1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

24 294 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt Động Tín Dụng Và Mở Rộng Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 40,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét trong hoạt động của các NHTM, ngân hàng và khách hàng khichuyển giao một khoản vay đều có một hợp đồng tín dụng được ký kết.. Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: hoạt động tín dụng

Trang 1

HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM)

1.1 Hoạt động tín dụng của NHTM.

1.1.1 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của tín dụng Ngân Hàng.

1.1.1.1 Khái niệm tín dụng và hoạt động tín dụng trong Ngân Hàng.

Có nhiều cách hiểu về thuật ngữ “tín dụng” bởi nền sản xuất hàng hoángày càng phát triển cao hơn trước và môi trường kinh tế tồn tại nhiều mối quan

hệ tài chính từ đó cũng có nhiều khái niệm về tín dụng Tuy vậy, theo một cáchchung nhất ta có thể hiểu: “Tín dụng là một quan hệ kinh tế trong đó có sựchuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (hình thái tiền tệ hay hiện vật) từngười sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian thu hồi về một lượng giátrị lớn hơn lượng giá trị ban đầu với những điều kiện mà hai bên thoả thuận vớinhau”

Như vậy để xuất hiện quan hệ tín dụng thì phải có sự tham gia của haichủ thể, một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia được sử dụng trongthời gian nhất định, đồng thời nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả theo thờigian đã thoả thuận

Trong Ngân Hàng thì hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụngnguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng (theo Luật các tổ chức tíndụng nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam) Như vậy ngân hàng là chủthể có tiền hoặc tài sản để chuyển giao

Cũng theo Luật các tổ chức tín dụng thì: Cấp tín dụng là việc tổ chức tíndụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàntrả bằng các nghiệp vụ cho vay, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và cácnghiệp vụ khác

1.1.1.2 Đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân hàng.

Trang 2

Có 3 đặc trưng cơ bản để ta có thể nhận diện ra quan hệ tín dụng đó làyếu tố lòng tin, tính thời hạn và tính hoàn trả.

1.1.1.2.1.Yếu tố lòng tin

Lòng tin là một yếu tố trừ tượng, nhưng là một yếu tố vô cùng quan trọng

để tạo nên quan hệ tín dụng, nó là điều kiện cần thiết bao trùm quan hệ tín dụng

và nếu không có niềm tin thì quan hệ tín dụng không thể được hình thành

Bản chất của tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng mà khôngchuyển giao quyền sở hữu từ người sở hữu sang người sử dụng bởi vậy yếu tốlòng tin là không thể thiếu Người có tài sản giao quyền sử dụng cho người khácphải cảm thấy tin tưởng, tin vào ý muốn hoàn trả và khả năng hoàn trả củangười sử dụng Ngược lại, người có nhu cầu sử dụng tài sản cũng phải có niềmtin vào khả năng đáp ứng yêu cầu của người sở hữu Tuy nhiên lòng tin củangười có tài sản là quan trọng hơn bởi lẽ trong quan hệ tín dụng rủi ro và phầnthiệt hại rủi ro hoàn toàn là do người có tài sản gánh chịu

Bản thân từ tín dụng xuất phát từ tiếng la-tinh “credittum” có nghĩa là “sựgiao phó” hay “sự tín nhiệm” Nghiên cứu khái niệm tín dụng cũng cho ta thấytín dụng là sự thoả thuận có hứa hẹn thời gian hoàn trả Sự hứa hẹn biểu hiện

“mức tín nhiệm” hay “lòng tin” của người cho vay vào người đi vay

1.1.1.2.2.Tính thời hạn và tính hoàn trả

Hàng hoá dù là tiền hay hiện vật khi được đem ra trao đổi đều có giá trị

và giá trị sử dụng vì vậy mới có quyền sở hữu và quyền sử dụng Trong quan hệmua bán thông thường, sau khi quan hệ mua bán hoàn thành người mua có cảquyền sở hữu và quyền sử dụng của hàng hoá Trong quan hệ tín dụng lại khác,người có hàng hoá chỉ bán giá trị (quyền) sử dụng mà không bán đi giá trịquyền sở hữu của mình Bởi vậy mà sau một thời gian khai thác giá trị sử dụng(tính thời hạn) người sử dụng phải hoàn trả toàn bộ giá trị hàng hóa và rất ít khikhông kèm theokhoản lợi tức hợp lý kèm theo như cam kết đã giao ước vớingười sở hữu hàng hoá

