ĐẶT VẤN ĐỀ Theo báo cáo của Liên hợp quốc, số người cao tuổi từ 60 trở lên đã tăng đáng kể trong những năm gần đây ở hầu hết các quốc gia, khu vực và đang tiếp tục tăng. Dự kiến đến năm 2030, sẽ là 1,4 tỷ người. Ở người cao tuổi, do sức đề kháng dần kém đi nên mọi cơ quan trong cơ thể đều có những bi ểu hiện của sự lão hóa, từ làn da, mái tóc cho đến khả năng chịu nóng, chịu lạnh với nhiệt độ môi trường. Mắt cũng là bộ phận bị ảnh hưởng của sự lão hóa dẫn đến những bệnh mắt ở người già. Có rất nhiều bệnh lý về mắt mà người cao tuổi có thể gặp phải, điều quan trọng là phải đi khám để được đi ều trị sớm và chăm sóc mắt đúng cách hàng ngày. Các bệnh về mắt ở người già có thể gây ảnh hưởng đến thị lực hoặc có thể dẫn đến mù lòa. Càng về già, việc chăm sóc, giữ gìn đôi mắt càng trở nên quan trọng vì các chức năng cơ bản hầu như đều bị suy yếu và lão hóa theo thời gian. Từ đó dẫn đến việc khó cải thiện hoặc phục h ồi khi tổn thương [2]. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, trong vòng 20 năm gần đây số người mù đã tăng từ 28 triệu người lên 47 triệu người. Ngoài ra còn có khoảng 110 triệu người có thị lực thấp trên khắp hành tinh. Người ta nhận định rằng, nếu như không có biện pháp phòng chống mù loà tích cực thì dự báo đến năm 2020 số người mù sẽ tăng gấp đôi [11]. Trên thực tế, ph ần đông những người mù đều sống ở các nước nghèo hoặc các nước đang phát triển và hơn 80% mù loà là do những nguyên nhân có thể phòng tránh hoặc điều trị được [115]. Quảng Ninh là tỉnh miền núi, trung du nằm ở vùng duyên hải, với hơn 80% đất đai là đồi núi, nằm ở vùng đông bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 153 km về phía Đông Bắc. Quảng Ninh có tổng số 14 thành phố, thị xã và huyệ n trực thuộc. Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh Quảng Ninh đạt gần 1.224.600 người, mật độ dân số đạt 198 người/km². Dân cư Quảng Ninh tập trung chủ yếu ở bốn thành phố và hai thị xã, phần 8 huyện còn lại dân cư tương đối thưa thớt, sống chủ yếu bằng nghề nông. Năm 2012, theo ước tính của Trung tâm phòng chống bệnh xã hội tỉnh Quảng Ninh hiện có 5.203 người mù lòa, trong đó có khoảng 3.356 người mù lòa do đục thể thuỷ tinh, ngoài ra tỷ lệ người mù tă ng thêm hàng năm trung bình khoảng 0,1% dân số. Với mức độ gia tăng dân số hàng năm khoảng 1,5%/năm thì dân số Quảng Ninh tới năm 2020 ước có khoảng 1.280.000 người và đến năm 2025 ước khoảng 1.350.000 người. Tương đương với số dân như trên cộng với số người mù mới phát sinh hàng năm, nếu không được can thiệp thì số tồn đọng và số gia tăng đến năm 2020 tỉnh Quảng Ninh có khoảng 15.000 ng ười mù [36]. Các nguyên nhân gây mù loà và thực trạng các bệnh mắt trong cộng đồng người dân tỉnh Quảng Ninh nói chung trong đó có 2 huyện Hoành Bồ và Tiên Yên nói riêng hiện tại ra sao, đâu là nguyên nhân chính gây mù lòa ở người cao tuổi tại đây là các câu hỏi chưa từng được nghiên cứu, vì vậy chúng tôi triển khai đề tài:“Thực trạng bệnh về mắt, công tác chăm sóc mắt ở người cao tuổi và hiệu quả một số giải pháp can thiệp tại hai huyệ n Hoành Bồ, Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh”. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Mô tả thực trạng bệnh về mắt và công tác chăm sóc mắt ở người cao tuổi tại huyện Hoành Bồ và Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh năm 2013. 2. Đánh giá hiệu quả một số giải pháp phòng chống bệnh về mắt ở người
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
Trang 2MỤC LỤC
Trang DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Bệnh về mắt và công tác chăm sóc mắt 3
1.1.1. Mù lòa, hậu quả của các bệnh về mắt 3
1.1.2. Một số bệnh về mắt gây mù chủ yếu ở người cao tuổi 7
1.1.3. Tình hình bệnh về mắt hiện nay trên thế giới và Việt Nam 13
1.2 Một số biện pháp phòng chống bệnh về mắt hiện nay ở cộng đồng 19
1.2.1. Tình hình phòng chống bệnh về mắt trên thế giới 19
1.2.2. Tình hình phòng chống bệnh về mắt tại Việt Nam 21
1.2.3. Tình hình quản lý, chăm sóc mắt ở Quảng Ninh hiện nay 34
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Địa điểm và đối tượng nghiên cứu 36
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu 36
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu 39
2.1.3. Thời gian nghiên cứu 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 40
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 40
2.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu 42
2.3 Nội dung nghiên cứu 48
2.3.1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 48
2.3.2 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin 50
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 60
2.5 Các biện pháp hạn chế sai số 61
2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 62
Trang 3CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 63
3.1 Thực trạng bệnh mắt và công tác chăm sóc mắt tại địa bàn nghiên cứu63 3.1.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 63
3.1.2. Tỷ lệ các bệnh mắt thường gặp trên địa bàn nghiên cứu 65
3.1.3. Thực trạng công tác chăm sóc mắt tại địa bàn nghiên cứu 67
3.1.4. Kiến thức về phòng, chống mù lòa của đối tượng nghiên cứu 72
3.2 Hiệu quả một số giải pháp can thiệp tại địa bàn nghiên cứu 92
3.2.1. Kết quả triển khai mô hình can thiệp 92
3.2.2. Hiệu quả nâng cao kiến thức, thực hành của người dân về bệnh mắt và công tác chăm sóc mắt 95
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 109
4.1 Thực trạng bệnh mắt và công tác chăm sóc mắt tại địa bàn nghiên cứu 109 4.1.1. Đặc điểm chung về địa bàn và đối tượng nghiên cứu 109
4.1.2. Tỷ lệ các bệnh mắt thường gặp trên địa bàn nghiên cứu 110
4.1.3. Thực trạng công tác chăm sóc mắt tại địa bàn nghiên cứu 114
4.1.4. Kiến thức về phòng, chống mù lòa của đối tượng nghiên cứu 116
4.1.5. Thực trạng phòng, chống bệnh mắt tại địa bàn nghiên cứu 118
4.2 Hiệu quả các phương pháp can thiệp tại địa bàn nghiên cứu 121
4.2.1. Hiệu quả can thiệp mổ đục thể thuỷ tinh 121
4.2.2. Hiệu quả nâng cao kiến thức của người dân về chăm sóc mắt 123
4.2.3. Hiệu quả thay đổi thực hành của người cao tuổi về chăm sóc mắt 126
4.2.4. Hiệu quả một số biện pháp khác 130
4.3 Các hạn chế của đề tài nghiên cứu 130
KẾT LUẬN 132
KHUYẾN NGHỊ 134
DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Tuổi và giới của ĐTNC tại 2 huyện Hoành Bồ và Tiên Yên 63
Bảng 3.2 Tỷ lệ các dân tộc của đối tượng nghiên cứu tại 2 huyện Hoành Bồ và Tiên Yên 64
Bảng 3.3 Tình hình thị lực của người cao tuổi tại 2 địa bàn nghiên cứu 66
Bảng 3.4 Tỷ lệ một số bệnh về mắt của người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu 67
Bảng 3.5 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về các bệnh mắt 73
Bảng 3.6 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về dấu hiệu của bệnh đau mắt đỏ 74
Bảng 3.7 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về phòng bệnh đau mắt đỏ 74
Bảng 3.8 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về dấu hiệu của bệnh đau mắt hột 75
Bảng 3.9 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về tác hại của bệnh đau mắt hột 76
Bảng 3.10 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về nguyên nhân của bệnh đau mắt hột 77
Bảng 3.11 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về phòng bệnh đau mắt hột 78
Bảng 3.12 Kiến thức của ĐTNC về dấu hiệu của bệnh khô mắt 80
Bảng 3.13 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về nguyên nhân của bệnh khô mắt 81 Bảng 3.14 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về nguyên nhân của bệnh đục thể thủy tinh 82
Bảng 3.15 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về dấu hiệu của bệnh đục thể thủy tinh 83
Bảng 3.16 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về phòng bệnh đục thể thủy tinh 84
Bảng 3.17 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về nguyên nhân của bệnh tăng nhãn áp 85
Bảng 3.18 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về dấu hiệu 86
Bảng 3.19 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến mù lòa 87
Bảng 3.20 Sự lựa chọn của đối tượng nghiên cứu đối với các cơ sở y tế khi có người trong gia đình mắc bệnh mắt 88
Bảng 3.21 Lý do lựa chọn cơ sở y tế của đối tượng nghiên cứu 89
Bảng 3.22 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có vấn đề về bệnh mắt trong 1 năm qua 90
Trang 5Bảng 3.23 Tỷ lệ người dân có đi khám khi có bệnh về mắt trong 1 năm qua 90
