Thứ nhất: Về mặt kết cấu nền kinh tế thị trường gồm các bộ phận cơ bản sau đây: - Bộ phận thứ nhất bao gồm các doanh nghiệp, công ty, những đơn vị kinh tế độc lập có tư cách pháp nhân, c
Trang 1CỔ PHẦN HOÁ DNNN BƯỚC ĐI TẤT YẾU TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG
I: Nền kinh tế thị trường và xu thế vận động của các DNNN trong nền kinh tế thị tường.
1 Nền kinh tế thị trường, đặc điểm và cơ chế vận động của nó.
Kinh tế thị trường là hình thức kinh tế ở trình độ và giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá Với tư cách là một hệ thống kinh tế, kinh tế thị trường có những đặc điểm trong kết cấu và các liên hệ kinh tế của nó.
Thứ nhất: Về mặt kết cấu nền kinh tế thị trường gồm các bộ phận cơ bản sau đây:
- Bộ phận thứ nhất bao gồm các doanh nghiệp, công ty, những đơn vị kinh tế độc lập có tư cách pháp nhân, có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, bình đẳng với nhau về mặt pháp lý, nhưng lệ thuộc với nhau trong hệ thống phân công lao động xã hội, tức là có
sự tồn tại của các tổ chức, các đơn vị kinh tế với tư cách là các chủ thể của nền kinh tế hàng hoá, các quan hệ hàng hoá tiền tệ.
Trong nền kinh tế thị trường không chỉ có hình thức kinh tế
tư nhân thuần tuý , mà đồng thời còn có nhiều hình thức kinh tế khác: kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước…Nhưng dù thuộc thành phần kinh tế nào thì các đơn vị, các tổ chức kinh tế cũng đều độc lập với nhau, có quyền tự chủ trong SXKD và giữa các đơn vị , các
tổ chức kinh tế này có mối liên hệ trao đổi với nhau để thoả mãn
Trang 2nhu cầu của mình Đây là điều kiện để có nền kinh tế hàng hoá, nền kinh tế thị trường.
- Bộ phận thứ hai cấu thành nền kinh tế thị trường chính là
hệ thống thị trường, các quan hệ thị trường, môi trường kinh tế cho sự tồn tại và vận động của các chủ thể SXKD Trong nền kinh tế thị trường có cả một hệ thống thị trường gồm: Thị trường hàng hoá tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất, thị trường sức lao động, thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán…Đó là hệ thống thị trường thống nhất, không bị chia cắt theo địa giới hành chính, hơn nữa về một số mặt, một số lĩnh vực nó còn mở rộng gắn liền với thị trường thế giới.
- Bộ phận nữa của nền kinh tế thị trường là kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của đất nước Đây là bộ phận vừa là điều kiện vừa là biểu hiện của sự phát triển của nền kinh tế thị trường Đó chính là
hệ thống giao thông vận tải, mạng lưới thương mại, du lịch, mạng thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng, các công ty tài chính, bảo hiểm và các tổ chức tư vấn…
- Bộ phận cuối cùng cấu thành nền kinh tế thị trường là những vấn đề hết sức quan trọng và không thể thiếu được đó chính
là hệ thống thể chế pháp luật tạo nên môi trường pháp lý hướng dẫn và điều chỉnh các hành vi của các chủ thể kinh tế, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể kinh tế như: quyền tự do kinh doanh
Trang 3theo pháp luật, quyền chuyển nhượng tài sản, quyền sở hữu tài sản…
Thứ hai: Ngoài những đặc trưng riêng về mặt kết cấu, nền kinh tế thị trường còn có những đặc trưng về hình thức của các quan hệ kinh tế, đó là tính phổ biến, tính bao trùm của các quan hệ hàng hoá tiền tệ.
Cùng việc biến tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, sức lao động, tiền tệ và các dịch vụ thành hàng hoá, thì hầu như mọi quan
hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường đều mang hình thức quan
hệ tiền tệ Trong nền kinh tế thị trường tồn tại một hệ thống các quan hệ và quy luật kinh tế chi phối hoạt động của các chủ thể cũng như của toàn bộ nền kinh tế, trong đó nổi bật là các quan hệ
và quy luật: cung cầu, cạnh tranh, quy luật giá trị và giá trị thặng
dư, quy luật tích tụ tư bản…Các quan hệ và quy luật này là những yếu tố trực tiếp điều tiết hành vi của chủ thể kinh tế Các doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu và điều kiện của thị trường để xây dựng và lựa chọn phương án kinh doanh, họ lấy việc giành thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường, tối đa hoá lợi nhuận làm mục tiêu của việc sản xuất kinh doanh.