Trang 3

Xét trong hoạt động của các NHTM, ngân hàng và khách hàng khichuyển giao một khoản vay đều có một hợp đồng tín dụng được ký kết Tínhthời hạn thể hiện qua thời gian chuyển giao bởi vậy mới có tín dụng ngắn hạn,tín dụng trung hạn, tín dụng dài hạn Tính hoàn trả được biểu hiện qua việckhách hàng phải hoàn trả cho ngân hàng khoản vay và một phần giá trị thể hiệngiá trị tăng thêm của khoản vay.

1.1.2 Phân loại tín dụng.

Hoạt động tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất cho Ngân Hàng song nócũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất trong các hoạt động của ngân hàng.Bởi vậy để dễ dàng và tiện lợi trong quản lý người ta phân chia tín dụng theonhiều tiêu chí khác nhau:

1.1.2.1.Phân loại theo thời gian.

Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng với ngân hàng vì thời gianliên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả nănghoàn trả của khách hàng Theo thời gian, tín dụng được phân thành:

* Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống tài trợ cho tài sản lưu động

* Tín dụng trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm (có ngân hàng quy địnhtrung hạn tới 7 năm) tài trợ cho các tài sản cố định như phương tiện vận tải, một

số cây trồng vật nuôi, trang thiết bị chóng hao mòn

*.Tín dụng dài hạn: Trên 5 năm (hoặc trên 7 năm) tài trợ cho công trìnhxây dựng như nhà, sân bay, cầu, đường, máy móc thiết bị có giá trị lớn, thường

có thời gian sử dụng lâu

Việc xác định thời hạn trên cũng chỉ có tính chất tương đối vì nhiềukhoản cho vay không xác định trước được chính xác thời hạn

1.1.2.2 Phân loại theo hình thức tài trợ.

Theo hình thức tài trợ tín dụng được chia thành cho vay, chiết khấuthương phiếu, cho thuê và bảo lãnh

* Cho vay là hình thức Ngân Hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kếtkhách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định Đây là

Trang 4

tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng được định lượng theo 2 chỉ tiêu:Doanh số cho vay trong kì và dư nợ cuối kỳ.

* Chiết khấu thương phiếu là hình thức Ngân Hàng ứng trước tiền chokhách hàng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của Ngân Hàng để

sở hữu một thương phiếu (hoặc một giấy nợ) chưa đến hạn

* Cho thuê là việc Ngân Hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàngthuê theo những thoả thuận nhất định Sau thời gian nhất định, khách hàng phảitrả cả gốc lẫn lãi cho Ngân Hàng

* Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộkhách hàng của mình Ngân Hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi Bảo lãnhđược ghi vào tài sản ngoại bảng Phần bảo lãnh Ngân Hàng phải thực hiện chitrả ghi vào tài sản nội bảng

1.1.2.3 Phân loại theo hình thức đảm bảo.

Theo tiêu chí này tín dụng được chia thành tín dụng có đảm bảo và tíndụng không có đảm bảo:

* Tín dụng có đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố: Về nguyên tắc, mọikhoản tín dụng Ngân Hàng đều có đảm bảo nhưng Ngân Hàng chỉ ghi vào hợpđồng tín dụng loại đảm bảo mà Ngân Hàng có thể bán đi để thu nợ nếu kháchhàng không trả nợ

Cam kết đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dụng tài sản

mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng hoặc khả năng trả nợ của người thứ ba đểtrả nợ cho Ngân Hàng

* Tín dụng không cần đảm bảo có thể được cấp cho các khách hàng có uytín làm ăn thường xuyên có lãi, tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nầnhoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay Các khoản vay theo chỉthị của Chính Phủ, tổ chức tài chính lớn…cũng không cần tài sản đảm bảo

1.1.2.4 Phân loại theo rủi ro.

Để phân loại theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ,các căn cứ để chia loại rủi ro Cách phân loại này giúp Ngân Hàng thường

Trang 5

xuyên đánh giá lại khoản mục tín dụng, dự trù quỹ cho các khản tín dụng rủi rocao, đánh giá chất lượng tín dụng.