Bảng 3.24 Lý do đối tượng nghiên cứu không đi khám bệnh khi có bệnh về mắt trong
1 năm qua 91
Bảng 3.25 Hiệu quả giảm tỷ lệ một số bệnh về mắt của người cao tuổi tại địa bàn
nghiên cứu 95
Bảng 3.26 Sự thay đổi kiến thức của ĐTNC về nguyên nhân gây ĐTTT 96
Bảng 3.27 Sự thay đổi kiến thức của đối tượng nghiên cứu về dấu hiệu của bệnh đục
Bảng 3.34 Hiệu quả can thiệp làm giảm tỷ lệ mắc ít nhất 1 bệnh mắt của người cao tuổi
tại địa bàn nghiên cứu 108
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 3.1 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu tại 2 huyện Hoành Bồ
và Tiên Yên 64 Biểu đồ 3.2 Tình hình thị lực của người cao tuổi theo nhóm tuổi 65 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ mắc ít nhất 1 bệnh mắt của người cao tuổi tại địa bàn nghiên
cứu 66 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đã nghe nói đến các bệnh mắt 72 Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ gia đình ĐTNC có khăn mặt riêng cho từng người 79
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Thiết kế nghiên cứu ……… 47
Sơ đồ 2.2 Lý thuyết thay đổi hành vi 50
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo của Liên hợp quốc, số người cao tuổi từ 60 trở lên đã tăng đáng kể trong những năm gần đây ở hầu hết các quốc gia, khu vực và đang tiếp tục tăng Dự kiến đến năm 2030, sẽ là 1,4 tỷ người Ở người cao tuổi, do sức đề kháng dần kém đi nên mọi cơ quan trong cơ thể đều có những biểu hiện của sự lão hóa, từ làn da, mái tóc cho đến khả năng chịu nóng, chịu lạnh với nhiệt độ môi trường Mắt cũng là bộ phận bị ảnh hưởng của sự lão hóa dẫn đến những bệnh mắt ở người già Có rất nhiều bệnh lý về mắt mà người cao tuổi có thể gặp phải, điều quan trọng là phải đi khám để được điều trị sớm và chăm sóc mắt đúng cách hàng ngày Các bệnh về mắt ở người già
có thể gây ảnh hưởng đến thị lực hoặc có thể dẫn đến mù lòa Càng về già, việc chăm sóc, giữ gìn đôi mắt càng trở nên quan trọng vì các chức năng cơ bản hầu như đều bị suy yếu và lão hóa theo thời gian Từ đó dẫn đến việc khó cải thiện hoặc phục hồi khi tổn thương [2]
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, trong vòng 20 năm gần đây số người mù đã tăng từ 28 triệu người lên 47 triệu người Ngoài ra còn có khoảng 110 triệu người có thị lực thấp trên khắp hành tinh Người ta nhận định rằng, nếu như không có biện pháp phòng chống mù loà tích cực thì dự báo đến năm 2020 số người mù sẽ tăng gấp đôi [11]
Trên thực tế, phần đông những người mù đều sống ở các nước nghèo hoặc các nước đang phát triển và hơn 80% mù loà là do những nguyên nhân
có thể phòng tránh hoặc điều trị được [115]
Quảng Ninh là tỉnh miền núi, trung du nằm ở vùng duyên hải, với hơn 80% đất đai là đồi núi, nằm ở vùng đông bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội
153 km về phía Đông Bắc Quảng Ninh có tổng số 14 thành phố, thị xã và huyện trực thuộc Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh Quảng Ninh đạt gần
Trang 81.224.600 người, mật độ dân số đạt 198 người/km² Dân cư Quảng Ninh tập trung chủ yếu ở bốn thành phố và hai thị xã, phần 8 huyện còn lại dân cư tương đối thưa thớt, sống chủ yếu bằng nghề nông
Năm 2012, theo ước tính của Trung tâm phòng chống bệnh xã hội tỉnh Quảng Ninh hiện có 5.203 người mù lòa, trong đó có khoảng 3.356 người mù lòa do đục thể thuỷ tinh, ngoài ra tỷ lệ người mù tăng thêm hàng năm trung bình khoảng 0,1% dân số Với mức độ gia tăng dân số hàng năm khoảng 1,5%/năm thì dân số Quảng Ninh tới năm 2020 ước có khoảng 1.280.000 người và đến năm 2025 ước khoảng 1.350.000 người Tương đương với số dân như trên cộng với số người mù mới phát sinh hàng năm, nếu không được can thiệp thì số tồn đọng và số gia tăng đến năm 2020 tỉnh Quảng Ninh có khoảng 15.000 người mù [36] Các nguyên nhân gây mù loà và thực trạng các bệnh mắt trong cộng đồng người dân tỉnh Quảng Ninh nói chung trong đó có
2 huyện Hoành Bồ và Tiên Yên nói riêng hiện tại ra sao, đâu là nguyên nhân chính gây mù lòa ở người cao tuổi tại đây là các câu hỏi chưa từng được
nghiên cứu, vì vậy chúng tôi triển khai đề tài:“Thực trạng bệnh về mắt, công tác chăm sóc mắt ở người cao tuổi và hiệu quả một số giải pháp can thiệp tại hai huyện Hoành Bồ, Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh”
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả thực trạng bệnh về mắt và công tác chăm sóc mắt ở người cao tuổi tại huyện Hoành Bồ và Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh năm 2013
2 Đánh giá hiệu quả một số giải pháp phòng chống bệnh về mắt ở người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Xếp loại Thị lực của mắt tốt nhất với kính điều chỉnh
Tối đa dưới Tối thiểu bằng hoặc
hơn
0 Bình thường
6/6 20/20 10/10 (1,0)
6/18 20/70 3/10 (0,3)
1
Thị lực thấp (tổn thương thị lực nhẹ)
6/18 20/70 3/10 (0,3)
6/60 20/200 1/10 (0,1)
2
Thị lực thấp (tổn thương thị lực trầm trọng)
6/60 20/200 1/10 (0,1)
3/60 20/400 1/20 (0,05)
3 Mù
3/60 (ĐNT xa 3 mét)
20/400 1/20 (0,05)
1/60 (ĐNT xa 1 mét) 5/300 (20/1200) 1/50 (0,02)
4 Mù
1/60 (ĐNT xa 1 mét) 5/300 (20/1200) 1/50 (0,02)
Phân biệt được ánh sáng (ST+)
5 Mù Không thấy ánh sáng (ST-)
Trang 10Nếu xét về thị trường thì bệnh nhân có thị trường từ 50 đến 100 được xếp vào mức 3; những bệnh nhân có thị trường dưới 50 được xếp vào mức 4,
dù cho thị lực trung tâm còn tốt [113]
Bảng 1.2 Bảng phân loại mức độ giảm thị lực của WHO 1992
Ở Việt Nam thường đánh giá thị lực theo ký hiệu số thập phân và mức
độ thương tổn thị lực theo quy định của Tổ chức Y tế thế giới Nghĩa là thị lực của mắt tốt nhất với kính điều chỉnh < 3/10 gọi là người có thị lực thấp Thị lực của mắt tốt nhất với kính điều chỉnh < đếm ngón tay 3m gọi là người mù [113]
Quan niệm về mù loà có thể phòng chống được
Theo Tổ chức Y tế thế giới, mù lòa có thể phòng chống được được định nghĩa là những trường hợp mù có thể điều trị hoặc dự phòng bằng những biện pháp đơn giản, ít tốn kém, dễ làm và dễ được cộng đồng chấp nhận, nhưng có hiệu quả cao
Hơn 80% các trường hợp mù loà là có thể phòng chống được và thường gặp ở các nước đang phát triển Các bệnh lý sau đây là mục tiêu của Tầm nhìn
Trang 112020, Quyền Được Nhìn Thấy của Tổ chức Y tế Thế giới: Đục thể thủy tinh,
Tật khúc xạ, Mắt hột, Mù mắt ở trẻ em, Thị lực thấp, Bệnh mù sông, Bệnh glôcôm, bệnh võng mạc đái tháo đường và bệnh thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi
1.1.1.2 Mục tiêu toàn cầu “Tầm nhìn 2020: quyền được nhìn thấy”
Trong thời gian 2 năm 1998-1999, WHO, Tổ chức quốc tế về Phòng chống mù loà (IAPB) và một nhóm các tổ chức phi chính phủ quốc tế làm việc về vấn đề chăm sóc mắt đã cùng nhau thảo luận nhằm mục tiêu thanh toán những trường hợp mù loà có thể phòng và tránh được vào năm 2020 Kết quả của các cuộc thảo luận này là sáng kiến toàn cầu của WHO nêu lên vào ngày 18 tháng 2 năm 1999 tại Geneva đã phát động một chương trình hợp tác toàn cầu với tiêu đề “Quyền được nhìn thấy của con người” Đây là chương trình nhằm loại trừ mù loà có thể phòng tránh được vào năm 2020
Thống kê của WHO năm 2000 đã cho thấy, ước tính hiện có gần 50 triệu người mù trên thế giới, mỗi năm có khoảng 8-10 triệu người mù mới và khoảng 6-8 triệu người mù chết Như vậy, mỗi năm sẽ tăng thêm khoảng 1-2 triệu người mù [88] Trong số 50 triệu người mù, ước tính có khoảng 70-80% là có thể phòng tránh được, trong đó khoảng 50% do ĐTTT, 15% do bệnh mắt hột, 4% do khô mắt thiếu vitamin A ở trẻ em và các nhiễm khuẩn khác, 1% là do bệnh mù sông (oncoserco) Mặc dù đã có những cố gắng của các tổ chức Liên hợp quốc, các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ nhưng
mù loà vẫn tăng, làm giảm chất lượng cuộc sống của nhiều người, làm tăng gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội Nếu không huy động tất cả các nguồn lực và cố gắng của quốc tế, các chính phủ và nhân dân các nước cho chăm sóc mắt và phòng chống mù loà thì ước tính đến năm 2020, số người
mù sẽ tăng lên đến 75 triệu người
Trang 12Sáng kiến này của WHO nhằm thanh toán các loại mù có thể phòng tránh được vào năm 2020, làm sao để số người mù chỉ còn khoảng 25 triệu người trên thế giới Trong giai đoạn 5 năm đầu tiên, các hành động can thiệp cần được ưu tiên để ngăn ngừa và kiểm soát được 4 bệnh gây mù là Đục thể thuỷ tinh, mắt hột, bệnh mù sông và mù loà ở trẻ em Đồng thời, các cố gắng cũng cần tập trung vào việc phát triển nhân lực, đặc biệt ở vùng châu Phi và xây dựng hệ thống hạ tầng cơ sở cho chăm sóc mắt, chú trọng đến việc phát triển trang thiết bị và kỹ thuật thích ứng Trong quá trình này, rất cần sự hợp tác chặt chẽ của các Bộ Y tế của các nước, các tổ chức liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước để cùng nhau lập kế hoạch, huy động mọi nguồn lực và thực hiện các hoạt động chăm sóc mắt và phòng chống mù loà, trước tiên tập trung làm điểm ở các quần thể dân cư khoảng 1-3 triệu người để dễ quản lý, dễ thực hiện và thành công
Sáng kiến “Tầm nhìn 2020” đặt ra những nhiệm vụ sau:
- Nâng cao nhận thức về mù loà
- Huy động các nguồn lực sẵn có
- Kiểm soát các nguyên nhân gây mù chính
- Đào tạo các Bác sĩ nhãn khoa và các cán bộ thực hiện công tác chăm sóc mắt
- Bổ sung cơ sở vật chất để đáp ứng nhu cầu
- Phát triển các kỹ thuật thích hợp
Hưởng ứng lời kêu gọi của WHO, ngày 05/3/2000, Bộ trưởng Bộ Y tế
Đỗ Nguyên Phương đã thay mặt Chính phủ và Bộ Y tế nước ta ký cam kết ủng
hộ và thực hiện sáng kiến này ở Việt Nam với sự có mặt của đại diện Chương trình phòng chống mù loà quốc tế, đại diện của bác sĩ nhãn khoa trên toàn quốc
Trang 131.1.2 Một số bệnh về mắt gây mù chủ yếu ở người cao tuổi
Theo một báo cáo của liên hợp quốc số người cao tuổi – từ 60 tuổi trở lên đã tăng đáng kể trong những năm gần đây ở hầu hết các quốc gia và khu vực và tăng trưởng dự kiến sẽ tăng lên trong những thập kỷ tới [108], [112]
Từ năm 2015 đến năm 2030, số người từ 60 tuổi trở lên trên thế giới sẽ tăng 56%, từ 901 triệu lên 1,4 tỷ và đến năm 2050, số người cao tuổi sẽ tăng gấp đôi so với quy mô của nó so với năm 2015, đạt gần 2,1 tỷ người [108]
Theo một báo cáo khác của Tổ chức Y tế thế giới, nhóm người trên 50 tuổi nhóm đối tượng có những đặc điểm riêng về tình trạng sức khỏe và bệnh tật và cũng là nhóm có nguy cơ cao mắc các bệnh gây mù như: đục thể thuỷ tinh, glôcôm, mộng thịt, sẹo giác mạc do mắt hột vì vậy trong các nghiên cứu về tình hình bệnh tật thường lấy mốc này để phân chia đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên, tại Việt Nam, nhóm tuổi từ 50-60 tuổi lại là nhóm tuổi vẫn đang trong độ tuổi lao động, các can thiệp cộng đồng đối với nhóm tuổi này là khó thực hiện vì sự tiếp cận với họ là khó thực hiện Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung nghiên cứu vào nhóm người từ 60 tuổi trở lên, vì lúc này
họ đã nghỉ hưu sự ảnh hưởng tới sức khoẻ với họ là rõ rệt, sự can thiệp với nhóm tuổi này cũng dễ được thực hiện hơn Các bệnh về mắt thường gặp ở độ tuổi này là đục thể thuỷ tinh, glôcôm, mộng thịt, sẹo giác mạc do mắt hột
* Các nguyên nhân gây đục thể thuỷ tinh
Có nhiều nguyên nhân gây đục thể thuỷ tinh:
- Đục thể thuỷ tinh bẩm sinh, đục thể thuỷ tinh ở trẻ em
Trang 14- Đục thể thuỷ tinh do tuổi già
- Đục thể thuỷ tinh do chấn thương
- Ban đêm thị giác kém hơn
- Nhìn một hình thành hai hoặc nhiều hình
- Độ kính đang đeo thay đổi thường xuyên
Những triệu chứng này có thể cũng là dấu hiệu của nhiều bệnh lý khác tại mắt Nếu bệnh nhân có những triệu chứng này thì nên đến bác sĩ mắt để được khám và tư vấn
* Chẩn đoán đục thể thuỷ tinh
Để phát hiện đục thể thủy tinh cần phải khám mắt toàn diện, gồm các bước sau:
- Đo thị lực bằng bảng thị lực
- Khám mắt với đồng tử dãn: dùng thuốc nhỏ để dãn đồng tử cho phép bác sĩ khám kỹ thể thủy tinh và võng mạc, đồng thời kiểm tra mắt có bệnh khác không
- Đo nhãn áp: đo thường qui để kiểm tra áp lực trong mắt, nếu nhãn áp tăng có thể là dấu hiệu bệnh glôcôm (cườm nước)
Và một số xét nghiệm khác nếu cần để khảo sát cấu trúc và bệnh của mắt có thể đi kèm
* Điều trị đục thể thuỷ tinh
Trang 15Đối với đục thể thủy tinh giai đoạn sớm, có thể cho đeo kính, dùng kính lúp hoặc chiếu sáng tốt khi làm việc Nếu những biện pháp này không có tác dụng thì chỉ có phẫu thuật là cách điều trị hiệu quả nhất Phẫu thuật sẽ lấy thể thủy tinh bị đục và đặt một thấu kính để thay thế thủy tinh
Phẫu thuật được chỉ định khi đục thể thủy tinh gây giảm thị lực cản trở sinh hoạt hàng ngày, chẳng hạn như lái xe, đọc sách hoặc xem ti vi Bệnh nhân và bác sĩ cùng quyết định thời điểm phẫu thuật Trong đa số trường hợp
có thể trì hoãn phẫu thuật cho đến khi tư tưởng đã sẵn sàng Nếu bị đục thể thủy tinh cả hai mắt, bác sĩ cũng không phẫu thuật hai mắt cùng lúc mà mỗi mắt sẽ được phẫu thuật ở hai thời điểm khác nhau Nếu hai mắt bị ảnh hưởng nhiều thì hai phẫu thuật có thể được tiến hành cách nhau 2 - 4 tuần
Một số trường hợp có thể lấy thể thủy tinh khi chưa gây giảm thị lực nhưng lại cản trở việc khám và điều trị các bệnh mắt khác, chẳng hạn bệnh thoái hóa hoàng điểm tuổi già hoặc bệnh võng mạc tiểu đường
1.1.2.2 Bệnh mắt hột
Mắt hột là một viêm nhiễm mãn tính của kết giác mạc, tác nhân gây ra
là Chlamydia Trachomatis và là một trong các tác nhân gây mù lòa hàng đầu trên thế giới, nhất là các nước kém phát triển Trên thế giới ước tính có khoảng
84 triệu người bị mắt hột hoạt tính và gần 8 triệu người bị giảm thị lực do bệnh này
Bệnh mắt hột lây lan thành dịch Có nhiều yếu tố ảnh hưởng gián tiếp đến sự xuất hiện và lây lan bệnh như vệ sinh môi trường kém, thiếu hoặc giảm chất lượng nước sinh hoạt và hầu hết sự lây lan xảy ra trong gia đình
Bệnh nhân bị mắt hột có thể dẫn tới các biến chứng: viêm kết mạc mạn tính bị đỏ mắt, ngứa, cộm, xốn quanh năm; lông quặm, lông xiêu là tình trạng tổn thương kết mạc bờ mi gây cho lông mi bị xiêu vẹo, biến dạng, quặp vào
cọ xát liên tục vào giác mạc, gây tổn thương, trầy sướt, loét giác mạc, làm mờ
Trang 16đục giác mạc Do vệ sinh kém bị nhiễm khuẩn gây viêm mủ nhãn cầu có thể phải khoét bỏ mắt hoặc viêm teo mắt dẫn đến mù lòa
Theo điều tra của Viện Mắt Trung ương năm 2002, trong các bệnh gây
mù tỷ lệ bệnh mắt hột ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng chiếm 9,09%, miền Trung chiếm 1,02%, miền Nam chiếm 2,2% Đây là nguyên nhân mù loà chính ở Việt Nam trước đây Hiện nay, cơ cấu mặc dù cơ cấu bệnh tật đã có nhiều thay đổi, những biến chứng do mắt hột gây ra vẫn ảnh hưởng không nhỏ đến đối tượng lớn tuổi (những người có mắt hột hoạt tính nặng trước kia)
Về điều trị: Bệnh mắt hột có các thể từ nhẹ đến nặng, những trường hợp nhẹ không cần điều trị cũng tự khỏi, các trường hợp nặng có thể gây biến chứng nguy hiểm cho mắt và đưa đến mù lòa nên phải điều trị tích cực Phương pháp điều trị mắt hột phổ biến là dùng thuốc nhỏ mắt hoặc tra thuốc
mỡ vào mắt Có thể dùng một trong các thuốc sau để điều trị: mỡ tetracyclin 1%, tra mắt buổi tối mỗi tháng 10 ngày liên tục trong khoảng 6 tháng - 1 năm; đồng thời uống một trong các thuốc tetracyclin, erythromycin hay doxycyclin
x 3-4 tuần; Phẫu thuật xử lý các trường hợp biến chứng như lông quặm, sẹo giác mạc
Về phòng bệnh: Bệnh mắt hột rất dễ mắc và lây lan thành dịch, có nguy
cơ dẫn đến mù lòa nhưng có thể phòng tránh bằng các biện pháp đơn giản, dễ thực hiện như sau: luôn luôn rửa sạch tay mỗi khi lao động hay tiếp xúc với môi trường đất, nước bẩn; chú ý tập thói quen không dụi tay bẩn lên mắt Sử dụng kính khi đi đường tránh gió bụi vào mắt; rửa mặt bằng khăn mặt riêng; không sử dụng nước ao hồ để tắm rửa, tránh để nước bẩn bắn vào mắt; thường xuyên làm vệ sinh môi trường, diệt ruồi nhặng, gián, chuột; khi mắc bệnh phải điều trị bảo đảm thời gian theo hướng dẫn của bác sĩ
1.1.2.3 Bệnh glôcôm
Trang 17Glôcôm là bệnh mắt phổ biến và là một trong những nguyên nhân gây
mù lòa hàng đầu ở nước ta cũng như trên thế giới Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 2000 người mù do Glôcôm là nguyên nhân gây mù đứng thứ hai sau bệnh ĐTTT, chiếm tỷ lệ 16% tổng số người mù Ước tính hiện nay có gần 70 triệu người bị ảnh hưởng bởi bệnh Glôcôm và gần một nửa đang sống ở các nước Châu Á
Theo kết quả điều tra cơ bản được tiến hành trong phạm vi cả nước vào năm 1986, năm 1990 và 1995 cho thấy: Tỷ lệ mắc bệnh trong nhân dân vào khoảng 0,28% đến 0,35% Riêng ở người trên 40 tuổi tỷ lệ mắc bệnh khoảng 2%
Báo cáo công tác tổng kết phòng chống mù lòa năm 2006 của Bệnh viện mắt Trung ương, bệnh Glôcôm gây mù đứng vào hàng thứ ba, tỷ lệ mù hai mắt do bệnh Glôcôm là 5,7% sau bệnh đục thể thuỷ tinh và bệnh lý bán phần sau nhãn cầu
Glôcôm kết hợp đục thể thuỷ tinh (ĐTTT) là hình thái khá phổ biến bởi Glôcôm cũng như ĐTTT thường gặp trên người lớn tuổi, với sự gia tăng của tuổi thọ tỷ lệ mắc bệnh Glôcôm phối hợp với ĐTTT ngày càng tăng lên Bệnh thường xảy ra trên những cơ địa dễ xúc cảm, tỷ lệ gặp ở nữ cao hơn nam
Hiện nay, việc chọn lựa một phương pháp điều trị có hiệu quả cho những bệnh nhân bệnh lý Glôcôm có ĐTTT đang là vấn đề thời sự đang được nghiên cứu trên thế giới Có ba phương pháp phẫu thuật điều trị Glôcôm kết hợp ĐTTT đó là: Lấy TTT ngoài bao đặt TTT nhân tạo hậu phòng kết hợp điều trị nội khoa bệnh Glôcôm; Phẫu thuật Glôcôm trước sau đó lấy TTT ở giai đoạn 2; Phẫu thuật phối hợp Glôcôm với ĐTTT cùng một lúc
Hiện nay, phẫu thuật lỗ dò phối hợp với Phacoemulsification (Phaco) được công nhận là một kỹ thuật có hiệu quả trong điều trị bệnh Glôcôm phối hợp với ĐTTT đã được áp dụng ở các nước tiên tiến Tuy nhiên chưa phổ cập
ở nước ta, do kỹ thuật này phụ thuộc nhiều vào điều kiện trang thiết bị đắt
Trang 18tiền, phẫu thuật viên có trình độ tay nghề cao, chỉ định phẫu thuật và kết quả
bị giới hạn những trường hợp nhân cứng, dây Zinn yếu, Glôcôm thứ phát do biến chứng ĐTTT cho nên phương pháp này vẫn chưa mang tính phổ biến ở các nước phát triển và nước ta trong giai đoạn hiện nay
1.1.2.4 Mộng thịt
Mộng thịt là tình trạng tăng sản lành tính của kết mạc xâm lấn vào giác mạc Đây là bệnh lý gặp khá phổ biến các nước nhiệt đới như Việt Nam, đặc biệt ở những vùng có nắng gió nhiều (ven biển miền Trung) Mộng thịt tuy không phải là nguyên nhân chính gây mù loà nhưng lại là nguyên nhân khó chịu rất nhiều cho sinh hoạt có liên quan đến mắt cũng như làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của mắt Mộng thịt chiếm tỷ lệ khá cao trong dân số với tỷ lệ 14.49% (độ tin cậy 95% từ 13,03-15,95) tại Tây tạng, Trung Quốc
Bệnh thường khởi phát ở lứa tuổi trẻ, trung niên tuy nhiên thường biểu hiện rõ và gây ảnh hưởng tới thị lực ở lứa tuổi già Triệu chứng của mộng thịt bao gồm: đỏ, viêm, cảm giác dị vật, khô và ngứa mắt Mộng thịt gây ảnh hưởng tới thị lực lúc đầu là do làm loạn thị giác, sẹo giác mạc Giai đoạn muộn mộng xâm lấn qua trục nhìn dẫn tới giảm thị lực
Đã có nhiều phương pháp điều trị mộng thịt được đưa ra: dùng thuốc, phẫu thuật, tia xạ… Trước đây các phương pháp mổ mộng đơn thuần có tỷ lệ tái phát khá cao (40 - 60%), nên khi mộng khá lớn gây giảm thị lực nhiều hoặc gây các biến chứng mới có chỉ định mổ Hiện nay, do sự phát triển của các kỹ thuật phẫu thuật, bác sỹ có thể chỉ định mổ cắt mộng từ các giai đoạn khá sớm để mang lại thẩm mỹ cho bệnh nhân, đồng thời với cắt mộng là ghép kết mạc tự thân nên có tỷ lệ tái phát rất thấp (1% - 5%) Tuy nhiên, sau phẫu thuật bệnh nhân cần được điều trị và chăm sóc mắt cẩn thận để có kết quả tốt
và tránh bệnh tái phát
Trang 191.1.3 Tình hình bệnh về mắt hiện nay trên thế giới và Việt Nam
1.1.3.1 Tình hình bệnh về mắt hiện nay trên thế giới
Theo báo cáo của WHO năm 2002, ước tính số người suy giảm thị lực
đã vượt quá 161 triệu người Trong đó có 37 triệu người bị mù và 124 triệu người bị giảm thị lực Tỷ lệ người có thị lực thấp đến mù theo tiểu vùng dao động trong khoảng 2,4-5,8 với giá trị trung bình là 3,7 Nguyên nhân hàng đầu gây mù là đục thể thủy tinh, tiếp theo là tăng nhãn áp và thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi [102]
Mặc dù mù lòa ở trẻ em vẫn còn là một vấn đề quan trọng (ước tính có khoảng 1,4 triệu trẻ em mù ở độ tuổi dưới 15 tuổi), nhưng độ lớn của nó là tương đối nhỏ so với mức độ của bệnh mù lòa ở người lớn tuổi: hơn 82% người mù có tuổi từ 50 trở lên
Số lượng phụ nữ suy giảm thị lực cao hơn so với ở nam giới, thậm chí sau khi điều chỉnh tuổi Tỷ lệ tỷ lệ nữ/nam giới chỉ ra rằng phụ nữ có nhiều khả năng bị suy giảm thị lực hơn nam giới ở mọi khu vực trên thế giới: tỷ lệ khoảng 1,5-2,2
Tỷ trọng lớn nhất của mù loà là liên quan đến lứa tuổi Mặc dù đục thể thủy tinh không phải là nguyên nhân chính gây mù lòa ở các nước phát triển, nhưng trên toàn cầu nó vẫn là nguyên nhân hàng đầu, chiếm gần một nửa tổng
số trường hợp, mặc dù việc cung cấp dịch vụ phẫu thuật đục thể thủy tinh được cải thiện ở nhiều nơi trên thế giới Đục thể thủy tinh thậm chí còn quan trọng hơn là nguyên nhân của thị lực thấp; nó là nguyên nhân hàng đầu của thị lực thấp ở tất cả các tiểu vùng
Theo các cuộc điều tra, bệnh tăng nhãn áp là nguyên nhân thứ hai dẫn đến mù lòa trên toàn cầu cũng như ở hầu hết các khu vực; thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi là nguyên nhân đứng hàng thứ ba Bệnh mắt hột, mờ giác mạc khác, mù lòa ở trẻ em và bệnh võng mạc tiểu đường có tỷ lệ xấp xỉ bằng nhau (tức là tất cả khoảng 4-5%)
Trang 20Đáng chú ý là bệnh mắt hột đã giảm một cách có ý nghĩa như là một nguyên nhân gây mù lòa so với ước tính trước đó
Để thiết lập các chính sách và các ưu tiên để đánh giá sức khỏe mắt toàn cầu, cần thiết phải cập nhật thông tin về tỷ lệ mắc và về nguyên nhân gây suy giảm thị lực Vào các năm 1995, 2002 và 2004, Chương trình Phòng chống mù loà và điếc của WHO đã được thực hiện một cách hệ thống để tìm kiếm và xem xét tất cả các dữ liệu có sẵn để có được một ước tính toàn cầu về suy giảm thị lực tới năm 2010 Ước tính suy giảm thị lực đã được xuất phát ở cấp độ toàn cầu và sáu khu vực của WHO Các nguyên nhân chính gây suy giảm thị lực và
mù lòa đã được xác định Những ước tính này cung cấp thông tin cần thiết cho công tác phòng chống suy giảm thị lực và cải thiện sức khỏe mắt toàn cầu
Theo một nghiên cứu của WHO được tổng hợp từ 53 cuộc khảo sát ở
39 quốc gia cho thấy: Phần lớn các nghiên cứu (38/53) được thực hiện từ năm
2005 đến năm 2008, 15 nghiên cứu được thực hiện từ năm 2001 đến 2004 Đa
số nghiên cứu là đánh giá nhanh các dịch vụ phẫu thuật đục thể thủy tinh hoặc mù lòa, một số nghiên cứu quốc gia đánh giá ở tất cả các lứa tuổi, một số khác có mục tiêu đánh giá ở các nhóm tuổi cụ thể Các cuộc khảo sát của WHO được chia thành 6 khu vực gồm: khu vực châu Phi, châu Mỹ, Đông địa trung hải, châu Âu, Đông Nam Á và Ấn Độ, Tây Thái Bình Dương và Trung Quốc
Theo kết quả của nghiên cứu này, ước tính số người suy giảm thị lực trên thế giới là 285 triệu người trong đó có 39 triệu người mù và 246 triệu người có thị lực thấp; 65% người suy giảm thị lực và 82% người mù là từ 50 tuổi trở lên (Bảng 1.1) Sự phân bố của suy giảm thị lực trong sáu vùng của WHO được thể hiện trong bảng 1.2 với tỷ lệ phần trăm của sự suy giảm toàn cầu ghi trong ngoặc đơn [112]
Trang 21Bảng 1.3 Ước tính toàn cầu số người suy giảm t.lực theo tuổi năm 2010
Tuổi (năm) Dân số
(triệu người)
Mù (triệu người)
Thị lực thấp (triệu người)
Suy giảm thị lực(triệu người) 0-14 1.848,5 1,421 17,518 18,939 15-49 3.548,2 5,784 74,463 80,248
Thị lực thấp (triệu người)
Suy giảm t.lực(triệu người) Châu Phi 804,9 (11,9) 5,888
(15,0) 20,407 (8,3) 26,295 (9,2) Châu Mỹ 915,4 (13,6) 3,211(8,0) 23,401 (9,5) 26,612 (9,3) Đông địa trung hải 580,2 (8,6) 4,918
(12,5) 18,581 (7,6) 23,499 (8,2) Châu Âu 889,2 (13,2) 2,713 (7,0) 25,502
(10,4) 28,215 (9,9) Đông Nam Á 579,1 (8,6) 3,974
(10,1) 23,938 (9,7) 27,913 (9,8) Tây Thái Bình
Dương 442,3 (6,6) 2,338 (6,0) 12,386 (5,0) 14,724 (5,2)
(17,5)
8,075 (20,5)
54,544 (22,2) 62,619 (21,9)Trung Quốc 1344,9
(20,0)
8,248 (20,9)
67,264 (27,3) 75,512 (26,5)Toàn thế giới 6737,5
(100)
39,365 (100)
246,024 (100)
285,389 (100)
Trang 22Trong các khu vùng của WHO thì Trung Quốc và Ấn độ có số lượng người suy giảm thị lực nhiều nhất, tiếp đó là Châu Phi, Đông Địa Trung Hải
và Đông Nam Á (bảng 1.4)
Trên toàn cầu, trong những nguyên nhân chính của suy giảm thị lực là tật khúc xạ chưa được sửa chữa và đục thể thủy tinh, với tỷ lệ tương ứng là 42% và 33% Các nguyên nhân khác là bệnh tăng nhãn áp chiếm 2%, tuổi tác liên quan đến thoái hóa điểm vàng (AMD), võng mạc tiểu đường, bệnh mắt hột và hình mờ giác mạc, đều có tỷ lệ khoảng 1% Một tỷ lệ lớn các nguyên nhân, 18%, là không xác định [112]
Các nguyên nhân gây mù lòa do đục thể thủy tinh là 51%, tăng nhãn áp
là 8%, AMD là 5%, mù lòa ở trẻ em và hình mờ giác mạc là 4%, tật khúc xạ chưa được sửa chữa và đau mắt hột là 3%, và tiểu đường bệnh võng mạc là 1%, nguyên nhân không xác định được là 21% [112]
1.1.3.2 Tình hình bệnh về mắt ở Việt Nam
Qua điều tra của Viện Mắt năm 1969, tỉ lệ mù do các bệnh mắt hột, glôcôm, khô mắt chiếm tỉ lệ cao hơn bệnh đục thể thủy tinh Tuy nhiên những điều tra trong những 70-80 thì đục thể thủy tinh nổi dần lên và là nguyên nhân
số 1 gây mù lòa chiếm tỉ lệ cao và cách xa các nguyên nhân khác, tiếp đó là mắt hột và biến chứng, glôcôm, viêm màng bồ đào và bệnh đáy mắt
Một cuộc điều tra dịch tễ học về mù loà và hiệu quả của chương trình can thiệp đục thể thuỷ tinh ở người trên 50 tuổi của Viện Mắt Trung ương năm 2000, tiến hành tại 8 vùng sinh thái của nước ta cũng cho thấy các nguyên nhân gây mù như sau: đục thể thuỷ tinh chiếm 71,3%, bệnh lý bán phần sau 11%, glôcôm chiếm 5,7%, mắt hột chiếm 2,7%
Năm 2006, theo báo cáo của Viện Mắt Trung ương, số người mù trong dân số còn rất cao, đặc biệt là người trên 50 tuổi Theo kết quả đánh giá nhanh
tỷ lệ mù 2 mắt trong dân là 0,63%, tỷ lệ thị lực thấp là 21,27% Như vậy số
Trang 23mù hiện nay là 526.000 và thị lực giảm là 2.350.000, đây là số mù còn tồn đọng và cũng là một thách thức lớn của ngành mắt Việt Nam
Theo báo của hội nghị ngành mắt năm 2000, tại Thừa Thiên Huế, bệnh
về mắt chiếm tỷ lệ 15,57% trong đó mù 2 mắt chiếm 1,52% và bệnh gây mù hàng đầu là đục thể thuỷ tinh chiếm 1,32%, mù 1 mắt chiếm 1,62% và bệnh gây mù hàng đầu là đục thể thuỷ tinh chiếm 0,83%
Nguyễn Văn Cương và cộng sự (2005) đã đánh giá nhanh mù loà và hiệu quả của can thiệp mổ ĐTTT ở cộng đồng tỉnh Hà Nam cho thấy: Với tiêu chuẩn đánh giá mù của Tổ chức Y tế Thế giới là thị lực thử qua kính lỗ dưới 3/60, thì tỷ lệ mù 2 mắt ở người từ 50 tuổi trở lên là 3,41%, mù 1 mắt là 7,63% Các nguyên nhân chính gây mù 2 mắt là ĐTTT (47,5%), bệnh phần sau (22,0%), glôcôm (16,9%), mắt hột (3,4%) Tỷ lệ ĐTTT gây mù 2 mắt là 1,5%, gây mù 1 mắt là 3,76% Tỷ lệ quặm 1 mắt là 4,22% và 2 mắt là 2,66%, mộng thịt 1 mắt là 19,56%, 2 mắt là 7,99% [5]
Tác giả Nguyễn Chí Dũng (2009) đã thực hiện một nghiên cứu theo dõi dọc về tình hình mù lòa ở thành phố Hải Phòng giai đoạn 2000-2007 đã khám
2 lần: lần 1 (năm 2000) khám được 1748 người, lần 2 (năm 2007) khám được
1707 người từ 50 tuổi trở lên, kết quả cho thấy: Với tiêu chuẩn đánh giá mù của WHO là thị lực qua thử kính lỗ dưới 3/60, sau khi đã điều chỉnh theo tuổi
và giới của mẫu khám với dân số thực có trong vùng điều tra, kết quả cho thấy tỷ lệ mù hai mắt ở người từ 50 tuổi trở lên tại Hải Phòng năm 2000 là 3,5% (dao động 2,5 đến 4,5%), trong đó tỷ lệ mù 2 mắt ở phụ nữ là 4,6%, ở nam giới là 2,1% Tỷ lệ mù 1 mắt (thị lực với kính bệnh nhân đang đeo
<3/60) là 9,15% Năm 2007, tỷ lệ mù 2 mắt đã giảm hẳn xuống còn 2,88% (dao động từ 1,8 đến 4%) trong đó tỷ lệ mù 2 mắt ở phụ nữ là 2,6%, ở nam giới là 2,02% Tỷ lệ mù 1 mắt cũng giảm nhiều xuống còn 6,18% Cũng theo kết quả nghiên cứu này thì nguyên nhân chính gây mù cả 2 mắt ở cả 2 thời
Trang 24điểm là không có sự khác biệt (đục thể thủy tinh vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây mù, tiếp theo là bệnh bán phần sau Tuy nhiên, có một số bệnh mà ở năm
2000 là nguyên nhân chiếm tỷ lệ nhiều như mắt hột thì đến năm 2007 lại chiếm tỷ lệ không nhiều Ngược lại, một số bệnh như biến chứng phẫu thuật, sẹo giác mạc, tật khúc xạ lại xuất hiện mới hoặc có xu hướng tăng [7]
Cũng bằng phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả như trên nhưng được tiến hành ở Bình Định, tác giả Nguyễn Chí Dũng (2010) đã cho thấy kết quả tương tự tỷ lệ mù 2 mắt ở người từ 50 tuổi trở lên tại Bình Định năm
2001 là 7,33, trong đó tỷ lệ mù 2 mắt ở phụ nữ là 8,98%, ở nam giới là 4,48%
Tỷ lệ mù 1 mắt là 13,37%, trong đó ở phụ nữ là 14,04%, ở nam giới là 12,19% Năm 2007, tỷ lệ mù 2 mắt đã giảm nhiều, xuống còn 5,76% (dao động ± 2,25%) trong đó phụ nữ là 7,0±2,68%, ở nam giới là 3,99±1,77% Tỷ
lệ mù 1 mắt cũng giảm xuống 10,21±2,72% Nguyên nhân chính gây mù ở Bình Định là đục thể thủy tinh, tiếp theo đó là glôcôm và bệnh bán phần sau Trong cả 2 nghiên cứu ở Hải Phòng và Bình Định thì tác giả Nguyễn Chí Dũng cũng đã khẳng định hiệu quả của mổ đục thể thủy tinh trong việc giảm
tỷ lệ mù ở hai thời điểm cách nhau 6 năm là không thể phủ nhận [7], [8]
Năm 2011, tác giả Nguyễn Chí Dũng đã có nghiên cứu đánh giá nhanh
tỷ lệ mù loà và hiệu quả can thiệp mổ ĐTTT ở cộng đồng tỉnh Thái Nguyên cho thấy: Tỷ lệ mù 2 mắt ở người từ 50 tuổi trở lên trong dân số là 2,16 ± 0,99%, trong đó tỷ lệ mù cả 2 mắt ở phụ nữ là 2,62±1,46%, ở nam giới là 1,61±0,99% Nguyên nhân chính gây mù 2 mắt ở Thái Nguyên hiện nay là ĐTTT chiếm 65,5% Tiếp theo là bệnh phần sau nhãn cầu (10,9%) Glôcôm là nguyên nhân gây mù xếp thứ ba (7,3%) Bên cạnh đó, biến chứng phẫu thuật ĐTTT, teo nhãn cầu và sẹo giác mạc do mắt hột cũng là những nguyên nhân gây mù rất đáng chú ý (đều chiếm 3,6%) [9]
Trang 251.2 Một số biện pháp phòng chống bệnh về mắt hiện nay ở cộng đồng
1.2.1 Tình hình phòng chống bệnh về mắt trên thế giới
Những nỗ lực sớm của WHO để phòng chống mù loà bắt đầu từ những năm 1950 dành cho việc ngăn ngừa và loại trừ bệnh mắt hột Những nỗ lực này không chỉ hỗ trợ các nước thành viên đánh giá mức độ của vấn đề và thiết lập các hoạt động kiểm soát mà còn cả một số sáng kiến về các giải pháp điều trị Các hoạt động tập trung vào việc nghiên cứu thực địa và dựa trên các kết quả, các chiến lược được phát triển để phòng ngừa và kiểm soát bệnh mắt hột Các chiến lược này được thực hiện trong các chương trình kiểm soát bệnh giun đũa chủ yếu ở một số nước thuộc vùng Đông Địa Trung Hải, Đông Nam
Á và Tây Thái Bình Dương, nơi bệnh mắt hột rất phổ biến, các biện pháp can thiệp bao gồm cả điều trị bằng thuốc mỡ tra mắt Tetracyclin 1% Tuy nhiên, các hoạt động này là các chương trình có mục đích đơn lẻ, tuy đạt được những thành tựu nhất định nhưng không bền vững [101]
Ngay trước và đặc biệt là sau khi thành lập chương trình phòng chống
mù loà của WHO được khởi động vào năm 1978, phạm vi hoạt động phòng chống mù loà của chương trình đã trở nên rộng rãi hơn Nhiệm vụ của chương trình phòng chống mù loà là hỗ trợ các quốc gia thành viên tổ chức các chương trình và hoạt động nhằm ngăn chặn và kiểm soát bốn nguyên nhân chính gây mù loà và giảm thị lực được xác định vào thời điểm đó Chiến lược này phù hợp với tuyên bố của Hội nghị Quốc tế về chăm sóc sức khoẻ ban đầu được tổ chức tại Alma-Ata năm 1978, chiến lược của chương trình phòng chống mù loà được thông qua coi việc cung cấp dịch vụ chăm sóc mắt là một phần không thể thiếu của chăm sóc sức khoẻ ban đầu, khái niệm “chăm sóc mắt ban đầu” đã được phát triển từ đó và chiến lược này vẫn tồn tại cho đến ngày nay
Trang 26Năm 1975, tổ chức quốc tế về phòng chống mù loà được thành lập Thành viên sáng lập của tổ chức này bao gồm Hội đồng Nhãn khoa quốc tế (đại diện của Hội liên hiệp nhãn khoa quốc tế); Hội đồng thế giới về phúc lợi của người mù (sau này đổi tên là liên minh người mù thế giới) và 2 tổ chức phi chính phủ quốc tế Quỹ người mù của Mỹ (sau này đổi tên thành Hellen Keller International) và hiệp hội khiếm thị hoàng gia Anh quốc (sau này đổi tên là Sight savers international)
Ngoài sự hợp tác với Tổ chức quốc tế về phòng chống mù loà, chương trình phòng chống mù loà của WHO đã phối hợp chặt chẽ với các tổ chức phi chính phủ quốc tế khác thông qua trao đổi thông tin và các hoạt động chung Đây là khởi đầu cho mối quan hệ dẫn tới câu chuyện thành công của “Tầm nhìn 2020 – Quyền được nhìn thấy”
“Tầm nhìn 2020 – Quyền được nhìn thấy” là một chương trình được đưa ra vào đầu năm 1999 tại Geneva bởi Tổng giám đốc WHO (là sự nỗ lực hợp tác của các tổ chức Chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức chuyên nghiệp và các viện nghiên cứu) với mục đích nhằm loại bỏ mù loà có thể phòng tránh được vào năm 2020 Chương trình này coi chăm sóc mắt toàn diện như là một phần không thể tách rời khỏi hệ thống chăm sóc sức khoẻ ban đầu VISION 2020 bao gồm các thành phần quan trọng như: kiểm soát các bệnh cụ thể, phát triển nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng và phát triển công nghệ thích hợp Trong 5 năm đầu tiên, các nỗ lực kiểm soát bệnh tập trung vào bệnh đục thể thuỷ tinh, bệnh mắt hột, bệnh giun chỉ Onchocerciasis, các nguyên nhân có thể phòng tránh được ở trẻ em, lỗi khúc xạ không sửa chữa và thị lực thấp
Hiện nay có một số bệnh mới nổi như bệnh võng mạc tiểu đường, tăng nhãn áp, thoái hoá điểm vàng liên quan đến lão hoá đang dần được đưa vào các hoạt động của VISION 2020 vì một số điều kiện ưu tiên có thể ngăn ngừa
Trang 27và điều trị ưu tiên được kiểm soát Tuy nhiên, ở những quốc gia mà nhiều bệnh khác đang được coi trọng hơn thì VISION 2020 không tồn tại [101]
Tình trạng mù loà và suy giảm thị lực hiện nay đang ngày càng tăng theo sự tăng nhanh của dân số già trên thế giới đang là một thách thức đối với toàn xã hội Những cá nhân, dựa trên kiến thức và kỹ năng của họ có thể đóng góp nhiều cho việc đối phó với thách thức này không chỉ là trách nhiệm nghề nghiệp mà còn là trách nhiệm đạo đức trong lĩnh vực này Tỷ lệ nghèo đói lớn
ở các nước có gánh nặng do mù loà có thể phòng tránh được và điều này làm tăng sự thiếu công bằng cả về số lượng và chất lượng của các dịch vụ chăm sóc mắt có sẵn ở các nước này Mục tiêu của VISION 2020 là đáp ứng nguyện vọng của mọi người về quyền của con người đối với mắt của họ
1.2.2 Tình hình phòng chống bệnh về mắt tại Việt Nam
1.2.2.1 Chương trình chăm sóc mắt ban đầu
* Cơ sở khoa học
Chăm sóc mắt ban đầu là bộ phận không thể thiếu được của chăm sóc sức khoẻ ban đầu, nó có thể dễ dàng lồng ghép vào chức năng nhiệm vụ của các cán bộ chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở cộng đồng
Nhiều bệnh mắt và mù loà có thể dễ dàng phòng tránh hoặc điều trị được bởi các can thiệp rẻ tiền và có hiệu quả bởi các nhân viên y tế cộng đồng Phần lớn các trường hợp mù loà (chiếm tới 70-80%) gặp ở các nước đang phát triển đều có thể phòng hoặc chữa trị được Việc áp dụng các biện pháp đơn giản, ít tốn kém, dễ làm và dễ được cộng đồng chấp nhận nhưng lại
có hiệu quả cao và loại mù loà đó gọi là mù loà có thể phòng tránh được dễ dàng và loại mù do ĐTTT có thể phục hồi nhanh chóng bằng một phẫu thuật đơn giản, an toàn, ít tốn kém và có thể thực hiện rộng rãi ở cộng đồng
* Những bệnh lý mắt có thể phòng và chữa được
Trang 28- Bệnh mắt hột lưu địa và nhiễm trùng phối hợp gây tác hại cho gần
500 triệu người và gây mù cho khoảng 6 triệu người sống trong các cộng đồng nghèo, ở các vùng nông thôn các nước đang phát triển hiện nay, có thể
dễ dàng khống chế được bằng cách tra thuốc mỡ hoặc uống thuốc kháng sinh hoàng loạt cho trẻ em, đồng thời mổ quặm cho người lớn và tiến hành các bước cải thiện vệ sinh cá nhân và môi trường;
- Suy dinh dưỡng và thiếu vitamin A có thể dẫn đến khô nhuyễn giác mạc gây mù loà vĩnh viễn và rất nhanh chóng, thường gặp ở những trẻ em thuộc cộng đồng nghèo kém nuôi dưỡng, có thể phòng tránh bằng cách giáo dục nuôi con hợp lý, uống bổ sung 1 viên nang vitamin A liều cao định kỳ và thực hiện các biện pháp chăm sóc sức khoẻ ban đầu khác như tiêm chủng mở rộng và phòng chống bệnh tiêu chảy…;
- Các nhiễm khuẩn mắt ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là nhiễm lậu, có thể dẫn đến viêm loét giác mạc gây mù cho trẻ, có thể dễ dàng điều trị và ngăn ngừa bằng việc tra thuốc mỡ kháng sinh ngay sau khi sinh cho trẻ và thực hiện vô khuẩn trong sản khoa và hạn chế lây lan của bệnh bằng việc giáo dục cộng đồng lành mạnh và an toàn trong tình dục
- Bệnh đục thể thuỷ tinh của mắt gây giảm sút thị lực, thường gặp ở người cao tuổi, nó ảnh hưởng tới thị lực của gần 90% số người trên 60 tuổi Đây là nguyên nhân chính của loại mù loà có thể chữa dễ dàng ở hầu hết các vùng, bởi vì thị lực có thể phục hồi tốt bằng phẫu thuật mổ lấy TTT đục và đặt TTT nhân tạo hoặc đeo kính sau mổ
- Mù loà do chấn thương mắt có thể giải quyết bằng cách phòng ngừa tai nạn trong sinh hoạt, lao động sản xuất và các nhân viên y tế biết xử lý sớm, đúng cách và chuyển tuyến trên kịp thời
- Bệnh Glôcôm là bệnh tăng nhãn áp và tổn thương thị trường, cuối cùng gây giảm thị lực và mù loà, chiếm khoảng 6-10% tổng số người mù
Trang 29Ngăn chặn bệnh này dựa vào việc phát hiện sớm thông qua việc giáo dục sức khoẻ và hệ thống chăm sóc mắt ban đầu, kịp thời chuyển bệnh nhân đi điều trị bằng phẫu thuật hoặc bằng các thuốc thích hợp khác
* Ý nghĩa việc thực hiện chăm sóc mắt ban đầu
Trong cộng đồng nghèo ở các nước đang phát triển, nhiều người đã bị
mù chính là do thiếu các dịch vụ chăm sóc mắt, hoặc người dân không tiếp cận được với các dịch vụ đó Việc hướng dẫn áp dụng các biện pháp đơn giản,
dễ làm về chăm sóc mắt ban đầu cho mỗi người dân, mỗi gia đình và mỗi cán
bộ y tế, đặc biệt là ở tuyến cơ sở sẽ ngăn chặn mù loà có hiệu quả
1.2.2.2 Chiến lược phòng chống mù loà của Việt Nam
Căn cứ vào tình hình thực tế về các bệnh về mắt và tỷ lệ mù loà ở Việt Nam, các điều kiện kinh tế xã hội của đất nước và sáng kiến “thị giác 2020 của WHO”, Viện Mắt Trung ương đã đề ra chiến lược phòng chống mù loà ở Việt Nam trong giai đoạn 2000-2010 gồm các nội dung: Kiểm soát các bệnh chủ yếu gây mù nhưng có thể phòng tránh được; đặc biệt ưu tiên đẩy mạnh công tác mổ ĐTTT, nhằm nhanh chóng giải quyết số tồn đọng ĐTTT và giải quyết kịp thời số mù mới do ĐTTT; tìm và giải quyết các ổ mắt hột gây mù còn tồn tại rải rác, tích cực mổ quặm cho người lớn, kịp thời ngăn chặn biến chứng gây mù loà do bệnh mắt hột; Hợp tác chặt chẽ với ngành Dinh dưỡng
và ngành Nhi, tiếp tục phòng chống bệnh khô mắt do thiếu vitamin A ở trẻ
em, tiến tới thanh toán bệnh khô mắt vào năm 2005 Mục tiêu các chương trình phòng chống mù loà quốc gia là cung cấp sự chăm sóc ban đầu một cách
có hiệu quả cho mọi quần thể nhân dân trong cộng đồng và kiểm soát, loại trừ các loại mù loà có thể phòng tránh được
1.2.2.3 Kết quả một số giải pháp phòng chống mù loà qua một số nghiên cứu
Mù loà là gánh nặng to lớn và là vấn đề xã hội của tất cả các nước trên thế giới Nước ta với tỉ lệ đục thể thuỷ tinh chiếm tỉ lệ cao hàng đầu (gần 70%
Trang 30các trường hợp gây mù) và công tác phòng chống bệnh đục thể thuỷ tinh sẽ được đặt biệt ưu tiên trong Chương trình Phòng chống mù lòa Tuy nhiên, công tác phẩu thuật đục thể thuỷ tinh cả về số lượng và chất lượng cũng còn một số hạn chế nhất định
* Một số nghiên cứu về can thiệp mổ đục thể thuỷ tinh
Nguyễn Văn Cương và cộng sự (2005) [5] đã đánh giá nhanh mù loà và hiệu quả của can thiệp mổ ĐTTT ở cộng đồng tỉnh Hà Nam cho thấy: Tỷ lệ người được mổ ĐTTT 2 mắt là 1,39%, mổ 1 mắt là 2,37% Tỷ lệ bao phủ phẫu thuật 63,89% (theo người), 43,20% (theo mắt) Tỷ lệ thành công của phẫu thuật là 67,42% Các trở ngại cho người mù 2 mắt do ĐTTT đi mổ chủ yếu là: quá già không có nhu cầu (27,9%), không có tiền đi mổ (23,1%), không có người đưa đi mổ (9,1%), không biết mình bị đục thể thuỷ tinh (18,2%), một mắt còn nhìn rõ (7,7%), sợ mổ không sáng ra (3,5%), chờ đội phẫu lưu động (1,4%), không có thời gian vì bận việc (2,8%) và không mổ được do các bệnh nặng toàn thân khác (5,6%)
Năm 2011, tác giả Nguyễn Chí Dũng [9] đã có nghiên cứu đánh giá nhanh tỷ lệ mù loà và hiệu quả can thiệp mổ ĐTTT ở cộng đồng tỉnh Thái Nguyên cho thấy: Tỷ lệ người đã được mổ ĐTTT cả 2 mắt trong mẫu khám là 0,68%, mổ 1 mắt là 1,96% Tỷ lệ người được mổ ĐTTT 1 mắt nhiều hơn tỷ lệ
mổ 2 mắt, vì nhiều bệnh nhân chỉ ĐTTT 1 mắt hoặc chỉ mổ 1 mắt Tỷ lệ thành công của phẫu thuật trong vòng 5 năm gần đây (mắt mổ có thị lực >6/18 sau mổ) ở Thái Nguyên đạt 51,3% là một tỷ lệ chưa cao và chắc chắn chúng ta còn phải phấn đấu nhiều mới đạt được mức khuyến cáo của WHO là trên 90% Sau khi thử qua kính lỗ, tỷ lệ thị lực kém (dưới 6/60) của mắt đã mổ đã giảm từ 23,1% xuống 12,8% Như vậy khoảng 10% số mắt mổ đã không được chỉnh kính sau mổ hoặc không được đặt IOL đúng công suất Một vấn đề khác cũng cần quan tâm là chỉ định phẫu thuật, có tới 33,3% số mắt mổ có thị
Trang 31lực kém dưới 1/10 là do mắc các bệnh khác kèm theo Biến chứng phẫu thuật gây thị lực dưới 1/10 cũng còn cao, chiếm 22,2% Do đó cần quan tâm đến việc nâng cao hơn nữa chất lượng phẫu thuật và đo đạc tính toán công suất IOL trước mổ cũng như chỉnh kính sau mổ thật đúng đắn Các trở ngại chính ngăn cản bệnh nhân đi mổ ĐTTT theo nghiên cứu này ở Thái Nguyên là nghèo (42,3%), không có người đưa đi mổ (17,3%) Không biết bệnh này có thể chữa sáng được, không biết đi mổ ở đâu đều chiếm 5,8%
Mắt hột là một bệnh viêm nhiễm gây mù của mắt phổ biến ở nước ta vào những năm 50, 60 của thế kỷ 20 Vào thời điểm đó, tỷ lệ mắt hột hoạt tính rất cao, có nơi tới 90% hay 100% dân số Công tác phòng chống bệnh mắt hột được tiến hành qua nhiều năm với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và Bộ Y
tế, cố gắng của ngành Nhãn khoa Việt Nam, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Hiện nay mắt hột không còn là nguyên nhân gây mù đáng quan tâm và có thể nói mắt hột đã bị loại khỏi nguyên nhân gây mù ở nước ta Tuy nhiên, hiện nay tình trạng quặm trong cộng đồng còn khá cao và
là tiêu chí đáng quan tâm của ngành Nhãn khoa và trở ngại lớn đối với công tác thanh toán quặm gây mù và mục tiêu “thị giác 2020” Chính vì thế năm
2008, Đỗ Như hơn [19] đã nghiên cứu đề tài Quặm do mắt hột trên người từ
50 tuổi trở lên ở Việt Nam Tác giả đã chỉ ra tỷ lệ dân số từ 50 tuổi trở lên có
3 lông siêu khá cao, tỷ lệ chung khoảng 1,4% Tuy nhiên theo khuyến cáo, không cần mổ ở nhóm này, chỉ cần hướng dẫn cho gia đình bệnh nhân nhổ hay đốt lông siêu và có thể theo dõi kết hợp tra thuốc khi có viêm nhiễm ở mắt để tránh tái phát và trầm trọng hơn của bệnh Nhóm người có quặm thực
sự cần mổ sớm (có từ 4 lông siêu trở lên) khá cao, nghiên cứu trên quần thể dân cư tại các địa phương nghiên cứu ta có tỷ lệ 2% và ước tính trên cả nước cũng có tỷ lệ 2% trên dân số từ 50 tuổi trở lên Tỷ lệ trong toàn dân ở mức khoảng 0,3% như vậy là khá cao so với tiêu chuẩn của WHO đề ra: tỷ lệ
Trang 32quặm < 1% Tổng số quặm cần mổ trên cả nước ước khoảng 250.000 người, trong đó nam là 70.000 và nữ là trên 173.000 người Đây cũng là thách thức lớn đối với mù loà
Ở một khía cạnh khác năm 2012 Nguyễn Hữu Lê và cộng sự [25] nghiên cứu tỷ lệ mù loà do ĐTTT và độ bao phủ phẫu thuật tại tỉnh Nghệ An cho thấy: ĐTTT chưa được phẫu thuật chiếm 67,9% trong các nguyên nhân gây mù (mức thị lực < 3/60) Tỷ lệ mù lòa do ĐTTT gây nên là 3,1% Độ bao phủ phẫu thuật T3 (mức thị lực < 6/60) là 50,8% Có 3 nguyên nhân chính cản trở bệnh nhân đi mổ là "Tuổi già: không có nhu cầu (20,8%)", "Không có khả năng chi trả PT (16%)", "Một mắt mổ tốt là đủ, không có nhu cầu mổ mắt còn lại (13,2%)" Khi so sánh với khuyến cáo của WHO trong chiến lược "Thị giác 2020 quyền được nhìn thấy" độ bao phủ phẫu thuật là 85% Thì với kết quả ĐTTT là nguyên nhân mù lòa dẫn đầu, tỷ lệ mắc bệnh còn cao tại Nghệ
An Độ bao phủ phẫu thuật ĐTTT tại Nghệ An chỉ mới đạt mức trung bình Ý thức của người dân để tăng cường công tác tiếp cận phẫu thuật là chưa cao
Từ đó nhóm tác giả đã đưa ra khuyến nghị cần thiết phải đưa phẫu thuật ĐTTT là ưu tiên số 1 khi xây dựng chiến lược giải phóng mù lòa, bên cạnh đó việc truyền thông, thông tin thay đổi hành vi của người bệnh cũng như cộng
đồng nhằm đẩy cao số lượng người dân tiếp cận với phẫu thuật cũng rất cần thiết
* Một số nghiên cứu về tìm kiếm dịch vụ y tế của cộng đồng đối với bệnh mù loà
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Lê và cộng sự (2013) [24] về kiến thức, thái độ, hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế của cộng đồng đối với các bệnh
mù loà có thể phòng tránh được tại Nghệ An cho thấy: Về hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc và điều trị vấn đề hay bệnh về mắt của cộng đồng thì người được phỏng vấn có khuynh hướng chỉ tìm tới cơ sở khám mắt khi có biểu hiện đau mắt (40,9%) Dưới 10% các đối tượng điều tra duy trì kiểm tra mắt
Trang 33định kỳ Kiểm tra mắt định kỳ hàng năm được thực hiện nhiều hơn ở nhóm phụ nữ, những người hơn 50 tuổi và những người có khuyết tật Một tỷ lệ không nhỏ 7,4% trả lời không bao giờ đi khám mắt Khi gặp vấn đề về mắt 76,7% người trả lời phỏng vấn tìm kiếm ngay các dịch vụ chăm sóc và khám mắt Những người già và người không khuyết tật có khuynh hướng trì hoãn hơn người dưới 50 tuổi và người khuyết tật (73,3% và 72,7% so với 80,2 và 79,2%) Tỷ lệ trả lời không đi khám khi có vấn đề về mắt ở nhóm phụ nữ, nhóm người tuổi dưới 50 và nhóm khuyết tật thể hiện cao hơn khoảng 2 lần
so với các nhóm khác
Trong số những người trì hoãn thời gian đi khám đến hơn một tuần kể
từ khi có vấn đề về mắt, phần đông vì cho rằng vì bệnh không nặng lắm (66,7%), 41,7% vì lo ngại về chi phí, 16% do quá bận hoặc không có người
Giải thích cho việc không đi khám khi có vấn đề về mắt, lý do vẫn còn nhìn thấy được đề cập tới nhiều nhất 15,4%, tất cả trong số này là nam giới và người trên 50 tuổi Những lý do khác như không tin tưởng bác sỹ và chất lượng trang thiết bị, khó khăn khi di chuyển hay do chi phí quá cao được đề cập đến với tỷ lệ 3,8% Lo ngại về chi phí quá cao chỉ được ghi nhận ở nhóm
nữ giới, trong khi ba nguyên nhân còn lại được nêu ra chỉ bởi nhóm nam giới Khó khăn trong di chuyển được nêu bởi những nguời trả lời phỏng vấn là nam giới, nguời trên 50 tuổi và người khuyết tật Không có trường hợp nào vì e
Trang 34ngại thời gian chờ đợi lâu tại cơ sở y tế Có 95,9% trong số những người có đi khám khi gặp các vấn đề hay bệnh về mắt đã tham gia điều trị, 4,1% còn lại không điều trị Số liệu điều tra cho thấy phần đông bệnh nhân đã được điều trị bởi các bác sỹ bệnh viện công và các cán bộ y tế tuyến xã (46,1 và 45,5%) Số bệnh nhân của cán bộ y tế huyện đạt tỷ lệ thấp hơn khoảng hai lần (26,1%)
Tỷ lệ tiếp cận dịch vụ điều trị tại tuyến xã ghi nhận cao hơn ở nhóm nữ giới, người dưới 50 tuổi và người không khuyết tật
Kết quả điều tra cho thấy đa số bệnh nhân đã mua thuốc trong quá trình
họ điều trị các bệnh về mắt (99,4%) Phần lớn thuốc được mua tại các trung tâm của các bệnh viện (65,2%), 19,5% mua tại các nhà thuốc địa phương và 4,9% được mua tại các bác sỹ tư Tỷ lệ khách hàng là nam giới, là người hơn
50 tuổi hay người không khuyết tật của các trung tâm bán thuốc của các bệnh viện cao hơn so với các khách hàng khác Chiều hướng ngược lại được ghi nhận đối với những khách hàng mua thuốc tại các nhà thuốc địa phương
Đối với sự tiếp cận các dịch vụ y tế chăm sóc, khám và điều trị các vấn
đề và bệnh về mắt của cộng đồng, số liệu thu thập cho thấy hơn 80% cộng đồng được biết đến các vấn đề và bệnh mắt thông qua các chương trình tivi,
và khoảng 67% các thông tin đến từ đài phát thanh và loa truyền thanh của phường Các cán bộ y tế tuyến xã cũng có vai trò truyền thông đáng kể với tỷ
lệ đạt 65,4% Ngoài ra các cán bộ y tế tuyến huyện và các bác sỹ cũng là kênh thông tin đáng kể, đạt tỷ lệ tương ứng là 46,7% và 55,3%
Về các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận của cộng đồng với các dịch vụ liên quan đến mắt: Số liệu điều tra cho thấy đa phần các đối tượng sống gần các cơ sở khám/ chữa mắt, 57,9% cách cơ sở khám/chữa mắt gần nhất từ 1 km đến 10 km, 26,1% cách từ 500 m đến 1 km Phương tiện sử dụng chủ yếu để đi tới cơ sở y tế là xe đạp và xe máy (gần 40%) 17,1% người được phỏng vấn lựa chọn hình thức đi bộ, rất ít người đi bằng ô tô, xe buýt
Trang 35hoặc phải kết hợp nhiều loại phương tiện khác nhau (chiếm khoảng 5,5%) Ða phần người được phỏng vấn có thể đến được cơ sở y tế trong vòng 30 phút, chỉ 1.6% phải tiêu tốn hơn 1 giờ
Việc đi tới cơ sở khám/chữa mắt vào mùa khô được 92,6% đánh giá là
dễ dàng, tỷ lệ thấp hơn 73,2% được ghi nhận đối với mùa mưa 70,4% đối tượng điều tra không cần có nguời đi cùng khi tới cơ sở khám/chữa mắt
Bảo hiểm Y tế được coi là một trong những hình thức hỗ trợ về mặt kinh tế, giúp cộng đồng tăng khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế liên quan đến các vấn đề và các bệnh về mắt Tuy nhiên, chỉ 66,4% trong số
257 người được hỏi có mua bảo hiểm y tế Tỷ lệ này cao hơn ở nhóm nam giới, nhóm trên 50 tuổi và nhóm khuyết tật Lý do được đề cập nhiều hơn cả cho việc không mua bảo hiểm y tế là giá thành quá đắt (19,6%) và không có điểm bán (11,6%) Quan điểm cho rằng mua bảo hiểm y tế là không cần thiết cũng được đề cập tới tuy chỉ với tỷ lệ 3,5% [24]
Tỷ lệ đánh giá các loại chi phí là quá đắt thể hiện cao hơn ở nhóm nữ giới, nhóm trên 50 tuổi và nhóm người khuyết tật, trong khi quan điểm đắt nhưng vẫn có khả năng chi trả gặp ở các nhóm ngược lại
1.2.2.4 Thực trạng nguồn lực và khả năng cung cấp dịch vụ chăm sóc mắt, phòng chống mù loà
Mù loà hiện đang là một vấn đề gây ảnh hưởng đáng kể tới sức khoẻ cộng đồng tại Việt Nam cũng như ở nhiều nước đang phát triển Trong những năm qua, mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc mắt trong cả nước
đã có nhiều cố gắng trong hoạt động khám chữa bệnh và phòng chống mù loà cho người dân trong cộng đồng Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là quốc gia có tỷ lệ
mù loà ở mức cao so với các nước trong khu vực Bên cạnh đó, trong phạm vi toàn quốc hiện cũng chưa có số liệu điều tra về mù loà và tổn hại chức năng thị giác do tật khúc xạ Các yếu tố về kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến hiệu quả
Trang 36hoạt động của công tác phòng chống mù loà cũng như đánh giá về nguồn lực đầu tư và mức độ cung ứng cũng như sử dụng các dịch vụ chăm sóc mắt cũng chưa được nghiên cứu đầy đủ…Bối cảnh trên đòi hỏi cần thiết phải tiến hành nghiên cứu đánh giá nguồn lực và khả năng cung cấp dịch vụ chăm sóc mắt, phòng chống mù loà tại các địa phương trong cả nước nhằm cung cấp các bằng chứng để xây dựng kế hoạch hành động Quốc gia trong thời gian sắp tới
