng vốn mà chỉ cần làm giấy nhận nợ và giấy rút tiền, tiết kiệm được rất nhiều thời gian Mọi khoản thu của khách hàng sẽ được ghi vào bên có của tài khoản để trả nợ ngay một mặt giảm được tiền lãi phải trả ngân hàng, đồng thời mỗi lần có tiền thu
về tài khoản làm giảm mức dư nợ thực tế thì cũng làm tăng mức dư nợ được vay tiếp của khách hàng.
Về phía ngân hàng cũng giảm bớt các thủ tục giấy tờ, đồng thời qua diễn biến của tài khoản ngân hàng biết được khách hàng đang gặp thuận lợi hay khó khăn để cùng khách hàng tìm cách tháo gỡ.
Hết thời hạn ghi trong hợp đồng hai bên tiến hành thanh lý hơp đồng Nếu còn dư nợ sẽ chuyển sang nợ quá hạn trong trường hợp khách hàng không trả được nợ sẽ phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Tuy nhiên phương pháp này này chỉ áp dụng cho các khách hàng vay vốn thường xuyên, vòng quay vốn nhanh Nhưng nó là phương pháp rất phù hợp với hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, thủ tục đơn giản, thuận tiện tạo điều kiện thuận lợi cho cả hai bên mà thủ tục pháp lý vẫn rất chặt chẽ.
Ngân hàng có thể nghiên cứu cho vay với điều kiện là tín chấp Trong điều kiện của sự phát triển của nền kinh tế thị trường như hiện nay thì cho vay bằng tín chấp sẽ ngày càng phát triển Đối với khu vực KT-NQD thì ngân hàng chỉ nên thử nghiệm cho vay bằng tín chấp đối với các khách hàng đã trở thành
“thân chủ” của ngân hàng Tuy nhiên không phải cho vay bằng tín chấp là ngân hàng có thể bỏ qua các thủ tục cần thiết Khách hàng cũng phải có số liệu chứng minh tình hình tài chính lành mạnh, họ phải có tài sản cố định và tài sản lưu động lớn, đối tượng cho vay phải là những sản phẩm hàng hoá kinh doanh
có hiệu quả ổn định trên thị trường Thời gian cho vay không nên quy định quá
Trang 10dài và mức cho vay không vượt quá vốn lưu động thực tế của người vay Điều kiện cho vay này sẽ khuyến khích các khách hàng thân quen với ngân hàng, tăng nhu cầu vay vốn.
Ngoài ra ngân hàng có thể cho vay thông qua việc đảm bảo bằng chữ ký của người có khả năng tài chính đứng ra bảo lãnh, thông thường khoản vay này thường áp dụng với cán bộ công nhân viên thông qua cam kết bảo lãnh của các chủ doanh nghiệp
Về quy mô tín dụng: Hiện nay ngân hàng quy định quy mô cho vay đối với KT-NQD không vượt quá 1,5 lần vốn tự có đã làm hạn chế quy mô tín dụng đối với khu vực này - một khu vực đang có nhu cầu về vốn rất lớn để đổi mới
và phát triển Trong khi vốn tự có KT-NQD đã nhỏ bé lại bị ràng buộc con số nhỏ bé, cứng nhắc làm mất đi lợi thế cạnh tranh của khu vực này so với KT-QD.
Để tạo điều kiện cho khu vực này vay vốn ngân hàng ngoài việc chỉ chú trọng đến khả năng tài chính và tài sản đảm bảo nên cân nhắc phương án vay vốn của khách hàng để quyết định lượng vốn cho vay phù hợp Thực hiện được điều này sẽ tạo điều kiện để cả hai bên cùng phát triển.
Về tài sản thế chấp: Như đã trình bày ở chương 2 nguyên nhân làm hạn chế quy mô tín dụng NQD yếu tố chủ yếu nhất là tài sản thế chấp Để đảm bảo món vay của ngân hàng thì khách hàng phải có tài sản thế chấp, điều này càng trở nên quan trọng đối với khu vực NQD nếu muốn vay được vốn tại ngân hàng Nhưng những khó khăn lại phát sinh nhiều nhất lại ở khâu này như: Người vay mặc dù sở hữu tài sản nhưng thiếu hoặc không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu do chúng đã được mua đi bán lại nhiều lần lại được thực hiện dưới hình thức viết tay, qua nhiều chủ nhưng không qua xác nhận của cơ quan có thẩm quyền; vấn đề định giá tài sản; các ngân hàng chủ yếu chấp nhận tài sản thế chấp dưới dạng bất động sản mà chấp nhận một cách rất hạn chế những tài sản là động sản Vì vậy để mở rộng tín dụng NQD các ngân hàng nên
Trang 11linh động trong vấn đề tài sản thế chấp song vẫn đảm bảo an toàn cho đồng vốn đầu tư cụ thể là:
Ngân hàng nên phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (như UBND tỉnh, Cục nhà đất, công an các cấp ) mở một đợt tổng rà soát nhà cửa đối với người dân, tài sản đối với các tổ chức kinh tế để xác định tính hợp pháp
và hợp lệ về quyền sở hữu và quyền sử dụng về nhà ở cũng như các hình thức tài sản khác Mặc dù công tác này đòi hỏi nhiều thời gian, tốn kém song về lâu dài đem lại nhiều lợi ích to lớn như Một mặt nhà nước có cơ sở đánh giá đúng thực trạng, tình hình nhà ở trên địa bàn tỉnh, làm tài liệu phục vụ chiến lược về quy hoạch đô thị và xây dựng cơ bản trong tương lai Mặt khác thông qua kiểm tra đánh giá được tính đích thực về nhà ở để hình thành các văn bản dưới luật, xác định được tính hợp pháp về nguồn sở hữu nhà đất của các đối tượng theo thực tế, thì các cấp xác nhận quyền sở hữu nhà hợp pháp cho các doanh nghiệp, hộ tư nhân cá thể làm cơ sở để ngân hàng xem xét cho vay thế chấp bất động sản.
Các ngân hàng nên mở rộng danh sách các loại tài sản thế chấp, không nên chỉ bó hẹp trong các bất động sản mà hướng tới những tài sản là động sản Để làm được điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của một số cơ quan nhà nước Một mặt NHNN ra quyết định cụ thể những đối tượng động sản nào có thể trở thành TSTC, trên cơ sở đã nghiên cứu những tài sản mà người vay vốn đang nắm giữ và tính thương mại của chúng Đồng thời xác định những khung pháp luật nào đang hỗ trợ việc sử dụng những tài sản này làm thế chấp Cuối cùng thông báo quyền ưu tiên đối với tài sản thế chấp tại các cơ quan đăng ký công cộng, nhờ đó người cho vay có thể thiết lập quyền của mình đối với tài sản được thế chấp Đây là phương pháp mà các nước phát triển đang sử dụng phổ biến để mở rộng hoạt động tín dụng.
Ngoài ra trong việc định giá tài sản thế chấp là máy móc, thiết bị dây chuyền sản xuất, ngân hàng nên thuê các chuyên gia có kinh nghiệm để định