* Tín dụng lành mạnh: Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao

*.Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnhnhư khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hànggặp thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính…

* Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Các khoản nợ đã quá hạn với thời gianngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn…

* Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tàisản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…

1.1.2.5 Phân loại khác.

Các cách phân loại khác như:

• Phân loại theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp…)

• Phân loại theo đối tượng tín dụng (Tài sản lưu động, tài sản cốđịnh)

• Phân loại theo mục đích (Sản xuất, tiêu dùng…)

Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hoá trongcấp tín dụng của ngân hàng Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở rộngphạm vi tài trợ song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế

1.1.3 Vai trò của tín dụng đối với sự phát triển của Ngân Hàng nói riêng

và nền kinh tế nói chung.

Đối với khách hàng: tín dụng thoả mãn được các yêu cầu hợp lý của

khách hàng về khối lượng tín dụng cung cấp, đa dạng hoá các hình thức và loạihình tín dụng cũng như các loại hình dịch vụ bảo lãnh

Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: hoạt động tín dụng đáp ứng được

các yêu cầu bức xúc về vốn cho nền kinh tế, là kênh dẫn vốn gián tiếp đóng vaitrò hết sức quan trọng trong việc chuyển dịch một khối lượng lớn các nguồn lựctài chính, trợ giúp ngân sách Nhà nước thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoáhiện đại hoá đất nước

Trang 6

Đối với NHTM: Tín dụng luôn được coi là mặt trận hàng đầu, là khâu

then chốt và chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ hoạt động kinh doanh của cácngân hàng

1.2 Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.2.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nền kinh tế

1.2.1.1 Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Trong nền kinh tế nhiều thành phần như ở nước ta hiện nay có rất nhiềucác loại hình doanh nghiệp song song tồn tại và phát triển, và để dễ dàng trongquản lý người ta chia các doanh nghiệp thành các nhóm khác nhau theo các tiêuchí khác nhau Theo khu vực kinh tế và hình thức sở hữu thì các doanh nghiệpđược chia thành 3 loại: Khu vực doanh nghiệp quốc doanh hay DNNN là cácdoanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà Nước, các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoàigọi là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, còn lại là các doanh nghiệp thuộc khuvực DNNQD Trước đây, trong nền kinh tế bao cấp, kinh tế ngoài quốc doanh ởnước ta chỉ là kinh tế tập thể với hình thức sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất Từsau năm 1986, khi nền kinh tế thị trường nước ta bắt đầu hình thành và pháttriển, khu vưc kinh tế ngoài quốc doanh mới thực sự hình thành, các DNNQDmới có tính chất tư hữu rõ rệt Sự tư hữu được thể hiện ở chỗ nền kinh tế xuấthiện rất nhiều các DNNQD thuộc sở hữu của một cá nhân hoặc của một nhómngười có vốn và tài sản đầu tư vào doanh nghiệp, có quyền quản lý và điều hànhmọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

DNNQD bao gồm các loại hình doanh nghiệp sau:

Công ty TNHH có hai thành viên trở lên: Là doanh nghiệp trong đó thành

viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi

số vốn đã cam kết Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viênkhông vượt quá 50

Công ty TNHH một thành viên: Là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một

cá nhân làm chủ sở hữu, chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các

Trang 7

nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điệu lệ của doanhnghiệp

Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu

công ty cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung Thành viên hợp danh phải là

cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ củacông ty Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tínnghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về cácnghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm trên phần vốngóp của mình vào công ty

Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự

chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanhnghiệp Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp, là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Hợp tác xã: Là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp

nhân (gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, gópsức lập ra để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã,cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh

Công ty cổ phần:Là doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia thành nhiều

phần bằng nhau gọi là cổ phần Người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông,số cổ đôngtối thiểu là và không giới hạn số lượng tối đa Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn góp vào doanh nghiệp

1.2.1.2 Đặc điểm và thực trạng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta hiện nay.

