Để định hướng và xác định con đường đúng trong quá trình phát triển của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung với hội nhập giáo dục, khoa học và công nghệ trong khu vực ASEAN và thế giới, bài báo này nhằm giới thiệu vị trí của các trường Đại học Việt Nam trên thế giới thông qua những tiêu chí đánh giá xếp hạng của các tổ chức uy tín, đặc biệt là mô hình đánh giá của Webometrics.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG:
CHUẨN BỊ HÀNH TRANG BƯỚC VÀO HỘI NHẬP GIÁO DỤC,
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG KHU VỰC VÀ THẾ GIỚI
TS Võ Thanh Huy
Phó Trưởng phòng KH&HTQT, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Để định hướng và xác định con đường đúng trong quá trình phát
triển của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung với hội nhập giáo dục, khoa
học và công nghệ trong khu vực ASEAN và thế giới, bài báo này nhằm giới
thiệu vị trí của các trường Đại học Việt Nam trên thế giới thông qua những
tiêu chí đánh giá xếp hạng của các tổ chức uy tín, đặc biệt là mô hình đánh
giá của Webometrics Từ đó tác giả muốn tập trung nhìn nhận thực trạng,
tồn tại về hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ của trường Đại học
Xây dựng Miền Trung, cuối cùng là những giải pháp, đề xuất mà tác giả
muốn gửi đến tập thể cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên và Ban giám hiệu
Nhà trường tham khảo để có một cách lựa chọn đúng đắn trong vai trò của
mình đối với Nhà trường theo xu thế hội nhập hiện tại và tương lai
Từ khoá: Hội nhập quốc tế, xếp hạng Đại học, nghiên cứu khoa học,
Webometrics
1 Vị trí KH&CN Việt Nam trong khu
vực và trên thế giới
Trong năm 2015 đánh dấu sự tiến
bộ của thành tựu Khoa học và Công
nghệ (KH&CN) Việt Nam trong khu
vực và trên thế giới Theo Tổ chức Sở
hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) kết hợp với
Đại học (ĐH) Cornell (Hoa Kỳ) và Học
viện Kinh doanh INSEAD (Pháp) vừa
đưa ra chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu
GII (Global Innovation Index) năm
2015, Việt Nam tăng 19 bậc, xếp thứ 52
trên 141 quốc gia có nền kinh tế được
xếp hạng (trước đó, năm 2014 là 71/141
và năm 2013 là 76/141) Tại khu vực
Đông Nam Á, Việt Nam vươn lên vị trí
thứ 3 về chỉ số đổi mới sáng tạo, vượt
qua Thái Lan (đứng thứ 55/141), chỉ
thua Singapore (7/141) và Malaysia
(32/141) Trong sự tiến bộ đó có đóng
góp của nguồn nhân lực và nghiên cứu, sản phẩm chất xám và công nghệ và đặc biệt là thành tựu công bố khoa học quốc
tế Trong 5 năm qua (2011-2015), công
bố khoa học Việt Nam tăng xấp xỉ 2,2 lần giai đoạn trước đó (2006-2010), cụ thể tổng công bố khoa học năm 2015
hơn 11738 bài (Bảng 1) Với thành tích
này, trong giai đoạn 2011-2015, Việt Nam vươn lên đứng thứ 59 trên thế giới
về công bố quốc tế (trước đó, 2006-2010
là đứng thứ 66, 2001-2005 là vị trí 73)
Ở Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ 4
về công bố khoa học trong năm 2015, đứng sau Singapore (32), Malaysia (38)
và Thái Lan (43) [1] Những dấu hiệu trên cho thấy Nhà nước và Chính Phủ Việt Nam có sự quan tâm đặc biệt đến hoạt động KH&CN rõ rệt, các trường ĐH/Viện ở Việt Nam có sự nhìn nhận và
Trang 2đánh giá được tầm quan trọng trong
công bố khoa học Bằng chứng là đầu tư
vào KH&CN của Việt Nam hằng năm
gần 2% (tương đương 0,5% GDP)so với
tổng chi ngân sách quốc gia, con số này bằng đầu tư chung của các nước trên thế giới, chỉ khác là GDP của mỗi quốc gia
có giá trị khác nhau
Bảng 1: Số lượng công bố khoa học các quốc gia ASEAN từ 2011-2015
Nguồn: Web of Science
Singapore 11520 12977 13748 14681 13335
Trước bức tranh chuyển màu có vẻ
khả quan về lĩnh vực KH&CN của Việt
Nam, nhưng nhìn chungthành quả đóng
góp mang lại và thực tế vẫn là màu xám
so với các nước trong Khu vực và thế
giới "Thời đại ngày nay cạnh tranh về
khoa học công nghệ Nước nào có trình
độ khoa học công nghệ cao hơn thì có
sức cạnh tranh cao hơn và sẽ chiến
thắng trong cuộc đua về kinh tế, xã hội,
an ninh, quốc phòng" (trích câu nói của
TT Nguyễn Tấn Dũng) Như vậy, trình
độ KH&CN của Việt Nam trong khu
vực không thua kém nhiều so với các
nước, tri thức người Việt Nam đạt được
nhiều thành tựu và vang danh khắp nơi,
thế nhưng kinh tế - xã hội Việt Nam
vẫn tăng trưởng chậm, ứng dụng tiến bộ
KHCN vẫn còn lạc hậu Nhìn sâu vào
bức tranh đó, trong lĩnh vực công bố
khoa học, hơn 40% số lượng công bố
của Việt Nam lại thuộc về các lĩnh vực
cơ bản Toán, Lí, Hóa Trong khi đó,
những công bố khác phần lớn tác giả
người Việt Nam đứngchungcác tác giả
người nước ngoài của các Viện, trường
Đại học trên thế giới Các công bố trong
lĩnh vực khoa học ứng dụng và kỹ thuật, vốn dĩ liên quan đến nhiều thành tựu phát triển của đất nước, không những chiếm tỷ trọng rất ít mà hệ số ảnh hưởng (IF, impact factor) và tỷ lệ tham chiếu (citations) chỉ đạt mức trung bình.Hiện nay Chính phủ Việt Nam chỉ
có mỗi Quỹ NAFOSTED là hoạt động hiệu quả, nhưng chỉ tập trung các ngành khoa học cơ bản, thiếu các nguồn quĩ tài trợ cho nghiên cứu ứng dụng và khoa học kỹ thuật
Năm 2015, Việt Nam có 122 trường Đại học trong số hơn 412 cơ sở Đại học trong toàn quốc được hệ thống xếp hạng Webometrics xếp hạng Trong
số đó, ĐH QGHN đứng thứ 1 Việt Nam vàđứng 1133 thế giới, tiếp theo là ĐH Bách khoa HN đứng thứ 2 và 2181 thế giới Với đánh giá và xếp hạng như vậy, Việt Nam chưa có trường nào lọt vào TOP 1000 trong số hơn 25000 trường
ĐH tham gia xếp hạng trên thế giới Tại Châu Á, Việt Nam chí có 1 trường (ĐHQGHN) lọt vào TOP 200 trong số
6000 trường hiện có[6], [7], [8] Xếp hạng các trường ĐH tại Việt Nam vẫn
Trang 3còn là vấn đề xa lạ, các trường Top của
Việt Nam trên sân chơi và xếp hạng của
thế giới còn khoảng cách rất lớn.Thế
nhưng, trong số các trường ĐH Việt
Nam, có sự phân hóa rõ rệt Ngoài các
trường ĐH truyền thống (ĐHQGHN,
ĐHQGTP HCM, ĐHBKHN, Đại học
Y…) và một số trường ĐH mới thành
lập (ĐH Hoa Sen, Duy Tân, Quảng
Bình, Tôn Đức Thắng…) có cách tiếp
cận quản trị đại học tốt nên có thứ hạng
được đánh giá trong hệ thống
Webometrics, số còn lại chiếm rất lớn
vẫn còn đang mơ hồ và bỡ ngỡ trước sân
chơi hội nhập Giáo dục, KHCN trong
khu vực và trên thế giới, trong đó có
Trường ĐH Xây dựng Miền Trung
Trong khuôn khổ của bài viết này,
tác giả muốn cung cấp một bức tranh
toàn cảnh về hội nhập Giáo dục và
KHCN, mà chủ yếu là công bố khoa học
quốc tế, qua đó cho thấy vị trí của
Trường ĐH Xây dựng Miền Trung so
với các trường ĐH cả nước nói riêng và
trên thế giới nói chung Từ đó tìm hiểu
và tiếp cận mô hình các hệ thống đánh
giá và xếp hạng ĐH có uy tín trên thế
giới để có những giải pháp và định
hướng trong chiến lược phát triển chung
của Nhà trường trong hội nhập GD và
KHCN trong thời đại của cộng đồng
ASEAN và hội nhấp thế giới
2 Mô hình đánh giá Trường Đại học
và tiêu chí xếp hạng của Webometrics
Các trường ĐH ở Việt Nam bước
vào sân chơi khu vực Trong 5 năm
gần đây, thứ hạng các trường ĐH Việt
Nam có cải thiện trên hệ thống xếp
hạng ĐH quốc tế, nhưng con số còn rất
ít và thua xa các nước trong khu vực.Bộ
GD&ĐT Việt Nam đang nổ lực, cải
thiện để hướng các trường ĐH trong nước hội nhập Giáo dục và KH-CN
Mới đây, năm 2015 Bộ KH&CN có đánh giá và công bố 20 tổ chức có năng lực công bố KH tốt nhất ở Việt Nam
Theo sự đánh giá này, số cơ sở nghiên cứu và đào tạo có trên 100 bài báo xuất bản trong năm trước đó chiếm tỉ lệ rất ít.Trong những năm tới, một số trường
ĐH được Chính phủ quyết định thí điểm tự chủ dần, tiế tới tất cả các trường ĐH công lập trên cả nước sẽ phải tự chủ hoàn toàn vào năm 2018.Đây là một xu thế tất yếu, đã quy định và các trường ĐH sẽ phải thực hiện Do vậy, các trường đang và sẽ chuẩn bị hành trang để bước vào cuộc đua, cạnh tranh để nâng cao chất lượng đào tạo, dịch vụ và công bố khoa học
Hơn nữa, kể từ ngày 25/10/2015, Nghị định 73 về Quy định tiêu chuẩn phân tầng, xếp hạng ĐH đã có hiệu lực Theo
đó, hệ thống ĐH được chia thành 3 tầng: định hướng nghiên cứu, ứng dụng, thực hành Các cơ sở giáo dục ĐH trong mỗi tầng được sắp xếp vào 3 hạng của khung xếp hạng theo thứ tự từ cao xuống thấp: Hạng 1, hạng 2, hạng 3
Hạng 1 bao gồm 30% các cơ sở giáo dục ĐH có điểm cao nhất; hạng 3 bao gồm 30% các cơ sở giáo dục ĐH có điểm thấp nhất và hạng 2 bao gồm 40%
các cơ sở giáo dục ĐH không thuộc hạng 1 và 3 Phân tầng cơ sở giáo dục
ĐH được thực hiện theo chu kỳ 10 năm
và xếp hạng cơ sở giáo dục được thực hiện theo chu kỳ 2 năm Đây là bước đi khởi đầu cho các trường ĐH Việt Nam xác định được thứ hạng và phân tầng của mình trên con đường hội nhập GD
và KH-CN trong khu vực và thế giới
Trang 4Môhình và tiêu chí đánh giá của
Webometrics Hiện nay, có 4 hệ thống
xếp hạng thế giới được các trường ĐH
Việt Nam biết và quan tâm nhiều: (1)
bảng xếp hạng đại học thế giới QS
(Quacquarelli Symonds), Anh quốc; (2)
xếp hạng năng lực công bố quốc tế của
Scimago Lab; (3) xếp hạng cả về mức
độ số hóa các thư tịch khoa học trên
website năng lực công bố quốc tế của
Webometrics Lab; (4) và xếp hạng về
chất lượng học thuật URAP (University
Ranking by Acdemic Performance) của
Thổ Nhĩ Kỳ Trong đó, xếp hạng theo độ
đo Webometrics đã thể hiện được nhiều
ưu điểm, vượt trội hơn các phương pháp
khác và ngày càng được thừa nhận rộng
rãi[2], [3], [4]
Về cơ bản, cơ sở của xếp hạng
Webometrics dựa trên 4 chỉ số đo: S – V
– R – Sc Trong đó, S (Size, kích cỡ của
website) là chỉ số thể hiện số lượng trang
Web xuất hiện dưới cùng 1 tên miền trên
4 công cụ tìm kiếm: Google, Yahoo,
Live search và Exalead; V (Visibility,
khả năng nhận diện) là chỉ số thể hiện
các đường dẫn từ bên ngoài liên kết đến
các kết nối bên trong trên một tên miền
được xác định dựa trên 3 công cụ tìm
kiếm: Yahoo, Live search và Exalead; R
(Rich file, độ phong phú các tập tin) là
chỉ số thể hiện số lượng các loại file
dạng doc, pdf, ppt, ps…được xác định
trên công cụ tìm kiếm Google; Sc
(Scholar, công bố nghiên cứu trên mạng)
là chỉ số các bài báo khoa học, cùng các
trích dẫn trên một tên miền trường qua
công cụ Google Scholar Tỷ trong đánh
giá của các chỉ số đo cũng khác nhau,
nếu như trước đây phân bổ đánh giá của
Webometrics là: S (25%), V (50%), R
(12,5%) và Sc (12,5%) thì kể từ 31/7/2015 tỷ trong đánh giá đã thay đổi dựa trên yêu cầu thực tế, với S (10%), V (50%), R (10%) và Sc (30%) Theo thay đổi này, mức độ đánh giá độ số hóa của Website Nhà trường và công bố khoa học được đánh giá rất cao Độ số hóa là
1 tiêu chí quan trong chiếm 50% điểm đánh giá của hệ thống Webometrics, xu hướng đánh giá công bố khoa học là yếu