Thị trường điều tiết hoạt động của mọi chủ thể kinh tế và do
đó cũng là yếu tố trực tiếp điều tiết hoạt động của toàn bộ nền kinh
tế Đó chính là cơ chế vận động của nền kinh tế thị trường, hay cơ
Trang 4chế thị trường Cơ chế thị trường là cơ chế điều tiết tự phát, điều tiết bằng “Bàn tay vô hình".
Ưu thế của điều tiết thị trường bằng bàn tay vô hình là nó phát huy tối đa mọi nguồn lực của xã hội, nó kích thích sự sáng tạo của mọi chủ thể kinh tế, nhạy bén linh hoạt trong việc đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú và luôn biến đổi của thị trường.
Cơ chế thị trường với sự điều tiết của bàn tay vô hình là cơ chế chọn lọc tự nhiên, đào thải những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả tạo ra sức mạnh cho cả hệ thống doanh nghiệp phát triển.
Cơ chế thị trường là một cơ chế kích thích và điều tiết có hiệu quả, nhưng cơ chế thị trường không phải là vạn năng, hoàn hảo, không có khuyết tật Trong khi kích thích tới mức cao độ tính năng động, sáng tạo vì mục tiêu lợi nhuận, cơ chế thị trường cũng kích thích đầu cơ, làm cho quan hệ cung cầu, giá cả thị trường không phải bao giờ cũng phản ánh đúng nhu cầu của xã hội Trong khi kích thích sản xuất ở những khâu, những bộ phận riêng biệt nó đã phá vỡ sự cân đối chung, những điều kiện sản xuất bình thường của nền kinh tế, gây nên những hậu quả cho nền kinh tế như khủng hoảng, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng xã hội, làm suy thoái đạo đức con người… và nhiều hậu quả khác về kinh tế xã hội.
Khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, có hiệu quả, bảo vệ người lao
Trang 5động, bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế những phân cực của xã hội… chính là những yêu cầu, là cơ sở khách quan của chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước.
Nghiên cứu đặc điểm về kết cấu, quan hệ kinh tế và cơ chế vận động của nền kinh tế thị trường, Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật và hệ thống chính sách vĩ mô ưu tiên, lựa chọn những mô hình kinh tế, những loại hình doanh nghiệp phát triển phù hợp với kinh tế thị trường, phát huy tối đa những ưu thế của chúng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách vững chắc đồng thời có các biện pháp ngăn ngừa, khắc phục những khuyết tật, những hậu quả
mà kinh tế thị trường mang lại.
2 Xu hướng vận động của DNNN trong nền kinh tế thị trường.
2.1: Khái niệm, vai trò và đặc điểm của DNNN.
- Doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước.
- Doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân.
- Doanh nghiệp thuộc sở hữu tập thể.
Trong nền kinh tế thị trường dưới sự tác động của các quy luật và các quan hệ thị trường, để có thể tồn tại và phát triển được
Trang 6thì các doanh nghiệp dù ở loại hình nào cũng phải phát huy tối đa tính năng động sáng tạo của mình để đáp ứng và thoả mãn một cách nhanh nhậy và đầy đủ nhất các nhu cầu hết sức phong phú, đa dạng và luôn thay đổi của thị trường.
DNNN với tư cách là một tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động SXKD theo những mục tiêu kinh tế xã hội của Nhà nước đề ra Sự ra đời và tồn tại của các DNNN ở mỗi nước trên thế giới đều do những nguyên nhân kinh tế,
xã hội khách quan chi phối, do vậy vai trò của DNNN đối với các nước cũng khác nhau Tuy vậy chúng đều trở thành một bộ phận quan trọng trong cơ cấu của nền kinh tế mỗi nước, thể hiện:
- Thứ nhất: DNNN là thực lực kinh tế quan trọng, là công cụ hữu hiệu trong tay Nhà nước để Nhà nước thực hiện chức năng điều chỉnh cho nền kinh tế Như ta đã biết nền kinh tế thị trường do
sự tác động của bàn tay vô hình nó đã mang lại cho nền kinh tế nhiều khuyết tật, các doanh nghiệp cạnh tranh không bình đẳng, lợi ích của các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng phù hợp với lợi ích của xã hội Do vậy nếu không được điều chỉnh sẽ dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp sẽ tự phát vận động và phát triển theo từng xu hướng riêng, vì lợi ích cá nhân, điều này sẽ làm cho nền kinh tế phát triển theo hướng mất cân đối dễ dẫn đến suy thoái và khủng hoảng kinh tế.
