Bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu chế tạo một loại gạch xốp nhẹ bằng cách sử dụng các vật liệu phế thải và đất sét nung ở nhiệt độ cao.
Trang 1NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO GẠCH RỖNG CÁCH ÂM, CÁCH NHIỆT TỪ
ĐẤT SÉT VÀ VẬT LIỆU PHẾ THẢI Trần Thị Thanh Huyền, Phan Trọng Thủy, Trần Văn Hân
Sinh viên lớp D12X4, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu chế tạo một loại gạch xốp
nhẹ bằng cách sử dụng các vật liệu phế thải và đất sét nung ở nhiệt độ cao Sản
phẩm thu được có khối lượng nhỏ so với viên gạch thông thường, giá trị khối
lượng thể tích nhỏ nhất là 0,966 g/cm 3 Tuy nhiên cường độ chịu nén lại kém
hơn viên gạch thông thường, cường độ cao nhất có thể đạt là 51 daN/cm 2
Do vậy, vật liệu này chỉ có thể sử dụng để làm các vật liệu bao che, vách ngăn,
không chịu tải trọng lớn trong kết cấu
Từ khóa: Gạch xốp nhẹ, khối lượng thể tích, cường độ chịu nén, độ hút nước.
1 Giới thiệu
Vật liệu gạch truyền thống có khối
lượng lớn, gây áp lực rất nặng cho
móng, kéo dài thời gian thi công, rất tốn
kém và khả năng cách âm cách nhiệt
kém Việc sử dụng phế thải làm gạch
xốp sẽ giúp làm giảm tải trọng tác dụng
xuống móng, cách âm, cách nhiệt tốt,
sạch môi trường, bảo vệ sức khỏe con
người khỏi tác hại của các nguồn phế
thải, tiết kiệm được lượng đất sét Hơn
thế nữa, gạch xốp không cần dùng đến
các nguyên liệu quý hiếm như điatômit,
trêpen, vermiculit nên giảm được giá
thành sản phẩm
Nước ta là một nước nông nghiệp
và hàng năm thải ra một lượng lớn đến
hàng triệu tấn các chất phế thải như mùn
cưa, trấu, bã mía, vỏ hạt điều, vỏ lạc,
rơm, vỏ cà phê Vì vậy, chúng em chọn
đề tài nghiên cứu ― Nghiên cứu chế tạo
gạch xốp từ đất sét và vật liệu phế thải
mùn cưa, xốp, vỏ trấu‖ nhằm mục đích
tìm ra loại vật liệu cách âm cách nhiệt
tận dụng phế thải phổ biến ở địa phương
là mùn cưa, vỏ trấu, xốp, phế thải
2 Cơ sở khoa học 2.1 Quá trình hóa lý khi nung đất sét [1]
Những biến đổi hoá lý khi nung đất sét:
Đất sét là một hệ đa khoáng, khi gia công nhiệt xảy ra nhiều quá trình hoá
lý phức tạp, tạo ra những khoáng mới
- 0 0
100
t C, nước tự do bay hơi, đất sét bị co
450 650
t C, nước liên kết bay hơi, tạp chất hữu cơ cháy, đất sét mất tính dẻo, caolinit chuyển thành mêtacaolinit (Al O2 3.2SiO2)
2 3.2 2.2 2 2 3.2 2 2 2
-
700 900
t C, mêtacaolinit và
đá vôi bị phân huỷ thành Al O và 2 3 SiO 2
2 3.2 2 2 3 2 2
- t0 900 1100 0C, các oxít kết hợp lại tạo thành khoáng silimanit
(3Al O2 2.2SiO ) 2
2 3 2 2 3.2 2
2 3 2 3 2 2 2 2
Trang 2- t0 1100 1350 0C, một số thành
phần dễ chảy lấp vào lỗ rỗng làm sản
phẩm đặc chắc, đất sét ở trạng thái đang
dung kết, nhiệt độ thời điểm đó được gọi
là nhiệt độ dung kết của đất sét
- t0 13500C, toàn bộ đất sét chảy
ra, sản phẩm bị biến dạng, nhiệt độ đó
gọi là nhiệt độ chảy của đất sét
* Những biến đổi thể tích khi sấy
nung
Khi sấy nung đất sét xảy ra hiện
tượng co ngót, nếu độ co ngót quá lớn dễ
