1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những Vấn Đề Chung Về Hoạt Động Cho Vay Của Ngân Hàng Thương Mại

23 388 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Chung Về Hoạt Động Cho Vay Của Ngân Hàng Thương Mại
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Ngân Hàng Thương Mại
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 36,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nóichung và hệ thống tài chính nói r

Trang 1

Những Vấn Đề Chung Về Hoa ̣t Đô ̣ng Cho Vay Của Ngân Hàng

Thương Ma ̣i

1.1 Tổng quan về Ngân hàng Thương ma ̣i.

Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nóichung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó Ngân hàng Thương mại thườngchiếm tỷ trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng ngân hàng Hiệnnay, để định nghĩa về Ngân hàng Thương mại một cách trọn vẹn và đầy đủ gây

ra nhiều khó khăn cho các nhà kinh tế bởi quan niệm về ngân hàng thay đổitrong không gian (tập quán, luật lệ của mỗi nước) và trong thời gian (theo đàtiến triển kinh tế xã hội) Nếu tiếp cận Ngân hàng Thương mại theo phươngdiện doanh nghiệp thì Ngân hàng Thương mại là một doanh nghiệp kinh doanhtiền tệ, tự huy động vốn để cho vay, tức là “ đi vay để cho vay ” hưởng chênhlệch tỷ lệ lãi suất ( giữa tỷ lệ lãi suất huy động tiền gửi và tỷ lệ lãi suất cho vay),với những chức năng chính như sau

1.1.1 Chức năng của Ngân hàng Thương ma ̣i

1.1.1.1 Chức năng trung gian tín dụng.

Chức năng trung gian tín dụng là chức năng đặc trưng cơ bản nhất của Ngân

hàng Thương mại và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nềnkinh tế phát triển Trung gian tín dụng là cầu nối giữa cung và cầu vốn trong xãhội, chu chuyển vốn từ những người tạm thời có vỗn nhàn rỗi sang những ngườicần vốn để sinh lợi Khi mà quan hệ tín dụng trực tiếp giữa những người cầnvốn và những người tạm thời dư vốn gặp nhiều khó khăn, như về khả năng gặp

gỡ, thời hạn cho vay, về quy mô cho vay, chi phí cho vay… Ngân hàng Thươngmại đã xuất hiện với chức năng trung gian tín dụng của mình để góp phần giảiquyết, khắc phục được những khó khăn đó

Trang 2

Thực hiện chức năng trung gian tín dụng một mặt Ngân hàng Thương mại huyđộng và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trongnền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay, mặt khác trên cơ sở số vốn huyđộng được ngân hàng cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh,tiêu dùng…của các chủ thể kinh tế Như vậy, Ngân hàng Thương mại đứng ralàm trung gian vừa là người đi vay vừa là người cho vay chuyển vốn từ nơi thừavốn sang nơi thiếu vốn làm cầu nối giữa tiết kiệm, tích lũy và đầu tư đảm bảocho sản xuất kinh doanh được liên tục góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển cảithiện đời sống của nhân dân.

sẽ trở thành khoản vay của khách hàng Với chức năng thanh toán của ngânhàng thì khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng họ sẽ được đảm bảo an toàntrong việc cất giữ tiền và thu chi một cách nhanh chóng tiện lợi, nhất là đối vớinhững khoản thanh toán có giá trị lớn, ở mọi địa phương Mà nếu khách hàng tựlàm lấy sẽ tốn kém khó khăn và không an toàn bởi một loạt chi phí như bảoquản, vận chuyển, đếm … Ngày nay thì hầu hết các khoản chi trả về hàng hóadịch vụ giữa các chủ thể kinh tế đều được chuyển giao cho ngân hàng thực hiện,việc thanh toán, trở nên tiện lợi, tiết kiệm được nhiều chi phí mọi quan hệ thanhtoán được thực hiện bằng cách các chủ thể mở tài khoản và yêu cầu thực hiệncác khoản chi trả

Trang 3

Trong khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng còn tạo ra những công cụ lưuthông tín dụng và độc quyền quản lý những công cụ đó ( séc, giấy chuyển tiền,thẻ thanh toán,…) đã tạo sự thuận tiện và tiết kiệm rất nhiều chi phí cho xã hội.Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật công việc thanh toán của ngânhàng càng trở nên nhanh chóng, hiệu quả, và đạt độ chính xác cao.