Trang 7Để điều chỉnh nền kinh tế, Nhà nước dùng hệ thống các chính sách pháp luật tạo hành lang và tạo ra sự kích thích, điều tiết quan trọng nhằm vừa phát huy thế mạnh vốn có, vừa đảm bảo hành lang pháp lý cần thiết hướng vào mục tiêu chung Đó là hướng quan trọng nhất, song chỉ riêng điều đó chưa đủ, Nhà nước cần phải có một thực lực kinh tế, một sức mạnh nằm ngay trong đời sống kinh
tế xã hội, thông qua điều hành trực tiếp các DNNN mà tác động gián tiếp vào các doanh nghiệp khác phát triển theo quỹ đạo của mình từ đó góp phần làm cho nền kinh tế ổn định và tăng trưởng.
Thứ hai: DNNN là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý xã hội của mình, thể hiện:
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn hướng tới mục tiêu là kinh doanh mang lại lợi nhuận tối đa, do vậy họ thường đầu tư vào những ngành, những lĩnh vực mà có thể đạt được mục tiêu của họ Còn các ngành, các lĩnh vực khó khăn mang lại lợi nhuận ít hoặc không có lợi nhuận thì họ không đầu tư, song chính các ngành, lĩnh vực này nếu được đầu tư thì nó rất có ý nghĩa hoặc có hiệu quả lớn về mặt xã hội và không thể thiếu được khi xã hội ngày càng phát triển Do vậy, để thực hiện chức năng xã hội của mình Nhà nước buộc phải đầu tư vào các lĩnh vực trên, đó là các DNNN công ích, sản xuất và cung ứng các dịch vụ công cộng hoặc phục vụ quốc phòng an ninh.
Trang 8Thứ ba: Thông qua các DNNN mà Nhà nước tác động trực tiếp đến sự phân bố các nguồn lực Do kinh tế thị trường chạy theo lợi nhuận và tự do cạnh tranh, mặt khác các nguồn lực kinh tế của đất nước phân bố không đều, vì vậy không phát huy được tổng thể các nguồn lực kinh tế Nhà nước thông qua các DNNN mà điều chỉnh và tác động trực tiếp đến việc phân bố này trong xã hội, đảm bảo phát huy tối đa các nguồn lực của đất nước.
Ở Việt Nam, ngoài những vai trò trên, DNNN giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, DNNN là nhân tố cơ bản mang đầy đủ bản chất của nền kinh tế quá độ lên Chủ nghĩa xã hội DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, nó làm nền móng, làm nòng cốt cho
sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Trong nền kinh tế thị trường DNNN có những nét đặc trưng khác hẳn với các DNNN trong nền kinh tế tập trung bao cấp, đó là:
- DNNN là một tổ chức kinh tế có đầy đủ tư cách pháp nhân,
có quyền tự chủ kinh doanh, tự chủ về tài chính Nhà nước không can thiệp trực tiếp và tuyệt đối bằng hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nước, mà Nhà nước quản lý các doanh nghiệp thông qua hệ thống chính sách và pháp luật Các DNNN chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước giao, đảm bảo các chỉ tiêu về thu nộp ngân sách Nhà nước, Nhà nước xoá bỏ bao cấp đối với DNNN.
Trang 9- Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, do đó các DNNN chịu sự chi phối hoàn toàn bởi các quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường DNNN được quyền tự huy động vốn và đầu
tư vốn, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau và có thể bị phá sản theo luật phá sản nếu kinh doanh thua lỗ kéo dài.
2.2: Xu hướng vận động của DNNN.
Như trên chúng ta đã nghiên cứu, DNNN có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước, tuy vậy thực tế cho thấy các DNNN làm ăn ngày càng kém hiệu quả, ngay cả trong điều kiện được Nhà Nước ưu đãi song các DNNN vẫn làm ăn kém hiệu quả hơn doanh nghiệp tư nhân Điều này cho thấy nếu các nước vẫn duy trì nhiều DNNN thì sẽ dẫn đến tình trạng nền kinh tế kém hiệu quả, ngân sách Nhà Nước phải trợ cấp cho DNNN lớn và có thể dẫn đến khủng hoảng kinh tế Nhà Nước.
