1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ - Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hai Bà Trưng

115 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động tín dụng là một hoạt động cơ bản của các Ngân hàng nhằm tạo ra lợi nhuận chủ yếu cho chính bản thân ngân hàng trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, bên cạnh việc đem lại lợi nhuận thì hoạt động tín dụng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, có thể gây nên những hậu quả nặng nề không chỉ cho ngân hàng mà còn đối với cả các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và nền kinh tế. Ngành ngân hàng ở Việt Nam vốn tuổi đời còn khá non trẻ, trước đây chỉ gồm các ngân hàng thuộc sở hữu của Nhà nước và một vài ngân hàng thương mại có quy mô vốn lớn hoạt động nhưng từ 2006 – 2008 sự ra đời của hàng loạt các ngân hàng thương mại được chuyển đổi từ các ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn lên ngân hàng đô thị làm cho hệ thống ngân hàng đa dạng hơn, đem lại nhiều tiện ích và sự lựa chọn cho khách hàng đồng thời sự cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng rõ nét hơn. Tuy nhiên, với sự ra đời ồ ạt như trên trong khi cơ chế, chính sách và sự quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân hàng còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp sự phát triển của các ngân hàng. Bản thân các ngân hàng do áp lực cạnh tranh để tồn tại, do trình độ quản lý còn yếu trong bối cảnh chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu làm thu nhập, hoạt động kinh doanh của khách hàng vay vốn gặp khó khăn và hậu quả tỷ lệ nợ xấu tại các tổ chức tín dụng ngày càng gia tăng mà nguyên nhân chính vẫn là rủi ro từ hoạt động tín dụng gây nên. Do vậy,việc xây dựng được một hệ thống quản lý rủi ro nói chung và quản lý rủi ro tín dụng nói riêng có ý nghĩa sống còn đối với hoạt động ngân hàng. Để giải quyết được vấn đề rủi ro tín dụng đang là bài toán khó đối với nhiều ngân hàng thương mại nói chung cũng như đối với Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hai Bà Trưng nói riêng. Thực tiễn hoạt động của Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng cho thấy rủi ro tín dụng vẫn là một vấn đề đáng quan tâm và lo ngại. Do đó, yêu cầu được đặt ra là làm sao để rủi ro tín dụng phải được quản lý, kiểm soát một cách có hiệu quả, đảm bảo trong phạm vi rủi ro chấp nhận được nhằm giảm thiểu những thiệt hại phát sinh từ rủi ro tín dụng, góp phần làm tăng lợi nhuận kinh doanh của chi nhánh Hai Bà Trưng nói riêng và Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam nói chung. Nhận thức được vấn đề về việc nghiên cứu công tác quản lý rủi ro tín dụng, qua đó tìm ra được giải pháp hoàn thiện quản lý rủi ro tín dụng là hết sức cần thiết, là học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế và chính sách của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, tôi đã quyết định chọn đề tài: "Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hai Bà Trưng" làm luận văn thạc sỹ kinh tế của mình.

Trang 1

  

NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT

QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM -

CHI NHÁNH HAI BÀ TRƯNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

TS ĐỖ QUẾ LƯỢNG

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương

mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng” là công trình nghiên

cứu, thực hiện của bản thân tôi

Các số liệu trong luận văn này được thu thập, phân tích một cách trung thực,khách quan Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không saochép của bất cứ luận văn nào đã được thực hiện Quá trình thực hiện, nghiên cứuluận văn là hợp pháp, được sự cho phép của các đối tượng nghiên cứu

Hà Nội, ngày 09 tháng 9 năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7

1.1 Rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại 7

1.1.1 Tín dụng của ngân hàng thương mại 7

1.1.2 Rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại 14

1.2 Quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại 24

1.2.1 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại 24

1.2.2 Mục tiêu và tiêu chí đánh giá quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại 25

1.2.3 Nội dung quản lý rủi ro tín dụng 28

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại 36

1.3 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng đối với các ngân hàng TMCP, bài học cho ngân hàng TMCP Kỹ thương Chi nhánh Hai Bà Trưng 40

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng – Chi nhánh Kinh Đô 40

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Hà Nội 42

1.3.3 Bài học quản lý rủi ro tín dụng cho ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng 44

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH HAI BÀ TRƯNG 46

2.1 Giới thiệu ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hai Bà Trưng 46

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 46

2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh 49

2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng 54

Trang 5

2.3 Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Kỹ thương

Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng 56

2.3.1 Thực trạng bộ máy quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng 56

2.3.2 Nhận dạng rủi ro tín dụng 60

2.3.3 Đo lường và đánh giá rủi ro tín dụng 62

2.3.4 Kiểm soát rủi ro tín dụng 66

2.3.5 Tài trợ rủi ro tín dụng 70

2.4 Đánh giá quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng 72

2.4.1 Đánh giá theo tiêu chí 72

2.4.2 Đánh giá hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh 73

2.4.3 Nguyên nhân của các điểm yếu trong công tác quản lý rủi ro tín dụng 77

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH HAI BÀ TRƯNG 84 3.1 Định hướng quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng 84

3.1.1 Định hướng phát triển tín dụng tại ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng đến năm 2025 84

3.1.2 Định hướng hoàn thiện quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng 85

3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng 86

3.2.1 Nâng cao chất lượng cán bộ quản lý rủi ro tín dụng 86

3.2.2 Hoàn thiện nhận diện và phân tích rủi ro tín dụng 88

3.2.3 Hoàn thiện các phương án quản lý rủi ro tín dụng 89

3.2.4 Hoàn thiện hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng 91

3.2.5 Hoàn thiện nhóm giải pháp tài trợ rủi ro tín dụng 95

3.3 Một số kiến nghị 96

3.3.1 Kiến nghị đối với ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam 96

3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước 98

3.3.3 Kiến nghị đối với chính phủ 101

KẾT LUẬN 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

Ký hiệu Ý Nghĩa

Trang 7

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh

Hai Bà Trưng 47

Bảng 2.1: Các chỉ số tài chính của chi nhánh Hai Bà Trưng 49

Bảng 2.2 : Nguồn vốn huy động của chi nhánh Hai Bà Trưng năm 2014-2018 51

Bảng 2.3: Dư nợ tín dụng các năm 2014-2018 52

Bảng 2.4 : Kết quả kinh doanh các năm 2014-2018 53

Bảng 2.5: Tình hình các khoản nợ qua các năm 2014-2018 55

Bảng 2.6: Nợ xấu của chi nhánh Hai Bà Trưng các năm 2014-2018 56

Sơ đồ 2.2 Bộ máy quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng 58

Bảng 2.7: Số lượng cán bộ bộ máy quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Hai Bà Trưng 59

Bảng 2.8: Chất lượng cán bộ bộ máy quản lý rủi ro tín dụng tại 60

Biểu đồ 2.5: Xác định nguy cơ rủi ro khách hàng 61

Bảng 2.9: Bảng xếp loại tín dụng khách hàng 65

Bảng 2.10: Bảng tổng hợp xếp hạng tín dụng chi nhánh Hai Bà Trưng 66

Bảng 2.11: Kết quả kiểm soát nợ xấu theo nguyên nhân 68

Bảng 2.12: Tình hình trích lập dự phòng và xử lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh Hai Bà Trưng 71

Bảng 2.13: Các chỉ tiêu đo lường quản lý rủi ro tín dụng của chi nhánh Hai Bà Trưng các năm 2014-2018 72

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động tín dụng là một hoạt động cơ bản của các Ngân hàng nhằm tạo ralợi nhuận chủ yếu cho chính bản thân ngân hàng trong giai đoạn hiện nay Tuynhiên, bên cạnh việc đem lại lợi nhuận thì hoạt động tín dụng cũng tiềm ẩn rất nhiềurủi ro, có thể gây nên những hậu quả nặng nề không chỉ cho ngân hàng mà còn đốivới cả các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và nền kinh tế

Ngành ngân hàng ở Việt Nam vốn tuổi đời còn khá non trẻ, trước đây chỉgồm các ngân hàng thuộc sở hữu của Nhà nước và một vài ngân hàng thương mại

có quy mô vốn lớn hoạt động nhưng từ 2006 – 2008 sự ra đời của hàng loạt cácngân hàng thương mại được chuyển đổi từ các ngân hàng thương mại cổ phần nôngthôn lên ngân hàng đô thị làm cho hệ thống ngân hàng đa dạng hơn, đem lại nhiềutiện ích và sự lựa chọn cho khách hàng đồng thời sự cạnh tranh giữa các ngân hàngcũng rõ nét hơn

Tuy nhiên, với sự ra đời ồ ạt như trên trong khi cơ chế, chính sách và sựquản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân hàng còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp

sự phát triển của các ngân hàng Bản thân các ngân hàng do áp lực cạnh tranh để tồntại, do trình độ quản lý còn yếu trong bối cảnh chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảngtài chính toàn cầu làm thu nhập, hoạt động kinh doanh của khách hàng vay vốn gặpkhó khăn và hậu quả tỷ lệ nợ xấu tại các tổ chức tín dụng ngày càng gia tăng mànguyên nhân chính vẫn là rủi ro từ hoạt động tín dụng gây nên

Do vậy,việc xây dựng được một hệ thống quản lý rủi ro nói chung và quản lýrủi ro tín dụng nói riêng có ý nghĩa sống còn đối với hoạt động ngân hàng Để giảiquyết được vấn đề rủi ro tín dụng đang là bài toán khó đối với nhiều ngân hàngthương mại nói chung cũng như đối với Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam -Chi nhánh Hai Bà Trưng nói riêng Thực tiễn hoạt động của Ngân hàng TMCP kỹthương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng cho thấy rủi ro tín dụng vẫn là một vấn

đề đáng quan tâm và lo ngại Do đó, yêu cầu được đặt ra là làm sao để rủi ro tíndụng phải được quản lý, kiểm soát một cách có hiệu quả, đảm bảo trong phạm vi rủi

Trang 9

ro chấp nhận được nhằm giảm thiểu những thiệt hại phát sinh từ rủi ro tín dụng, gópphần làm tăng lợi nhuận kinh doanh của chi nhánh Hai Bà Trưng nói riêng và Ngânhàng TMCP kỹ thương Việt Nam nói chung.

Nhận thức được vấn đề về việc nghiên cứu công tác quản lý rủi ro tín dụng,qua đó tìm ra được giải pháp hoàn thiện quản lý rủi ro tín dụng là hết sức cần thiết,

là học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế và chính sách của Trường Đại

học Kinh tế Quốc dân, tôi đã quyết định chọn đề tài: "Quản lý rủi ro tín dụng tại

Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hai Bà Trưng" làm luận

văn thạc sỹ kinh tế của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Quản lý rủi ro tín dụng là vấn đề nóng hổi hiện nay, nó luôn nhận được sựquan tâm của các nhà lãnh đạo của các Ngân hàng cũng như của nhiều nhà nghiêncứu Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về rủi ro tín dụng trong hoạtđộng kinh doanh của các Ngân hàng thương mại, đó là những đề tài nghiên cứu khoahọc, luận văn thạc sỹ luận án tiến sỹ với các góc độ nghiên cứu, đối tượng nghiêncứu và mức độ khác nhau Có thể kể đến dưới đây một số công trình tiêu biểu liênquan trực tiếp đến đề tài như sau:

“Những giải pháp chủ yếu hạn chế rủi ro tín dụng ngân hàng thương mạinước ta trong giai đoạn hiện nay”, Luận án tiến sỹ kinh tế của nghiên cứu sinhNguyễn Hữu Thủy, năm 1996

“Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Bắc Á”, Luận văn thạc sỹ, ChuVăn Sơn, chuyên ngành Tài chính – Lưu thông tiền tệ và tín dụng, năm 2017

“Quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển BìnhĐịnh”, Luận văn thạc sỹ, Nguyễn Anh Dũng, chuyên ngành tài chính - ngân hàng,năm 2016

“Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôntỉnh Hải Dương”, Luận văn thạc sỹ, Phạm Thị Thu Hà, chuyên ngành quản lý kinh tế

và chính sách, năm 2018

Trang 10

“Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng”, Luậnvăn thạc sỹ, Phạm Văn Lợi, chuyên ngành quản lý kinh tế và chính sách, năm 2017.

Trong các luận án, luận văn nghiên cứu trên, các tác giả đã hệ thống hoá, phântích và đưa ra sự lựa chọn khái niệm về quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàngthương mại; làm rõ vai trò và sự cần thiết của nó trong hoạt động kinh doanh; địnhhướng cho các ngân hàng thương mại nói chung, ngân hàng kỹ thương Việt Nam nóiriêng trong quá trình xây dựng quản lý rủi ro tín dụng Một số giải pháp đã và đangđược triển khai trong thực tiễn hoạt động tại ngân hàng kỹ thương Việt Nam nóichung cũng như tại chi nhánh Hai Bà Trưng nói riêng

Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu phân tích rủi ro vẫn mang tính chấtđịnh tính, không thật cụ thể và rõ ràng trong việc tổ chức và thực hiện quản lý rủi rotín dụng, chưa chỉ ra được mô hình để quản lý rủi ro, đo lường rủi ro, tổn thất ngânhàng phải gánh chịu khi rủi ro tín dụng xảy ra, đặc biệt với những điều kiện cụ thểcủa Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng hiện nay

Những “khoảng trống” trên đây của các công trình nghiên cứu đã gợi cho tácgiả những hướng nghiên cứu mới nhằm thực hiện tốt luận án của mình

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu của đề tài làm sáng tỏ những vấn đề sau:

Xác định khung lý thuyết về quản lý rủi ro tín dụng tại các NHTM

Phân tích thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP kỹthương Việt Nam - Chi nhánh Hai Bà Trưng từ năm 2014- 2018

Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàngTMCP kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng

4 Câu hỏi nghiên cứu

Luận văn tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

Quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại bao gồm những nộidung nào?

Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng hiện nay tại Ngân hàng TMCP kỹthương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng như thế nào?

Trang 11

Cần phải thực hiện những giải pháp nào hoàn thiên quản lý rủi ro tín dụngtại Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng?

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tạingân hàng thương mại

Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung:Tổ chức bộ máy quản lý rủi ro tín dụng, nhận dạng rủi ro tíndụng, đo lường và đánh giá rủi ro tín dụng, kiểm soát rủi ro tín dụng, tài trợ rủi rotín dụng

Về thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập từ giai đoạn 2014 – 2018 và đềxuất các giải pháp đến năm 2025

Về không gian: Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam – Chi nhánhHai Bà Trưng

1 Phương pháp nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu và phương pháp xử lý số liệu

Trang 12

Tác giả thực hiện nghiên cứu theo các bước sau:

Bước 1: Xây dựng khung lý thuyết về quản lý rủi ro tín dụng trong hoạtđộng của Ngân hàng thương mại

Bước 2: Thu thập thông tin thứ cấp về thực trạng rủi ro tín dụng và quản lýrủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Kỹ thương ViệtNam – Chi nhánh Hai Bà Trưng

Bước 3: Phân tích thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP

Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng theo các nội dung quản lý rủi ro tíndụng đã nêu ở khung lý thuyết

Bước 4: Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý rủi ro tín dụng tại Ngânhàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng

Các phương pháp thu thập và xử lý số liệu được dùng trong quá trình thựchiện luận văn bao gồm: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phươngpháp so sánh

Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu: Trên cơ sở các tài liệu thamkhảo, số liệu thống kê thu thập được, mô tả qua số tuyệt đối, số tương đối, xuhướng phát triển qua thời gian, kiểm định, luận văn sẽ tính toán dựa trên các sốliệu, trong đó, nguồn số liệu chủ yếu được lấy từ các tài liệu tham khảo, các thôngtin, nội dung đã được phân tích tổng hợp và công bố của các cơ quan quản lý, hệthống các ngân hàng Việt Nam và Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam; báo cáotổng kết từ các Ngân hàng thương mại cũng như các kết quả đã công bố của các hộinghị, hội thảo

Phương pháp so sánh: So sánh thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng củacác ngân hàng thương mại với nhau và với các yêu cầu của đổi mới công tác quản lýrủi ro tín dụng, từ đó tìm ra những bất cập và làm rõ nguyên nhân

6 Đóng góp của đề tài

Về lý luận: Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về quản lý rủi ro tín dụng tạiNgân hàng thương mại

Trang 13

Về thực tiễn: Đánh giá thực trạng, định hướng và đề ra một số giải phápnhằm hoàn thiện quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam– Chi nhánh Hai Bà Trưng.

thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Kỹ

thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại

1.1.1 Tín dụng của ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụhoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế Song xét trên giác độ nhữngloại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, khái niệm ngân hàng thương mại đượcđịnh nghĩa như sau: ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính cung cấp một danhmục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụthanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổchức kinh doanh nào trong nền kinh tế

Hệ thống các ngân hàng thương mại có vai trò vô cùng quan trọng trong quátrình phát triển kinh tế của một quốc gia Vai trò này thể hiện ở nhiều khía cạnh, thứnhất ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, ngân hàng là cầu nối của doanhnghiệp và những nhà đầu tư, thông qua hoạt động tín dụng thu hút vốn và cung cấpvốn, đồng thời thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, các ngânhàng thương mại điều tiết tài chính trong nước theo sự vận động của nền tài chínhquốc tế, thúc đẩy ngoại thương và nội thương, giúp đẩy mạnh phát triển kinh tế Hệthống các ngân hàng thương mại còn là một kênh quan trọng giúp Nhà nước điềutiết vĩ mô nền kinh tế bằng các nghiệp vụ thị trường mở

1.1.1.1.Khái niệm về tín dụng của ngân hàng thương mại

Lịch sử minh chứng rằng quan hệ tín dụng ra đời và tồn tại từ đòi hỏikhách quan của quá trình tuần hoàn vốn để giải quyết hiện tượng dư thừa,thiếu hụt vốn diễn ra thường xuyên giữa các chủ thể trong nền kinh tế Nói mộtcách khái quát, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị hay tàisản từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định;khi đến hạn, người sử dụng phải có trách nhiệm hoàn trả một lượng giá trị hay tàisản lớn hơn giá trị hay tài sản ban đầu

Trang 15

Như vậy, phạm trù tín dụng có ba nội dung chính là: tính chuyểnnhượng tạm thời một lượng giá trị hay tài sản, tính thời hạn và tính hoàn trả.

Tín dụng có nhiều loại, như; tín dụng nhà nước, tín dụng doanh nghiệp, tíndụng cá nhân và tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tàisản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính) vàbên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác), trong đó bên chovay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theothỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khiđến hạn thanh toán

Theo khoản 14 và khoản 16, điều 4 trong Luật các tổ chức tín dụng số47/2014/QH ngày 16/06/2014 đã nêu rõ: Tín dụng ngân hàng là việc tổ chức tíndụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để thỏa thuận cấp tín dụng chokhách hàng với nguyên tắc có hoàn trả ( cả gốc và lãi ) bằng các nghiệp vụ cho vaychiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụkhác theo quy định của Ngân hàng nhà nước

1.1.1.2 Đặc điểm và vai trò của tín dụng của ngân hàng thương mại

Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động cơ bản của các Ngân hàngthương mại Dư nợ tín dụng thường chiếm trên 50% tổng tài sản của Ngân hàngthương mại và thu nhập chính của các Ngân hàng thương mại cũng đến từ chínhhoạt động này, khi nó thường chiếm từ 50-70% Bên cạnh việc đem lại nguồn thunhập, lợi nhuận cho các Ngân hàng thì hoạt động tín dụng cũng mang lại rất nhiềurủi ro Chính vì lẽ đó mà hoạt động tín dụng luôn là mối quan tâm lớn nhất của cácNgân hàng thương mại

Chủ thể tham gia hoạt động tín dụng một bên là ngân hàng thương mại, mộtbên là các chủ thể khác trong nền kinh tế Tài sản trong quan hệ tín dụng ngân hàng

là tiền Thời hạn cho vay rất linh hoạt, có thể là ngắn hạn ( dưới 1 năm ), trung hạn

và dài hạn

Bên đi vay phải hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay sau khi hết thời hạn

sử dụng thỏa thuận - Thông thường giá trị được hoàn trả lớn hơn giá trị lúc cho vay

Trang 16

- phần lớn hơn này là lợi tức Ngân hàng thương mại tham gia quan hệ tín dụng với

2 tư cách: Vừa là người đi vay vừa là người cho vay Do cơ chế kinh doanh là “đivay để cho vay” nên hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại thường tiềm ẩn

độ rủi ro cao và có ảnh hưởng đến nhiều cá nhân, tổ chức khác trong nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể trong nền kinh tế như cá nhân, tổchức, doanh nghiệp để có thể đứng vững được trên thị trường, thì tùy vào từng điềukiện, nhu cầu thực tế, họ cần phải có vốn để đầu tư và tín dụng ngân hàng là mộttrong những nguồn vốn để họ có thể khai thác Do đó, tín dụng ngân hàng chính làđòn bẩy thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của các chủ thể trong nền kinh tế, góp phầngiúp nền kinh tế thị trường vận hành theo hướng tối ưu, tích cực Vai trò của tíndụng ngân hàng được thể hiện ở các khía cạnh dưới đây:

Thứ nhất, Tín dụng ngân hàng đóng vai trò trung gian giải quyết mâu thuẫnphát sinh trong quá trình tuần hoàn, chu chuyển vốn của doanh nghiệp

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì sự hoạt động liên tục đòi hỏivốn của các doanh nghiệp phải đồng thời tồn tại ở ba giai đoạn dự trữ, sản xuất vàlưu thông Khi không có sự ăn khớp về mặt thời gian và khối lượng vật tư hàng hóacần mua với việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa ở từng doanh nghiệp thì tất yếu xảy rahiện tượng tạm thời thừa vốn hoặc thiếu vốn Thông thường các doanh nghiệpthiếu vốn khi có nhu cầu mua, dự trữ vật tư hàng hóa và có vốn nhàn rỗi khi bánđược sản phẩm hàng hóa mà chưa có nhu cầu chi tiêu

Một nhóm doanh nghiệp tạm thời thừa vốn ( bán được hàng, nhưngchưa có nhu cầu chi tiêu hoặc nhu cầu chi tiêu thấp)

Một nhóm doanh nghiệp khác tạm thời thiếu vốn ( hàng chưa bán đượcnhưng đã phát sinh nhu cầu chi tiêu, hoặc cần mở rộng hoạt động kinh doanh đổimới kỹ thuật, công nghệ …)

Với hoạt động huy động vốn ngân hàng thương mại tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp có cơ hội đầu tư, sinh lợi từ vốn nhàn rỗi tạm thời Bằng nguồnvốn huy động được các ngân hàng có điều kiện đáp ứng vốn cho các doanhnghiệp có nhu cầu vay vốn Là cầu nối giữa bên thừa vốn và bên thiếu vốn tạm

Trang 17

thời, tín dụng ngân hàng góp phần điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạođiều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành một cách liên tục,không bị gián đoạn.

Thứ hai, Tín dụng ngân hàng góp phần giải quyết mâu thuẫn giữa chu kỳthu nhập và chu kỳ tiêu dùng

Tiêu dùng của mỗi cá nhân trong xã hội phụ thuộc vào thu nhập do laođộng của họ tạo ra Trong khi nhu cầu tiêu dùng cần thiết tối thiểu của cá nhânkhông ngừng tăng lên theo thời gian thì thu nhập của họ không phải lúc nào cũng

ổn định: khi có, khi không, lúc cao, lúc thấp Trong thời gian đầu của cuộc sốngcon người phải học tập, học nghề, chờ việc… họ hầu như chưa tạo ra khoản thunhập đáng kể nào, nhưng lại có nhu cầu chi tiêu cao Khi đã tham gia vào quátrình sản xuất xã hội, lao động của họ không những tạo ra thu nhập đủ để đápứng nhu cầu chi tiêu mà còn có khả năng dành một phần để tích lũy, tích lũy đểthỏa mãn nhu cầu cao hơn hay để dự phòng Huy động vốn tiền tệ của nhóm những

cá nhân có các khoản thu nhập dành cho tích lũy và dự phòng và cho vay đối vớinhững nhóm cá nhân có thu nhập thấp hơn nhu cầu chi tiêu, tín dụng ngân hàngkhông chỉ giải quyết được mâu thuẫn giữa chu kỳ thu nhập và chu kỳ tiêu dùngcủa các cá nhân, mà còn góp phần nâng cao đời sống cho người lao động, kíchthích sản xuất phát triển

Thứ ba, Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả

Với sự hoạt động của hệ thống tín dụng, các nguồn tiền nhàn rỗi của cá nhân

và doanh nghiệp được tập trung lại và sau đó tín dụng tiến hành phân phối cácnguồn vốn đã được tập trung này nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, lưu thônghàng hóa cũng như nhu cầu tiêu dùng trong toàn xã hội Thông qua kênh tín dụng,bằng chính sách tiền tệ thích hợp cho từng giai đoạn nhà nước có thể điều tiết lượngtiền cung ứng cho nền kinh tế góp phần ổn định tiền tệ, giá cả

Thứ tư, Tín dụng ngân hàng góp phần ổn định đời sống của dân cư, tạocông ăn việc làm và bảo đảm trật tự xã hội

Do tín dụng có vai trò thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng hóa

và dịch vụ ngày càng gia tăng, thỏa mãn nhu cầu đời sống của người lao động

Trang 18

Bên cạnh đó, việc cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế đã tạo ra khả năng khaithác các tiềm năng sẵn có trong xã hội về tài nguyên thiên nhiên, lao động… từ

đó có thể thu hút nhiều lực lượng lao động của xã hội, tạo công ăn, việc làm Một

xã hội phát triển lành mạnh, đời sống được ổn định, ai cũng có công ăn việc làm

Thứ năm, Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mốiquan hệ giao lưu kinh tế quốc tế Trước xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa cũng nhưviệc giao lưu kinh tế quốc tế, sự giao lưu kinh tế giữa các quốc gia luôn được đặt lênhàng đầu Trong bối cảnh đó, các tổ chức, doanh nghiệp không chỉ có quan hệ muabán với các thành phần khác trong nền kinh tế mà còn có quan hệ giao thương, buônbán với các doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài Từ đó, Ngân hàng thương mại có thểgiúp thúc đẩy các mối quan hệ này bằng việc cho vay, bảo lãnh, tài trợ, để các tổchức, doanh nghiệp nâng cao uy tín của chính mình trên trường quốc tế

Thứ sáu, Tín dụng ngân hàng là hoạt động cơ bản, đem lại nguồn thu, lợinhuận chủ yếu đem lại cho các Ngân hàng thương mại, ngoài ra, nó cũng tạo điềukiện để phát triển các dịch vụ khác do chính nó cung cấp: phát triển dịch vụ thẻATM, thẻ tín dụng, dịch vụ trả lương, các dịch vụ thanh toán,

1.1.1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng

Ngân hàng cung cấp rất nhiều loại tín dụng, cho nhiều đối tượng khách hàngvới những mục đích sử dụng khác nhau Để tránh nhầm lẫn và có cái nhìn tổng quát

về các loại tín dụng, người ta phân loại tín dụng theo một số tiêu chí sau:

 Căn cứ vào thời hạn cho vay

Cho vay ngắn hạn: Có thời hạn đến 1 năm Mục đích của loại cho vaynày thường nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động

Cho vay trung hạn: Có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm Mục đích của loạicho vay này thường nhằm tài trợ cho việc đầu tư tài sản cố định

Cho vay dài hạn: Có thời hạn trên 5 năm Mục đích của loại cho vay nàythường nhằm tài trợ cho việc đầu tư các dự án đầu tư

 Căn cứ vào mục đích cho vay

Tín dụng cá nhân: Đây là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân để mua sắmhàng hóa tiêu dùng đắt tiền như xe ô tô, mua sắm trang thiết bị trong nhà…

Trang 19

Tín dụng bất động sản: Đây là các khoản tín dụng được bảo đảm bằng bấtđộng sản, bao gồm: Tín dụng ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai; Tín dụngdài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, cơ sở dịch vụ, trang trại và bất động sản ởnước ngoài.

Tín dụng công thương nghiệp: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các doanhnghiệp để trang trải các chi phí như mua hàng hóa, nguyên vật liệu, trả thuế và chitrả lương

Tín dụng nông nghiệp: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt độngnông nghiệp, nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chănnuôi gia súc

Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Đây là các khoản tín dụng cấp cho cácngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác

Cho thuê tài chính: Là việc ngân hàng mua các trang thiết bị, máy móc vàcho thuê lại chúng

Tín dụng khác: Bao gồm các khoản tín dụng chưa được phân loại ở trên

 Căn cứ vào tài sản bảo đảm cho khoản vay

Tín dụng không có bảo đảm: Là loại hình tín dụng khách hàng không có tàisản cầm cố, thế chấp hay có bảo lãnh của bên thứ ba mà ngân hàng cho vay dựa trên

cơ sở uy tín, tín nhiệm của bản thân khách hàng vay

Tín dụng có bảo đảm: Là loại hình tín dụng khách hàng dùng tài sản củamình để cầm cố, thế chấp với ngân hàng hay có bảo lãnh của bên thứ ba, sau đóngân hàng dựa vào đó để cho vay

 Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay

Tín dụng trả góp: Ngân hàng cho vay và khách hàng vay phải hoàn trả dầnvốn gốc và lãi theo định kỳ

Tín dụng phi trả góp: Ngân hàng cho vay và khách hàng vay phải hoàn trảtoàn bộ vốn một lần khi đáo hạn

Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: Là loại hình mà ở đó việc thu nợ của ngânhàng được thực hiện theo yêu cầu hoàn trả của người đi vay trên cơ sở khả năng củangười đi vay và trong thời hạn của hợp đồng đã ký kết giữa các bên

Trang 20

 Căn cứ vào đồng tiền được sử dụng trong cho vay

Cho vay bằng nội tệ: là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho khách hàngvay bằng VND

Cho vay bằng ngoại tệ: là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho kháchhàng vay bằng các đồng ngoại tệ khác, đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn vay của kháchhàng, ở đây có thể là USB, EUR,

 Căn cứ vào xuất xứ tín dụng

Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồngthời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng

Cho vay gián tiếp: Là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lạicác khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán

1.1.1.4 Ý nghĩa hoạt động tín dụng đối với ngân hàng

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng là hoạt động kinh tế cơ bảncủa ngân hàng Đối với hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng thường chiếm hơnmột nửa tổng tài sản có và thu nhập từ tín dụng chiếm khoảng từ một nửa đến haiphần ba tổng thu nhập của ngân hàng Hơn thế nữa, rủi ro trong kinh doanh ngânhàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng Khi ngân hàng rơi vàotrạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạtđộng tín dụng của ngân hàng Việc ngân hàng không thu hồiđược vốn, có thể dongân hàng đã buông lỏng quản lý, cấp tín dụng không minh bạch, áp dụng mộtchính sách tín dụng kém hiệu quả, hay do nền kinh tế đi xuống không lường trướcđược Chính vì vậy, điều không ngạc nhiên là khi cán bộ thanh tra đến ngân hàng,

họ luôn kiểm tra toàn bộ danh mục tín dụng của ngân hàng, bao gồm: phân tích chitiết các hồ sơ tín dụng và hồ sơ bảo đảm tín dụng đối với các khoản tín dụng lớn,kiểm tra ngẫu nhiên các khoản tín dụng vừa và nhỏ, trên cơ sở đánh giá chính sáchtín dụng của ngân hàng nhằm bảo đảm lành mạnh và hiệu quả để bảo vệ nhữngngười gửi tiền và cổ đông của ngân hàng

Trang 21

1.1.2 Rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại

Rủi ro tín dụng là một trong số nhưng rủi ro phổ biến trong hoạt động củacác ngân hàng, nó thường xuyên xảy ra và tạo ra những hậu quả nặng nề đới vớihoạt động ngân hàng và có khi ảnh hưởng đến hệ thống các ngân hàng Thôngthường, rủi ro tín dụng thường chiếm tỷ lệ từ 60-70% trong tổng số các rủi ro hoạtđộng của ngân hàng

Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thuđược của khách hàng vay đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanhtoán nợ gốc và lãi của khách hàng không đúng kỳ hạn, không đúng với cam kết, hợpđồng đã được ký kết

Theo điều 3 của Thông tư 02/2017/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2017của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về quy định về phân loại tài sản có, mức trích,phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi rotrong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã nêu: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợcủa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng khôngthực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ củamình theo cam kết.”

Theo suy nghĩ bình thường, ngân hàng luôn là người nắm đằng cán trongmọi giao dịch, đặc biệt là nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng luôn luôn có bước phântích các yếu tổ của khách hàng vay nhằm đảm bảo độ an toàn của khoản vay là caonhất, ngân hàng luôn yêu cầu những điều kiện khắt khe, thực hiện theo quy trìnhđầy đủ, chặt chẽ Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, không phải bao giờ ngân hàngcũng dự tính được chính xác tuyệt đối các vấn đề có thể xảy đến, ngân hàng cũng cókhả năng không thu hồi được nợ

Bản chất của rủi ro tín dụng là khách quan Dù với nguyên nhân nào đi nữa,ngân hàng cũng phải chấp nhận một thực tế rằng có một tỷ lệ phần trăm nhất địnhngân hàng sẽ không thu hồi được nợ, từ đó, trong các chiến lược quản trị ngân hàngthì quản lý rủi ro tín dụng luôn được đưa lên hàng đầu

Trang 22

Ngân hàng không thể loại trừ rủi ro tín dụng, song có thể hạn chế nó bằngnhiều cách, và tỉ lệ rủi ro dự kiến luôn được đưa ra trong các kế hoạch, đồng thờitrích lập các quỹ dự phòng rủi ro, áp dụng những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu đểgiảm thiểu tối đa những thiệt hại có thể xảy đến Nếu thực tế ít hơn những gì trong

kế hoạch, thì ngân hàng đã đạt thành công trong quản lý rủi ro

1.1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng

Các ngân hàng có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng theo các tiêu chí đánhgiá khác nhau, thông thường được phân loại theo các tiêu chí như sau:

 Căn cứ vào nội dung quản lý tín dụng

Rủi ro giao dịch: Là rủi ro liên quan đến từng khoản tín dụng mỗi khi ngânhàng ra quyết định cấp một khoản tín dụng mới cho khách hàng Đây có thể xem làrủi ro cá biệt của từng khoản tín dụng, nó phát sinh do sai sót ở các khâu đánh giá,thẩm định và xét duyệt khi cho vay, hoặc phát sinh do thiếu chặt chẽ ở khâu theodõi kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay, hoặc phát sinh do sơ hở ở khâu bảo đảm

và những cam kết ràng buộc trong hợp đồng tín dụng

Rủi ro danh mục tín dụng: Là rủi ro liên quan đến sự kết hợp nhiều khoản tíndụng trong danh mục tín dụng của ngân hàng Nó có thể phát sinh do đặc thù cá biệtcủa từng loại tín dụng, chẳng hạn cho vay không có đảm bảo thì rủi ro hơn là chovay có đảm bảo Hoặc phát sinh do thiếu đa dạng hóa danh mục tín dụng Chẳnghạn, do cạnh tranh lãi suất khiến ngân hàng tăng lãi suất huy động làm cho lãi suấtcho vay tăng theo Kết quả là, các dự án có mức độ rủi ro thấp, do đó, suất sinh lợithấp bị đánh bật ra, chỉ còn các dự án có suất sinh lợi cao kèm theo rủi ro cao mớiđược vay vốn ngân hàng Tình hình này khiến cho danh mục tín dụng của ngânhàng thiếu đa dạng hóa mà chỉ tập trung vào các dự án rủi ro cao

Rủi ro tác nghiệp: là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngânhàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đẩy đủ hoặc không hoạt động hoặc

do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng

 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro

Rủi ro khách quan: đây là những rủi ro phát sinh từ nguyên nhân nằm bên ngoàiphạm vi cũng như khả năng kiểm soát của ngân hàng Nó là những rủi ro bất khả

Trang 23

kháng, có thể xảy đến bất cứ lúc nào và trực tiếp hay thiệt hại tài sản, tiền của củakhách hàng vay làm cho họ không có khả năng trả nợ; gây mất mát tài sản đảm bảo chotiền vay như thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, hỏa hoạn, tai nạn ập đến bất ngờ,

Rủi ro chủ quan: đây là những rủi ro phát sinh từ chính sự yếu kém trongquản lý cũng như những sai phạm xảy ra trong quá trình hoạt động của ngân hàng,

có thể nhắc đến như sai lầm trong cơ chế, chính sách đối với hoạt động tín dụng, rủi

ro đạo đức của cán bộ nhân viên trong việc không tuân thủ đúng quy trình, cơ chế,chính sách, cố ý làm sai lệch thông tin, các quy định của ngân hàng trong quá trìnhthẩm định, cấp tín dụng và quản lý tín dụng

1.1.2.3 Đánh giá rủi ro tín dụng theo phương pháp định lượng

Để đánh giá rủi ro tín dụng, điều 10 – Thông tư 02/2017/TT-NHNN ngày21/01/2017 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có,mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lýrủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì các

tổ chức tín dụng có thể đánh giá dựa vào việc phân loại nợ của khách hàng theophương pháp định lượng như sau:

 Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồiđầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;

Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năngthu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại

 Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;

Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanhnghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năngtrả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu)

 Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày:

Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh

kỳ hạn trả lần đầu phân loại vào nhóm 2;

Trang 24

Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trảlãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.

 Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;

Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theothời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai

 Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;

Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lêntheo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả

nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;

Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quáhạn hoặc đã quá hạn;

Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý

Nợ quá hạn là nợ được phân loại từ nhóm 2 đến nhóm 5, nợ xấu là nợ đượcphân loại từ nhóm 3 đến nhóm 5 Theo quy định hiện nay của ngân hàng Nhà nướccho phép hệ số nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại không được vượt quá 5%

và nợ xấu không quá 3%

Tổ chức tín dụng phải chuyển nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong cáctrường hợp sau đây:

- Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một tổ chức tín dụng phải đượcphân loại vào cùng một nhóm nợ

- Đối với khoản cho vay hợp vốn, tổ chức tín dụng làm đầu mối phải thựchiện phân loại nợ đối với khoản cho vay hợp vốn theo quy định và phải thông báokết quả phân loại nợ cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn

Trang 25

Tổ chức tín dụng phải chủ động phân loại các khoản nợ được phân loại vàocác nhóm theo quy định vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo đánh giá của tổ chứctín dụng khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây:

- Có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến môi trường, lĩnh vựckinh doanh của khách hàng;

- Các khoản nợ của khách hàng bị các tổ chức tín dụng khác phân loại vàonhóm có mức độ rủi ro cao hơn (nếu có thông tin);

- Các chỉ tiêu tài chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năngthanh toán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bịsuy giảm liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm;

- Khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin tàichính theo yêu cầu của tổ chức tín dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng

Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với 5 nhóm nợ nêu trên tương ứng với tỷ

1.1.2.4 Đánh giá rủi ro tín dụng theo phương pháp định tính

Tổ chức tín dụng có đủ khả năng và điều kiện thực hiện phân loại nợ theophương pháp định tính thì xây dựng chính sách phân loại nợ và trích lập dự phòngrủi ro như sau:

Căn cứ trên Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, tổ chức tín dụng trình ngânhàng nhà nước chính sách dự phòng rủi ro và chỉ được thực hiện sau khi ngân hàngnhà nước cho ý kiến đồng ý bằng văn bản

Điều kiện để ngân hàng nhà nước chấp thuận chính sách dự phòng rủi ro:

- Hệ thống xếp hạng tín dụng đã được áp dụng thử nghiệm tối thiểu một năm;

- Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với hoạt động kinh doanh, đốitượng khách hàng, tính chất rủi ro của khoản nợ của tổ chức tín dụng;

Trang 26

- Chính sách quản lý rủi ro tín dụng, mô hình giám sát rủi ro tín dụng,phương pháp xác định và đo lường rủi ro tín dụng có hiệu quả, trong đó bao gồmcách thức đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng, hợp đồng tín dụng, các tàisản bảo đảm, khả năng thu hồi nợ và quản lý nợ của tổ chức tín dụng;

- Phân định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn của Hội đồng quản trị, Tổng giámđốc trong việc phê duyệt, thực hiện và kiểm tra Hệ thống xếp hạng tín dụng và chínhsách dự phòng của tổ chức tín dụng và tính độc lập của bộ phận quản lý rủi ro;

- Hệ thống thông tin có hiệu quả để đưa ra các quyết định, điều hành vàquản lý đối với hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và thích hợp với Hệthống xếp hạng tín dụng và phân loại nợ

Tổ chức tín dụng có chính sách dự phòng rủi ro được ngân hàng nhà nướcchấp thuận thì thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm

nợ phân theo phương pháp định tính cũng tương tự phương pháp định lượng

1.1.2.5 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng

 Do khách hàng

Khách hàng có thể vì nhiều lý do chủ quan và khách quan mà gây ra rủi rocho ngân hàng Những rủi ro chủ quan có thể được ngân hàng dự báo trước haynhận thấy trong khi thẩm định tín dụng, song những rủi ro khách quan thườngkhông thể dự trù, do vậy mỗi ngân hàng đều có một bộ phận dự phòng rủi ro.Những rủi ro khách quan như khách hàng gửi tiền vì lý do cá nhân có thể rút tiềntrước hạn, gây rủi ro trong hoạt động nhận tiền gửi, khách hàng gặp rủi ro bất trắckhông thể trả nợ đúng hạn Những rủi ro chủ quan do khách hàng như trình độ kinhdoanh kém, nên thua lỗ không thể trả nợ gốc và lãi, hay khách hàng có mục đích lừađảo từ đầu, chây ỳ không trả nợ, khách hàng do chạy theo ngành kinh doanh lợinhuận cao nên chịu rủi ro cuối cùng không thể trả nợ… Những rủi ro này đều có thể

dự đoán nếu công tác thẩm định tín dụng làm tốt đạt chất lượng, công tác quản lý tíndụng sâu sát theo đúng yêu cầu đề ra

 Do ngân hàng

Ngân hàng cũng thường tự gây ra rủi ro, phần nhiều là do nguyên nhân chủquan Đó là sự kém cỏi trong công tác quản lý, kiểm tra giám sát các hoạt động của

Trang 27

ngân hàng, cùng với đó là do nhân viên kém trình độ nghiệp vụ, hoặc không tuânthủ quy trình nghiệp vụ, những nhân viên này vì mưu lợi cá nhân nên móc ngoặcvới khách hàng, ví dụ như giúp khách hàng đảo nợ, để khách hàng có thể trả mónvay cũ, vay món mới, còn mình thì đạt khối lượng mục tiêu đề ra.

 Những nguyên nhân khách quan khác

Đây là nhóm nguyên nhân mà ngân hàng ít khả năng khắc phục nhất, do việcđánh giá xu hướng của nó và vấn đề dự báo là rất khó khăn Vấn đề đầu tiên là nềnkinh tế luôn biến động theo chu kỳ, và những thay đổi trên thị trường, đặc biệt lànhững thay đổi ngắn hạn, về lãi suất và tỷ giá vượt quá khả năng phán đoán của ngânhàng, ngân hàng sẽ phải chịu nhiều rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá nếu xảy ra phánđoán sai lầm Có thể tóm tắt một số nguyên nhân khách quan chủ yếu như sau:

- Rủi ro do sự thay đổi của môi trường tự nhiên như: thiên tai, dịch bệnh,bão lụt gây tổn thất cho khách hàng vay vốn kinh doanh

Việt Nam là nước nông nghiệp với thế mạnh về các mặt hàng nông sản như:gạo, cà phê, cau su, tiêu, điều,… và có tỷ trọng xuất khẩu cao hàng năm Bên cạnh

đó là ngành nghề chăn nuôi gia cầm, gia súc, chăn nuôi và chế biến thủy hải sản.Đặc điểm của ngành nghề này là rất nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết và dịchbệnh Trong những năm qua, bên cạnh dịch cúm gia cầm gây nên những tổn thấtnặng nề cho những hộ chăn nuôi gia cầm thì còn có một loạt các cơn bão khác đãtàn phá khu vực miền Bắc, miền Trung, miền Nam và đã gây ra những tổn thấtnặng nề cho nền kinh tế

- Rủi ro do sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trườngthế giới

Năm 2014 khủng hoảng kinh tế toàn cầu, do đó trên thế giới có nhiều biếnđộng lớn về giá cả các loại nguyên nhiên liệu đầu vào như nguyên liệu ngành nhựa,xăng dầu,… đã tác động ảnh hưởng trực tiếp đến việc triển khai dự án, hiệu quả sảnxuất kinh doanh của khách hàng và đã gián tiếp làm ảnh hưởng đến chất lượng tíndụng của ngân hàng vì phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng bị thất bại

Trang 28

- Rủi ro do môi trường pháp lý, chính sách, pháp luật của nhà nước

Môi trường pháp lý của Việt Nam chưa đồng bộ, chưa ổn định, nhiều khi cònchồng chéo, bất cập nên đã ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng Hànhlang pháp lý cho các ngành nghề kinh doanh trong đó có ngân hàng còn chưa thốngnhất, xuyên suốt Trong điều kiện pháp luật vừa thiếu, vừa không đồng bộ, quy địnhkhông rõ ràng, công tác phổ biến còn nhiều bất cập, do vậy mỗi người hiểu và vậndụng một cách khác nhau dẫn đến nhiều khó khăn trong thực hiện

- Rủi ro do sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của Ngân hàngNhà nước

Qua các đợt thanh tra Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam của Ngânhàng Nhà nước cho thấy, bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt độngthanh tra ngân hàng chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng; năng lực cán bộthanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinhdoanh và công nghệ mới, Thanh tra ngân hàng còn chưa theo kịp, nội dung vàphương pháp thanh tra, giám sát lạc hậu, chậm được đổi mới

Thanh tra tại chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát nội bộ thịtrường tiền tệ và giám sát rủi ro còn yếu Thanh tra ngân hàng còn hoạt động mộtcách thụ động theo kiểu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít khi có khả năng ngăn chặn vàphòng ngừa rủi ro và vi phạm

- Rủi ro do hệ thống thông tin quản lý còn bất cập

Hiện nay, Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của Ngân hàng Nhànước đã hoạt động hơn một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rấtđáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin tín dụng Tuy nhiên, thông tin cung cấpcòn đơn điệu, thiếu cập nhật, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin.Chẳng hạn như là:

Hệ thống cung cấp thông tin của CIC mới chỉ cung cấp được số liệu dư nợ vàphân loại nợ vay của các doanh nghiệp tại các Tổ chức Tín dụng, chưa có thông tinphi tài chính, khả năng quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp Việc cung cấp thông tincòn chậm và chưa kịp thời làm ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh của các Tổ chức

Trang 29

tín dụng CIC chưa chủ động thông báo những dự báo rủi ro về tín dụng qua mạng

mà chỉ cung cấp thông tin khi được Tổ chức tín dụng yêu cầu vì vậy chưa phát huyhiệu quả cao Thông tin về khách hàng chưa được CIC cập nhật kịp thời Đối vớikhách hàng chưa từng có quan hệ tín dụng với các Tổ chức tín dụng nào thì CIChoàn toàn không hề có thông tin gì về khách hàng

Mặt khác, các Tổ chức Tín dụng chưa có nhận thức đầy đủ về thu thập vàcung cấp thông tin về phòng ngừa rủi ro cho CIC nên CIC không cung cấp hoặc cungcấp thông tin chậm trễ Trong khi đó lại chưa có hành lang pháp lý và chế tài buộccác Tổ chức Tín dụng phải cung cấp thông tin kịp thời cho trung tâm Trên đây lànhững thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụngcho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng Nếu cácngân hàng cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trườngthông tin không cân xứng thì sẽ gia tăng nợ xấu cho hệ thống ngân hàng,…

Cuối cùng là những rủi ro nhầm lẫn trong xử lý giấy tờ tài liệu, vấn đề lỗicông nghệ, phần mềm cũng là những nguyên nhân thường gặp

1.1.2.6 Hậu quả của rủi ro tín dụng

 Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng

- Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của ngân hàng

Không một ai muốn gửi tiền vào một ngân hàng mà ngân hàng đó có tỷ lệ nợquá hạn cũng như nợ xấu vượt mức cho phép theo quy định, có chất lượng tín dụngkhông tốt, để xảy ra nhiều lần tình trạng mất khả năng chi trả Thông tin về ngânhàng có mức độ rủi ro tín dụng cao thường được các cơ quan thông tin đại chúngđưa lên sẽ làm uy tín của ngân hàng đó trên thị trường giảm sút rõ rệt, làm ảnhhưởng đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng đó, đây là cơ hội cho các đối thủngân hàng cạnh tranh giành thị trường khách hàng cũng như gây ra những khó khănsau này cho ngân hàng

- Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng

Rủi ro tín dụng xảy đến làm phát sinh các khoản nợ khó đòi, khiến cho ngânhàng không thể thu được gốc và lãi theo đúng thời gian quy định trên hợp đồng tín

Trang 30

dụng Từ đó, rủi ro tín dụng sẽ làm giảm tốc độ quay vòng vốn làm giảm hiệu quảviệc sử dụng vốn, vốn bị ứ đọng, tăng khả năng mất vốn Mặt khác, rủi ro tín dụngcũng làm phát sinh các khoản chi phí liên quan đến quản lý, giám sát, thu hồi, xử lý

nợ trong khi đó, đồng thời ngân hàng vẫn phải trả lãi cho số tiền huy động, giảm bớt

số tiền có thể cho các khách hàng vay Tất cả những việc trên dẫn đến lợi nhuận củangân hàng sẽ bị giảm sút

- Rủi ro tín dụng gây ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàngVới hoạt động chủ yếu là huy động và cho vay, các ngân hàng thường lập kếhoạch cân đối dòng tiền ra và dòng tiền vào Khi các khoản cho vay tín dụng gặp rủi

ro, không được thanh toán đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi trong khi đó do mất uy tíntrên thị trường khiến cho ngân hàng không huy động được vốn, việc này sẽ dẫn đếnviệc mất cân đối dòng tiền vào và ra Điều đó sẽ dẫn đến việc giảm khả năng thanhtoán và gây ra những rủi ro thanh khoản cho ngân hàng

- Rủi ro tín dụng lớn đưa ngân hàng đến bờ vực phá sản

Trong trường hợp rủi ro tín dụng liên tục xảy đến và ở mức độ lớn khiến chonguồn vốn của ngân hàng không đủ khả năng bù đắp, ngân hàng sẽ liên tục mất khảnăng chi trả, gây tác động xấu đến các khách hàng gửi tiền, họ sẽ không tin tưởng

và ồ ạt đến rút tiền dẫn đến nguy cơ phá sản của ngân hàng Việc một ngân hàngphá sản sẽ dẫn đến những hệ lụy khôn lường liên quan đến hoạt động của các ngânhàng khác cũng như nền kinh tế Nếu không có sự can thiệp kịp thời và đúng lúccủa ngân hàng nhà nước sẽ nhanh chống dẫn đến mất khả năng thanh toán và sự sụp

đổ của không chỉ một ngân hàng

 Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với khách hàng

Đối với khách hàng vay tiền, khi ngân hàng để xảy ra tình trạng rủi ro tíndụng ở mức cao sẽ gây tâm lý hoang mang cho khách hàng gửi tiền, khách hàng gửitiền sẽ ít đi Khi đó, ngân hàng sẽ phải áp dụng những chính sách thận trọng hơn khicho vay, điều đó sẽ làm cho khách hàng vay gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồnvốn, gây ảnh hương đến hiệu quả kinh doanh của khách hàng

Đối với khách hàng gửi tiền, khi ngân hàng để xảy ra tình trạng rủi ro tíndụng sẽ gây ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng, khách hàng gửi tiền sẽ kéo đến rút

Trang 31

tiền ồ ạt, việc rút tiền như vậy đôi khi chỉ đem lại được cho khách hàng phần gốc họgửi còn hầu hết các khoản lãi được áp dụng khoản tiền gửi đó là không kỳ hạn dochưa hết hạn khoản tiền gửi đó

 Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với nền kinh tế

Ngân hàng là một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống tài chính quốcgia, là kênh thu hút và bơm tiền cho nền kinh tế, đảm bảo cho sự lưu thông bìnhthường của dòng tiền tệ; ngân hàng chính là “mạch máu của nền kinh tế” Một khingân hàng gặp những khó khăn thì việc cung cấp vốn cho hoạt động sản xuất kinhdoanh bị đình trệ, tốc độ luân chuyển vốn chậm gây ảnh hưởng lớn đến các hoạtđộng kinh tế khác Ngoài ra, việc ngân hàng khó khăn có thể gây tác động xấukhông chỉ với ngân hàng mà còn đến khách hàng, hệ thống ngân hàng, tạo nên phảnứng dây chuyền cho toàn bộ nền kinh tế, quan hệ cung cầu bất ổn, làm bùng phátlạm phát, thất nghiệp,

Tóm lại, dù rằng nguyên nhân rủi ro tín dụng có thể là từ phía khách hànghay từ phía ngân hàng, có thể là chủ quan hay khách quan, nhưng suy cho cùng rủi

ro tín dụng đều dẫn đến hậu quả là khách hàng không trả được nợ vay và ngân hàngkhông thể thu hồi được khoản cho vay Do vậy, vấn đề của quản lý rủi ro tín dụngcòn liên quan đến việc giải quyết và khắc phục hậu quả của việc mất vốn vay nhưthế nào chứ không phải chỉ dừng lại ở việc phân tích và chú ý đến nguyên nhân gây

ra rủi ro tín dụng Tuy nhiên, việc phân tích và phân định rõ ràng nguyên nhân sẽgiúp ngân hàng có biện pháp xử lý hợp tình hợp lý hơn

1.2 Quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại

Quản lý rủi ro là một nghiệp vụ quan trọng gắn liền với mọi hoạt động củacác ngân hàng thương mại Hiểu một cách đơn giản thì quản lý rủi ro chính là quátrình các ngân hàng thương mại áp dụng các nguyên lý, các phương pháp và kinhnghiệm quản tri ngân hàng vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng mình để giámsát, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, đầu tư và cáchoạt động kinh doanh khác để ngăn chặn tổn thất thiệt hại cho ngân hàng, đồng thờikhông ngừng nâng cao sức mạnh và uy tín của ngân hàng tren thương trường

Trang 32

Hoạt động tín dụng là một hoạt động chiếm vai trò quan trọng và chiếm tỷtrọng lớn trong cơ cấu thu nhập của ngân hàng thương mại, do vậy, vấn đề quản lýrủi ro tín dụng luôn được quan tâm chú ý và đặt lên hàng đầu, bởi hậu quả của rủi rotín dụng có thể ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh thường kỳ của ngân hàng,gây thiệt hại cho ngân hàng.

Quản lý rủi ro tín dụng là quá trình đo lường, đánh giá rủi ro trong quá trìnhhoạt động tín dụng; thực hiện theo dõi, giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời để kiểmsoát chất lượng tín dụng, đảm bảo đúng, đủ quyền lợi của ngân hàng nếu trongtrường hợp có bất kỳ sự thay đổi nào Việc quản lý rủi ro tín dụng còn mang tínhchất phòng ngừa, hạn chế hậu quả xấu trong hoạt động tín dụng, làm giảm nhữngtổn thất đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng, đảm bảo việc hoàn trả đầy đủ,đúng hạn của các khoản vay

1.2.2 Mục tiêu và tiêu chí đánh giá quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại

1.2.2.1 Mục tiêu quản lý rủi ro tín dụng

- Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại

Quản lý rủi ro tín dụng chính là quá trình đo lường, đánh giá rủi ro trong quátrình cho vay, theo dõi, giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh

để đảm bảo đúng và đẩy đủ quyền lợi của ngân hàng

- Đảm bảo mục tiêu kinh doanh của ngân hàng thương mại

Tăng lợi nhuận; đảm bảo hiệu quả của hoạt động tín dụng, bảo toàn vốn chongân hàng; đảm bảo khả năng thanh toán; nâng cao chất lượng hoạt động tín dụngcủa ngân hàng thương mại

Khi rủi ro tín dụng xảy đến sẽ làm phát sinh những khoản nợ khó đòi cũng nhưlãi của những khoản vay đó, cộng thêm những chi phí quản lý, theo dõi, giám sát, xử lý

nợ Ngoài ra, khi ngân hàng thực hiện việc trích lập dự phòng rủi ro đối với các khoảnvay sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Do vậy, khi ngân hàng làm tốt khâuquản lý rủi ro tín dụng sẽ đảm bảo kế hoạch tăng lợi nhuận được đưa ra

Trang 33

Việc áp dụng những chính sách, biện pháp , giám sát cho hoạt động quản lýrủi ro tín dụng một cách hiệu quả sẽ hạ thấp được rủi ro tín dụng, nâng cao đượcmức độ an toàn trong kinh doanh của ngân hàng.

- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại

Quản lý rủi ro tín dụng tốt sẽ giúp cho các ngân hàng thương mại phòngngừa và hạn chế được tối đa các khoản nợ quá hạn, nợ xấu, giảm được các chi phíquản lý, theo dõi, giám sát, xử lý nợ góp phần vào việc tăng doanh thu, lợi nhuận,nâng cao uy tín của ngân hàng đối với khách hàng

1.2.2.2 Tiêu chí đánh giá quản lý rủi ro tín dụng

a Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn

Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đãquá hạn, tức là khi đến kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi, nếu khách hàng không trả nợđúng hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn nợ gốc hoặc lãi hoặc không được giahạn nợ gốc hoặc lãi thì tổ chức tín dụng chuyển toàn bộ số dự nợ sang nợ quá hạn

Nợ quá hạn là một “căn bệnh” phát sinh nằm ngoài ý muốn của cả ngườicho vay lẫn người đi vay, luôn xuất hiện ở bất cứ nơi đâu có hoạt động đi vay vàcho vay diễn ra Để tỷ lệ nợ quá hạn của một ngân hàng bằng không, chỉ làmong muốn của các ngân hàng và cả những người làm công tác tín dụng Còntrên thực tế, điều đó khó có thể xảy ra bởi nhiều nguyên nhân khách quan cũng nhưchủ quan Nghĩa là chúng ta phải chấp nhận chung sống cùng “căn bệnh” này và

cố gắng kiểm soát chặt chẽ nhằm, duy trì nợ quá hạn ở một mức độ hợp lý chấpnhận được theo thông lệ Để thực hiện việc ngăn chặn nợ quá hạn và duy trì tỷ lệ

đó ở một mức độ cho phép thì chúng ta phải có cái nhìn đúng đắn về nợ quá hạn,cần minh bạch, đặc biệt là không nên che dấu nợ quá hạn và nguyên nhân của nódưới bất cứ hình thức nào Có như vậy, chúng ta mới tìm ra được những phươngthuốc hữu hiệu để điều trị nó Khi chúng ta đánh giá đúng được thực chất nợ quáhạn và khả năng tiềm ẩn làm nảy sinh nợ quá hạn sẽ giúp chúng ta phòng tránhđược nó

Trang 34

Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100%

Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh quan hệ giữa số tiền mà ngân hàng không thu hồiđược đúng thời hạn như thỏa thuận giữa khách hàng vay và ngân hàng theo các điềukhoản trong hợp đồng so với tổng số tiền mà ngân hàng cho khách hàng vay Khi tỷ

lệ này tăng chứng tỏ rủi ro tín dụng đối với ngân hàng cũng gia tăng Đối với mộtngân hàng hoạt động bình thường, quản lý rủi ro tín dụng tốt, tỷ lệ nợ quá hạn daođộng trong khoảng từ 1- 3%, nếu tỷ lệ này từ 5% trở lên thì ngân hàng đó sẽ bị đánhgiá là yếu kém

b Tỷ lệ nợ xấu

Nợ xấu theo quy định tại Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN của Ngânhàng Nhà nước Việt Nam ngày 22 tháng 04 năm 2005 về việc phân loại nợ và sửdụng dự phòng để trích lập rủi ro trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng vàQuyết định số 18/2007/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 25tháng 04 năm 2007 sửa đổi bổ sung cho Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN là nợđược xếp vào các nhóm 3, 4 và 5, tức là nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ cókhả năng mất vốn

Nợ xấu phản ánh đúng nhất chất lượng tín dụng yếu kém của cácNHTM Xem xét nợ xấu của một NHTM thông qua tỷ lệ nợ xấu:

Tỷ lệ nợ xấu = x 100%

Như vậy, nợ xấu có phạm vi bao quát hơn nợ quá hạn và nợ khoanh Nợxấu có thể đang là nợ trong hạn nhưng tình hình hoạt động kinh doanh của kháchhàng đã xấu đi nghiêm trọng Nợ xấu còn bao gồm các khoản đã xử lý rủi ro hoặcxoá đưa ra ngoại bảng nhưng nghĩa vụ trả nợ của khách hàng và trách nhiệm thu

nợ của ngân hàng vẫn còn nguyên giá trị

Việc xác định nợ xấu là rất khó, vì hệ thống thông tin hiện tại mà cácngân hàng thương mại thường sử dụng để phân tích khách hàng có độ tin cậy

Trang 35

không cao, như: thông tin phòng ngừa rủi ro, báo cáo tài chính khách hàng,phương tiện thông tin đại chúng, khách hàng khác, diễn biến thị trường Tuynhiên, đây lại là chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức mức độ an toàn tín dụng củacác ngân hàng Do không nắm bắt được hết thông tin khách hàng nên mặc dùkhách hàng có công nợ rất lớn nhưng lại vẫn thiết lập quan hệ tín dụng với nhữngngân hàng, kết quả: nợ xấu tăng nhanh, kéo theo khả năng thu nợ của ngân hànggiảm xuống Nợ xấu xảy ra và tăng cao sẽ gây nhiều mối nguy hại đến cho ngânhàng, làm chậm đi quá trình luân chuyển vốn, làm phát sinh nhiều khoản chi phí vàảnh hưởng đến lợi nhuận, uy tín của ngân hàng.

1.2.3 Nội dung quản lý rủi ro tín dụng

1.2.3.1 Tổ chức bộ máy quản lý rủi ro tín dụng

Trong giai đoạn hiện nay, do sự phát triển của hệ thống ngân hàng thươngmại, những quy định, cơ chế, chính sách của ngân hàng nhà nước nói chung và củatừng ngân hàng thương mại nói riêng, do yêu cầu, đòi hỏi thực tế của hoạt động tíndụng, quản lý rủi ro tín dụng, tùy thuộc vào đặc điểm của từng ngân hàng thươngmại, mỗi ngân hàng thương mại sẽ xây dựng cho mình một bộ máy quản lý rủi roriêng, có những đặc trưng riêng biệt nhằm đáp ứng yêu cầu của hoạt động kinhdoanh được vận hành trơn tru, hiệu quả, hoàn thành mục tiêu đề ra Bộ máy quản lýrủi ro ở mỗi ngân hàng thương mại sẽ được có sự phân cấp rõ ràng, kiện toàn vềmặt tổ chức Mỗi cấp sẽ có những chức năng, nhiệm vụ riêng biệt đều vì mục tiêuhạn chế tối đa rủi ro tín dụng Với cấp chi nhánh, bộ máy quản lý rủi ro tín dụng sẽbao gồm: ban giám đốc; bộ phận kinh doanh, bộ phận thẩm định ( phòng kháchhàng cá nhân, phòng khách hàng doanh nghiệp), bộ phận quản lý rủi ro tín dụng (cóthể có) hoặc thuộc quyền quản lý của bộ phận kinh doanh và bộ phận kiểm tra, kiểmsoát nội bộ

1.2.3.2 Nhận diện rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là một trong những vấn đề nổi cộm mà mỗi ngân hàngthương mại đều phải đối mặt và “đau đầu” trong khâu hạn chế, giải quyết cũng nhưhậu quả khôn lường của nó mỗi khi xảy đến Đây là một hiện tượng khó nhận biết

Trang 36

và diễn biến phức tạp, gắn liền với hoạt động của khách hàng, ngân hàng cũng nhưnền kinh tế Trong quản lý rủi ro tín dụng, nhận dạng rủi ro tín dụng là bước đầutiên, có vai trò quan trọng, bởi các hình thức rủi ro tín dụng xảy đến trong nhữngtình huống khác nhau, có thể dự báo được hoặc không dự báo được Đó là quá trìnhxác định liên tục và có hệ thống, là các công việc nhằm xem xét, theo dõi, nghiêncứu môi trường hoạt động của ngân hàng nhằm thống kế được các nguyên nhân gây

ra rủi ro tín dụng để từ đó nhằm đề ra những biện pháp để hỗ trợ hoạt động quản lýrủi ro tín dụng, nhằm giảm thiểu, hạn chế tối đa rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng có thể được nhận biết từ các dấu hiệu đến từ khách hàngcũng như ngân hàng

 Rủi ro tín dụng từ phía khách hàng

Nhóm các dấu hiệu về thông tin kế toán,tài chính: khách hàng chậm trễ trongviệc chuẩn bị số liệu tài chính, lập báo cáo tài chính; trì hoãn nhiều lần việc nộp báocáo tài chính định kỳ hoặc khi xem xét báo cáo tài chính nhận thấy những dấu hiệubất thường về sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ, tỷ lệ tiền mặt giảm, hoạt độngthua lỗ, làm cho ngân hàng phải tiến hành kiểm tra, xem xét xem có rủi ro tín dụngxảy ra hay không

Nhóm dấu hiệu về sự thay đổi bất thường trong tổ chức hoạt động của kháchhàng: việc thay đổi thường xuyên các nhà quản lý, hệ thống quản trị, ban điều hành;

có tranh chấp trong quá trình quản lý, hoạt động; có các chi phí quản lý bất hợp lý; trìtrệ trong việc trả nợ theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, sự gia tăng bất thường về

số lượng hàng trong kho, có dư nợ vay tại nhiều tổ chức tín dụng

Nhóm các dấu hiệu liên quan đến khách hàng: đối tác của khách hàng gặpphải rủi ro dẫn đến ngưng trệ hoạt động, phá sản; những thay đổi trên thị trường về

tỷ giá, lãi suất; sự thay đổi nhà cung ứng, xuất hiện thêm đối thủ cạnh tranh đều ảnhhưởng đến khách hàng và có thể gây ra rủi ro cho ngân hàng

 Rủi ro tín dụng từ phía ngân hàng

Ngân hàng không thực hiện đúng quy định của quy trình cho vay: Mỗi ngânhàng thương mại thường xây dựng cho mình một quy trình cho vay chặt chẽ nhằmkiểm soát tốt dòng tiền đi ra khỏi ngân hàng Tuy nhiên, không phải lúc nào quy

Trang 37

trình cho vay cũng được một cách đầy đủ, nghiêm túc, đúng quy định của ngânhàng nói riêng và ngân hàng nhà nước nói chung Trong điều kiện có sự cạnh tranhgay gắt giữa các ngân hàng nhằm nâng cao thị phần của mình, nhiều khi các quyđịnh thường bị “nới lỏng”, các điều kiện vay vốn bị thay đổi hoặc hạ thấp nhằm thuhút cũng như “níu kéo” khách hàng mặc dù có thể những khách hàng đó tiềm ẩnnhững nguy cơ rủi ro.

Thực hiện giải ngân khi chưa đủ hồ sơ, chứng từ: Trước khi giải ngân khoảnvay, các khách hàng vay vốn đều phải cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng từ theo yêu cầucủa điều kiện cho vay, tuy nhiên, để hoàn thành chỉ tiêu cho vay của mình, các ngânhàng có thể thực hiện giải ngân và khách hàng bổ sung hồ sơ sau, tuy nhiên, sau khivay vốn, nhiều khách hàng cố tình không bổ sung các giấy tờ, chứng từ cần thiếtcho ngân hàng làm cho khó khăn cho ngân hàng khi thu hồi nợ, khởi kiện trongtrường hợp khách hàng không thực hiện trả nợ theo cam kết đã ký trong hợp đồngtín dụng

Khi khách hàng đến hạn thanh toán gốc lãi mà khách hàng không có đủ khảnăng trả cho ngân hàng, thay vì đàm phán đôn đốc khách hàng hoặc thực hiện đánhgiá lại khách hàng, một số cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng hoặc tạo điềukiện cho họ vay đảo nợ, điều này là nguyên nhân gây ra tích tụ rủi ro, khiến nó pháttriển đến mức không thể cứu vãn do tài chính của khách hàng không đảm bảo và rủi

ro sẽ xảy đến với ngân hàng

1.2.3.3 Đo lường và đánh giá rủi ro tín dụng

Các ngân hàng đều thực hiện nhiều biện pháp để hạn chế các khoản nợ cóvấn đề, và thực tế ngân hàng nhà nước đã đưa ra nhiều quy định về an toàn tín dụngtrong luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12 tháng 12 năm 1997 củaQuốc hội và trong các nghị định của ngân hàng nhà nước: quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 04 năm 2005 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về các

tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng và Quyết định số03/2007/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 01 năm 2007 của Ngân hàng Nhà nước ViệtNam sửa đổi bổ sung một số điều trong quyết định 457/2005/QĐ-NHNN

Trang 38

Ngân hàng xác định danh mục các khoản tín dụng với mức độ rủi ro khácnhau, dựa trên điểm của khách hàng Đối với khách hàng doanh nghiệp, ngân hàngtìm kiếm thông tin về khách hàng và dự án kinh doanh, cả trong quá khứ và địnhhướng kế hoạch phát triển trong tương lai Ngân hàng sử dụng các chỉ tiêu định tính

và định lượng để tính điểm rồi xếp loại mức độ rủi ro cho khách hàng Tương tựnhư vậy, đối với khách hàng cá nhân, cho vay tiêu dùng, ngân hàng cũng sử dụngphương pháp này để sắp xếp định lượng thông tin về người vay như thu nhập, chitiêu, qua đó ra quyết định về khoản tín dụng Ngoài ra, đối với các trung gian tàichính khác, ngân hàng dùng độ tín nhiệm để xếp hạng tổ chức đi vay, cuối cùng làcho vay đối với Nhà nước, tuy rất an toàn song lợi nhuận thu được không đáng kể

Ta có thể lượng hóa rủi ro tín dụng bằng cách sử dụng nhiều mô hình, ở đâytôi chỉ xin giới thiệu một số mô hình đang được sử dụng

* Mô hình định tính: Tiêu chuẩn chất lượng 6C

- Capacity - Năng lực khách hàng

Cán bộ thẩm định cần đảm bảo người xin vay có đủ năng lực hành vi cũngnhư năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng Người đó phải được ủy quyền, có thể đạidiện doanh nghiệp, Khách hàng là doanh nghiệp cần đủ giấy tờ hợp lệ để hoạtđộng Đó là bề nổi, ngoài ra, cán bộ thẩm định cũng cần chú ý năng lực kinh doanh

và quản lý của khách hàng, tránh rủi ro do khả năng kém cỏi mà kinh doanh thua lỗkhông thể trả nợ

Trang 39

- Cash - Thu nhập của khách hàng

Thu nhập của khách hàng cá nhân cần được bảo đảm xác nhận bởi công tyngười đó làm việc hoặc hợp đồng lao động, giấy sức khỏe,… Thu nhập của kháchhàng doanh nghiệp cũng cần xác định trước, bằng nhiều phương pháp như từ địnhhướng kinh doanh, những dự án và những kế hoạch tương lai, từ đó đưa ra dự báo

về thu nhập của khách hàng, và đánh giá khả năng trả nợ đúng hạn trong tương lai

- Collateral - Bảo đảm tiền vay

Những tài sản đảm bảo cho khoản vay thường không được bỏ qua và là mộttrong những điều kiện đầu tiên của khoản vay Bởi, tài sản bảo đảm không chỉ là mộtvật dùng để thanh lý thu hồi vốn khi cần thiết mà nó còn là một biện pháp gắn chặttrách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ của người đi vay Khi xảy ra rủi ro tín dụng, đây sẽ lànguồn thu hồi tài sản của ngân hàng, do vậy cán bộ thẩm định cần chú ý tới những yếu

tố như tuổi thọ, điều kiện và mức độ chuyên dụng của tài sản, đặc biệt là những khíacạnh nhạy cảm như vấn đề lạc hậu về công nghệ, cũng như tình hình thị trường của tàisản bảo đảm, ví dụ thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, thị trường vàng…

- Conditions - Các điều kiện khác

Các điều kiện này bao gồm những điều kiện bên trong như chính sách tíndụng từng thời kỳ của ngân hàng, việc mua sắm, đầu tư, chính sách lương thưởng,những điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng Ngoài ra còn có những điềukiện bên ngoài như định hướng phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước, chính sáchthuế, và tiêu chuẩn về công nghệ môi trường

- Control - Kiểm soát

Ngân hàng cho vay đối với khách hàng nhưng không có nghĩa là ngân hàng

từ bỏ hoàn toàn các quyền đối với khoản tiền đó Ngân hàng vẫn có những cơ chếkiểm tra kiểm soát nhất định để có thể phát hiện những dấu hiệu làm cho khoản vaytrở thành khoản vay có vấn đề để có những điều chỉnh phù hợp Đồng thời, nếu pháthiện khách hàng có những vi phạm với hợp đồng tín dụng, ngân hàng có thể hủyhợp đồng và thu hồi khoản tín dụng Đây là một cơ chế và là một điều kiện mà ngânhàng sử dụng để quản lý rủi ro tín dụng

Trang 40

* Mô hình định lượng: Mô hình điểm số Z - sử dụng với các doanh nghiệp

Mô hình này do E.I.Alman dùng đo điểm tín dụng đối với các doanh nghiệpvay vốn Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp qua đó phân loại rủi ro tín dụngđối với người vay, Z phụ thuộc vào trị số các chỉ số tài chính của người vay và tầmquan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vaytrong quá khứ Mô hình này như sau

Z = 1,2 X1 +1,4X2 +3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5

Trong đó:

X1 là hệ số Vốn lưu động / Tổng tài sản

X2 là hệ số Lãi chưa phân phối / Tổng tài sản

X3 là hệ số Lợi nhuận trước thuế và lãi vay / Tổng tài sản

X4 là hệ số Giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu/ Giá trị hạch toán của tổng nợX5 là hệ số Doanh thu / Tổng tài sản

Trị số Z càng cao người có xác suất vỡ nợ càng thấp Vậy khi trị số Z thấphay đạt giá trị âm thì khách hàng sẽ có nguy cơ vỡ nợ cao Mô hình cho điểm củaAlman như sau:

nợ hay không có rủi ro vỡ nợ, trong khi đó rủi ro tín dụng có nhiều loại, như chậmtrễ trả lãi, không trả lãi, hay chậm trả gốc Thứ hai, công thức không tính tới nhiềunhân tố quan trọng và ảnh hưởng đáng kể tới rủi ro của món vay như độ tín nhiệm

và quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng,

Một nội dung trong quản lý tín dụng đó là xây dựng chính sách tín dụng vàquy trình phân tích tín dụng hợp lý chất lượng: chia thành những thời kỳ như trướctrong và sau khi cho vay…Đồng thời ngân hàng cần nâng cao chất lượng công tác

Ngày đăng: 17/06/2020, 04:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w