1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Tổng quan các nghiên cứu về tương tác đất nền kết cấu và đất nền kết cấu cầu khi phân tích phản ứng động của kết cấu cầu trên móng cọc

12 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 429 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này trình bày sự cần thiết của việc nghiên cứu vấn đề tương tác đất-cọc-kết cấu và tổng quan các nghiên cứu về tương tác đất nền-kết cấu và đất nền-kết cấu cầu khi phân tích phản ứng động của kết cấu cầu trên móng cọc.

Trang 1

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TƯƠNG TÁC ĐẤT NỀN-KẾT

CẤU VÀ ĐẤT NỀN-KẾT CẤU CẦU KHI PHÂN TÍCH PHẢN ỨNG

ĐỘNG CỦA KẾT CẤU CẦU TRÊN MÓNG CỌC

ThS Đoàn Hữu Sâm

Khoa Cầu đường, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Hiện nay, cùng với sự phát triển của các phương pháp thiết kế kháng

chấn dựa trên hiệu năng, yêu cầu về đánh giá mang tính định lượng và chính

xác hơn ứng xử phức tạp của kết cấu trong phản ứng động đối với tải trọng

động đất ngày càng được quan tâm Bài báo này trình bày sự cần thiết của

việc nghiên cứu vấn đề tương tác đất-cọc-kết cấu và tổng quan các nghiên cứu

về tương tác đất nền-kết cấu và đất nền-kết cấu cầu khi phân tích phản ứng

động của kết cấu cầu trên móng cọc Từ đó, đưa ra kết luận về các vấn đề cần

phải xem xét khi nghiên cứu ảnh hưởng của tương tác đất-kết cấu lên phản

ứng động của kết cấu cầu trên móng cọc

Từ khoá: Soil-pile-structure interaction; Seismic response; Pile-supported

bridges; Performance-based design; Nonlinearity of soil; Nonlinearity of

structure

1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu

vấn đề tương tác đất-cọc-kết cấu khi

phân tích phản ứng động của kết cấu

cầu trên móng cọc

Hệ thống giao thông đóng một vai

trò quan trọng trong đời sống và sự phát

triển của mỗi quốc gia, đặc biệt góp

phần to lớn trong việc khắc phục kịp

thời các hậu quả của thiên tai Trong hệ

thống đó, các công trình cầu lại đóng vai

trò then chốt góp phần tạo nên sự thành

công của cả hệ thống

Những trận động đất gần đây ở

Sumatra-Indonesia và Nhật Bản đã cho

thấy sức mạnh hủy diệt của các cơn địa

chấn mạnh Những trận động đất này

cung cấp một nguồn dữ liệu địa chấn vô

giá và thúc đẩy các nghiên cứu liên

quan Mục tiêu chính của vấn đề nghiên

cứu được trình bày trong bài báo này là

làm sáng tỏ tầm quan trọng của tương

tác đất-kết cấu (soil-structure

interaction) (SSI) lên phản ứng động của

các kết cấu hạ tầng quan trọng (kết cấu cầu) đối với các cường độ địa chấn khác nhau Hiểu rõ ảnh hưởng của SSI giúp các kỹ sư, đặc biệt là các kỹ sư Việt Nam nhận thức đầy đủ hơn về các kết cấu hạ tầng hiện tại cũng như thiết kế một cách hiệu quả cho các kết cấu hạ tầng trong tương lai

Nghiên cứu về ảnh hưởng của SSI vẫn còn là một khía cạnh đầy thách thức trong phân tích phản ứng động của kết cấu, đặc biệt là kết cấu trên móng cọc khi mà vẫn còn một khoảng cách lớn giữa các nghiên cứu về địa kỹ thuật và nghiên cứu về kết cấu Trong khi các kỹ

sư địa kỹ thuật thường tập trung nhiều hơn ở ứng xử phức tạp của đất nền và đơn giản hóa sự hiện diện của kết cấu, các kỹ sư kết cấu lại quan tâm nhiều hơn đến ứng xử của kết cấu và đơn giản hóa đến mức có thể trong việc mô hình đất nền và sự tiếp xúc nền đất-kết cấu móng (soil-foundation interface) Điều này là

Trang 2

do bản chất phức tạp của vấn đề SSI và

những hạn chế thực tế của các công cụ

tính toán có sẵn không cho phép các kỹ

sư thực hành xem xét một cách đầy đủ

các khía cạnh khác nhau của vấn đề SSI,

chẳng hạn như ứng xử phi tuyến của đất

nền, phi tuyến của kết cấu và sự phi

tuyến trong tương tác đất-kết cấu móng

(soil-foundation interaction) Đặc biệt,

SSI trong móng cọc là một hiện tượng

rất phức tạp để có thể mô phỏng, do ứng

xử phức tạp của các cọc riêng lẻ, tương

tác cọc-đất (pile-soil interaction), ứng xử

phức tạp của các cọc trong nhóm cọc và

tương tác cọc-đất-cọc (pile-soil-pile

interaction) [42]

Cùng với sự phát triển của các

phương pháp thiết kế kháng chấn dựa

trên hiệu năng (performance based

earthquake engineering methodologies),

yêu cầu về đánh giá mang tính định

lượng và chính xác hơn ứng xử phức tạp

của kết cấu trong phản ứng động đối với

tải trọng động đất ngày càng được quan

tâm Trong khi mục tiêu của các tiêu

chuẩn thiết kế kháng chấn là hướng đến

trạng thái an toàn, các phương pháp thiết

kế gần đây nhấn mạnh đến các mục tiêu

hiệu năng khác nhau và yêu cầu về đánh

giá phản ứng động của kết cấu tương

ứng với các mức độ địa chấn khác nhau

Đánh giá phản ứng động phải xem xét

phản ứng của hệ thống trong miền phi

đàn hồi để có thể xác định được các mức

độ phá hoại của hệ thống Một vấn đề

khác của các phương pháp thiết kế dựa

trên hiệu năng là sự xem xét một cách rõ

ràng những thiếu sót về đánh giá khả

năng và phản ứng của kết cấu để tối ưu

hóa thiết kế, đáp ứng các tiêu chuẩn hiệu

năng khác nhau với những mức độ khác nhau về độ tin cậy (e.g Bertero and Bertero 2002 [1], Krawinkler and Miranda 2004 [2]) [42]

SSI có thể đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phản ứng của các kết cấu cầu, do dạng kết cấu tương đối đơn giản của chúng và mức độ dư thừa thấp của những kết cấu này làm cho chúng trở nên nhạy cảm với ảnh hưởng của SSI

và chuyển vị gây ra bởi SSI Điều này đặc biệt đúng cho các cầu có trụ dạng cột đơn và dầm nhịp giản đơn SSI có thể ảnh hưởng đáng kể đến tính dẻo dai của trụ cầu hoặc gây ra sự sai khác lớn

về chuyển vị giữa các trụ Điều này có thể gây nguy hại cho các thành phần của kết cấu cầu nhạy cảm với chuyển vị và làm thay đổi tính nguyên dạng của cầu

Các thành phần nhạy cảm với chuyển vị bao gồm cả những thành phần kết cấu và phi kết cấu [42]

Thiết kế kết cấu cầu trên móng cọc dựa vào hiệu năng, yêu cầu phải đánh giá nghiêm ngặt ảnh hưởng của SSI lên phản ứng động của trụ cầu để có thể đánh giá chính xác hơn và hiểu rõ hơn vai trò của SSI Mặt khác, trọng tâm của thiết kế dựa vào hiệu năng là tính toán

và xem xét các chuyển vị phi tuyến như

là một chỉ số thể hiện mức độ phá hoại trong miền phi đàn hồi tốt hơn so với các thông số về lực đạt được từ phân tích đàn hồi tuyến tính thường được sử dụng trong thiết kế kết cấu và nền móng (thiết

kế dựa vào thông số chuyển vị so với thiết kế dựa vào thông số về lực) Vì vậy, xem xét về SSI trong thiết kế dựa vào hiệu năng đòi hỏi phải đánh giá chính xác ảnh hưởng của SSI lên các

Trang 3

chuyển vị phi tuyến của hệ; điều này lại

yêu cầu phải xét đến đồng thời ứng xử

phi tuyến của đất nền, phi tuyến của

tương tác nền đất-móng và ứng xử phi

tuyến của kết cấu để có thể đánh giá

chính xác tương tác của các thành phần

khác nhau trong hệ thống nền

đất-móng-kết cấu [42]

2 Tổng quan các nghiên cứu về tương

tác đất nền-kết cấu và đất nền-kết cấu

cầu khi phân tích phản ứng động của

kết cấu cầu trên móng cọc

2.1 Tổng quan về các mô hình thí

nghiệm

Nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành

nghiên cứu trên các mô hình thí nghiệm

thực tế và mô hình thu nhỏ để tìm hiểu

về vấn đề tương tác đất-kết cấu và ảnh

hưởng của tương tác này lên phản ứng

của cả hệ thống kết cấu Các mô hình thí

nghiệm này có thể phân loại thành bốn

nhóm như sau: Thí nghiệm chấn động

của môi trường (Ambient Vibration

Tests), Thí nghiệm chấn động cưỡng

bức (Forced Vibration Tests), Thí

nghiệm bàn lắc (Shake Table Tests), Thí

nghiệm quay ly tâm (Centrifugal Tests)

2.2 Tổng quan về các phương pháp

phân tích

Trong các thập kỷ qua, nhiều tác

giả đã nghiên cứu về vấn đề tương tác

động lực học nền đất-cọc-kết cấu

(seismic soil-pile-structure interaction)

(SSPSI) và ảnh hưởng của hiện tượng

này lên phản ứng của các kết cấu khác

nhau Các phương pháp phân tích đã

được phát triển để nghiên cứu về tương

tác đất-cọc-kết cấu có thể phân loại

thành ba nhóm như sau [3]:

(i) Substructure Methods (Winkler methods), trong đó một chuỗi các lò xo

và cản được sử dụng để mô tả ứng xử của đất Các phương pháp

―substructure‖ có sẵn dùng để mô hình ứng xử động lực học của đất nền có thể được phân loại từ lò xo tuyến tính đơn giản xuất phát từ giả định bán không gian đàn hồi (Gazetas, 1991 [4]) đến các mô hình phức tạp hơn, trong đó môi trường đất được chia thành vùng bên trong, tiếp giáp với cọc để xem xét sự phi tuyến của đất, và vùng bên ngoài ứng với sự lan truyền sóng ở xa cọc và xem xét tính cản của môi trường đất (Mostafa and El Naggar, 2002 [5]) Do tính chất đơn giản nên các phương pháp Winkler thường được sử dụng trong thực tế để mô tả môi trường đất khi phân tích SSI xét đến ứng xử động lực học của đất nền và khả năng phình trồi,

hở hoặc trượt Tuy nhiên, như đã đề cập bởi nhiều nhà nghiên cứu (e.g., Allotey and El Naggar, 2008 [6]; Finn, 2005 [7]; Hokmabadi et al., 2012a [8]), việc

lý tưởng hóa sự liên tục của đất nền bằng các phản lực nền rời rạc và không xét đến sự truyền cắt trượt giữa các lò

xo rõ ràng là những thiếu sót cơ bản về

cơ chế trong các mô hình Winkler

(ii) Elastic Continuum Methods, dựa trên lời giải có nghiệm kín của Mindlin (1936) [10] khi cho tải trọng tập trung tác dụng lên môi trường đàn hồi bán vô hạn Tajimi (1969) [11] là người đầu tiên sử dụng lý thuyết

―elastic continuum‖ để mô tả tương tác động lực học đất nền-cọc Poulos (e.g., Tabesh and Poulos, 2001 [12]) là người tiên phong trong việc sử dụng lời giải

Trang 4

đàn hồi cho phản ứng của móng cọc đối

với các tải trọng dọc trục và tải trọng

ngang, và đã trình bày một loạt các

phương pháp phân tích và thiết kế toàn

diện cho móng cọc dựa trên lý thuyết

―elastic continuum‖ Tuy nhiên, trong

các phương pháp ―elastic continuum‖,

độ chính xác của lời giải dựa trên việc

đánh giá các tham số đàn hồi của đất

nền và rất khó để xem xét các tính chất

phi tuyến của đất Vì vậy, các phương

pháp này thích hợp hơn cho các bài

toán liên quan đến biến dạng nhỏ và

trạng thái ổn định

(iii) Numerical Methods (phương

pháp số): sự phát triển mạnh mẽ của

máy vi tính đã làm thay đổi đáng kể khả

năng tính toán và làm cho các phương

pháp này trở nên phổ biến hơn khi

nghiên cứu các ứng xử tương tác phức

tạp Sử dụng các phương pháp này,

chúng ta có thể thực hiện các phân tích

theo thời gian xét đến các ảnh hưởng

như quan hệ ứng suất-biến dạng phi

tuyến của đất nền và kết cấu, vật liệu và

tính cản, các điều kiện biên phức tạp, và

sự tiếp xúc đất-kết cấu Một ưu điểm

khác của việc sử dụng các phương pháp

số là khả năng thực hiện phân tích

SSPSI cho nhóm cọc một cách đầy đủ và

đồng thời mà không cần đến việc tính

toán độc lập cho cọc hay phản ứng của

kết cấu, hoặc phải sử dụng hệ số tương

tác của nhóm cọc (Meymand, 1998

[13]) Do đó, các phương pháp số có thể

giúp thu thập được các thông số khác

nhau liên quan đến SSPSI sát với thực tế

hơn (e.g., Dutta and Roy, 2002 [14]; Tabatabaiefar et al., 2013 [15])

2.3 Tổng quan về tương tác đất nền-kết cấu và đất nền-nền-kết cấu cầu

Ảnh hưởng của SSI cần phải được xem xét để đánh giá một cách hiệu quả phản ứng của hệ thống đất nền-kết cấu cầu Để đơn giản trong quá trình phân tích động lực học kết cấu, các kỹ sư thường giả định điều kiện ―fixed-base‖

(Hình 1) Trong nhiều trường hợp, điều kiện ―fixed-base‖ không phản ánh đúng thực tế Kết cấu phần trên của cầu được gánh đỡ bởi kết cấu móng bên dưới, và đất nền xung quanh móng có khả năng biến dạng; do vậy cho phép móng có các chuyển vị xoay và/hoặc chuyển vị thẳng

— điều này thường được gọi là điều kiện ―flexible-base‖ Do đó, giả định

―fixed-base‖ thường được sử dụng đã bỏ qua ảnh hưởng của SSI, trong khi giả định ―flexible-base‖ lại xét đến ảnh hưởng này [43]

Mylonakis and Gazetas (2000) [16]

đã kiểm chứng sự khác biệt giữa kết cấu

có ―fixed-base‖ và kết cấu có ―flexible-base‖ Một ví dụ của hai dạng kết cấu này được thể hiện trên Hình 1 Hai kết cấu có đặc điểm dao động khác nhau, vì vậy phản ứng động của chúng cũng khác nhau Đối với kết cấu có ―flexible-base‖,

vị trí tiếp xúc đất nền-móng có thể biến dạng được; do đó, chu kỳ cơ bản T của kết cấu có ―flexible-base‖ sẽ dài hơn và

tỷ số cản của nó  sẽ lớn hơn so với kết cấu có ―fixed-base‖ tương ứng [43]

Trang 5

Hình 1 Ảnh hưởng của tương tác đất nền-kết cấu (soil-structure interaction) (SSI) đến

chu kỳ cơ bản và tỷ số cản của kết cấu có “flexible-base” theo NEHRP-97 (Mylonakis

and Gazetas, 2000)

Hình 2 mô tả một phổ phản ứng thiết kế trơn lý tưởng tổng quát thường được trình bày

trong các tiêu chuẩn thiết kế kháng chấn Khi xem xét ảnh hưởng của SSI (chẳng hạn

sự gia tăng của chu kỳ cơ bản và cản có hiệu), gia tốc và ứng suất trong kết cấu và

móng thông thường sẽ nhỏ hơn, như được miêu tả bởi đường nét đứt trên Hình 2

Trang 6

Hình 3 Sự suy giảm trong lực cắt chân kết cấu do tương tác đất nền-kết cấu (SSI) theo

tiêu chuẩn thiết kế kháng chấn NEHRP-97 (Mylonakis and Gazetas, 2000)

Mặc dù điều nói trên là đúng cho

nhiều kết cấu và môi trường địa chấn,

tuy nhiên vẫn có nhiều trường hợp

được ghi nhận trong lịch sử đã chứng

minh rằng điều này không phải là luôn

luôn đúng Gazetas and Mylonakis

(1998) [17] đã đưa ra một nhìn nhận

tổng quan về phương pháp phân tích

SSI và tái khám phá vai trò của SSI lên

phản ứng động của trụ cầu trên móng

cọc bằng cách nghiên cứu sự phá hủy

của các cầu trên tuyến cao tốc Hanshin

số 3 ở Higashi-nada, với các cột đơn

tiết diện tròn được gánh đỡ bởi móng

cọc, trong trận động đất mạnh Hanshin

xảy ra vào năm 1995 ở Nhật Bản

(Động đất Kobe) Họ đã phát hiện ra

rằng SSI có thể đã góp phần vào sự phá

hoại các cây cầu này bằng cách làm gia

tăng (kéo dài) chu kỳ tự nhiên của hệ

kết cấu, dẫn đến phổ gia tốc cao hơn ở

chu kỳ đã bị thay đổi Mylonakis and

Gazetas (2000) [18] tiếp tục khám phá

ra ảnh hưởng của SSI bằng cách thảo

luận về những quan niệm sai lầm liên

quan đến việc bỏ qua SSI như một giả

định bảo thủ và giải thích các đặc trưng

phổ địa chấn phụ thuộc vào cả thông số

đầu vào địa chấn và điều kiện đất nền

có thể dẫn đến những phản ứng động

cao hơn ở chu kỳ tự nhiên được kéo dài

của kết cấu như thế nào khi xem xét

ảnh hưởng của SSI, mặc dù lúc này đặc

trưng cản có thể gia tăng do SSI Họ

chứng minh rằng SSI có thể dẫn đến sự

gia tăng đặc trưng dẻo dai của trụ cầu

trên đất yếu và đã kết luận rằng điều

này không thể thấy được nếu các phổ

thiết kế thông thường (trái ngược với phổ phản ứng thực tế) được sử dụng khi đánh giá phản ứng động xét đến SSI Khả năng gia tăng phản ứng do SSI cũng đã được đề cập trước đó bởi Jennings and Bielak (1973) [19], and Veletsos (1993) [20] và gần đây đã được chứng minh bởi nhiều nhà nghiên cứu khác như Sextos et al (2002) [21]

and Jeremic et al (2004) [22] Martin and Lam (2000) [23] giải thích rằng việc thiết kế kết cấu theo truyền thống dựa vào lực, giả định các thành phần của kết cấu móng là tuyệt đối cứng hoặc đàn hồi và phải đảm bảo là hiệu ứng của tải trọng lên kết cấu phải nhỏ hơn sức kháng của nền móng Họ đề cập đến một sự thay đổi lớn trong triết lý thiết kế theo truyền thống của lĩnh vực địa kỹ thuật đó là khái niệm về cho phép huy động sức kháng cực hạn của nền móng trong quá trình xảy ra địa chấn và phát biểu rằng các phương pháp thiết kế cần phải xét đến hiệu năng của nền móng và ảnh hưởng của nó lên phản ứng tổng thể của cầu Martin and Lam (2000) cùng với Fenves (1998) [24] đã thực hiện các nghiên cứu về độ nhạy cảm của phản ứng động lực học của mô hình cầu tổng thể với sự mô tả cải tiến về đặc trưng của nền móng bằng cách sử dụng các lò xo phi tuyến (nonlinear springs) với các phần tử hở (gapping elements)

và họ đã kết luận rằng các nghiên cứu trong tương lai nên chú trọng vào việc tìm hiểu và mô hình ứng xử phi tuyến của nền móng và tích hợp những mô hình như thế với phân tích phi tuyến kết

Trang 7

cấu để cho phép đánh giá hiệu năng một

cách tổng thể

Finn (2004a, 2004b) [25, 26]

nghiên cứu thực tế về đặc điểm làm việc

của nền móng ảnh hưởng lên phản ứng

của kết cấu và đã đánh giá tính hiệu quả

của các phương pháp xấp xỉ khác nhau

Ông cho rằng một điểm yếu trong việc

mô hình kết cấu trên móng cọc đó là sự

mô tả không đầy đủ về nền móng do bỏ

qua sự kết hợp giữa độ cứng chống trượt

và xoay của nền và thay nền bằng các lò

xo đơn giản Ông cho biết thêm rằng hầu

hết các phương pháp xấp xỉ được sử

dụng để đánh giá độ cứng của nền đều

dựa trên phân tích cho cọc đơn và các

giả định khác được đưa ra để xem xét

phản ứng của nhóm cọc Ông cho rằng

các yếu tố như sự phi tuyến của đất nền,

tương tác động học (kinematic

interaction) giữa các cọc và đất nền,

tương tác quán tính (inertial interaction)

của kết cấu với đất nền và các cọc,

tương tác động lực học (dynamic

interaction) giữa bản thân các cọc với

nhau, và áp lực nước lỗ rỗng do chấn

động phải được xem xét đồng thời để có

thể có được một cái nhìn hoàn chỉnh về

ảnh hưởng của nền móng lên phản ứng

động của kết cấu Ông cũng đã khảo sát

độ tin cậy của các phương pháp xấp xỉ

trong việc mô tả độ cứng chống trượt và

xoay của móng cọc trong các mô hình số

của trụ cầu trên móng cọc bằng cách sử

dụng một mô hình đất nền liên tục ba

chiều giả lập phi tuyến (a

pseudo-3-dimensional nonlinear continuum soil

model) (Wu and Finn 1997a and 1997b

[27, 28], Thavaraj and Finn 2001 [29]),

và nêu bật tầm quan trọng của độ cứng

tương đối của tương tác kết cấu và nền móng, và phải xem xét cả tương tác động học và tương tác quán tính khi phân tích

Crouse and McGuire (2001) [30]

đề cập đến ảnh hưởng của SSI bằng quan điểm tiêu tán năng lượng Họ đã trình bày tình trạng chung của việc đánh giá SSI bởi các kỹ sư kết cấu liên quan đến sự tiêu tán năng lượng và cho rằng

sự tiêu tán năng lượng trong SSI thường

bị bỏ qua hoặc áp dụng sai khi thiết kế kết cấu Họ đã đề cập đến những lỗ hổng kiến thức trong việc đánh giá SSI,

và đã trình bày các phương pháp thực hành nhận dạng hệ thống để đánh giá tỷ

số cản kết hợp cho những mode dao động quan trọng của kết cấu xem xét cả

về đặc trưng vật liệu và đặc trưng cản của SSI

Kim and Roesset (2004) [31] đã nghiên cứu tính chất quan trọng của việc xét đến ứng xử phi tuyến của đất nền trong quá trình đánh giá ảnh hưởng của SSI lên phản ứng phi đàn hồi của kết cấu Họ đã chứng minh sự khác biệt đáng kể giữa phản ứng với đất nền đàn hồi và phản ứng với đất nền phi đàn hồi,

và cho thấy tầm quan trọng của việc xét đến sự phi tuyến của phản ứng đất nền, đặc biệt là đối với móng cọc

Shamsabadi et al (2007) [32] đã phát triển một mô hình động lực học phi tuyến ba chiều cho công trình cầu (3D nonlinear dynamic bridge model) để phân tích các mô hình hyperbolic của đất đắp ở hai mố cầu Dữ liệu của hai trận động đất với xung vận tốc mạnh đã được sử dụng để phân tích cho mô hình cầu bao gồm: 1994 Northridge,

Trang 8

California, Rinaldi Station và 2005

Kobe, Japan, Takarazu Station

Shamsabadi et al (2007) kết luận rằng

sức kháng của đất đắp ở mố cầu có ảnh

hưởng đáng kể lên chuyển vị cực đại của

kết cấu phần trên của cầu Do đó, khi

đánh giá phản ứng của cầu đối với địa

chấn thực tế theo các phân tích và thiết

kế dựa trên hiệu năng cần phải có sự

phân tích các mố cầu

Zhang et al (2008) [33] đã phát

triển một mô hình phần tử hữu hạn phi

tuyến hai chiều tiên tiến (2D advanced

nonlinear finite-element model) cho

công trình cầu Humboldt Bay Middle

Channel (HBMC) trong chương trình

phần tử hữu hạn OpenSees để đánh giá

phản ứng động của cầu xét đến ảnh

hưởng của SSI Mô hình phần tử hữu

hạn bao gồm kết cấu, nhóm cọc, nền đắp

đường đầu cầu, và đất nền Dựa trên kết

quả mô phỏng, Zhang et al (2008) đã

kết luận rằng phản ứng của kết cấu phần

trên của cầu chịu ảnh hưởng đáng kể bởi

biến dạng phi đàn hồi của đất nền

Những phát hiện này phù hợp với những

nghiên cứu phân tích khác đã được thực

hiện bởi nhiều tác giả cho các cầu vượt

nhịp ngắn và chỉ ra rằng phản ứng động

của kết cấu phần trên của cầu cùng với

phản ứng của mố và đất đắp chịu ảnh

hưởng chủ yếu bởi ứng xử của đất nền

(Werner et al., 1987, 1990, 1994 [34, 35,

36]; Wilson and Tan, 1990a,b [37, 38])

Aygün et al (2010) [39] đã phát

triển những mối tương quan mới nhằm

thu thập dữ liệu xác suất có điều kiện

của các thành phần của hệ kết hợp kết

cấu cầu-đất nền-móng (coupled

bridge-soil-foundation) (CBSF) đạt tới hoặc

vượt các quá mức hiệu năng xác định trước như là một hàm của cường độ địa chấn nguy hiểm và tiềm năng hóa lỏng cho vùng trung và đông nước Mỹ Hệ thống CBSF bao gồm các thành phần kết cấu cầu 3D và đất nền 2D được kết nối bởi các phần tử đất đặc trưng bằng các

lò xo 1D p-y Hệ thống phần tử hữu hạn của cầu được mô hình trong chương trình OpenSees như một cầu dầm thép liên tục nhiều nhịp Các kết quả nghiên cứu của Aygün et al (2010) đã chứng minh tầm quan trọng của việc xem xét ảnh hưởng của SSI lên phản ứng động của hệ thống CBSF (3D bridge-foundation system with 2D soil mesh connected by 1D p-y soil springs) và đã đưa ra một cơ sở lý thuyết đầy đủ và hiệu quả để đánh giá các cơ chế phá hoại cầu Sử dụng phương pháp này để phát triển các phân tích xác suất chi tiết của một hệ đất nền-kết cấu cầu cho phép chúng ta xác định một cách hiệu quả nguy cơ địa chấn và có thể đưa tính chất mỏng manh của hệ thống vào các nghiên cứu độ tin cậy trong tương lai

Khosravifar (2012) [40] đã phát triển một mô hình phần tử hữu hạn 2D trong chương trình OpenSees để đánh giá ảnh hưởng của sự nở ngang và hóa lỏng lên phản ứng phi đàn hồi của kết cấu trên móng cọc đài bè Hệ thống đất nền-kết cấu bao gồm một móng cọc đơn đài bè phi tuyến, trụ cầu dạng cột phi tuyến, bản mặt cầu, và cột đất một lớp phi tuyến kết nối với cọc bằng các phần

tử đất đặc trưng bởi các lò xo nằm ngang, thẳng đứng và bên dưới mũi cọc

Khosravifar (2012) đã đánh giá một cách

cụ thể phản ứng của cọc theo phương

Trang 9

ngang và một nghiên cứu về tham số đã

được tiến hành để xác định độ nhạy cảm

của hệ thống với các tham số khác nhau

Các kết quả nghiên cứu của Khosravifar

(2012) mặc dù chủ yếu liên quan đến

ảnh hưởng của sự nở ngang và hóa lỏng

nhưng đã làm nổi bật ảnh hưởng của SSI

lên phản ứng động của hệ thống đất

nền-kết cấu cầu

Chiaramonte (2011) [41] đã phát

triển một loạt các mô hình phân tích

phần tử hữu hạn 2D trong chương trình

OpenSees của một kết cấu cầu cảng trên

móng cọc ở Oakland, California Kết

cấu bao gồm một bản mặt cầu bê tông

cốt thép được gánh đỡ bởi hệ các cọc bê

tông cốt thép dự ứng lực So sánh với

kết quả từ phân tích tĩnh pushover (static

pushover analysis) (no soil column) và

phân tích động lực học tương ứng với 13

dữ liệu địa chấn khác nhau đã cho thấy

được ảnh hưởng của SSI

3 Kết luận

Tổng quan các nghiên cứu liên

quan nói trên cho thấy sự cần thiết phải

đánh giá chính xác ảnh hưởng của SSI

lên phản ứng động của kết cấu cầu trên

móng cọc và cần phải xem xét các vấn

đề sau:

Cần phải có một nhìn nhận mang

tính định lượng về ảnh hưởng của SSI

lên phản ứng của kết cấu cầu trên móng

cọc để có thể xác định được các trường hợp chịu ảnh hưởng đáng kể của SSI và

có thể định lượng được các ảnh hưởng của SSI là gì và chúng ảnh hưởng như thế nào đến hiệu năng tổng thể của kết cấu cầu

Để đánh giá chính xác SSI yêu cầu phải có một phương pháp tiếp cận hệ thống trong phân tích SSI với sự mô tả kết hợp đầy đủ các thành phần chính của

hệ thống và với sự xem xét xác đáng ứng xử phi tuyến của đất nền, kết cấu và

sự tiếp xúc đất nền-kết cấu Đặc trưng cản của hệ thống cũng cần phải được xem xét một cách thích hợp

Đánh giá ảnh hưởng của SSI phải xem xét các mục tiêu hiệu năng khác nhau và các mức độ địa chấn khác nhau

Đánh giá SSI phải phù hợp với các phương pháp thiết kế dựa trên chuyển vị, tức là phù hợp với mục tiêu đánh giá các chuyển vị phi đàn hồi của kết cấu cầu và nền móng như là những tham số yêu cầu chính

Đánh giá SSI phải xem xét những thiếu sót liên quan đến thông số đầu vào địa chấn, các điều kiện đất nền và các đặc trưng của hệ để hệ có thể được thiết

kế tối ưu, đáp ứng các tiêu chuẩn hiệu năng khác nhau với các mức độ khác nhau về độ tin cậy thiết kế cho một công trình cụ thể

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bertero, R.D and Bertero, V.V (2002) Performance-Based Seismic

Engineering: the Need for a Reliable Conceptual Comprehensive Approach,

Earthquake Engineering and Structural Dynamics, Vol 31, No 3, pp 627-652

[2] Krawinkler, H and Miranda E (2004) Performance-Based Earthquake

Engineering, Earthquake Engineering from Engineering Seismology to Performance

Based Design, Ed Bozorgnia, Y and Bertero V.V., CRC Press, FL

Trang 10

[3] A.S Hokmabadi, B Fatahi , B Samali(2014) ―Seismic Response of Mid-rise

Buildings on Shallow and End-bearing Pile Foundations in Soft Soil, ‖Soils and

Foundations ,Vol.54, No.3, pp 345–363

[4] Gazetas, G., 1991 Formulas and charts for impedances of surface and embedded

foundations J Geotech Eng 117, 1363–1381

[5] Mostafa, Y.E., El Naggar, M.H., 2002 Dynamic analysis of laterally loaded pile

groups in sand and clay Can Geotech J 39, 1358–1383

[6] Allotey, N., El Naggar, M.H., 2008 Generalized dynamic Winkler model for

nonlinear soil–structure interaction analysis Can Geotech J 45, 560–573

[7] Finn, W.D., 2005 A study of piles during earthquakes: issues of design and

analysis Bull Earthquake Eng., 3 Springer, pp 141–234

[8] Hokmabadi, A.S., Fakher, A., Fatahi, B., 2012a Full scale lateral behaviour of

monopiles in granular marine soils Mar Struct 29, 198–210

9] Hokmabadi, A.S., Fatahi, B., Samali, B., 2012b Recording inter-storey drifts of

structures in time-history approach for seismic design of building frames Aust J

Struct Eng 13, 175–179

[10] Mindlin, R.D., 1936 Force at a point in the interior of a semi-infinite solid

Physics 7, 195–202

[11] Tajimi, H., 1969 Dynamic analysis of a structure embedded in an elastic stratum

In: Proceedings of Fourth World Conference on Earthquake Engineering, Santiago,

USA, 53–69

[12] Tabesh, A., Poulos, H.G., 2001 The effects of soil yielding on seismic response

of single piles Soils Found 41, 1–16

[13] Meymand, P.J., 1998 Shaking Table Scale Model Tests of Nonlinear Soil–Pile–

Superstructure in Soft Clay University of California, Berkley

[14] Dutta, S.C., Roy, R., 2002 A critical review on idealization and modeling for

interaction among soil–foundation–structure system Comput Struct 80, 1579–1594

[15] Tabatabaiefar, H.R., Fatahi, B., Samali, B., 2013 Seismic behavior of building

frames considering dynamic soil–structure interaction Int J Geomech 13, 409–420

[16] G Mylonakis and G Gazetas Seismic soil-structure interaction: beneficial or

detrimental? Journal of Earthquake Engineering, 4(03):277–301, 2000

[17] Gazetas, G and Mylonakis, G (1998) Seismic Soil-Structure Interaction: New

Evidence and Emerging Issues, Proceedings of the Specialty Conference on

Geotechnical Earthquake Engineering and Soil Dynamics III, Vol 1, pp 1119-1174,

Edited by Dakoulas, P., Yegian, M and Holtz, R.D ASCE Geotechnical Special

Publication No.75

[18] Mylanokis G., and Gazetas G., (2000) Seismic Soil-Structure Interaction:

Beneficial or Detrimental?, Journal of Earthquake Engineering, Vol 4, No 3, pp

277-301, Imperial College Press

Ngày đăng: 17/06/2020, 01:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w