Có thể đưa ra các nguyên nhân dẫn đến sự hoạt động không hiệu quả của các DNNN, xét trên quan hệ quản lý đối với chúng:
Thứ nhất: DNNN luôn được sự bảo vệ, trợ cấp của Nhà Nước, không phải chịu sức ép kinh tế cao vì vậy DNNN không tìm biện pháp để nâng cao hiệu quả, không có sự gắn bó, rằng buộc lợi ích vật chất của cán bộ quản lý và công nhân với hiệu quả hoạt động của DNNN.
Trang 10Thứ hai: Các DNNN thường hoạt động trong sự kiểm soát quá chặt chẽ và sự áp đặt cứng nhắc về nhiều mặt của Nhà Nước Điều
đó làm giảm đi tính chủ động, năng động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Một số DNNN khác hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính chất và vị trí độc quyền không có môi trường cạnh tranh làm mất động lực quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ ba: Các cán bộ quản lý của DNNN do sự bổ nhiệm, sắp xếp của cấp trên nên thường thiếu những người cán bộ quản lý điều hành sản xuất kinh doanh có trình độ và năng lực thực sự.
Thứ tư: Các DNNN thường phải đảm nhiệm nhiều trách nhiệm
Ở Việt Nam việc giải bài toán DNNN đang ngày càng bộc lộ những yếu điểm của nó, thì Nhà nước đã chỉ đạo việc sắp xếp và chuyển đổi DNNN để tăng cường hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này Trong đó CPH là biện pháp khá phổ biến.
Trang 11Ở các nước khác nhau cách giải quyết vấn đề này là khác nhau Trên thế giới việc giải “bài toán” DNNN thực tế đã diễn ra theo 3 hướng sau đây:
Thứ nhất: Bán tài sản của các DNNN nhằm thu về cho ngân sách của chính phủ một khoản thu đáng kể Chẳng hạn ở Anh năm
1987 thu về 3,75 tỷ bảng Anh nhờ bán tài sản của các DNNN Ở Pháp, Italia cũng đã thu về hàng chục tỷ USD do bán các tài sản của các DNNN.
Thứ hai: Áp dụng những những biện pháp chủ yếu nhằm cải tiến quản lý các DNNN Đó là những biện pháp nhằm đặt giám đốc
DN vào các tình huống, điều kiện giống như giám đốc các Doanh nghiệp tư nhân, giao cho họ mục tiêu thương mại, thực hiện chế độ
tự chủ rộng rãi, gắn thu nhập với kết quả hoạt động tài chính doanh nghiệp , tách các mục tiêu xã hội khỏi các mục tiêu thương mại, ít nhất là trên phương diện tài chính, tức là Nhà Nước bù đắp những thiệt hại do DN phải đảm nhiệm, những nhiệm vụ xã hội do yêu cầu của Chính Phủ.
Thứ ba: Giảm tỷ trọng các DNNN, Nhà Nước chỉ giữ những ngành, những lĩnh vực thiết yếu để thực hiện có hiệu quả các chức năng của mình Các DNNN còn lại thì được tư nhân hoá hay cổ phần hoá.
II: Sự cần thiết phải cổ phần hoá DNNN.
1 Công ty cổ phần và những ưu điểm của nó.
Trang 121.1: Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần
Công ty cổ phần ra đời trên cơ sở nền sản xuất xã hội hoá cao, đặc biệt là xã hội hoá về vốn Do đó việc nghiên cứu lịch sử hình thành công ty cổ phần là rất cần thiết cho sự hình thành và phát triển hình thái công ty cổ phần Lịch sử hình thành công ty cổ phần trên thế giới chia thành 3 hình thái, bắt đầu từ hình thái sơ khai cho đến hình thái chung vốn đến hình thái công ty cổ phần.
+ Hình thái kinh doanh một chủ:
Dùng để chỉ các loại doanh nghiệp, trong đó sở hữu của người chủ tư nhân được duy trì và phát triển bằng lao động của bản thân hoặc thuê mướn với vốn liếng sẵn có Hình thức này gồm 2 loại: kinh doanh theo phương thức sản xuất TBCN và kinh doanh theo phương thức hàng hoá nhỏ Giữa chúng tuy có sự khác nhau về đặc điểm, về mục đích kinh doanh, nhưng lại là sự kế tiếp khách quan, tất yếu của cùng một quá trình phát triển dựa trên sở hữu tư nhân Hình thái kinh doanh một chủ ngày càng phát triển theo những quy luật kinh tế tồn tại của nền sản xuất TBCN thì quy mô tích tụ và tập trung tư bản ngày càng lớn hơn Với mục đích kinh doanh là ngày càng thu được lợi nhuận cao và sự chi phối bởi hai cực cạnh tranh
và độc quyền, quá trình trên đã làm cho tư bản nhỏ lần lượt bị tư bản lớn đánh bại.
