Bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng là hoạt động có ý nghĩa về mặt kinh tế - xã hội cao. Hoạt động này có ý nghĩa nhân văn sâu sắc khi chia sẻ rủi ro giữa các tổ chức và cá nhân tham gia bảo hiểm, góp phần ổn định sản xuất và đời sống. Với xu thế mở rộng hợp tác, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn với nền kinh tế thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần thúc đẩy sự phát triến nền kinh tế thông qua việc tăng cường khả năng thu hút các nguồn lực về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý. Hội nhập kinh tế trong lĩnh vực bảo hiểm cũng nằm chung trong xu hướng đó. Việc mở cửa cho các DNBH 100% vốn nước ngoài gia nhập thị trường Việt Nam đã tạo áp lực cạnh tranh khốc liệt cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước. Vì bảo hiểm là một lĩnh vực hoạt động rất nhạy cảm, có tính xã hội cao, đòi hỏi các DNBH luôn trăn trở và tìm ra đường lối kinh doanh để làm sao hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Nhận thấy đây là một vấn đề rất quan trọng với các doanh nghiệp bảo hiểm và khi bản thân là một cán bộ tại Công ty Bảo Việt Phú Thọ, hàng ngày vẫn góp phần vào sự phát triển chung của công ty với doanh thu khai thác ngày càng cao nhưng bên cạnh đó là chi phí lớn, lợi nhuận không tương xứng và là nỗi trăn trở của toàn thể CBCNV của công ty. Làm thế nào để Công ty đạt được hiệu quả cao với chi phí thấp nhất ? Vấn đề này đặt ra yêu cầu việc phân tích và đề xuất các giải pháp kinh doanh , giúp công ty đánh giá lại các hoạt động của công ty có hiệu quả hay không và hiệu quả đạt mức nào, vì sao chi phí quá cao và nguyên nhân từ đâu, từ đó tìm ra các nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến kết quả hoạt động kinh doanh để có thể đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện giảm chi phí tăng kết quả nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ nhu cầu thực tiễn đó, tôi lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo Việt Phú Thọ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình với mong muốn có cơ hội để nghiên cứu sâu hơn hoạt động kinh doanh của công ty và đóng góp được một phần nhằm tìm ra hướng giải pháp giúp công ty kinh doanh mang lại hiệu quả, đảm bảo đời sống CBCNV.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
NGUYỄN THỊ HẰNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH
DỊCH VỤ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI
CÔNG TY BẢO VIỆT PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội – 2019
Trang 2NGUYỄN THỊ HẰNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH
DỊCH VỤ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI
CÔNG TY BẢO VIỆT PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Quản trị doanh nghiệp
Mã số: 8340101
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGÔ KIM THANH
Hà Nội – 2019
Trang 3Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôicam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không viphạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụbảo hiểm phi nhân thọ” là do tôi tự nghiên cứu và hoàn thiện dưới sự hướng dẫn củaPGS.TS Ngô Kim Thanh Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong luận văn làtrung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Hằng
Trang 4Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sựgiúp đỡ, hướng dẫn tận tình của PGS.TS Ngô Kim Thanh, Ban lãnh đạo Công tyBảo Việt Phú Thọ cùng các đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Ngô Kim Thanh, giảng viên trường Đạihọc Kinh tế Quốc dân (Hà Nội), đã hướng dẫn khoa học giúp tôi hoàn thành luậnvăn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Công ty Bảo Việt Phú Thọ đã hỗ trợ,giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô thuộc Khoa Sau đại học,Khoa Quản trị Kinh doanh cùng các thầy cô của trường Đại học Kinh tế Quốc dân,
đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập tại đây
Do còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm nghiên cứu thực tế và thời gian thựchiện, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, tôi mongmuốn nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô để tôi hoàn thiện khả năngnghiên cứu của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Hằng
Trang 7STT Chữ viết tắt Giải nghĩa
1 DNBH Doanh nghiệp bảo hiểm
2 TNDS Trách nhiệm dân sự
3 BHBV Bảo hiểm Bảo Việt
4 BHPNT Bảo hiểm phi nhân thọ
5 CPTPP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến
bộ xuyên Thái Bình Dương
6 FTA Hiệp định thương mại tự do
7 BVPT Bảo Việt Phú Thọ
8 HĐKD Hoạt động kinh doanh
9 CNTT Công nghệ thông tin
10 QLDN Quản lý doanh nghiệp
11 CBCNV Cán bộ công nhân viên
Trang 8NGUYỄN THỊ HẰNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI
CÔNG TY BẢO VIỆT PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Quản trị doanh nghiệp
Mã số: 8340101
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – 2019
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói chuung cũng như cácdoanh nghiệp bảo hiểm nói riêng, cùng với việc tăng cường đẩy mạnh các hoạtđộng kinh doanh các nghiệp vụ cốt lõi, vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn làvấn đề có tầm quan trọng đặc biệt Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắttrên thị trường bảo hiểm, giữ vững và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp bảo hiểm trong tình hình áp lực tăng trưởng daonh thu, gia tăng thị phần …
là vấn đề không hề đơn giản, đòi hỏi phải có các giải pháp liên quan đến các mặthoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm
Bởi đó, tác giả chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ bảo hiểmphi nhân thọ tại Công ty Bảo Việt Phú Thọ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốtnghiệp thạc sỹ của mình
Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọcủa doanh nghiệp bảo hiểm
- Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Công tyBảo Việt Phú Thọ
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhânthọ tại Công ty Bảo Việt Phú Thọ
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọtại Công ty Bảo Việt Phú Thọ, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả kinh doanh
Phạm vi nghiên cứu: là kết quả kinh doanh tại Công ty Bảo Việt Phú Thọ,giai đoạn từ năm 2015-2018
Kết cấu luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nộidung chính của luận văn được thiết kế trong 3 chương:”
Trang 10Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm Trong chương này, tác giả trình bày lý thuyết cơ bản về hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thể hiện ở các nội dung sau:
- Tổng quan về hiệu quả kinh doanh
- Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và hệ thốngcác chỉ tiêu đánh giá
- Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểmphi nhân thọ
Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Công tyBảo Việt Phú Thọ
Trong chương này, tác giả đề cập đến :
- Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Bảo Việt Phú Thọ và tìnhhình hoạt động kinh doanh của Công ty trong giai đoạn 2015-2018
- Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty Bảo Việt Phú Thọ trong giaiđoạn 2015-2018
Từ việc phân tích tình hình thực tế về kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tạiBảo Việt Phú Thọ cho thấy những thành quả mà Công ty tạo dựng và duy trì được
vị thế dẫn đầu trên địa bàn Phú Thọ Tuy nhiên, tại Công ty vẫn tiềm ẩn nhiều hạnchế về :
- Tỷ lệ chi phí kinh doanh bảo hiểm cao, công tác giám định bồi thường nhómnghiệp vụ còn nhiều hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
- Tỷ lệ nợ phí tại Công ty cao ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư vốn
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt đông kinh doanh dịch vụ bảohiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo Việt Phú Thọ