gây ra hiện tượng nứt nẻ, cong vênh, tạo
những khuyết tật cho sản phẩm Để hạn
chế hiện tượng này, yêu cầu trước tiên là
chọn lượng nước nhào trộn thích hợp
trước khi nung, sản phẩm được phơi, sấy
đến độ ẩm phù hợp, khi tăng hay giảm
nhiệt độ cần phải tăng giảm từ từ áp dụng
những biện pháp công nghệ phù hợp với
sản phẩm, dây chuyền sản xuất v.v
2.2 Phương pháp tạo rỗng bằng phụ
gia cháy [2]
Phương pháp này thường được sử
dụng để chế tạo vật liệu cách nhiệt sử
dụng ở nhiệt độ cao hay vật liệu chịu
lửa Chất kết dính ceramic từ đất sét khó
chảy hoặc đất sét chịu lửa, cốt liệu rỗng
sản phẩm diatomit, trepel nung Chất tạo
rỗng là phế thải, khi cháy để lại các lỗ
hổng lớn ăn thông với nhau Chất tạo
rỗng có kích thước hạt nhất định được
trộn lẫn với hỗn hợp tạo hình, sau đó
được sấy và nung Nhiệt độ nung sản
phẩm không được thấp hơn nhiệt độ
cháy của chất tạo rỗng Sản phẩm chế
tạo theo phương pháp này thường có
kích thước và hình dạng không đổi so
với hình dạng ban đầu do loại trừ khả
năng phồng nở cũng như co ngót quá
lớn Do vậy độ rỗng của sản phẩm đúng bằng thể tích chất tạo rỗng được đưa vào trước đó Độ rỗng tạo ra khi sử dụng chất phụ gia cháy dao động trong khoảng 60 – 65% đối với các phụ gia cháy thông thường và 70 – 80% đối với các loại phụ gia cháy mới có hiệu quả tạo rỗng cao Phụ gia cháy cần thỏa mãn một số yêu cầu như: khi cháy lượng chất khí thải ra không quá lớn gây phồng nở, giữ nguyên hình dạng ban đầu của sản phẩm, không làm đặc chắc sản phẩm sau khi tách chất tạo rỗng
Những điều kiện nêu trên có thể được đáp ứng thông qua việc lựa chọn loại phụ gia cháy Trong suốt thời gian dài phế thải được dùng làm phụ gia cháy, tuy nhiên khi sử dụng với khối lượng lớn, phế thải rất khó được trộn đồng đều với thành phần chính Sau khi cháy hạt phế thải để lại hệ thống lỗ hổng mao quan lớn hình khe, ăn thông với nhau gây ảnh hưởng xấu đến cường độ, khả năng cách nhiệt cũng như các tính chất sử dụng khác của vật liệu cách nhiệt so với cấu trúc tổ ong có cùng độ rỗng Tuy nhiên
ưu điểm của hạt phế thải là khí thải khi chạy thoát ra dễ dàng, không gây phồng
nở và do vậy dù sử dụng lượng lớn phế thải vẫn không gây biến dạng, nứt nẻ sản phẩm Hiện nay pôlystyrol phồng nở hạt mịn được dùng khá phổ biến cho phép tạo ra cấu trúc rỗng gồm các lỗ hổng kín, hình cầu, có đường kính dao động trong khoảng rộng và phụ thuộc vào thành phần hạt của pôlystyrol Vật liệu này thường được sử dụng với khối lượng nhỏ,
do đó lượng khí thải ra không lớn nên khó gây phồng nở sản phẩm, ngay cả khi cần tạo ra độ rỗng kín
Trang 33 Quá trình chế tạo:
Các mẫu được chế tạo theo cấp phối trong bản sau:Bảng 3.1 Cấp phối tỉ lệ đất sét, phế
thải, nước
Cấp phối
Khối lượng cấp phối (kg)
Tỉ lệ đất sét (%)
Tỉ lệ mùn trấu (%)
Tỉ lệ mùn xốp (%)
Khối lượng nước (%)
Sau khi tạo hình, các mẫu được
phơi tự nhiên ngoài sân với thời gian
phơi từ 3 đến 4 ngày và được nung ở nhiệt độ từ 700-900oC khoảng 3 ngày
Sản phẩm được kiểm tra các chỉ
tiêu gồm: Cường độ chịu nén, độ hút
nước, khối lượng thể tích
4 Kết quả nghiên cứu
4.1 Mối quan hệ giữa hàm lượng phế
thải và khối lượng thể tích
- Khi % xốp,trấu tăng thì v tăng,
cụ thể là:
+ Khi trấu tăng từ 0% lên 4% thì
v
giảm từ 1.215 xuống còn 1.118 giảm
0.0097%, khi trấu tăng từ 4 % lên 6 %
thì v giảm từ 1.118 xuống 1.078 giảm
0.004% , khi trấu tăng từ 6 % lên 8 % thì
v
giảm từ 1.078 xuống 1.075 giảm 0.00003% {Hình a}
+ Khi xốp tăng từ 0% lên 2% thì
v
giảm từ 1.215 xuống còn 1.021 giảm 0.0019 %, khi xốp tăng từ 2% lên 4% thì
v
giảm từ 1.021 xuống còn 1.005 giảm 0.0016 , khi xốp tăng từ 4% lên 6 % thì
v
giảm từ 1.005 xuống còn 0.966 giảm 0.0004% {Hình b}
Trang 4Hình a: BĐ Mối quan hệ giữa % phế Hình b: BĐ mối quan hệ giữa % phế thải
thải trấu với khối lượng thể tích v xốp với khối lượng thể tíchv
4.2 Mối quan hệ giữa hàm lượng phế
thải và độ hút nước H p
- Khi % xốp,trấu tăng thì H tăng, p
cụ thể là:
+ Khi trấu tăng từ 0% lên 4% thì
p
H tăng từ 12.289 lên 15.031 tăng
0.027 %, khi trấu tăng từ 4 % lên 6 % thì
p
H tăng từ 15.031 lên 15.469 tăng
0.00438 % , khi trấu tăng từ 6 % lên 8 %
thì H p tăng từ 15.469 lên 15.985 tăng 0.0052 % {Hình c}
+ Khi xốp tăng từ 0% lên 2% thì
p
H tăng từ 12.289 lên 13.95 tăng 0.017 % , khi xốp tăng từ 2% lên 4% thì
p
H tăng từ 13.95lên 14.4 tăng0.00052
% , khi xốp tăng từ 4% lên 6% thì H p
tăng từ 14.47 lên 15.031 tăng 0.009%
{Hình d}
Hình c: BĐ mối quan hệ giữa % phế thải Hình d: BĐ mối quan hệ giữa % phế
trấu với độ hút nước H thải xốp với độ hút nước p H p
4.3 Mối quan hệ giữa hàm lượng phế
thải và Cường độ R n
- Khi % xốp,trấu tăng thì R giảm, n
cụ thể là:
+ Khi trấu tăng từ 0% lên 4% thì
n
R giảm từ 51 xuống còn 27.599 giảm
0.234% , khi trấu tăng từ 4% lên 6% thì
n
R giảm từ 27.599 xuống 26.706 giảm
0.0089% , khi trấu tăng từ 6% lên 8% thì
n
R giảm từ 26.706 xuống 18.927 giảm 0.078% {Hình e}
+ Khi xốp tăng từ 0% lên 2% thì
n
R giảm 51xuống còn 30.847 giảm 0.0019 % , khi xốp tăng từ 2% lên 4%
thì R n giảm từ 30.847 xuống còn 26.233 giảm 0.0046, khi xốp tăng từ 4% lên 6%
thì R n giảm từ 26.233 xuống còn 25.317 giảm 0.00092% {Hình f}
Trang 5Hình e: BĐ mối quan hệ giữa % phế Hình f: BĐ mối quan hệ giữa % phế thải
thải trấu với cường độ nén R xốp với cường độ nén n R n
5 Kết luận
Sản phẩm có khối lượng nhỏ so
với viên gạch thông thường
3 1.215 /
với mẫu 8% trấu thì
3 1.075 /
thì
3 0.966 /
Với tính chất này
thì gạch có thể làm việc như vật liệu
cách âm cách nhiệt Tuy nhiên cường
độ chịu nén kém hơn viên gạch thông
thường R n 51daN cm/ 2 Vậy chỉ nên
sử dụng như vật liệu bao che, vách ngăn, không chịu tải trọng lớn trong kết cấu Ngoài ra, độ hút nước tương đối cao 8% trấu:H p 15,985%, 6%
xốp: H p 15, 031%
so với mẫu thường H p 12, 289 %
nên tránh sử dụng tại các vị trí thường xuyên tiếp xúc với nước
TÀI LIỆU THAM KHẢO