+ Hình thức kinh doanh chung vốn:
Trang 13Sự ra đời của hình thức này đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế hàng hoá, thị trường thế giới ngày càng mở rộng, quy mô buôn bán sản xuất đòi hỏi tập trung tư bản ngày càng cao, các nhà
tư bản cá biệt không tự mình đáp ứng được nữa Khi xuất hiện hình thái này dần dần chiếm lĩnh các ngành trọng yếu, quy mô lớn Đây
là bước tiến hoá trong chế độ tín dụng từ phương thức kinh doanh chủ yếu dựa vào vay mượn sang phương thức kinh doanh chủ yếu dựa vào góp vốn Vì vậy, xét về mặt sở hữu, hình thái kinh doanh chung vốn là tiền đề cho sự ra đời công ty cổ phần với tư cách là sự chung vốn của nhiều người cùng tham gia quản lý, kinh doanh, cùng chia sẻ lợi nhuận và rủi ro theo phần vốn góp.
+ Hình thái công ty cổ phần :
Chính sự ra đời và phát triển của chế độ tín dụng đã góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tập trung tư bản bằng việc thúc đẩy nhanh quá trình tuần hoàn và di chuyển các loại vốn, tăng nhanh quy mô sản xuất kinh doanh và thúc đẩy nhanh quá trình sản xuất hoá sở hữu trong nền kinh tế thị trường TBCN Nhờ đó tạo cơ sở cho việc hình thành thị trường vốn đầu tư và thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng đã góp phần tạo tiền đề cho sự ra đời CTCP Sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán đã giúp cho các công ty mở rộng và xâm nhập mạnh mẽ vào tất cả các
Trang 14lĩnh vực của nền kinh tế thị trường TBCN Sự ra đời và phát triển của CTCP đã đánh dấu sự chuyển hướng nền kinh tế từ trạng thái vay mượn chủ yếu qua ngân hàng hoặc chung vốn sang huy động vốn trên thị trường tài chính, công ty cổ phần và thị trường tài chính có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động vào nhau cùng phát triển, trải qua thời gian, hình thái công ty cổ phần ngày càng được hoàn thiện, phát triển và đa dạng hoá.
Sơ đồ 1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần
1.2:Vị trí, tác dụng của công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức phổ biến trong nền kinh tế thị trường, có vai trò lớn trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần hoàn thiện cơ chế thị trường Công ty cổ phần có nhiều tác dụng:
- Thứ nhất: Nó làm rõ được quan hệ giữa Nhà nước và Doanh
nghiệp, làm rõ quan hệ giữa quyền sở hữu tài sản và quyền quản lý Doanh nghiệp tạo điều kiện cho Doanh nghiệp tự chủ sản xuất kinh doanh và tự chủ huy động vốn.
Hình thái KD một chủ
Hình thái KD chung vốn
Hình thái công ty cổ phần
Trang 15- Thứ hai: Chế độ cổ phần tạo điều kiện cải tạo hoạt động của
Doanh nghiệp.
- Thứ Ba: Tạo điều kiện ổn định thúc đẩy đơn vị phát triển lâu dài,
tạo điều kiện để cán bộ công nhân viên gắn bó với doanh nghiệp, phát huy khả năng đóng góp xây dựng Doanh nghiệp.
- Thứ tư: Chế độ cổ phần tạo điều kiện hình thành thị trường chứng
khoán, cho phép giải quyết vấn đề khan hiếm và hiệu quả sử dụng vốn.
- Thứ năm: Chế độ cổ phần cho phép giải quyết tốt mối quan hệ giữa
các lợi ích kinh tế (Nhà Nước, Công ty và các cá nhân) thực hiện tốt nguyên tắc các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật.
ro tương ứng với phần vốn góp của mình.
- Cổ phần là số vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau.
- Cổ phần chi phối của Nhà Nước : Là các loại cổ phần đáp ứng một trong 2 điều kiện sau: