1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trường Đại học Xây dựng miền Trung: Chuẩn bị hành trang bước vào hội nhập giáo dục, khoa học và công nghệ trong khu vực và thế giới

7 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 522,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để định hướng và xác định con đường đúng trong quá trình phát triển của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung với hội nhập giáo dục, khoa học và công nghệ trong khu vực ASEAN và thế giới, bài báo này nhằm giới thiệu vị trí của các trường Đại học Việt Nam trên thế giới thông qua những tiêu chí đánh giá xếp hạng của các tổ chức uy tín, đặc biệt là mô hình đánh giá của Webometrics.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG:

CHUẨN BỊ HÀNH TRANG BƯỚC VÀO HỘI NHẬP GIÁO DỤC,

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG KHU VỰC VÀ THẾ GIỚI

TS Võ Thanh Huy

Phó Trưởng phòng KH&HTQT, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Để định hướng và xác định con đường đúng trong quá trình phát

triển của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung với hội nhập giáo dục, khoa

học và công nghệ trong khu vực ASEAN và thế giới, bài báo này nhằm giới

thiệu vị trí của các trường Đại học Việt Nam trên thế giới thông qua những

tiêu chí đánh giá xếp hạng của các tổ chức uy tín, đặc biệt là mô hình đánh

giá của Webometrics Từ đó tác giả muốn tập trung nhìn nhận thực trạng,

tồn tại về hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ của trường Đại học

Xây dựng Miền Trung, cuối cùng là những giải pháp, đề xuất mà tác giả

muốn gửi đến tập thể cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên và Ban giám hiệu

Nhà trường tham khảo để có một cách lựa chọn đúng đắn trong vai trò của

mình đối với Nhà trường theo xu thế hội nhập hiện tại và tương lai

Từ khoá: Hội nhập quốc tế, xếp hạng Đại học, nghiên cứu khoa học,

Webometrics

1 Vị trí KH&CN Việt Nam trong khu

vực và trên thế giới

Trong năm 2015 đánh dấu sự tiến

bộ của thành tựu Khoa học và Công

nghệ (KH&CN) Việt Nam trong khu

vực và trên thế giới Theo Tổ chức Sở

hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) kết hợp với

Đại học (ĐH) Cornell (Hoa Kỳ) và Học

viện Kinh doanh INSEAD (Pháp) vừa

đưa ra chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu

GII (Global Innovation Index) năm

2015, Việt Nam tăng 19 bậc, xếp thứ 52

trên 141 quốc gia có nền kinh tế được

xếp hạng (trước đó, năm 2014 là 71/141

và năm 2013 là 76/141) Tại khu vực

Đông Nam Á, Việt Nam vươn lên vị trí

thứ 3 về chỉ số đổi mới sáng tạo, vượt

qua Thái Lan (đứng thứ 55/141), chỉ

thua Singapore (7/141) và Malaysia

(32/141) Trong sự tiến bộ đó có đóng

góp của nguồn nhân lực và nghiên cứu, sản phẩm chất xám và công nghệ và đặc biệt là thành tựu công bố khoa học quốc

tế Trong 5 năm qua (2011-2015), công

bố khoa học Việt Nam tăng xấp xỉ 2,2 lần giai đoạn trước đó (2006-2010), cụ thể tổng công bố khoa học năm 2015

hơn 11738 bài (Bảng 1) Với thành tích

này, trong giai đoạn 2011-2015, Việt Nam vươn lên đứng thứ 59 trên thế giới

về công bố quốc tế (trước đó, 2006-2010

là đứng thứ 66, 2001-2005 là vị trí 73)

Ở Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ 4

về công bố khoa học trong năm 2015, đứng sau Singapore (32), Malaysia (38)

và Thái Lan (43) [1] Những dấu hiệu trên cho thấy Nhà nước và Chính Phủ Việt Nam có sự quan tâm đặc biệt đến hoạt động KH&CN rõ rệt, các trường ĐH/Viện ở Việt Nam có sự nhìn nhận và

Trang 2

đánh giá được tầm quan trọng trong

công bố khoa học Bằng chứng là đầu tư

vào KH&CN của Việt Nam hằng năm

gần 2% (tương đương 0,5% GDP)so với

tổng chi ngân sách quốc gia, con số này bằng đầu tư chung của các nước trên thế giới, chỉ khác là GDP của mỗi quốc gia

có giá trị khác nhau

Bảng 1: Số lượng công bố khoa học các quốc gia ASEAN từ 2011-2015

Nguồn: Web of Science

Singapore 11520 12977 13748 14681 13335

Trước bức tranh chuyển màu có vẻ

khả quan về lĩnh vực KH&CN của Việt

Nam, nhưng nhìn chungthành quả đóng

góp mang lại và thực tế vẫn là màu xám

so với các nước trong Khu vực và thế

giới "Thời đại ngày nay cạnh tranh về

khoa học công nghệ Nước nào có trình

độ khoa học công nghệ cao hơn thì có

sức cạnh tranh cao hơn và sẽ chiến

thắng trong cuộc đua về kinh tế, xã hội,

an ninh, quốc phòng" (trích câu nói của

TT Nguyễn Tấn Dũng) Như vậy, trình

độ KH&CN của Việt Nam trong khu

vực không thua kém nhiều so với các

nước, tri thức người Việt Nam đạt được

nhiều thành tựu và vang danh khắp nơi,

thế nhưng kinh tế - xã hội Việt Nam

vẫn tăng trưởng chậm, ứng dụng tiến bộ

KHCN vẫn còn lạc hậu Nhìn sâu vào

bức tranh đó, trong lĩnh vực công bố

khoa học, hơn 40% số lượng công bố

của Việt Nam lại thuộc về các lĩnh vực

cơ bản Toán, Lí, Hóa Trong khi đó,

những công bố khác phần lớn tác giả

người Việt Nam đứngchungcác tác giả

người nước ngoài của các Viện, trường

Đại học trên thế giới Các công bố trong

lĩnh vực khoa học ứng dụng và kỹ thuật, vốn dĩ liên quan đến nhiều thành tựu phát triển của đất nước, không những chiếm tỷ trọng rất ít mà hệ số ảnh hưởng (IF, impact factor) và tỷ lệ tham chiếu (citations) chỉ đạt mức trung bình.Hiện nay Chính phủ Việt Nam chỉ

có mỗi Quỹ NAFOSTED là hoạt động hiệu quả, nhưng chỉ tập trung các ngành khoa học cơ bản, thiếu các nguồn quĩ tài trợ cho nghiên cứu ứng dụng và khoa học kỹ thuật

Năm 2015, Việt Nam có 122 trường Đại học trong số hơn 412 cơ sở Đại học trong toàn quốc được hệ thống xếp hạng Webometrics xếp hạng Trong

số đó, ĐH QGHN đứng thứ 1 Việt Nam vàđứng 1133 thế giới, tiếp theo là ĐH Bách khoa HN đứng thứ 2 và 2181 thế giới Với đánh giá và xếp hạng như vậy, Việt Nam chưa có trường nào lọt vào TOP 1000 trong số hơn 25000 trường

ĐH tham gia xếp hạng trên thế giới Tại Châu Á, Việt Nam chí có 1 trường (ĐHQGHN) lọt vào TOP 200 trong số

6000 trường hiện có[6], [7], [8] Xếp hạng các trường ĐH tại Việt Nam vẫn

Trang 3

còn là vấn đề xa lạ, các trường Top của

Việt Nam trên sân chơi và xếp hạng của

thế giới còn khoảng cách rất lớn.Thế

nhưng, trong số các trường ĐH Việt

Nam, có sự phân hóa rõ rệt Ngoài các

trường ĐH truyền thống (ĐHQGHN,

ĐHQGTP HCM, ĐHBKHN, Đại học

Y…) và một số trường ĐH mới thành

lập (ĐH Hoa Sen, Duy Tân, Quảng

Bình, Tôn Đức Thắng…) có cách tiếp

cận quản trị đại học tốt nên có thứ hạng

được đánh giá trong hệ thống

Webometrics, số còn lại chiếm rất lớn

vẫn còn đang mơ hồ và bỡ ngỡ trước sân

chơi hội nhập Giáo dục, KHCN trong

khu vực và trên thế giới, trong đó có

Trường ĐH Xây dựng Miền Trung

Trong khuôn khổ của bài viết này,

tác giả muốn cung cấp một bức tranh

toàn cảnh về hội nhập Giáo dục và

KHCN, mà chủ yếu là công bố khoa học

quốc tế, qua đó cho thấy vị trí của

Trường ĐH Xây dựng Miền Trung so

với các trường ĐH cả nước nói riêng và

trên thế giới nói chung Từ đó tìm hiểu

và tiếp cận mô hình các hệ thống đánh

giá và xếp hạng ĐH có uy tín trên thế

giới để có những giải pháp và định

hướng trong chiến lược phát triển chung

của Nhà trường trong hội nhập GD và

KHCN trong thời đại của cộng đồng

ASEAN và hội nhấp thế giới

2 Mô hình đánh giá Trường Đại học

và tiêu chí xếp hạng của Webometrics

Các trường ĐH ở Việt Nam bước

vào sân chơi khu vực Trong 5 năm

gần đây, thứ hạng các trường ĐH Việt

Nam có cải thiện trên hệ thống xếp

hạng ĐH quốc tế, nhưng con số còn rất

ít và thua xa các nước trong khu vực.Bộ

GD&ĐT Việt Nam đang nổ lực, cải

thiện để hướng các trường ĐH trong nước hội nhập Giáo dục và KH-CN

Mới đây, năm 2015 Bộ KH&CN có đánh giá và công bố 20 tổ chức có năng lực công bố KH tốt nhất ở Việt Nam

Theo sự đánh giá này, số cơ sở nghiên cứu và đào tạo có trên 100 bài báo xuất bản trong năm trước đó chiếm tỉ lệ rất ít.Trong những năm tới, một số trường

ĐH được Chính phủ quyết định thí điểm tự chủ dần, tiế tới tất cả các trường ĐH công lập trên cả nước sẽ phải tự chủ hoàn toàn vào năm 2018.Đây là một xu thế tất yếu, đã quy định và các trường ĐH sẽ phải thực hiện Do vậy, các trường đang và sẽ chuẩn bị hành trang để bước vào cuộc đua, cạnh tranh để nâng cao chất lượng đào tạo, dịch vụ và công bố khoa học

Hơn nữa, kể từ ngày 25/10/2015, Nghị định 73 về Quy định tiêu chuẩn phân tầng, xếp hạng ĐH đã có hiệu lực Theo

đó, hệ thống ĐH được chia thành 3 tầng: định hướng nghiên cứu, ứng dụng, thực hành Các cơ sở giáo dục ĐH trong mỗi tầng được sắp xếp vào 3 hạng của khung xếp hạng theo thứ tự từ cao xuống thấp: Hạng 1, hạng 2, hạng 3

Hạng 1 bao gồm 30% các cơ sở giáo dục ĐH có điểm cao nhất; hạng 3 bao gồm 30% các cơ sở giáo dục ĐH có điểm thấp nhất và hạng 2 bao gồm 40%

các cơ sở giáo dục ĐH không thuộc hạng 1 và 3 Phân tầng cơ sở giáo dục

ĐH được thực hiện theo chu kỳ 10 năm

và xếp hạng cơ sở giáo dục được thực hiện theo chu kỳ 2 năm Đây là bước đi khởi đầu cho các trường ĐH Việt Nam xác định được thứ hạng và phân tầng của mình trên con đường hội nhập GD

và KH-CN trong khu vực và thế giới

Trang 4

Môhình và tiêu chí đánh giá của

Webometrics Hiện nay, có 4 hệ thống

xếp hạng thế giới được các trường ĐH

Việt Nam biết và quan tâm nhiều: (1)

bảng xếp hạng đại học thế giới QS

(Quacquarelli Symonds), Anh quốc; (2)

xếp hạng năng lực công bố quốc tế của

Scimago Lab; (3) xếp hạng cả về mức

độ số hóa các thư tịch khoa học trên

website năng lực công bố quốc tế của

Webometrics Lab; (4) và xếp hạng về

chất lượng học thuật URAP (University

Ranking by Acdemic Performance) của

Thổ Nhĩ Kỳ Trong đó, xếp hạng theo độ

đo Webometrics đã thể hiện được nhiều

ưu điểm, vượt trội hơn các phương pháp

khác và ngày càng được thừa nhận rộng

rãi[2], [3], [4]

Về cơ bản, cơ sở của xếp hạng

Webometrics dựa trên 4 chỉ số đo: S – V

– R – Sc Trong đó, S (Size, kích cỡ của

website) là chỉ số thể hiện số lượng trang

Web xuất hiện dưới cùng 1 tên miền trên

4 công cụ tìm kiếm: Google, Yahoo,

Live search và Exalead; V (Visibility,

khả năng nhận diện) là chỉ số thể hiện

các đường dẫn từ bên ngoài liên kết đến

các kết nối bên trong trên một tên miền

được xác định dựa trên 3 công cụ tìm

kiếm: Yahoo, Live search và Exalead; R

(Rich file, độ phong phú các tập tin) là

chỉ số thể hiện số lượng các loại file

dạng doc, pdf, ppt, ps…được xác định

trên công cụ tìm kiếm Google; Sc

(Scholar, công bố nghiên cứu trên mạng)

là chỉ số các bài báo khoa học, cùng các

trích dẫn trên một tên miền trường qua

công cụ Google Scholar Tỷ trong đánh

giá của các chỉ số đo cũng khác nhau,

nếu như trước đây phân bổ đánh giá của

Webometrics là: S (25%), V (50%), R

(12,5%) và Sc (12,5%) thì kể từ 31/7/2015 tỷ trong đánh giá đã thay đổi dựa trên yêu cầu thực tế, với S (10%), V (50%), R (10%) và Sc (30%) Theo thay đổi này, mức độ đánh giá độ số hóa của Website Nhà trường và công bố khoa học được đánh giá rất cao Độ số hóa là

1 tiêu chí quan trong chiếm 50% điểm đánh giá của hệ thống Webometrics, xu hướng đánh giá công bố khoa học là yếu

tố thứ 2 trong hệ thống này, điểm số thay đổi sau khi đổi mới để thích nghi với xu hướng phát triển hiện tại từ 12,5% lến đến 30%

3 Thách thức và giải pháp áp dụng tại Trường ĐHXD Miền Trung

3.1 Thực trạng hiện tại

Kể từ khi thành lập Trường Đại học Xây dựng Miền Trung theo Quyết định số 1276/QĐ-TTg ngày 28 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Xây dựng số 3, tiền thân là Trường Trung học Xây dựng số 6, được thành lập vào ngày 14/02/1976, Nhà trường đã xác định trách nhiệm to lớn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên và cán bộ quản lý Nhà trường hướng mục tiêu xây dựng hình ảnh Nhà trường và nâng số lượng công bố khoa học, bước đầu hội nhập giáo dục và khoa học công nghệ trong khu vực và thế giới Trong trách nhiệm đó, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ là một nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình phát triển toàn diện của Nhà trường Thế nhưng, trong 5 năm từ 2011-2015, thành tựu nghiên cứu khoa học vẫn dừng lại ở các nghiên cứu khoa học cấp trường dưới dạng biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy, tài liệu tham

Trang 5

khảo…(Hình 1), các đề tài, dự án khoa

học cấp Bộ, cấp tỉnh vẫn còn ít và hiệu

quả ứng dụng vào giảng dạy, chuyển giao

công nghệ chưa cao (Hình 2), các công bố

khoa học trong nước và quốc tế đứng tên

Trường ĐH Xây dựng Miền Trung còn ít,

chủ yếu là giảng viên của Trường đạt

được trong quá trình đào tạo sau đại học

và liên kết cộng tác với các nhà khoa học

Trường/Viện khác trong nước và quốc tế

(Hình 3)

Hình 1: Số lượng Giáo trình, tài liệu

giảng day và bài thông báo KH&CN

giai đoạn 2011-2015 Nguồn: Phòng

KH&HTQT (ĐHXD Miền Trung)

Hình 2: Đề tài NCKH cấp trường, cấp

bộ giai đoạn 2011-2015

Nguồn: Phòng KH&HTQT (ĐHXD Miền Trung)

Hình 3: Xuất bản và công bố quốc tế của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung, tính

đến thời điểm hiện tại Nguồn: Phòng KH&HTQT (ĐHXD Miền Trung)

3.2 Thách thức& giải pháp

Để thực hiện được nhiệm vụ trọng

tâm trong chiến lược phát triểncủa Nhà

trường, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển hoạt động khoa học và công nghệ Nhà trường, nâng cao

Trang 6

số lượng công bố khoa học và cải thiện

hình ảnh trong nước và quốc tế, cụ thể

như sau:

Một là, Đội ngũ cán bộ giảng dạy,

nghiên cứu viên không ngừng phát triển

chuyên môn, nâng cao nghiệp vụ, mở

rộng hợp tác trong lĩnh vực chuyên môn

và phải xác định nhiệm vụ trọng tâm là

hoạt động nghiên cứu khoa học, gắn liền

và không tách rời giữa nghiên cứu khoa

học và giảng dạy, lấy kết quả NCKH

phục vụ cho công tác đào tạo và phục vụ

thực tiễn Điều này, từ trước đến nay,

Nhà trường chưa thực hiện được;

Hai là, Hội đồng khoa học Nhà

trường phải xây dựng chiến lược, định

hướng nghiên cứu khoa học cho từng

năm và phương hướng hoạt động cho

từng giai đoạn Các đề tài NCKH của

cán bộ, giảng viên phải đảm bảo về số

lượng và chất lượng, tách rời nhiệm vụ

KH&CN biên soạn tài liệu giảng dạy,

giáo trình… với nhiệm vụ NCKH thực

nghiệm, ứng dụng sản xuất Sự phát

triển NCKH thực nghiệm và sản xuất sẽ

đảm bảo kết quả nghiên cứu, phục vụ

viết báo khoa học xuất bản các tạp chí

chuyên ngành trong nước và quốc tế,

ứng dụng chuyển giao công nghệ ra

thực tế;

Ba là, Để nâng cao trình độ chuyên

môn và hướng đến các đề tài NCKH

thực tế có chất lượng như hai giải pháp

trên đây, cán bộ, giảng viên phải chủ

động mở rộng phát triển nhóm nghiên

cứu hoặc trong trường hoặc liên kết

ngoài trường nhằm nâng cao năng lực

NCKH, từ đó có cơ sở tiếp cận, thực

hiện các dự án đề tài cấp tỉnh, cấp bộ và

Nhà nước Bởi hiện tại, các cá nhân

nghiên cứu tại trường mang tính độc lập,

chưa kết nối các nhà khoa học với nhau,

do vậy, những dự án khoa học với nguồn kinh phí lớn từ Tỉnh và Trung ương chưa thể tiếp cận được Đa số các dự án khoa học với nguồn kính phí lớn mới đảm bảo cho quá trình công bố khoa học quốc tế

Bên cạnh đó, dựa vào hoạt động của dự

án, cán bộ, giảng viên có cơ hội tham gia các diễn đàn khoa học, hội thảo quốc tế

về lĩnh vực chuyên môn phụ trách, tiếp cận các nhà khoa học thế giới và nhận thức được xu hướng phát triển lĩnh vực nghiên cứu, hạn chế các nghiên cứu ngõ cụt, khó ứng dụng và khó xuất bản;

Bốn là, Đảng ủy, Ban Giám hiệu

Nhà trường quan tâm nhiều vào các hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên và sản phẩm công bố khoa học

Nhà trường tạo cầu nối cho Giảng viên tiếp cận với các Giáo sư, các nhà khoa học quốc tế từ đó mở rộng hoạt động nghiên cứu khoa học, dự án liên kết quốc tế Nhà trường có thể lập Quỹ ủng

hộ cho các dự án liên kết quốc tế trong nghiên cứu khoa học và công bố khoa học Nhà trường nâng cao số hóa các hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ… đưa lên website Nhà trường, đây

là giải pháp giúp mang hình ảnh Nhà trường ra thế giới, giúp các hệ thống đánh giá, phân hạng các trường Đại học của các tổ chức uy tín có cơ sở đánh giá

và đưa vào tiêu chí xếp loại;

Năm là, Giảng viên phải tự nâng

cao ngoại ngữ.Ngoại ngữ là một công cụ quan trọng trong thời kỳ thế giới đang xích lại gần nhau và hội nhập toàn cầu.Ngoại ngữ giúp giảng viên tiếp xúc được nền khoa học mới đang cập nhật trên phương tiện đại chúng hàng giờ, hàng ngày.Ngoại ngữ giúp kết quả

Trang 7

nghiên cứu của giảng viên và kết quả

nghiên cứu của nhà khoa học thế giới

được liên thông, kết nối nhau Đơn giản

hơn, ngoại ngữ giúp mang hình ảnh Nhà

trường ra thế giới qua công bố khoa học

và các hội thảo quốc tế Do vậy, hội

nhập giáo dục, khoa học và công nghệ

trong khu vực và thế giới không thể

không phủ nhận vài trò của ngoại ngữ

4 Kết luận

Trên cơ sở cung cấp những thông

tin thành tựu khoa học và công nghệ,

giáo dục của các trường Đại học của

Việt Nam so với khu vực và thế giới,

một hệ thống đánh giá trường Đại học

theo tiêu chí của Webometrics đã được

tìm nghiên cứu, tìm hiểu và giới thiệu

Bài báo cũng đưa ra nhìn nhận thẳng thắn vị trí của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung, những tồn tại, hạn chế và thách thức hiện nay Từ đó, tác giả đã nêu ra các giải pháp mà tập thể Nhà trường và cán bộ, giảng viên cần phải thực hiện để cùng nhau xây dựng năng lực nghiên cứu cá nhân, đưa sự phát triển của Nhà trường theo đúng hướng với các trường Đại học trong nước và quốc tế Tuy các giải pháp đưa ra còn mang tính tổng quát, thực hiện và triển khai sẽ còn phụ thuộc nhiều vào chất lượng cán bộ, giảng viên, cơ sơ vật chất, điều kiện địa lý…hiện tại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Cơ sở dữ liệu Web of Knowledge của NXB Thomson

Reuters.www.webofknowledge.com

[2] Đinh Ái Linh, Trần Trí Trinh 2015 Bảng xếp hạng QS châu Á và khả năng hiện

diện của các trường Đại học Việt Nam Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu

Giáo dục, Tập 31, Số 3 (2015), 50-57

[3] Nguyễn Văn Tuấn Chất lượng nghiên cứu khoa học ở Việt Nam qua chỉ số trích dẫn

[4] Kỷ yếu hội thảo khoa học: Đánh giá và xếp hạng các trường Đại học và Cao đẳng

Việt Nam Ban liên lạc cá trường Đại học và Cao đẳng Việt Nam 2010

[5] Đỗ Đình Thái, Hồ Văn Bình và Lê Chi Lan 2013 Một số công tác chuẩn bị cho

một trường Đại học tham gia xếp hạng trên Webometrics Tạp chí Khoa học- ĐHSP

TPHCM, số 45, 194-200

[6] Acedemic Ranking of World Universities, http://www.arwu.org

[7] Times Higher Education Supplement, http://www.timeshighereducation.co.uk

[8] Ranking Web of Universities, http://www.webometrics.info

Ngày đăng: 17/06/2020, 01:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w