Sau khi phân tích các chỉ tiêu ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và căn
cứ vào mục tiêu định hướng của Công ty trong thời gian tới nhằm xác định các giảipháp đề xuất, tác giả đã mạnh dạn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảkinh doanh của Công ty:
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác bảo hiểm
Trang 11-Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi phí, kiểm tra, kiểm soát
- Nhóm giải pháp đầu tư, hoàn thiện nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin
- Nhóm giải pháp đào tạo phát triển nguồn nhân lực
- Nâng cao quan hệ hợp tác với các Công ty bảo hiểm khác để phòng chốngtrục lợi
Nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng tỷ lệ tái tục
Luận văn cũng đưa ra một số kiến nghị với Nhà nước và Tổng Công
ty bảo hiểm Bảo Việt
Trang 12NGUYỄN THỊ HẰNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH
DỊCH VỤ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI
CÔNG TY BẢO VIỆT PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Quản trị doanh nghiệp
Mã số: 8340101
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGÔ KIM THANH
Hà Nội – 2019
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng là hoạt động có ýnghĩa về mặt kinh tế - xã hội cao Hoạt động này có ý nghĩa nhân văn sâu sắc khichia sẻ rủi ro giữa các tổ chức và cá nhân tham gia bảo hiểm, góp phần ổn định sảnxuất và đời sống
Với xu thế mở rộng hợp tác, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, ViệtNam ngày càng hội nhập sâu hơn với nền kinh tế thế giới Hội nhập kinh tế quốc tếgóp phần thúc đẩy sự phát triến nền kinh tế thông qua việc tăng cường khả năng thuhút các nguồn lực về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý Hội nhập kinh tế tronglĩnh vực bảo hiểm cũng nằm chung trong xu hướng đó Việc mở cửa cho các DNBH100% vốn nước ngoài gia nhập thị trường Việt Nam đã tạo áp lực cạnh tranh khốcliệt cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước Vì bảo hiểm là một lĩnh vực hoạtđộng rất nhạy cảm, có tính xã hội cao, đòi hỏi các DNBH luôn trăn trở và tìm rađường lối kinh doanh để làm sao hoạt động kinh doanh có hiệu quả
Nhận thấy đây là một vấn đề rất quan trọng với các doanh nghiệp bảo hiểm
và khi bản thân là một cán bộ tại Công ty Bảo Việt Phú Thọ, hàng ngày vẫn gópphần vào sự phát triển chung của công ty với doanh thu khai thác ngày càng caonhưng bên cạnh đó là chi phí lớn, lợi nhuận không tương xứng và là nỗi trăn trở củatoàn thể CBCNV của công ty Làm thế nào để Công ty đạt được hiệu quả cao vớichi phí thấp nhất ? Vấn đề này đặt ra yêu cầu việc phân tích và đề xuất các giảipháp kinh doanh , giúp công ty đánh giá lại các hoạt động của công ty có hiệu quảhay không và hiệu quả đạt mức nào, vì sao chi phí quá cao và nguyên nhân từ đâu,
từ đó tìm ra các nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến kết quả hoạt động kinh doanh để cóthể đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện giảm chi phí tăng kếtquả nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Từ nhu cầu thực tiễn đó, tôi lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả kinh doanhbảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo Việt Phú Thọ” làm đề tài nghiên cứu cho
Trang 14luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình với mong muốn có cơ hội để nghiên cứu sâuhơn hoạt động kinh doanh của công ty và đóng góp được một phần nhằm tìm rahướng giải pháp giúp công ty kinh doanh mang lại hiệu quả, đảm bảo đời sốngCBCNV.
2. Tổng quan nghiên cứu
Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình, đề tài khoa học nghiên cứu về bảohiểm phi nhân thọ nói chung và những vấn đề có liên quan Càng ngày các côngtrình, đề tài càng bóc tách từng nội dung, vấn đề trong bảo hiểm phi nhân thọ để đisâu nghiên cứu Tuy nhiên trên phạm vi cả nước cho đến nay các công trình, đề tài
đi sâu nghiên cứu về nâng cao dịch vụ kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của công
ty bảo việt chưa có nhiều Không kể đến các giáo trình, tài liệu tham khảo đangđược giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp tài chính - kế toán vànhững công trình khoa học nghiên cứu ở phạm vi rộng về bảo hiểm phi nhân thọ nóichung, chúng ta có thể điểm qua một số công trình, đề tài ở nước ta nghiên cứu vềdịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ dưới đây:
- Tác giả Hà Trúc Quỳnh (2013) Trường Đại học Thái Nguyên với luận văn
thạc sĩ Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty Bảo Việt Phú Thọ Luận văn đã
dựa trên các lý luận thực tiễn, tìm ra các thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinhdoanh của Công ty Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinhdoanh của công ty
- Tác giả Tạ Thị Diệu Mỹ (2008) trường Đại học Ngoại Thương với luận văn
thạc sĩ Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty bảo hiểm phi nhân thọ BIC trong
điều kiện hội nhập Luận văn đã dựa trên các lý luân thực tiễn, tìm ra các thuận lợi
và khó khăn khi hội nhập quốc tế của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Từ đó, tácgiả đưa ra các giải pháp nhằm các hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ của các doanhnghiệp trong nước cùng phát triển và bền vững
- Tác giả Nguyễn Kiều Loan (2015) trường Đại học Đà Nẵng với luận văn
thạc sĩ Chính sách marketing cho sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty cổ
phần bảo hiểm Toàn Cầu – Chi nhánh Đà Nẵng Luận văn đã chỉ ra những yếu tố
Trang 15tác động đến hành vi tiêu dùng của khách hàng, từ đó đưa ra những chiến lượcmarketing cho Công ty.
- Tác giả Nguyễn Thị Vịnh (2014) trường Đại học Bách Khoa với luận văn
thạc sĩ Một số giải pháp nhằm phát triển và quản lý đại lý bảo hiểm phi nhân thọ
tại Công ty bảo hiểm BIDV – Bắc Trung Bộ Luận văn đã dựa trên cơ sở nghiên cứu
vào thực tiễn công tác phát triển và quản lý đại lý bảo hiểm phi nhân thọ với mụcđích nâng cao chất lượng đại lý cũng như góp phần tăng doanh thu từ kênh phânphối này
- Tác giả Võ Xuân Thi (2018) trường Đại học Trà Vinh với luận văn thạc sĩ Xây
dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty bảo hiểm Bảo Long – Cần Thơ giai đoạn 2017-2025 Luận văn căn cứ trên dữ liệu sơ cấp và thứ cấp,
tập trung phân tích môi trường kinh doanh của Công ty bảo hiểm Bảo Long Cần Thơ,
để từ đó xác định những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe dọa đối với Công ty Trênnhững cơ sở đó để xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ choCông ty bảo hiểm Bảo Long Cần Thơ giai đoạn 2017 - 2025
- Qua tham khảo các công trình nghiên cứu nêu trên, tác giả nhận thấy mỗi đềtài đều có những cách tiếp cận và những góc nhìn khác nhau, nhưng đều đề cập đếnmục đích phát triển kinh doanh theo những mảng nghiệp vụ hay như thế mạnh, từ
đó đưa ra những giải pháp thiết thực phù hợp với từng doanh nghiệp cụ thể Nhữngnội dung, kết quả trong các đề tài trên là những tài liệu có giá trị cả về lý luận vàthực tiễn để tác giả học hỏi, kế thừa và phát triển trong quá trình nghiên cứu đề tàiluận văn của mình Qua đó, với đề tài “Nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ bảohiểm phi nhân thọ của Công ty Bảo Việt Phú Thọ”, tác giả sẽ tiếp cận sâu hơn vềnhững kết quả kinh doanh đã đạt được, những nhân tố tác động đến kinh doanh và
đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hướng tới các mục tiêu cơ bản sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọcủa các doanh nghiệp bảo hiểm
Trang 16- Đánh giá được thực trạng hiệu quả kinh doanh dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọtại Công ty Bảo Việt Phú Thọ; xác định được điểm mạnh, điểm yếu của kinh doanhdịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty và nguyên nhân của các điểm yếu.
- Đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ bảohiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo Việt Phú Thọ đến giai đoạn năm 2023
- Về không gian: Hiệu quả dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo ViệtPhú Thọ
- Về thời gian: Dữ liệu thu thập cho giai đoạn 2015 - 2018; điều tra dữ liệu sơcấp vào tháng 5/2019; các giải pháp được đề xuất đến năm 2022
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài dự kiến áp dụng phương pháp nghiên cứuđịnh tính kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng theo các bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận nhằm xác định khung nghiên cứu về dịch vụbảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo Việt Phú Thọ Những phương pháp được sửdụng ở bước này là phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp tổng hợp và môhình hóa
Bước 2: Thu thập dữ liệu thứ cấp thông qua các số liệu báo cáo, đánh giá củaCông ty Bảo Việt Phú Thọ để làm rõ thực trạng hiệu quả kinh doanh dịch vụ bảohiểm phi nhân thọ của Công ty Bảo Việt Phú Thọ Các phương pháp thực hiện chủyếu là phương pháp thống kê, so sánh số liệu qua các năm
Bước 3 : Phân tích và đánh giá dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty BảoViệt Phú Thọ Phương pháp đánh giá chủ yếu là phương pháp so sánh, đối chiếudựa trên các tiêu chí đã xây dựng Thông qua đánh giá thực hiện các mục tiêu; phân
Trang 17tích các điểm mạnh, điểm yếu theo các nội dung về dịch vụ, và tìm ra nguyên nhândẫn đến những điểm yếu Phương pháp phân tích dựa trên các nhân tố ảnh hưởngđến dịch vụ bảo hiểm của Công ty Bảo Việt Phú Thọ.
Bước 4: Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụbảo hiểm tại Công ty Bảo Việt Phú Thọ, Doanh thu tăng trưởng qua các năm
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, luận văn gồm 3 chương:Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểmChương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Công tyBảo Việt Phú Thọ
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt đông kinh doanh dịch vụ bảohiểm phi nhân thọ tại Công ty Bảo Việt Phú Thọ
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
1.1 Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh đầy đủ các lợi ích đạtđược từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh kếtquả thu được với chi phí bỏ ra để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh đó Hiệu quả kinh doanh biểu hiện của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phảnánh trình độ khai tác sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để tham gia vào hoạtđộng kinh doanh theo mục đích nhất định Trong cơ chế thị trường, với sự tồn tạicủa nhiều thành phần kinh tế và hôi nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp phải đạt hiệu quả cao, lấy thu bù chi và có lãi Vì vậy, hiệuquả kinh doanh không chỉ là thước đó trình độ tổ chức quản lý mà còn là vấn đềsống còn đối với doanh nghiệp
Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là hiệu quả sử dụng lao động xãhội , nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội Chính việckhan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhucầu ngày càng cao của xã hội đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiếtkiệm nguồn lực Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chútrọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất vàtiết kiệm mọi chi phí có thể (Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng đó là chi phítạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơhội) Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt kết quả tối
đa với chi phí tối thiểu
Về cơ bản hiệu quả kinh doanh phải được phản ánh trên hai mặt là hiệu quảkinh tế và hiệu quả xã hội , trong đó hiệu quả kinh tế được các doanh nghiệp quantâm hơn và có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả xã hội Hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội là hau mặt vừa thống nhất vừa độc lập với nhau Nếu doanh nghiệp đạt đượchiệu quả kinh tế cao sẽ dẫn đến việc tăng đóng góp cho Nhà nước và thu nhập của
Trang 19cán bộ công nhân viên cũng được nâng cao Mặt khác khi đạt được hiệu quả xã hội thì nólại là cơ sở để các doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh tế cao và bền vững hơn.
Tóm lại, hiệu quả mà các doanh nghiệp đạt được nó phải làm thỏa mãn cảba: Doanh nghiệp, Nhà nước và người lao động Hiệu quả là thước đo trình độ quản
lý của cán bộ lãnh đạo, là thước đo đánh giá khả năng sử dụng các yếu tố đầu vào.Việc đánh giá hiệu quả đề ra phương hướng, biện pháp cụ thể cho doanh nghiệpnhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng cao
1.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất và mặt lượng của hoạtđộng kinh doanh
Về mặt lượng, hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối tương quan giữa kết quảthu được với chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Việc tínhtoán, xác định hiệu quả hoạt động kinh doanh chính là việc so sánh giữa chi phí bỏ
ra và kết quả đạt được Chi phí và kết quả có quan hệ biện chứng lẫn nhau, chúngphụ thuộc vào nhau, tách rời ra thì hiệu quả kinh doanh không tồn tại Vì thế, nếukhông có chi phí thì sẽ không có kết quả, như thế có nghĩa là hiệu quả kinh tế sẽkhông thực hiện được Hiệu quả kinh tế mà doanh nghiệp mong muốn là một sốdương, điều này đòi hỏi chi phí bỏ ra phải nhỏ hơn kết quả thu được thì hoạt độngkinh doanh mới có hiệu quả
Về mặt chất , việc đạt được hiệu quả kinh doanh cao phản ánh năng lực, trình
độ quản lý và sử dụng các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc, thiết bị, tiềnvốn, …), các hoạt động sản xuất kinh doanh, sự hợp lý trong lựa chọn phươnghướng kinh doanh, chiến lược và kế hoạch kinh doanh Nâng cao hiệu quả kinhdoanh trong các doanh nghiệp là hướng vào nâng cao trình độ sử dụng các nguồnlực (nguồn vật tư, vốn, lao động , …) để tiết kiệm chi phí trong quá trình kinhdoanh
Nói tóm lại, hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh đồng thời các mặt củaquá trình sản xuất kinh doanh: kết quả kinh doanh, chi phí kinh doanh, lợi nhuậnthu được, khả năng lợi dụng các nguồn lực …
Trang 201.2 Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
1.2.1 Khái quát về bảo hiểm phi nhân thọ
Theo luật kinh doanh bảo hiểm của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 về kinh doanh bảo hiểm:
“Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự vàcác nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ
Như vậy, bảo hiểm phi nhân thọ được hiểu là loại bảo hiểm, trong đó ngườibảo hiểm cam kết sẽ bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi rủi ro quy định tronghợp đồng bảo hiểm xảy ra Khi hợp đồng bảo hiểm đã ký hết hạn mà không có rủi
ro xảy ra thì người bảo hiểm không phải thực hiện cam kết bồi thường hoặc trả tiềnbảo hiểm
* Phân loại bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm phi nhân thọ là lĩnh vực bảo hiểm có phạm vi rất rộng Nó bao gồmtất cả các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và một phần bảohiểm con người Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại bảo hiểm phi nhân thọ ,các tiêu thức chủ yếu thường được sử dụng để phân loại bảo hiểm phi nhân thọ là:
Theo đối tượng bảo hiểm, Bảo hiểm phi nhân thọ được chia thành bảo hiểm
tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm bệnh tật, tai nạn con người
Theo tiêu thức phân loại truyền thống, Bảo hiểm phi nhân thọ được chia
thành bảo hiểm hàng hải và bảo hiểm phi hàng hải
Theo đặc tính kỹ thuật và pháp lý, Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm: Bảo
hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người; Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệthại; Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt
và đường hàng không; Bảo hiểm hàng không; Bảo hiểm xe cơ giới; Bảo hiểm cháynổ; Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu; Bảo hiểm trách nhiệm chung;Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; Bảo hiểmnông nghiệp; Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khách do Chính phủ quy định
Trang 21* Đặc điểm bảo hiểm phi nhân thọ
Thứ nhất, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình
Đây cũng chính là đặc điểm chung của sản phẩm các ngành dịch vụ Thựcchất đó là một cam kết bằng văn bản pháp lý của doanh nghiệp bảo hiểm với kháchhàng về sự bảo đảm cho khách hàng về mặt vật chất, tài chính trong trường hợp xảy
ra rủi ro được quy định trong hợp đồng bảo hiểm với điều kiện là người bảo hiểmđược thu trước một khoản tiền nhất định gọi là phí bảo hiểm
Một doanh nghiệp uy tín chắc chắn sẽ là sự lựa chọn hàng đầu của ngườitham gia bảo hiểm Uy tín đó được thể hiện qua: danh tiếng và kinh nghiệm hoạtđộng của doanh nghiệp, tình hình tài chính lành mạnh, chiến lược đầu tư vốn hợp
lý, nghiệp vụ vững chắc, chất lượng phục vụ cao … Người mua bảo hiểm tin tưởngvào doanh nghiệp có khả năng và luôn sẵn sàng thực hiện đầy đủ các cam kết tronghợp đồng Vì thế, uy tín của doanh nghiệp bảo hiểm vô cùng quan trọng để quyếtđịnh ý tưởng lựa chọn của khách hàng
Thứ hai, bảo hiểm có chu trình sản xuất ngược
Xét về mặt kỹ thuật kinh daonh thì doanh nghiệp bảo hiểm cũng khác với cácdoanh nghiệp thông thường khác Các doanh nghiệp thông thường đều hạch toángiá thành sản phẩm dựa theo các khoản chi phí thực tế, giá cả được quyết định saukhi đã biết được chi phí sản xuất ra hàng hóa đó Đối với doanh nghiệp bảo hiểm,mỗi hợp đồng bảo hiểm có thể được coi như một món hàng, phí bảo hiểm củanghiệp vụ bảo hiểm có thể ví như giá cả của nghiệp vụ bảo hiểm và việc tính giá cảnày phát sinh trước khi có giá thành Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp bảo hiểm sẽphải dự báo trước giá cả này trên cơ sở vận dụng quy luật số đông và dựa vào thống
kê rủi ro, những số liệu tổn thất đã xảy ra trong quá khứ, kinh nghiệp về những tổnthất xảy ra trước đây Tỷ lệ tổn thất trước đây chắc chắn sẽ có sự sai lệch nhất định
so với tỷ lệ tổn thất thực tế sẽ xảy ra sau này, thậm chí có khi mức động sai lệch rấtlớn Vì vậy, chỉ có thể xác định được khoản thu nhập của doanh nghiệp bảo hiểmnhưng lại có rất nhiều khả năng không xác định được trách nhiệm bồi thường sẽ xảy
ra sau này vì sự thay đổi về các yếu tố rủi ro
Trang 22Thứ ba, tâm lý người mua hàng không muốn tiêu dùng dịch vụ
Người mua bảo hiểm không mong muốn có sự cố rủi ro xảy ra để được nhậnquyền bảo hiểm mặc dù rằng quyền lợi đó có thể nhiều hơn so với số phí phải đóng.Đặc điểm này có ảnh hưởng trực tiếp tới khâu khai thác, cụ thể là trong khi giaodịch, chào bán dịch vụ, cán bộ bảo hiểm sẽ phải chú ý, quan tâm đến tâm lý, sởthích của khách hàng để thuyết phục khách hnafg khi họ nói không quan tâm đếnrủi ro và không mong muốn rủi ro xảy ra với họ
Thứ tư, kinh doanh bảo hiểm phải tuân thủ một số vấn đề thuộc nguyên tắc như: nguyên tắc sàng lọc, nguyên tắc dàn trải, nguyên tác phân chia phân tán rủi
ro, đặc biệt là phải vận dụng quy luật số lớn
Đặc điểm cơ bản của việc vận dụng quy luật số lớn được thể hiện ở chỗ:trong hoạt động nghiệp vụ của mình, doanh nghiệp bảo hiểm phải thu hút được một
số lượng đủ lớn khách hàng, ký kết được một lượng lớn hợp đồng bảo hiểm thì mớiđảm bảo hoạt động kinh doanh, số lượng sản phẩm bán được càng nhiều thì doanhnghiệp càng có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh Điều này xuất phát từ bản chấthoạt động bảo hiểm là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít người cókhả năng cùng gặp một loại rủi ro đưa vào một quỹ chung bằng tiền được lập bởi sựđóng góp của những người cũng có khả năng gặp tổn thất đó thông qua hoạt độngcủa doanh nghiệp bảo hiểm Bằng cách chia nhỏ tổn thất như vậy, hậu quả lẽ ra rấtnặng nề, nghiêm trọng với một hoặc một số người sẽ trở thành không đáng kể, cóthể chấp nhận được đối với cả cộng đồng người tham gia bảo hiểm
Ngoài các đặc điểm cơ bản của hoạt động bảo hiểm như đã nêu trên, bảohiểm phi nhân thọ còn có những đặc trung là:
- Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ là một hợp đồng có thời hạn bảo hiểmthường là một năm hoặc ngắn hơn
- Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ chỉ bồi thường và chi tiền bảo hiểm khi córủi ro được bảo hiểm xẩy ra
Trang 23- Phí bảo hiểm phi nhân thọ được tính cho thờ hạn bảo hiểm thông thường làtừng năm bảo hiểm hoặc từng chuyến Phí bảo hiểm phi nhân thọ không cố định vàphụ thuộc vào mức độ rủi ro hay phạm vi bảo hiểm.
- Trừ các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ, còn các nghiệp vụkhác như bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự giữa người bảo hiểm,người được bảo hiểm và người thứ ba có liên quan tới rủi ro bảo hiểm đều có mốiquan hệ về quyền lợi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại
* Vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm góp phần bảo vệ tài sản, ổn định cuộc sống con người
Rủi ro đã gây ra những hậu quả rất lớn làm thiệt hại tài sản, tính mạng và sứckhỏe con người Dịch vụ bảo hiểm đã đáp ứng nhu cầu bảo vệ về mặt vật chất, tàichính trước rủi ro, giúp cho các tổ chức bảo toàn được vốn, tài sản, không bị phásản, cá nhân và gia đình ổn định trước cuộc sống, không bị rơi vào tình trạng kiệtquệ tài chính và tinh thần
Bảo hiểm thúc đẩy hoạt động tiết kiệm, tập trung vốn
Sự tồn tại của thị trường bảo hiểm với nhiều loại hình bảo hiểm đã giúp chonhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nhanh chóng phục hồi, khắc phục hậu quả saurủi ro, đã tạo ra những suy nghĩ cần tham gia bảo hiểm Mỗi năm trích một khoảntiền nhỏ để đóng bảo hiểm vẫn hơn rất nhiều lần việc tự phòng ngừa rủi ro khikhông may rủi ro xảy ra phải mất đi số tiền rất lớn để phục hồi, thay thế tài sản hoặc
cá nhân, gia đình phải bỏ ra khoản tiền lớn để khắc phục hậu quả rủi ro trong lúcmức thu nhập chỉ có hạn
Việc tiết kiệm của những người tham gia bảo hiểm có liên quan chặt chẽ đếnviệc tập trung vốn của các công ty bảo hiểm Bằng việc đa dạng hóa các loại hìnhbảo hiểm, đáp ứng mọi nhu cầu bảo hiểm của nhiều khách hàng, nhiều đối tượng đãgiúp cho các công ty bảo hiểm có một khoản phí tập trung rất lớn mà nếu không códịch vụ bảo hiểm khó có thể tập trung được
Trang 24Bảo hiểm góp phần đảm bảo an toàn, hạn chế tai nạn tổn thất
Hoạt động bảo hiểm là hoạt động kinh doanh thương mại đòi hỏi người bảohiểm phải tính toán đến hiệu quả Muốn có hiệu quả đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ rủi
ro, thống kê tai nạn, tổn thất, xác định nguyên nhân tổn thất, giải quyết bồi thường.Người bảo hiểm đã chú ý đến việc tăng cường áp dụng các biện pháp phòng ngừatổn thất, hạn chế tai nạn
Mặt khác, bằng nghiệp vụ và đúc kết từ thực tiễn nghiên cứu của mình,người bảo hiểm khi xem xét nhận bảo hiểm đã đưa ra những đề nghị rất đúng mực,hợp lý để người tham gia bảo hiểm thực hiện việc đảm bảo an toàn cho tài sản,tránh được những thiệt hại mà hậu quả làm hai phía đều có những mất mát
Bảo hiểm góp phần ổn định chi phí
Nếu một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, mỗi gia đình, cá nhân trongcuộc sống không tham gia bảo hiểm mà tự bảo hiềm lấy chính mình thì họ sẽ khôngthể chủ động được các khoản chi phí bất thường khi gặp phải rủi ro kinh doanh,trong cuộc sống Chi phí này sẽ bấp bênh, không ổn định và chỉ có dịch vụ bảohiểm mới giúp cho người tham gia bảo hiểm yên tâm ổn định chi phí khi rủi ro đếnvới mình
* Hoạt động kinh doanh
Hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ có hai mảngchính là hoạt động kinh doanh bảo hiểm và hoạt động đầu tư tài chính
a Hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọbao gồm hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc và hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm,hoạt động giám định, bồi thường
+ Hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc:
“Khai thác bảo hiểm là một khâu quan trọng trong việc triển khai một nghiệp
vụ bảo hiểm, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp nói chung
và của từng nghiệp vụ nghiệp vụ bảo hiểm nói riêng Khi việc khai thác bảo hiểm đạtđược hiệu quả nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các khâu tiếp theo: Khi thực hiện tốt
Trang 25khâu khai thác có nghĩa là việc tạo lập thương hiệu và mối quan hệ của doanh nghiệpđến khách hàng được tốt hơn Nhờ đó mà thị phần của DNBH lớn chứng tỏ uy tín củadoanh nghiệp và khẳng định sự tín nhiệm của khách hàng dành cho sản phẩm nóiriêng và DNBH nói chung Không những thế khách hàng có thể tiếp cận với các sảnphẩm khác của doanh nghiệp.