1.1.1.3 Chức năng ta ̣o ra tiền ngân hàng trong hê ̣ thống ngân hàng hai cấp

Quá trình tạo tiền của Ngân hàng Thương mại được thực hiện thông qua hoạtđộng tín dụng và thanh toán trong hệ thống ngân hàng, trong mối liên hệ chặtchẽ với hệ thống ngân hàng trung ương của mỗi nước Để hiểu rõ hơn chúng tacần giả định rằng tất cả các Ngân hàng Thương mại đều không giữ lại tiền dựtrữ quá mức qui định, các tờ séc không chuyển thành tiền mặt và các yếu tốphức tạp khác được bỏ qua, thì quá trình tạo tiền như sau:

Khi một ngân hàng cho vay Người đến vay tiền của ngân hàng đem về sẽ chitiền vào các mục đích đã định của ông ta không ai vay tiền của ngân hàng đem

về nhà cất để chịu lãi Số tiền của ông ta chi tiêu qua tay người thứ hai Ngườinày có thể quyết định nên gửi số tiền vừa nhận được vào ngân hàng để có lãimỗi ngày, hơn là giữ nó ở nhà không tạo ra được lợi ích nào khác Số tiền đượcgửi trở lại hệ thống ngân hàng theo tài khoản của người này Đổi lại ngân hàngxuất cho người gửi tiền này một chứng thư xác nhận về việc ông ta đã gửi tiền( có thể mua bán giao dịch ) Ngân hàng nhận được tiền gửi lại tiếp tục dùngtiền gửi này cho người thứ 3 vay và cứ thế số tiền được tạo ra ngày một lớn.Quy mô số tiền được tạo ra phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc do ngânhàng trung ương quy định chúng ta có công thức về số nhân tiền như sau:

số nhân tiền = tỷlệdữtrữbắtbuộc1

1.1.1.4 Chức năng làm các di ̣ch vu ̣ tài chính và các di ̣ch vu ̣ khác

Trang 4

Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân quỹ, ngân hàng có nhiềuđiều kiện thuận tiện về kho quỹ, thông tin, quan hệ rộng rãi với các doanhnghiệp Với những điều kiện đó ngân hàng có thể làm tư vấn về tài chính và đầu

tư cho các doanh nghiệp, làm đại lý phát hành cổ phiếu, trái phiếu, bảo đảm đạthiệu quả cao và tiết kiệm chi phí Khi một doanh nghiệp muốn phát hành chứngkhoán trên thị trường sơ cấp, họ có thể nhờ ngân hàng cung cấp các dịch vụ như: Lựa chọn loại chứng khoán phát hành, tư vấn các vấn đề về lãi suất chứngkhoán, thời hạn chứng khoán và các vấn đề kỹ thuật khác.Ngoài ra ngân hàngcòn cung cấp dịch vụ lưu trữ, quản lý, thu lãi, mua bán chứng khoán cùng vớimột loạt các dịch vụ khác như :

a) Dịch vụ bảo quản an toàn vật có giá của khách hàng Bao gồm dịch vụ chothuê két sắt bảo quản ký thác và trực tiếp bảo quản an toàn các giấy tờ có giá b) Dịch vụ cho thuê két sắt ngân buổi tối : Ngân hàng lắp đặt hệ thống két đặcbiệt trước cửa ngân hàng hàng, khách hàng thuê dịch vụ này được phép cất giữtiền mặt hay sec để đảm bảo an toàn vào buổi tối khi ngân hàng đã đóng cửa c) Dịch vụ tín thác hoặc ủy thác ngân hàng có các hình thức sau :

- Dịch vụ tín thác đối với cá nhân bao gồm việc thực hiện các dịch vụ đại diệnphục vụ như người bảo vệ và bảo quản tài sản

- Dịch vụ ủy thác thanh lý tài sản : cho một số người khi chết có để lại di chúcnói lên những ý muốn của họ liên quan đến việc phân chia tài sản

1.1.1.5 Chức năng tài trợ ngoa ̣i thương, mở rô ̣ng nghiê ̣p vu ̣ ngân hàng quốc tế.

Mặc dù nhiều dịch vụ ngân hàng quốc tế tương tự với những dịch vụ được ngânhàng cung cấp trong nước, nhưng có một số dịch vụ đặc biệt khác mang tínhđặc thù nhằm đáp ứng các hoạt động ngoại thương Sở dĩ có những đặc thù là do