1.2.1.2.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh mang tính chất tư hữu

Hình thức sở hữu của các DNNQD là sở hữu tư nhân (một cá nhân cụthể) hoặc sở hữu hỗn hợp (đồng sở hữu của một nhóm người) Song chủ yếu làhình thức sở hữu hỗn hợp Biểu hiện của nó trong nền kinh tế chính là sự ra đời

Trang 8

của hàng loạt các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thànhviên, công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh,

và các hợp tác xã

1.2.1.2.2 Số lượng các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng tăng nhanh.

Năm 1986 khi nền kinh tế chuyển mình, các DNNQD chủ yếu tồn tại ởhình thức hợp tác xã và tốc độ tăng trưởng thấp Năm 1991, Nhà Nước ta cóchính sách mở cửa nền kinh tế, đây mới là mốc thời gian đánh dấu sự tăngtrưởng vượt bậc của các DNNQD cả về số luợng và chất lượng Năm 1991 cảnước mới có khoảng trên 400 DNNQD thì đến năm 1999 số lượng cácDNNQD đã là 30500 doanh nghiệp (tốc độ tăng bình quân của các DNNQD là30%/ năm) Năm 2000, sau khi các luật về đăng ký kinh doanh được ban hành

và sửa đổi như: Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Ðầu tư trực tiếp của nướcngoài, Luật Hợp tác xã và đặc biệt là Luật Doanh nghiệp đã đi vào cuộc sống,hoạt động trong khu vực doanh nghiệp có nhiều thay đổi, môi trường thôngthoáng hơn, sản xuất kinh doanh sôi động hơn, số lượng các DNNQD từ đó màtăng lên nhanh chóng Nếu như năm 2000 mới có 35.004 doanh nghiệp, đến

2005 đã lên đến 105.569 doanh nghiệp, như vậy trung bình mỗi năm tăng14.113 doanh nghiệp (tỷ lệ tăng vào khoảng 28% mỗi năm) Hiện nay nước ta

có khoảng 200.000 DNNQD với tổng số vốn lên đến hàng trăm nghìn tỷ đồng lànhững chứng minh thuyết phục cho khẳng định số lượng các DNNQD ngàycàng tăng nhanh

1.2.1.2.3 Quy mô sản xuất, vốn,lao động nhỏ.

Hiện nay, số lượng DNNQD chiếm 93,13% nhưng đây lại là nhữngdoanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ Qua điều tra cho thấy tính bình quânnăm 1991 trung bình mỗi DNNQD có 8 lao động đến năm 2000 cũng chỉ tănglên là 20 lao động,đến năm 2006 bình quân một DNNQD chỉ có là 32 lao độngvới số vốn đạt 7 tỷ đồng/1 doanh nghiệp Đây là con số rất thấp so với chỉ tiêuphân loại về doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 9

Theo tiêu chuẩn doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có dưới

300 lao động và vốn tối đa 10 tỷ đồng So với tiêu chí này thì có tới có tới96,81% doanh nghiệp trên cả nước thuộc nhóm nhỏ và vừa Thậm chí số doanhnghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm 41,8%, doanh nghiệp có 1 - 5 tỷ tiền vốnchiếm 37,03%, doanh nghiệp có 5 - 10 tỷ đồng tiền vốn chỉ chiếm 8,18% Nhưvậy, doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và phần lớn số đó làcác doanh nghiệp trong khu vực ngoài quốc doanh

1.2.1.2.4 Thiếu vốn và khả năng huy động còn hạn chế.

Vốn hoạt động của doanh nghiệp được lấy từ hai nguồn: Vốn chủ sở hữu

và vốn vay Với quy mô nhỏ, nguồn vốn chủ sở hữu chủ yếu tập trung vào muasắm trang thiết bị, đất đai, nhà xưởng …nói chung là hình thành tài sản cố định,tạo tiền đề cho doanh nghiệp đi vào hoạt động, từ đó khả năng thanh toán củadoanh nghiệp bị hạn chế, vốn tài trợ cho tài sản lưu động không còn nhiều Cácbiện pháp làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp như trích từ lợi nhuậnkinh doanh thì phải đợi sau một thời gian kinh doanh hiệu quả, thường là saukhi đi vào hoạt động một thời gian tương đối dài; hoặc doanh nghiệp phát hành

cổ phiếu, huy động vốn từ các cổ đông xong với quy mô nhỏ và uy tín khôngcao thì khả năng doanh nghiệp có thể huy động được vốn từ hình thức này là rấtthấp, không khả thi