Khai thác tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp vì vậy nó quyết định đến hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp, xét về mặt lâu dài thì nó còn quyết định đến việcphát triển, mở rộng của doanh nghiệp, khẳng định được năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp trên thị trường.”
+ Quy trình thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc bắt đầu từ việcdoanh nghiệp bảo hiểm thông qua mạng lưới đại lý hay các nhân viên khai thác bảohiểm chào bán các dịch vụ bảo hiểm
“Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được phép chủ động xây dựng và triểnkhai quy tắc, điều khoản và biểu phí bảo hiểm đối với các sản phẩm bảo hiểm thuộcnghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ, trừ các nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc thì phí bảohiểm do nhà nước quy định.Trong đó phí bảo hiểm phải được xây dựng dựa trên sốliệu thống kê, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và phảitương ứng với điều kiện và trách nhiệm bảo hiểm.”
Quy trình khai thác bảo hiểm
Trang 26Tìm kiếm thu thập thông tin dịch vụ bảo hiểm Đánh giá rủi ro, trình chấp nhận rủi ro
Phê duyệt
Thu xếp tái bảo hiểm Chào phí/chào thầu/đàm phán/chấp nhận bảo hiểm
Cấp đơn bảo hiểm Nhập dữ liệu, quản lý đơn bảo hiểm, lưu hồ sơ
Theo dõi thực hiện hợp đồng bảo hiểm
Sơ đồ 1.1: Quy trình khai thác bảo hiểm
Để thực hiện công tác khai thác bảo hiểm thì đòi hỏi người cấp bảo hiểm tiếnhành từng bước và công việc quan trọng nhất là công việc phân tích đánh giá rủi ro,công việc này đòi hỏi cán bộ phải tìm hiều đầy đủ thông tin, phân tích và đánh giárủi ro và qua đó có thể chấp nhận hay không chấp nhận rủi ro này và đưa ra mức phíphù hợp Khi hai bên đã thống nhất được các điều kiện cơ bản để có thể đi đến kýkết hợp đồng bảo hiểm, trên cơ sở đề nghị hay yêu cầu của khách hàng, họp đồngbảo hiểm được thiết lập và ký kết Hợp đồng bảo hiểm là bằng chứng pháp lý thểhiện sự xác lập quyền và nghĩa vụ giữa bảo hiểm hai bên là công ty bảo hiểm vàngười tham gia bảo hiểm
Trang 27Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và DNBH, theo
đó bên muà bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, DNBH phải chi trả bồi thường chongười thụ hưởng bảo hiểm xảy ra sự kiện bảo hiểm
Thông qua kết quả khai thác của hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc, doanhnghiệp bảo hiểm sẽ thể hiện được vị trí và hình ảnh của mình, từ đó phát huy đượcnăng lực cạnh tranh của mình trên thị trường và với đối thủ cạnh tranh Kết quả từviệc kinh doanh bảo hiểm gốc là cơ sở và nền tảng để doanh nghiệp bảo hiểm có đủtiềm lực để khếch trương và tăng cường các hoạt động đầu tư giúp mang lại lợinhuận và sự phát triển bền vững.”
+ Hoạt động tái bảo hiểm:
“Tái bảo hiểm là nghiệp vụ mà người bảo hiểm sử dụng để chuyển một phầntrách nhiệm đã chấp nhận vói người được bảo hiểm cho một hoặc nhiều người bảohiểm hác, trên cơ sở nhượng lại cho người đó một phần phí bảo hiểm
Tái bảo hiểm là một hoạt động rất quan trọng và luôn song hành với kinhdoanh bảo hiểm gốc, nó được coi như một tấm lá chắn cho hoạt động của mỗidoanh nghiệp bảo hiểm, là hình thức mà doanh nghiệp bảo hiểm tự bảo hiểm chochính mình sau khi nhận về tất cả các rủi ro của khách hàng Đồng thời, hoạt độngtái bảo hiểm cũng giúp cho doanh nghiệp có thêm nguồn thu nhập lớn vì thế hoạtđộng này luôn được chú trọng.”
Kinh doanh tái bảo hiểm bao gồm hoạt động nhận tái bảo hiểm và hoạt độngnhượng tái bảo hiểm
“Nhận tái bảo hiểm là việc một doanh nghiệp bảo hiểm nhận bảo hiểm chomột phần rủi ro của một doanh nghiệp bảo hiểm khác trong một hợp đồng bảo hiểmgốc Đứng trên góc độ kinh doanh bảo hiểm thì hoạt động nhận tái bảo hiểm là mộthình thức bán bảo hiểm Sau khi nhận tái bảo hiểm, người nhận tái bảo hiểm có thểnhượng tái bảo hiểm cho người nhận tái bảo hiểm khác.”
“Doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm có trách nhiệm đối với các rủi ro mình nhận
về tương đương về mặt phạm vi và các điều khoản như công ty bảo hiểm gốc đãnhận với khách hàng Tuy nhiên giới hạn trách nhiệm sẽ tương ứng với tỷ lệ nhận
Trang 28tái bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm gốc Theo đó, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm,công ty nhận tái bảo hiểm cũng phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường và trả tiền bảohiểm cho công ty bảo hiểm gốc theo đúng phần trách nhiệm mà mình đã nhận về.
- Nhượng tái bảo hiểm: Do nhu cầu an toàn trong hoạt động kinh doanh bảohiểm luôn được đặt lên hàng đầu do đó công ty bảo hiểm luôn tìm cách bảo vệ mìnhthông qua việc nhượng tái bảo hiểm Nhượng tái bảo hiểm là việc một công ty bảohiểm chuyển một phần trách nhiệm bảo hiểm đã cam kết với khách hàng của mìnhcho một hoặc nhiều DNBH khác
Hoạt động nhượng tái bảo hiểm giúp doanh nghiệp bảo hiểm ổn định đượctình hình tài chính, giúp khách hàng tham gia bảo hiểm yên tâm về khả năng chi trảbồi thường của DNBH, giúp doanh nghiệp chủ động tính toán được giới hạn tráchnhiệm tài chính tối đa tại một thòi điểm nhất định bất kỳ, giúp chia sẽ rủi ro trongcộng đồng, tạo cho doanh nghiệp bảo hiểm một năng lực cạnh tranh tốt nhất để pháttriển hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc của mình.”
+ Hoạt động giám định bồi thường
“Giám định là hoạt động do công ty bảo hiểm trực tiếp tiến hành hoặc thôngqua một công ty hoặc đại lỷ giám định khác để thực hiện việc xác định nguyên nhân
và mức độ tổn thất nhằm phục vụ cho công tác giải quyết bồi thường và trả tiền bảohiểm cho khách hàng.”
Bồi thường là việc công ty bảo hiểm thực hiện cam kết trong họrp đồng bảohiểm, tức là chi trả cho người được bảo hiểm một khoản tiền nhất định khi xảy ra sựkiện bảo hiểm
“Giám định bồi thường là khâu cuối cùng khép lại hoạt động kinh doanh bảohiểm của doanh nghiệp bảo hiểm Chất lượng của hoạt động giám định bồi thườngkhẳng định chất lượng sản phẩm của chính công ty bảo hiểm, bởi tại khâu này các sảnphẩm của công ty bảo hiểm mới thực sự được khách hàng sử dụng và đánh giá Khichất lượng công tác này tốt thì công ty bảo hỉểm không những tạo niềm tin cho kháchhàng, giữ khách hàng mà còn thu hút thêm nhiều khách hàng mới, giúp tăng thị phầncũng như uy tín của công ty so với các đối thủ cạnh tranh Do vậy với nhiều công tyhoạt động giám định bồi thường cực kỳ quan trọng, là một hình thức quảng cáo khôngmất thêm chi phí mà rất hiệu quả
Trang 29Nhận thông tin tổn thất
Xử lý thông tin tổn thất
GĐ hiện trường và làm việc với khách hàng
Lập báo cáo giám định hoặccác báo cáo khác (nếu cần)
Lập tờ trình phương án giải quyết
đề xuất phương án giải quyết
Trình duyệt phương án giải quyết
Thông báo phương án giải quyếtThanh toán bồi thường
Đóng và lưu trữ hồ sơ
Thông báo và phối hợp
tái bảo hiểm
Tiến hành công tác sau bồi thường
Báo tái
bảo hiểm Thuê giám định độc lập
+ báo phương án giải quyết
- báo phương án giải quyết
Bồi thường bao gồm cả bồi thường bảo hiểm gốc và bồi thường tái bảo hiểm,
nhượng tái bảo hiểm.”
Quy trình giám định bồi thường
Trang 30Sơ đồ 1.2: Quy trình giám định bồi thường
“Nguyên tắc bồi thường: Khi khách hàng xảy ra sự kiện, DNBH và ngườiđược bảo hiểm phối hợp chặt chẽ để có thông tin đầy đủ, bộ phận GĐBT sẽ thựchiện giám định tổn thất xác định nguyên nhân, mức độ tổn thất, kết quả giám định
sẽ phải lập thành văn bản có xác nhận các bên liên quan Sau khi thu thập thông tinđầy đủ, xác định tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm của công ty, CBGĐBT lậpphương án giải quyết bồi thường, hoàn thiện đầy đủ chứng từ và tiến hành thanhtoán bồi thường cho khách hàng Tiếp tục công tác thu hồi phụ tùng hư hỏng thaythế và thu đòi từ người thứ ba.”
b Hoạt động đầu tư tài chính
“Bên cạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc của công ty thì hoạt động đầu
tư tài chính cũng là hoạt động mang lại nguồn thu không nhỏ cho doanh nghiệp.Nguồn lợi nhuận từ hoạt động đầu tư giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng tàichính của mình một cách đáng kể, do đó các công ty bảo hiểm đều đặt hoạt độngđầu tư tài chính song song với hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc và hai hoạt độngnày có mối quan hệ hỗ trợ và bổ sung cho nhau
Với hoạt động kinh doanh có chu kỳ đảo ngược, doanh nghiệp sẽ có doanh thutrước và chi phí kinh doanh được xác định sau, chính vì đặc điểm này nên cácdoanh nghiệp bảo hiểm luôn nắm trong tay một lượng vốn tạm thời nhàn rỗi lớn và
để tận dụng tối đa nguồn vốn này, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ sử dụng vào việc đầu
tư tài chính được cho phép nhà nước: gửi ngân hàng, đầu tư chứng khoán, góp vốnliên doanh, đầu tư bất động sản… Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính sẽ giúpcho doanh nghiệp nâng cao năng lực tài chính từ đó tăng khả năng chi trả bảo hiểmcho khách hàng.”
1.2.2 Hiệu quả kinh doanh của bảo hiểm phi nhân thọ
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm luôn gắn với những mục tiêukinh tế - xã hội Trước hết, là những mục tiêu của doanh nghiệp, sau đó là của
Trang 31ngành bảo hiểm và toàn bộ nền kinh tế - xã hội Bởi vì bảo hiểm không chỉ mangtính kinh tế, mà còn mang tính xã hội: Bảo hiểm đóng vai trò như một công cụ antoàn thực hiện chức năng bảo vệ con người, bảo vệ tài sản cho kinh tế và xã hội Cụthể là: Đối với người dân, bảo hiểm đảm bảo cho họ về mặt tài chính nhằm khắcphục hậu quả khi bất ngờ gặp rủi ro tai nạn hay bệnh tật như chi phí điều trị, việnphí, thu nhập mất giảm Đối với các doanh nghiệp, tham gia bảo hiểm giúp cácdoanh nghiệp với việc bỏ ra một khoản phí bảo hiểm ổn định và nhỏ có thể hoánchuyển rủi ro - những yếu tố không ổn định và tổn thất không lường trước đượcsang cho nhà bảo hiểm Nhờ vậy, các doanh nghiệp an tâm sản xuất và khi có nhữngtổn thất xảy ra, bồi thường bảo hiểm sẽ giúp họ nhanh chóng khôi phục quá trìnhkinh doanh Hoạt động bảo hiểm phát triển.góp phần cải thiện môi trường đầu tư,giảm thiểu rủi ro trong đầu tư tạo ra môi trường thuận lợi cho việc hợp tác kinh tế,
kỹ thuật, thương mại và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Mặt khác hoạt động bảohiểm còn mang về cho kinh tế quốc dân một khoản ngoại tệ đáng kể Bảo hiểmchẳng những có tác dụng bồi thường tổn thất sau khi có rủi ro phát sinh mà còn gópphần rất lớn cho việc đề phòng rủi ro và hạn chế tổn thất Bên cạnh đó, các doanhnghiệp bảo hiểm với việc nắm giữ quỹ tiền tệ bảo hiểm rất lớn nhưng tạm thời nhànrỗi đã trở thành những nhà đầu tư lớn Bảo hiểm vì vậy còn có vai trò trung gian tàichính là một kênh huy động và cấp vốn có hiệu cho nền kinh tế, giúp cho chínhquyền trung ương và địa phương thu hút vốn từ dân cư, đầu tư cho các dự án y tế,giáo dục, công trình phúc lợi và cơ sở hạ tầng
Cho nên, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp bảo hiểmkhông chỉ xét trên góc độ kinh tế mà còn phải xét trên góc độ phục vụ xã hội.Nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” trong kinh doanh bảo hiểm càng làm cho tínhchất xã hội của nó rõ nét hơn Từ đó làm cho công tác xã hội hóa của bảo hiểmngày càng sâu rộng Bởi vậy, hiệu quả xã hội của doanh nghiệp bảo hiểm cũngphải được phản ánh ở trình độ sử dụng chi phí trong việc tạo ra những kết quảphục vụ xã hội của doanh nghiệp Đây chính là điểm khác biệt của doanh nghiệpbảo hiểm với các doanh nghiệp khác
Trang 32Mỗi doanh nghiệp bảo hiểm không chỉ đơn thuần kinh doanh bảo hiểm, màcòn kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốnnhàn rỗi của mình Những doanh nghiệp hoạt động lâu năm, quy mô lớn, đặc biệt lànhững doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thì nguồn vốn nhàn rỗi thường rất lớn,nguồn vốn này thực chất là quỹ dự trữ, dự phòng, quỹ chi trả bảo hiểm chưa dùngđến Việc đưa số vốn này vào kinh doanh là cần thiết để khắc phục tình trạng lạmphát, tạo thêm lợi nhuận, góp phần tăng trưởng quỹ dự trữ và chi trả Ngoài ra, nếu
sử dụng có hiệu quả, còn bổ sung thêm vào quỹ điều hành để tăng thu nhập chongười lao động Thậm chí còn dùng để thưởng cho người tham gia bảo hiểm liên tụcvới số tiền bảo hiểm lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác khai thác bảo hiểmsau này
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm là thước đo sự phát triển của
bản thân doanh nghiệp bảo hiểm và phản ánh trình độ sử dụng chi phí trong việc tạo
ra những kết quả kinh doanh nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.”Với tư cách là thước đo sự phát triển của doanh nghiệp bảo hiểm, hiệu quảkinh doanh bảo hiểm thể hiện ở các chỉ tiêu, đặc trưng kinh tế, xã hội khác nhau
“Tuy nhiên, không phải tất cả các chỉ tiêu kinh tế, xã hội đều là chỉ tiêu hiệu quả.Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh này chỉ có thể được xác định bằng tỷ lệ so sánhgiữa kết quả với chi phí Khi đánh giá tốc độ phát triển kinh doanh của doanhnghiệp bảo hiểm thì người ta có thể dùng các chỉ tiêu sau để phản ánh: Tốc độ tăngdoanh thu, tốc độ tăng lợi nhuận nhưng đây chỉ là những chỉ tiêu phản ánh “bềnổi” của hiệu quả kinh doanh vì nó chưa đề cập đến chi phí trong đó Khi phân tíchhiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm thì cần phải sử dụng cả các chỉtiêu “bề sâu” như chỉ tiêu hiệu quả khai thác bảo hiểm, chỉ tiêu hiệu quả đề phòng
và giám định tổn thất Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm luôn gắnvới những mục tiêu kinh tế - xã hội Bởi vì bảo hiểm không chỉ mang tính kinh tế
mà còn mang tính xã hội Nguyên tắc “sổ đông bù sổ ít” thể hiện rõ nét tính chất xãhội của bảo hiểm Cho nên, việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh
Trang 33nghiệp bảo hiểm không chỉ được xét trên góc độ kinh tế mà còn phải xét trên góc độphục vụ xã hội Ví dụ như chỉ tiêu hiệu quả xã hội của công ty bảo hiểm phản ánh
cứ một đồng chi phí bỏ ra trong kỳ của công ty đã góp phần giải quyết và khắc phụchậu quả cho bao nhiêu khách hàng gặp rủi ro trong kỳ nghiên cứu.”
* Hệ thống các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNBH
“Xét trên phương diện thống kê, để biểu hiện và đo lường hiệu quả kinh doanhcủa DNBH, không thể dùng một chỉ tiêu, mà phải có một hệ thống chỉ tiêu Bởi vì,nội dung của phạm trù hiệu quả kinh doanh rất rộng, và rất phức tạp Tính chất phứctạp thể hiện ở ngay bản chất mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Chi phí với tưcách là những yếu tố đầu vào của hoạt động kinh doanh rất đa dạng và bao gồmnhiều loại Ở góc độ kinh tế vĩ mô, nếu hiểu theo nghĩa rộng, chi phí bao gồm toàn
bộ nguồn nhân tài, vật lực huy động vào hoạt động kinh doanh Còn đại lượng kếtquả lại được thể hiện ở nhiều chỉ tiêu khác nhau Việc tính toán và xác định mỗi chỉtiêu, việc lựa chọn chỉ tiêu nào để phán ảnh hiệu quả là những vấn đề phức tạp Vìthế, để đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNBH phải sử dụng một hệ thống chỉtiêu Mỗi chỉ tiêu phản ánh một mặt, một quá trình kinh tế nào đó.”
“Với DNBH thì hệ thống các chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm của Bộtài chính (QĐ 153/2003/QĐ-BTC nay thay thế QĐ 195/2014-BTC) là công cụ hỗtrợ Cơ quan quản lý bảo hiểm theo dõi, kiểm tra tình hình hoạt động kinh doanh,việc chấp hành các chính sách, pháp luật Nhà nước của doanh nghiệp bảo hiểmnhằm phát hiện sớm những trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm có nguy cơ khôngđảm bảo khả năng thanh toán để có biện pháp khắc phục kịp thời, bảo vệ quyền lợihợp pháp của người tham gia bảo hiểm; Hệ thống chỉ tiêu giám sát doanh nghiệpbảo hiểm đồng thời là công cụ hỗ trợ các doanh nghiệp bảo hiểm tự theo dõi quátrình hoạt động kinh doanh của mình, nhận biết được những trường hợp bất thường
để sớm có giải pháp khắc phục, phát triển
Theo hệ thống các chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm của Bộ tài chính,các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNBH được thể hiệnqua các chỉ tiêu sau:”
Trang 341./ Nhóm chỉ tiêu đánh giá về khả năng thanh toán, Dự phòng nghiệp vụ vàhiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
• Chỉ tiêu tỷ lệ biên khả năng thanh toán
• Chỉ tiêu trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm
Thực hiện việc trích lập các loại dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm (dự phòngphí, dự phòng bồi thường, dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất)theo các phương pháp đã đăng ký với Bộ Tài chính và quy định pháp luật Chỉ tiêu
dự phòng bồi thường trên phí bảo hiểm thuần được hưởng
“Chỉ tiêu này so sánh mối liên hệ giữa dự phòng bồi thường được trích lập vớiphí bảo hiểm thuần được hưởng để xác định xem doanh nghiệp bảo hiểm có lập dựphòng đầy đủ cho các khiếu nại thuộc trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảohiểm không.”
Cụ thể chỉ tiêu này được tính như sau:
Chỉ tiêu dự phòng bồi thường
trên phí bảo hiểm được hưởng
Biên khả năng thanh toán (A) Biên khả năng thanh toán tối thiểu (B)
Dự phòng bồi thường Phí bảo hiểm thuần được hưởng
=
Trang 35a) Ý nghĩa:
Chỉ tiêu này đánh giá mức độ đầy đủ của việc trích lập dự phòng nghiệp vụbảo hiểm theo các phương pháp đã được Bộ Tài chính chấp thuận nhằm đáp ứngtrách nhiệm bảo hiểm đã cam kết với khách hàng
• Chỉ tiêu tỷ lệ bồi thường
“Tỷ lệ bồi thường là một trong các chỉ tiêu thể hiện chất lượng khai thác vàquản lý rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểm Là một trong hai yếu tố cấu thành chỉtiêu tỷ lệ kết hợp, tỷ lệ bồi thường có ảnh hưởng lớn tới kết quả kinh doanh bảohiểm của doanh nghiệp bảo hiểm (không tính tới kết quả từ hoạt động đầu tư) Tỷ lệbồi thường cao có khả năng làm cho doanh nghiệp bảo hiểm bị thua lỗ trong hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm, làm ảnh hưởng tới khả năng tài chính của doanh nghiệpbảo hiểm.”
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Phí bảo hiểm thuầnđược hưởng
• Chỉ tỉêu tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm
“Tỷ lệ chi phí là một trong các chỉ tiêu thể hiện khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp bảo hiểm thông qua việc khống chế chi phí ở mức hợp lý mà vẫn đảm bảo hiệuquả kinh doanh Tương tự như chỉ tiêu tỷ lệ bồi thường, tỷ lệ chi phí là một trong haiyếu tố cấu thành chỉ tiêu tỷ lệ kết hợp và do đó có ảnh hưởng tới kết quả kinh doanhbảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm (không tính tới kết quả từ hoạt động đầu tư) Tỷ
lệ chi phí cao làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng bấtlợi tới lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp.”
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Chỉ tiêu chi phí hoạt Tổng chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm - (CP
BT thuộc TN+(-)tăng giảm dự phòng bồi thường) +
Trang 36tỷ lệ bồi thường và chỉ tiêu tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm.”
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Chỉ tiêu tỷ lệ kết hợp = Tỷ lệ bồi thường + Tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanhbảo hiểm
Ý nghĩa:
Chỉ tiêu này đánh giá mức độ lãi/lỗ hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanhnghiệp
• Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động:
Lao động là nhân tố quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, số lượng và chất lượng lao động là yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả lao động trong doanh nghiệp là hếtsức cần thiết Để đánh giá về tình hình lao động, người ta thường dùng các chỉ tiêu sau:
Sức sản xuất của lao động = Doanh thu
Tổng lao động bình quân
• Hiệu quả sử dụng chi phí:
Hiệu quả sử dụng chi phí = Doanh thu
Tổng chi phí
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí bỏ ra trong kì thu được baonhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng
Trang 37chi phí của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại.
Trang 38• Tỷ suất sinh lợi của chi phí:
Tỷ suất sinh lời của chi phí = Lợi nhuận
Tổng chi phí
Ý nghĩa: Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận chi phí cho biết một đồng chi phí bỏ ratrong kì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanhnghiệp kinh doanh càng hiệu quả
2./ Nhóm Chỉ tiêu đánh giá về hoạt động nghiệp vụ bảo hỉểm
• Chỉ tiêu thay đổỉ doanh thu phí bảo hiểm thuần
“Những thay đổi lớn về doanh thu phí bảo hiểm thuần qua các năm thường làdấu hiệu của sự mất ổn định trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảohiểm Doanh thu phí bảo hiểm tăng đột biến có thể là dấu hiệu doanh nghiệp bảohiểm tham gia vào các loại hình bảo hiểm hoặc lĩnh vực hoạt động mới một cáchvội vã, không tính tới hiệu quả kinh doanh Bên cạnh đó, doanh thu phí bảo hiểmtăng đột biến còn có thể là dấu hiệu doanh nghiệp bảo hiểm đang cố gắng tăngluồng tiền để đáp ứng các trách nhiệm chi trả bồi thường của các họp đồng đã kýtrước đây Doanh thu phí bảo hiểm giảm mạnh có thể là dấu hiệu cho thấy doanhnghiệp bảo hiểm chấm dứt khai thác một số nghiệp vụ nào đó, thu hẹp phạm vi khaithác do có nhiều tổn thất ở một số nghiệp vụ, hoặc mất thị phần do cạnh tranh.”
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Chỉ tiêu thay đổi
doanh thu phí bảo
hiểm thuần =
Doanh thu phí bảo hiểm thuần năm hiện tại – Doanh
thu phí bảo hiểm thuần năm trướcDoanh thu phí bảo hiểm thuần năm trước
• Tỷ lệ nợ phí bảo hiểm
Tỷ lệ nợ phí là một trong các chỉ tiêu thể hiện năng lực quản lý nợ phí bảohiểm của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Chỉ tiêu này cao ảnh hưởng tiêu cựcđến hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNBH PNT và ngược lại
Trang 39Chỉ tiêu này đánh giá mức độ bị chiếm dụng phí và chất lượng khai thác bảohiểm của doanh nghiệp.
• Chỉ tiêu đánh giá chất lượng giải quyết bồi thường
Chỉ tiêu tỷ lệ hồ sơ bồi thường tồn đọng
Tỷ lệ hồ sơ bồi
thường tồn đọng =
Số lượng hồ sơ yêu cầu bồi thường còn tồn đọng tại
thời điểm cuối năm tài chínhTổng số hồ sơ yêu cầu bồi thường phải giải quyết
trong năm3./ Nhóm chỉ tiêu đánh giá về vốn, chất lượng tài sản và đầu tư tàỉ chính
• Chỉ tiêu thay đổi về nguồn vốn, quỹ
“Xác định mức độ thay đổi về nguồn vốn, quỹ giữa năm hiện tại và năm trước
là một chỉ tiêu quan trọng xác định mức độ cải thiện hoặc giảm sút về khả năng tàichính của doanh nghiệp bảo hiểm trong năm
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Chỉ tiêu thay đổi về
nguồn vốn, quỹ =
Chênh lệch giữa nguồn vốn, quỹ năm
hiện tại và năm trướcNguồn vốn, quỹ năm trước
• Chỉ tiêu tổng doanh thu phí bảo hiểm trên nguồn vốn, quỹ
Nguồn vốn, quỹ của một doanh nghiệp bảo hiểm có vai trò tạo ra nguồn dự trữ
để bù đắp cho các tổn thất lớn hơn mức trung bình và vượt quá khả năng” “chi trảcủa dự phòng nghiệp vụ Chỉ tiêu tổng doanh thu phí bảo hiểm trên nguồn vốn, quỹđánh giá mức độ đầy đủ của nguồn dự trữ này (không tính tới tái bảo hiểm) Chỉtiêu có giá trị càng lớn thì doanh nghiệp càng có nhiều rủi ro đối với nguồn vốn,quỹ để đối phó vói những biến động bất thường về tổn thất
Trang 40Chỉ tiêu này được tính như sau:
Chỉ tiêu Tổng doanh thu phí
bảo hiểm trên nguồn vốn, quỹ =
Tổng doanh thu phí bảo hiểm
Nguồn vốn, quỹ
• Chỉ tiêu trợ vốn trên nguồn vốn, quỹ
Việc sử dụng hợp đồng tái bảo hiểm cố định nhằm hỗ trợ về vốn có thể là dấuhiệu cho thấy doanh nghiệp bảo hiểm có sự thiếu hụt về nguồn vốn, quỹ Nếu phầnlớn nguồn vốn, quỹ của doanh nghiệp bảo hiểm được tạo thành từ khoản trợ vốnthông qua hình thức tái bảo hiểm thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảohiểm có thể bị ảnh hưởng nếu các nhà nhận tái bảo hiểm không hợp tác hoặc gặpkhó khăn về tài chính
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Chỉ tiêu trợ vốn trên Nguồn vốn, quỹ = Trợ vốn
Nguồn vốn, quỹTrong đó:
Trợ vốn = Hoa hồng nhượng TBH chia cho Phí nhượng TBH nhân với 40%Phí nhượng TBH
• Chỉ tiêu công nợ trên tài sản có tính thanh khoản
Chỉ tiêu công nợ trên tài sản có tính thanh khoản là thước đo khả năng đáp ứngcác nhu cầu về tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm Chỉ tiêu này cũng ước địnhkhả năng chi trả cho người tham gia bảo hiểm trong trường hợp cần thiết phải giảithể doanh nghiệp bảo hiểm