ở mỗi nước có một hệ thống tiền tệ độc lập, có những khác biệt về ngôn ngữ,truyền thống văn hóa, lịch sử …

Các ngân hàng thường có nhiều lựa chọn trong việc mở rộng hoạt động ở nướcngoài : hoạt động ngân hàng đại lý, văn phòng đại diện, mua lại các ngân hàng

Trang 5

địa phương … Nói chung khi quyết định xâm nhập vào thị trường nước ngoài,cần xem xét các yếu tố như nguồn tài chính, kinh nghiệm, kiến thức thị trường,

kế hoạch chiến lược, cấu trúc ngân hàng ở nơi sẽ thực hiện kế hoạch Chức năngquan trọng nhất của ngân hàng trong hoạt động ngoại thương là tài trợ xuất khẩu

và nền thương mại giữa các quốc gia Cũng giống như hoạt động thương mạitrong nước, hoạt động ngoại thương đòi hỏi ngân hàng phải cung cấp cácphương pháp tài trợ khác nhau như ứng tiền trước, mở tài khoản, ủy thác, nhờthu, thư tín dụng L/C, tín dụng chiết khấu hối phiếu, bảo lãnh, mua và bán sec

du lịch, ngày nay với xu hướng toàn cầu hóa và tự do hóa tài chính, việc đẩymạnh kinh doanh đối ngoại của các Ngân hàng Thương mại trở thành một thực

tế mang tính sống còn cho chính các ngân hàng

1.1.2 Vai trò của Ngân hàng Thương ma ̣i

Vai trò của Ngân hàng Thương mại được xác định trên cơ sở các chức năng,chức năng là tính vốn có của Ngân hàng Thương mại còn vai trò là sự vận dụngcác chức năng đó vào hoạt động thực tiễn Với các chức năng trên, vai trò củaNgân hàng Thương mại được biểu hiện ở hai mặt sau

1.1.2.1 Vai trò thực thi chính sách tiền tê ̣.

Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về Ngân hàng Trung ương; để thực thichính sách tiền tệ phải sử dụng các công cụ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, táichiết khấu, thị trường mở, hạn mức tín dụng, … Chính các Ngân hàng Thươngmại là chủ thể chịu tác động trực tiếp của những công cụ này và đồng thời đóngvai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đếnkhu vực phi ngân hàng Khi ngân hàng thực hiện vai trò tham gia điều tiết kinh

tế vi mô đối với nền kinh tế thông qua các chức năng của mình, ngân hàng tácđộng đến các tổ chức kinh tế, cá nhân về mặt tín dụng, tiền mặt, thanh toánkhông dùng tiền mặt, … và qua việc tác động này Ngân hàng Thương mại xâydựng được mối quan hệ với cả nền kinh tế từ đó phản ánh tình hình, sản lượng,giá cả, công ăn việc làm, nhu cầu tiền mặt, tổng cung tiền tệ, lãi suất, tỷ giá…

Trang 6

của nền kinh tế về cho Ngân hàng Trung ương để chính phủ và Ngân hàngTrung ương điều tiết thích hợp với tình hình cụ thể.

1.1.2.2 Vai trò góp phần vào hoa ̣t đô ̣ng điều tiết vĩ mô thông qua chức năng

ta ̣o tiền của Ngân hàng Thương ma ̣i.

Trong nền kinh tế thị trường, chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô thuộc về Ngânhàng Trung ương Nhưng Ngân hàng Trung ương không trực tiếp giao dịch vớicông chúng, do vậy phải dựa vào thông tin phản hồi từ Ngân hàng Thương mại

và thông qua Ngân hàng Thương mại để thực hiện các chiến lược chính sáchtiền tệ đã được soạn thảo Trong đó một nội dung quan trọng của chính sách tiền

tệ là điều tiết lượng tiền cung ứng Mà như chúng ta đã biết chức năng tạo tiềnvốn là một khả năng kỳ bí của hệ thống ngân hàng hai cấp Lượng tiền trong xãhội sẽ bao gồm hai loại là tiền do Ngân hàng Trung ương phát hành và tiền củaNgân hàng Thương mại ( tiền ghi sổ, bút tệ ) Lượng tiền cung ứng sẽ đượcnhân lên bao nhiêu là phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc do Ngân hàng Trungương qui định và ý muốn dự trữ vượt quá của Ngân hàng Thương mại Như vậyvới chức năng tạo tiền của mình thì Ngân hàng Thương mại gắn rất chặt vớicông cụ quản lý vĩ mô của Ngân hàng Trung ương (dự trữ bắt buộc) và thể hiển

rõ vai trò của mình trong việc góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô của Ngânhàng Trung ương với nền kinh tế

1.1.3 Hoa ̣t đô ̣ng cơ bản của Ngân hàng Thương ma ̣i

Nói chung các ngân hàng thu lợi bằng cách bán những tài sản Nợ có một số đặctính ( một kết hợp riêng về tính lỏng, rủi ro và lợi tức) và dùng tiền thu được đểmua những tài sản Có có một số đặc tính khác Như thế các ngân hàng cung cấpmột dịch vụ chuyển một loại tài sản này thành một tài sản khác cho công chúngbằng cách trao đổi hai lần “ khế ước” nợ giữa người có vốn và người cần vốnvới mục đích kiếm lời Theo cách này, thay cho quan hệ trực tiếp giữa người đivay và người cho vay là hai trái quyền tài chính:

Trang 7

- Người cho vay có trái quyền đối với các ngân hàng;

- Các ngân hàng có trái quyền đối với người đi vay Nói gọn lại, hoạt động cơbản của một ngân hàng là làm cho tài sản Có và tài sản Nợ phù hợp với nhu cầucủa khách hàng, của người tiêu dùng Tức là Ngân hàng thu vốn bằng cách pháthàng: tiền gửi có thể phát séc, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn Sau đódùng các vốn này cho vay thương mại, tiêu dùng, kinh doanh …

1.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại

1.2.1 Vai trò của hoa ̣t đô ̣ng cho vay của Ngân hàng Thương ma ̣i

- Cho vay đáp ứng linh hoa ̣t nguồn vốn giúp sản xuất kinh doanh được liên tu ̣c,góp phần đầu tư phát triển nền kinh tế Vốn sản xuất kinh doanh của các chủ thểtrong nền kinh tế vận động liên tục và biểu hiện các hình thái khác nhau quamỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, tạo thành chu kỳ tuần hoàn và luân chuyểnvốn, điểm xuất phát và kết thúc của một vòng tuần hoàn là dưới dạng tiền tệ.Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi vốncủa các doanh nghiệp phải đồng thời tồn tại ở cả ba giai đoạn : dự trữ - sản xuất– lưu thông Cùng với sự khác biệt về thời gian giữa dòng tiền và doanh thu đãxảy ra hiện tượng thiếu thừa vốn tạm thời Do vậy doanh nghiệp cần vay vốn để

có thể duy trì hoạt động sản xuất liên tục

- Cho vay góp phần thúc đẩy tâ ̣p trung sản xuất.Trong nhiều ngành như ngànhcông nghiệp nhất là công nghiệp nặng và công nghiệp đòi hỏi công nghệ cao, để

có thể tiến hành sản xuất hàng loạt, kinh doanh có lãi, yêu cầu chủ đầu tư phải

có một số vốn lớn, điều này là rất khó khăn đối với các nước đang phát triểnkhông thể có được những người có đủ số vốn để tiến hành sản xuất, họ chỉ cóthể tiến hành sản xuất kinh doanh được nhờ vay vốn từ ngân hàng

- Cho vay là phương tiê ̣n tài trợ đầu tư cho những ngành kinh tế then chốt vànhững ngành kém phát triển Trong quá trình phát triển nền kinh tế rất dễ bị mấtcân đối gây ra sự phát triển không bền vững và ô nhiễm môi trường Do vậy đòihỏi phải có chính sách của chính phủ yêu cầu ngân hàng hỗ trợ các ngành kinh

Trang 8

tế then chốt và kém phát triển, Ngân hàng sẽ cho vay ưu đãi với các ngành nàytrong từng giai đoạn thích hợp để có một cơ cấu kinh tế phù hợp và có đượcnhững ngành then chốt làm mũi nhọn để tiếp tục phát triển.

- Cho vay góp phần tăng cường công tác ha ̣ch toán của các doanh nghiê ̣p Bất

kỳ một doanh nghiệp nào khi vay vốn đều tính toán và cân nhắc kỹ Họ thườngphải cấn đối lại nguồn vốn hiện có xem xét hiệu quả kinh doanh khả năng bảotoàn vốn Đồng thời họ phải cân nhắc về mục đích vay vốn, thời hạn qui mô,nguồn trả nợ và hiệu quả kinh tế của khoản vay Khi nộp hồ sơ vay vốn họ phảinộp báo cáo tài chính cùng một số giấy tờ khác mà ngân hàng yêu cầu và chịutrách nhiệm về bộ hồ sơ này Chính những hoạt động trên khiến công tác hạchtoán của các doanh nghiệp này được nâng cao

- Cho vay có ý nghĩa quyết đi ̣nh thời cơ kinh doanh của các doanh nghiê ̣p Ýnghĩa quan trọng nhất của cho vay là bổ sung vốn kịp thời khi doanh nghiệpthiếu vốn, trong quá trình hoạt động kinh doanh không phải lúc nào doanhnghiệp cũng duy trì một số vốn đủ nhiều mà họ chỉ duy trì để đáp ứng nhu cầuthanh khoản, chính vì vậy khi có cơ hội kinh doanh mới các doanh nghiệpthường thiếu vốn cho hoạt động kinh doanh mới này Để không bị mất cơ hộitìm kiếm lợi nhuận, vay vốn ngân hàng là một giải pháp hữu hiệu kịp thời giúpcác doanh nghiệp chủ động nắm bắt cơ hội tiến hành sản xuất kinh doanh

- Cho vay là hoa ̣t đô ̣ng chủ yếu đảm bảo kết quả kinh doanh và hiê ̣u quả kinh tếcho các Ngân hàng Thương ma ̣i Ngân hàng Thương mại là một doanh nghiệpkinh doanh tiền tệ Hoạt động cơ bản nhất của Ngân hàng Thương mại là huyđộng vốn và dùng vốn huy động được để cho vay Dư nợ cho vay luôn chiếmmột tỷ trọng cao nhất trong tất cả các tài sản có của Ngân hàng Thương mại.Hay nói cách khác cho vay là hoạt động chính được thực hiện nhiều nhất manglại lợi nhuận cao nhất và cũng hàm chứa rủi ro cao nhất đối với các Ngân hàngThương mại Khi mới ra đời thì hoạt động cho vay gần như là hoạt động duynhất đưa lại lợi nhuận cho Ngân hàng Thương mại các hoạt động khác chỉ đónggóp một phần không đáng kể, nhưng ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội

Trang 9

thì hoạt động cho vay đang bị thu hẹp dần nhường chỗ cho các hoạt động khác

an toàn hơn của Ngân hàng Thương mại như : tư vấn, dịch vụ bảo lãnh, giữ kétsắt, bao thanh toán, hoạt động mua bán chứng khoán …

1.2.2 Các hình thức cho vay của Ngân hàng Thương mại

1.2.2.1 Khái niê ̣m cho vay

Cho vay là một mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, thông qua hoạt độngcho vay ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình thứcphân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được từ trong xã hội (quỹ chovay) để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống

Với bản chất là một giao dịch về tiền hoặc tài sản trên cơ sở có hoàn trả cóthể định nghĩa : “Cho vay là mô ̣t quan hê ̣ giao di ̣ch giữa hai chủ thể ( NHTM vàngười vay) trong đó mô ̣t bên (NHTM) chuyển giao tiền hoă ̣c tài sản cho bên kia( người vay) sử du ̣ng trong mô ̣t thời gian nhất đi ̣nh, đồng thời bên nhâ ̣n tiềnhoă ̣c tài sản cam kết hoàn trả vốn ( gốc và lãi) cho bên cho vay vô điều kiê ̣ntheo thời ha ̣n đã thỏa thuâ ̣n”

1.2.2.2 Các hình thức cho vay của Ngân hàng Thương ma ̣i

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại rất

đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác nhau ( có nhiều loại tín dụngkhác nhau ) Việc áp dụng từng loại cho vay tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế củađối tượng sử dụng vốn tín dụng nhằm sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả

và phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế khác nhau của đối tượngtín dụng Để quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn tín dụng, cần thiết phải phânloại cho vay Có nhiều tiêu thức phân loa ̣i cho vay, như thời hạn vay, đối tượngcho vay, mục đích sử dụng vốn, xuất xứ tín dụng, hình thức bảo đảm tiền vay,phương pháp hoàn trả…

Nếu phân loa ̣i theo thời ha ̣n cho vay có hai loại hình như sau :

Trang 10

a) Cho vay ngắn ha ̣n : cho vay ngắn hạn là các khoản cho vay có thời hạn đến

12 tháng Ngân hàng cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng các nhu cầu về vốn chosản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phục vụ đời sống của khách hàng Căn cứ vàomục đích sử dụng tiền vay, cho vay ngắn hạn bao gồm:

- Cho vay kinh doanh: Việc cho vay của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốnkinh doanh ngắn hạn cho các doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh, chủ yếu là

bổ sung vốn lưu động thiếu hụt của khách hàng Theo lĩnh vực kinh doanh củakhách hàng, cho vay kinh doanh ngắn hạn bao gồm:

+ Cho vay công nghiệp thương và thương mại : giúp trả phí, lương, thuế … + Cho vay nông nghiệp : hỗ trợ hoạt động gieo trồng, thu hoạch, bảo quản … + Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng : tạm ứng vốn thi công …

+ Cho vay các tổ chức tín dụng và cho vay khác

- Cho vay tiêu dùng : nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các gia đình, cánhân như chi tiêu thường xuyên, chi sửa chữa nhà cửa, chi mua sắm tài sản Nếu căn cứ vào loại tiền cho vay cho vay ngắn hạn bao gồm cho vay nội tệ vàcho vay ngoại tệ, căn cứ vào đảm bảo tiền vay gồm cho vay có đảm bảo vàkhông có đảm bảo, căn cứ vào tính chất của việc cấp vốn gồm cho vay bổ sungvốn và cho vay trên tài sản …

b) Cho vay trung và dài ha ̣n : cho vay trung và dài hạn là các khoản cho vay cóthời hạn trên 1 năm Ở Việt Nam hiện nay, các khoản cho vay trên 1 năm đến 5năm được gọi là cho vay trung hạn, trên 5 năm được gọi là cho vay dài hạn Chovay trung và dài hạn bao gồm :

- Cho vay theo dự án đầu tư : khi khách hàng có kế hoạch mua sắm, xây dựngtài sản cố định… nhằm thực hiện dự án nhất định, có thể xin vay ngân hàng.Một trong những yêu cầu của ngân hàng là người vay phải xây dựng dự án, thểhiện mục đích, kế hoạch đầu tư cũng như quá trình thực hiện dự án Ngân hàng

sẽ kiểm tra đánh giá dự án một cách khách quan, khoa học và toàn diện trên cácnội dung của dự án Sau khi đánh giá chính xác về tính khả thi, hiệu quả và khảnăng hoàn trả nợ của dự án đầu tư Ngân hàng xác định số tiền cho vay, thời hạn

Trang 11

vay, tài sản đảm bảo sao cho tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng hoạt động

+ Hợp đồng cho thuê tài chính hoàn trả toàn bộ

+ Hợp đồng cho thuê tài chính hoàn trả từng phần

- Cho vay tiêu dùng : nhằm giúp người tiêu dùng có nguồn tài chính để trangtrải nhu cầu về nhà ở, đồ dùng gia đình có giá trị cao, và phương tiện đi lại…Ngân hàng Thương mại thực hiện cho vay tiêu dùng Căn cứ vào cách thứchoàn trả cho vay tiêu dùng có thể được chia làm ba loại sau:

+ Cho vay tiêu dùng trả một lần

+ Cho vay tiêu dùng trả góp

+ Cho vay tiêu dùng tuần hoàn

- Cho vay hơ ̣p vốn : là hình thức cho vay trong đó có từ hai hay nhiều tổ chứctín dụng tham gia vào một dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanhcủa một khách hàng vay vốn Bên cho vay hợp vốn là hai hay nhiều tổ chức tíndụng cam kết với nhau để thực hiện đồng tài trợ cho một dự án Bên nhận tài trợ

là pháp nhân hay thể nhân có nhu cầu và được bên đồng tài trợ cấp tín dụng đểthực hiện dự án

1.2.3 Khái niê ̣m hiê ̣u quả cho vay của Ngân hàng Thương ma ̣i

Trước hết chúng ta có khái niệm hiệu quả như sau : hiệu quả là mối quan hệgiữa các yếu tố nhập lượng biến và sản lượng hàng hóa và dịch vụ Mối quan hệ

Ngày đăng: 09/10/2013, 07:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w