Doanh nghiệp có thể tài trợ cho tài sản lưu động, tài trợ cho các dự án củamình bằng phương thức đi vay Doanh nghiệp có thể có nhiều chủ nợ xong có lẽ

ở bất kì doanh nghiệp nào chủ nợ lớn nhất vẫn là các NHTM Trên thực tế, hầuhết các DNNQD đều cho rằng, vay vốn ngân hàng rất khó khăn với nhiều thủtục như thế chấp, bảo lãnh…Trong khi đó, phần lớn DNNQD có vốn chủ sở hữurất thấp, ít có tài sản thế chấp, cầm cố, lại không có người bảo lãnh, khả nănglập dự án, phương án sản xuất kinh doanh còn thiếu sức thuyết phục, trình độquản lý hạn chế, báo cáo tài chính không đủ độ tin cậy…Thêm nữa, ngân hànglại quá “cầu toàn” trong việc xác định tài sản thế chấp và chặt chẽ các thủ tụcnhằm tránh rủi ro xảy ra Vì vậy vấn đề về vốn luôn là vấn đề khó khăn, vấn đề

Trang 10

thiếu vốn luôn tồn tại trong quá trình hoạt động của DNNQD, làm vấn đề thiếuvốn trở thành đặc trưng của các DNNQD.

1.2.1.2.5 Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp ngoài quốc doanh rất đa dạng.

DNNQD với số lượng đông đảo, là thành phần kinh tế năng động, ra đời

và phát triển đã tham gia hầu hết vào các lĩnh vực kinh doanh trong nền kinh tế:Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp, xây dựng, thương nghiệp, khách sạn,nhà hàng, vận tải, bưu chính, viễn thông, và các ngành dịch vụ khác…Song mộtđiều dễ nhận thấy là phần lớn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt độngtrong lĩnh vực thương mại dịch vụ, còn các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng,khai thác thì chiếm tỷ trọng rất nhỏ Điều này hoàn toàn phù hợp với đặc điểmquy mô nhỏ và thiếu vốn chỉ cho phép họ đầu tư vào những ngành nghề có khảnăng quay vòng vốn nhanh, cần ít vốn Các lĩnh vực như xây dựng, ngân hàng,khai thác… không những cần một lượng vốn lớn mà còn đòi hỏi trình độ quản

lý, kinh doanh, phân tích thị trường…chỉ dành cho những doanh nghiệp lớn, cótiềm lực mạnh về tài chính như khu vực doanh nghiệp nhà nước, khu vực cóvốn đầu tư nước ngoài và một phần nhỏ cho khu vực ngoài quốc doanh

1.2.1.2.6 Công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ quản lý kinh tế, tổ chức sản xuất kinh doanh có nhiều hạn chế, sản phẩm thiếu sức cạnh tranh.

Trong suốt quá trình hoạt động của mình có những doanh nghiệp chỉmua sắm trang thiết bị, công cụ lao động một lần mà chưa chắc đó đã là côngnghệ tiên tiến Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp xong với điều kiện kinh doanh nhỏ, vốn ít không cho phép họ

có khả năng thay đổi công nghệ, tiếp cận khoa học công nghệ mới

Trong khi môi trường kinh doanh ngày càng khốc liệt đòi hỏi trình độngười quản lý,phải có khả năng tổ chức kinh doanh nắm bắt nhu cầu, nhạy cảmvới sự thay đổi của thị trường ; đòi hỏi người lao động phải có tay nghề, có trìnhđộc chuyên môn thì các doanh nghiệp nhỏ lại rất hạn chế về điều này

Tất cả dẫn tới sản phẩm làm ra bị hạn chế về chất lượng, mẫu mã, chủngloại, không có chỗ đứng trên thị trường mà nói chung là thiếu sức cạnh tranh

Trang 11

Vấn đề về vốn trở thành bức xúc nhất trong hoạt động và ảnh hưởng trựctiếp tới sự phát triển của doanh nghiệp Bởi vậy các tổ chức kinh tế trong đó cócác NHTM càng cần thiết phải mở rộng cho vay các DNNQD, giúp đỡ cácDNNQD mở rộng và phát triển.

1.2.1.3 Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nền kinh tế thị trường.

Đóng vai trò là thành phần kinh tế năng động, ngày nay DNNQD làkhông thể thiếu trong nền kinh tế Sự phát triển của các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh không chỉ là vấn đề phát triển của nền kinh tế mà nó còn giải quyếthang loạt các vấn đề xã hội Trước hết đó là vấn đề việc làm cho người laođộng, mỗi năm các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển, mở rộng tuyểnthêm lao động, các doanh nghiệp mới ra đời đã thu hút hàng trăm nghìn laođộng từ các khu vực khác, nhiều nhất là người lao động trong khu vực nôngnghiệp Người lao động được cải thiện thu nhập, ổn định cuộc sống, nâng caotrình độ dân trí, góp phần làm ổn định kinh tế xã hội Thêm vào đó, Ngân SáchNhà Nước được bổ sung một khoản thu lớn từ thuế giá trị gia tăng và thuế thunhập của các doanh nghiệp(DNNQD đã đóng góp 40% GDP của cả nước), NhàNước có thêm khoản thu, thêm điều kiện để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, pháttriển các hoạt động xã hội công cộng (y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo )

Giải quyết các vấn đề xã hội đã là vai trò to lớn xong vai trò không thểthiếu của các DNNQD còn thể hiện ở trong nền kinh tế thị trường Với lợi thếnhỏ lẻ, số lượng đông đảo, các DNNQD đã khai thác triệt để mọi tiềm năng củađất nước, khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, thu hút vốn dân cư, khaithác tài nguyên thiên nhiên phân tán ở các địa phương, vai trò đặc biệt củaDNNQD thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, khu vực các DNNQD là một bộ phận cấu thành nên chỉnh thể

các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế, góp phần xây dựng và hoàn thiện

lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ

Trang 12

Thứ hai, DNNQD cùng với các doanh nghiệp thuộc khu vực khác tăng

trưởng và phát triển là yếu tố quyết định đến tăng trưởng cao và ổn định nềnkinh tế trong những năm qua Bởi các doanh nghiệp là thành phần chủ đạo trongnền kinh tế, các DNNQD thì chiếm tới 93,13% số lượng các doanh nghiệp trongnền kinh tế Lợi ích cao hơn mà tăng trưởng doanh nghiệp nói chung vàDNNQD đem lại là tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn, phong phúhơn, chất lượng tốt hơn, thay thế được nhiều mặt hàng phải nhập khẩu, gópphần quan trọng cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và tăng xuấtkhẩu, đó cũng là yếu tố giữ cho nền kinh tế ổn định và phát triển những nămqua

Thứ ba, DNNQD phát triển tác động đến chuyển dịch cơ cấu trong nền

kinh tế quốc dân và trong nội bộ ngành DNNQD phát triển đa dạng gồm nhiềuthành phần, điển hình là các loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần,công ty trách nhiệm hữu hạn tuy còn nhỏ nhưng phát triển nhanh và rộng khắp ởcác ngành và các địa phương trong cả nước, loại hình kinh tế tập thể đang đượckhôi phục và có bước phát triển mới DNNQD và các doanh nghiệp khác pháttriển nhanh trong tất cả các ngành và ở khắp các địa phương đã tạo ra cơ hộiphân công lại lao động giữa các khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản và sản xuấtkinh doanh nhỏ của hộ gia đình là khu vực lao động có năng suất thấp, thu nhậpkhông cao, chiếm số đông, thiếu việc làm sang khu vực doanh nghiệp, nhất làcác donh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ có năng suấtcao và thu nhập khá hơn

Thứ tư, DNNQD phát triển làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường, thúc

đẩy các doanh nghiệp khác làm ăn hiệu quả Thật vậy, khi các DNNQD pháttriển đã làm nền kinh tế xuất hiện nhiều sản phẩm cạnh tranh giành giật thịtrường, muốn tồn tại và phát triển bắt buộc các doanh nghiệp phải đổi mới, phảicải tiến sản phẩm, sản phẩm phải có tính ưu việt hơn mới không bị loại khỏinền kinh tế thị trường

Ngày đăng: 09/10/2013, 06:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w