* Các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và văn bản quy phạm pháp luật về CSM, PCML
Trên phạm vi cả nước, mới chỉ có 2 văn kiện hoặc đề cập trực tiếp hoặc
có liên quan đến chương trình CSM, PCML đó là: (1) Cam kết ủng hộ “Sáng kiến toàn cầu về loại trừ mù lòa có thể phòng và chữa được” do Bộ Y tế ban hành vào ngày 5 tháng 3 năm 2000 và (2) Luật Hiến, lấy, ghép mô bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác do Quốc hội ban hành năm 2006 trong đó có các điều khoản liên quan đến hiến, tặng và ghép giác mạc [40]
Tại một số địa phương, các cấp ủy Đảng, Chính quyền cũng đã bước đầu ban hành một số văn bản lãnh đạo, chỉ đạo cũng như văn bản quy phạm pháp luật thể hiện sự quan tâm đối với công tác CSM, PCML như: Chỉ thị của Tỉnh ủy; Công văn của Ủy ban Nhân dân tỉnh của một số địa phương về tăng cường công tác PCML; Quyết định của UBND các tỉnh về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sự nghiệp Y tế của địa phương trong đó có mạng lưới CSM, PCML; Quyết định của UBND một số tỉnh về phê duyệt đề án mở rộng, nâng cấp cơ sở cung cấp dịch vụ CSM tuyến tỉnh hoặc công văn của Sở
Y tế một số tỉnh chỉ đạo đẩy mạnh công tác phòng chống mù loà
* Tổ chức, mạng lưới
Mạng lưới CSM, PCML hiện đã được thiết lập ở các tuyến từ trung ương đến tỉnh, huyện, xã với sự đa dạng cả về mô hình tổ chức, cơ cấu tổ chức cũng như các loại hình tham gia
Trang 37- Tại Trung ương: Bệnh viện Mắt Trung ương là đơn vị đầu ngành, đảm nhiệm vai trò chỉ đạo tuyến đối với toàn bộ mạng lưới trong toàn quốc
- Tại tuyến tỉnh: Trong phạm vi cả nước, tại thời điểm khảo sát mới chỉ
có ở 42% các tỉnh, thành phố (27/64), cơ sở CSM tuyến tỉnh hoạt động như một đơn vị độc lập trong đó có 19% các địa phương đã quan tâm phát triển thành Bệnh viện chuyên khoa Độ bao phủ của các cơ sở Y tế ngoài công lập còn khá hạn hẹp
- Tại tuyến huyện: Cơ sở cung cấp dịch vụ CSM, PCML tuyến huyện được đặt tại bệnh viện Đa khoa huyện và trung tâm Y tế Dự phòng huyện
- Tại tuyến xã: Tại mỗi trạm Y tế xã/phường, hoạt động CSM đều có một nhân viên đảm nhận kiêm nhiệm cùng một số chương trình Y tế khác
* Nhân lực
Phân tích số liệu thống kê tại 64 tỉnh/thành phố trong cả nước cho thấy
tỷ lệ huyện có bác sỹ Nhãn khoa chỉ chiếm khoảng 46%, có y sỹ Nhãn khoa cũng chỉ mới đạt ở mức 70% Tỷ lệ xã có cán bộ CSM được đào tạo đạt 80%
và tỷ lệ thôn có nhân viên y tế thôn bản được tập huấn về CSM hiện mới chỉ đạt 47%
Về cơ cấu các chức danh chuyên môn trong mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ CSM qua kết quả khảo sát tại 16 tỉnh/thành phố; tỷ lệ y sỹ, y tá chuyên khoa Mắt/bác sỹ chuyên khoa Mắt còn thấp, mới đạt ở mức 0,97 (146/150) Phân bố về nhân lực trong mạng lưới các có sở CSM còn bất hợp
lý, tập trung nhiều tại các cơ sở tuyến tỉnh (>86%) trong khi đó ở tuyến cơ sở (huyện, xã) nhân lực CSM vừa thiếu về số lượng vừa yếu về trình độ chuyên môn
Về khả năng chuyên môn: Khám, chẩn đoán và điều trị các bệnh thông thường về mắt; thực hiện chương trình CSM cộng đồng và tư vấn, hướng dẫn, truyền thông về CSM là những dịch vụ mà nhân viên của các cơ sở CSM tại
Trang 3816 địa phương thuộc địa bàn khảo sát đảm nhận được với tỷ lệ cao nhất: 50,3%; 49% và 46,4% Đối với các dịch vụ phẫu thuật khác đòi hỏi tay nghề cao như: mổ ngoài bao đục thể thủy tinh, phẫu thuật Glôcôm, phẫu thuật chấn thương chỉnh hình; tỷ lệ nhân viên đảm nhiệm được không nhiều (29,3%; 20,4% và 14,3%)
Về đào tạo mới và đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho nhân lực
Y tế của mạng lưới CSM trong 5 năm (2003 – 2007): bình quân tại mỗi tỉnh/thành phố đã đào tạo khoảng 9,6 cán bộ có trình độ từ bác sỹ chuyên khoa định hướng trở lên trong khi đó chỉ đào tạo được 5,7 y sỹ chuyên khoa
và y tá chuyên khoa Đáng chú ý là số chỉnh quang viên được đào tạo trong 5 năm gần tại các địa phương còn rất hạn chế (bình quân 1,45 người/tỉnh)
* Cơ sở vật chất và trang thiết bị
Về cơ sở vật chất, toàn bộ mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ CSM
từ tỉnh đến huyện có khoảng gần 2.000 giường bệnh, bình quân >30 giường bệnh/tỉnh, thành phố Nhìn chung cơ sở vật chất của mạng lưới cung cấp dịch
vụ CSM trong cả nước hiện còn nhiều bất cập chưa theo kịp nhu cầu khám và điều trị các bệnh về mắt ngày càng tăng trong cộng đồng
* Kinh phí
Bình quân mỗi năm kinh phí đầu tư cho CSM của 1 tỉnh/thành phố trong cả nước ước tính khoảng 5 tỷ đồng, trong đó nguồn thu từ viện phí luôn chiếm tỷ trọng cao nhất (khoảng 70%), đầu tư của nhà nước chỉ chiếm >10%
Số còn lại khoảng 20% là huy động từ các nguồn khác như: viện trợ quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các nhà hảo tâm trong nước… Tỷ trọng đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho hoạt động CSM thấp hơn hẳn so với công tác CSSK nói chung (10% so với 30%)
* Về nhu cầu đầu tư nguồn lực trong những năm sắp tới
Trang 39Về khả năng cung cấp các dịch vụ kỹ thuật trong CSM: đối với các dịch vụ kỹ thuật cao, số lượng các cơ sở tuyến tỉnh trong cả nước đáp ứng được không nhiều Các dịch vụ CSM tại tuyến huyện ở hầu hết các địa phương trong cả nước còn rất hạn chế, chỉ là những dịch vụ thiết yếu như: lấy
dị vật kết giác mạc (77,8%), chích chắp lẹo (77,8%), lông quặm/lông xiêu (66,7%), cắt u kết mạc, khâu da mi rách (61,1%) Tại tuyến xã, các dịch vụ KCB về Mắt còn nhiều hạn chế do thiếu trầm trọng cả về trang thiết bị lẫn nhân lực có trình độ chuyên khoa
Khả năng cung cấp dịch vụ CSM của cơ sở y tế các tuyến chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của một số yếu tố như: sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, Chính quyền, các ngành đặc biệt là ngành Y tế; mô hình tổ chức, trình độ chuyên môn, điều kiện cơ sở vật chất cùng trang thiết bị của mạng lưới các cơ
sở CSM; kiến thức và hành vi CSM của người dân…
* Kiến thức và hành vi CSM của người dân
Kiến thức của người dân về các bệnh mắt và các biện pháp bảo vệ, CSM còn chưa đầy đủ Tỷ lệ nghe/biết các bệnh thông thường về mắt mới chỉ đạt ở mức từ >60% - 70% Tỷ lệ nhận biết được các nguyên nhân gây mù lòa
và các biện pháp bảo vệ CSM còn thấp hơn Hiểu biết của người dân về các bệnh mắt và CSM có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm dân cư theo giới tính, trình độ học vấn và mức sống
có dấu hiệu bất thường từ 1 - 3 ngày (63,7%)
Trang 401.2.3 Tình hình quản lý, chăm sóc mắt ở Quảng Ninh hiện nay
Tình trạng mù lòa hiện đang được xem là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng vì hậu quả của nó gây ra cho người mắc cũng như gia đình của họ nói riêng và xã hội nói chung Góp phần giảm thiểu tình trạng mù lòa cho người dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, cùng với toàn ngành Y tế, Khoa Mắt bệnh viện đa khoa tỉnh, Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh đã và đang phát huy những kết quả đạt được thời gian qua, tiếp tục nỗ lực phấn đấu nhằm hướng đến mục tiêu “Chung tay loại trừ tình trạng mù lòa có thể phòng tránh được”
cho người dân trong tỉnh
Ở Quảng Ninh, bên cạnh tình trạng mù lòa do các chấn thương mắt trong lao động và sinh hoạt thì các bệnh lý dẫn đến tình trạng mù lòa do các nguyên nhân có thể phòng tránh được bao gồm bệnh đục thể thủy tinh, Glôcôm, tật khúc xạ, mắt hột, bệnh tăng nhãn áp, các bệnh về chuyển hóa như đái tháo đường Trong đó, đục thể thủy tinh là nguyên nhân gây mù lòa hàng đầu trong số các nguyên nhân gây mù lòa có thể phòng tránh được hiện nay, đặc biệt tình trạng mù lòa ở những người cao tuổi
Trước thực trạng đó, ngoài việc thường xuyên thực hiện hiệu quả công tác khám sàng lọc, thu dung và phẫu thuật phục hồi thị lực cho những bệnh nhân bị mù lòa có thể điều trị khỏi thì cần triển khai nhiều hoạt động nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành cũng như của cộng đồng về ý thức chăm sóc mắt, đặc biệt là hiểu biết về các nguyên nhân gây
mù, suy giảm thị lực có thể phòng tránh được Từ đó chung tay hướng đến mục tiêu loại bỏ hoàn toàn mù lòa có thể phòng tránh được trong cộng đồng
Ngay từ năm 2008 tỉnh Quảng Ninh đã thành lập Ban chỉ đạo chăm sóc mắt và phòng chống mù lòa do đồng chí phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh làm Trưởng ban; đồng chí Giám đốc Sở Y tế là phó ban thường trực, các lãnh đạo sở ban ngành; Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh là thành viên Đã thành lập