tố thứ 2 trong hệ thống này, điểm số thay đổi sau khi đổi mới để thích nghi với xu hướng phát triển hiện tại từ 12,5% lến đến 30%
3 Thách thức và giải pháp áp dụng tại Trường ĐHXD Miền Trung
3.1 Thực trạng hiện tại
Kể từ khi thành lập Trường Đại học Xây dựng Miền Trung theo Quyết định số 1276/QĐ-TTg ngày 28 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Xây dựng số 3, tiền thân là Trường Trung học Xây dựng số 6, được thành lập vào ngày 14/02/1976, Nhà trường đã xác định trách nhiệm to lớn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên và cán bộ quản lý Nhà trường hướng mục tiêu xây dựng hình ảnh Nhà trường và nâng số lượng công bố khoa học, bước đầu hội nhập giáo dục và khoa học công nghệ trong khu vực và thế giới Trong trách nhiệm đó, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ là một nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình phát triển toàn diện của Nhà trường Thế nhưng, trong 5 năm từ 2011-2015, thành tựu nghiên cứu khoa học vẫn dừng lại ở các nghiên cứu khoa học cấp trường dưới dạng biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy, tài liệu tham
Trang 5khảo…(Hình 1), các đề tài, dự án khoa
học cấp Bộ, cấp tỉnh vẫn còn ít và hiệu
quả ứng dụng vào giảng dạy, chuyển giao
công nghệ chưa cao (Hình 2), các công bố
khoa học trong nước và quốc tế đứng tên
Trường ĐH Xây dựng Miền Trung còn ít,
chủ yếu là giảng viên của Trường đạt
được trong quá trình đào tạo sau đại học
và liên kết cộng tác với các nhà khoa học
Trường/Viện khác trong nước và quốc tế
(Hình 3)
Hình 1: Số lượng Giáo trình, tài liệu
giảng day và bài thông báo KH&CN
giai đoạn 2011-2015 Nguồn: Phòng
KH&HTQT (ĐHXD Miền Trung)
Hình 2: Đề tài NCKH cấp trường, cấp
bộ giai đoạn 2011-2015
Nguồn: Phòng KH&HTQT (ĐHXD Miền Trung)
Hình 3: Xuất bản và công bố quốc tế của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung, tính
đến thời điểm hiện tại Nguồn: Phòng KH&HTQT (ĐHXD Miền Trung)
3.2 Thách thức& giải pháp
Để thực hiện được nhiệm vụ trọng
tâm trong chiến lược phát triểncủa Nhà
trường, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển hoạt động khoa học và công nghệ Nhà trường, nâng cao
Trang 6số lượng công bố khoa học và cải thiện
hình ảnh trong nước và quốc tế, cụ thể
như sau:
Một là, Đội ngũ cán bộ giảng dạy,
nghiên cứu viên không ngừng phát triển
chuyên môn, nâng cao nghiệp vụ, mở
rộng hợp tác trong lĩnh vực chuyên môn
và phải xác định nhiệm vụ trọng tâm là
hoạt động nghiên cứu khoa học, gắn liền
và không tách rời giữa nghiên cứu khoa
học và giảng dạy, lấy kết quả NCKH
phục vụ cho công tác đào tạo và phục vụ
thực tiễn Điều này, từ trước đến nay,
Nhà trường chưa thực hiện được;
Hai là, Hội đồng khoa học Nhà
trường phải xây dựng chiến lược, định
hướng nghiên cứu khoa học cho từng
năm và phương hướng hoạt động cho
từng giai đoạn Các đề tài NCKH của
cán bộ, giảng viên phải đảm bảo về số
lượng và chất lượng, tách rời nhiệm vụ
KH&CN biên soạn tài liệu giảng dạy,
giáo trình… với nhiệm vụ NCKH thực
nghiệm, ứng dụng sản xuất Sự phát
triển NCKH thực nghiệm và sản xuất sẽ
đảm bảo kết quả nghiên cứu, phục vụ
viết báo khoa học xuất bản các tạp chí
chuyên ngành trong nước và quốc tế,
ứng dụng chuyển giao công nghệ ra
thực tế;
Ba là, Để nâng cao trình độ chuyên
môn và hướng đến các đề tài NCKH
thực tế có chất lượng như hai giải pháp
trên đây, cán bộ, giảng viên phải chủ
động mở rộng phát triển nhóm nghiên
cứu hoặc trong trường hoặc liên kết
ngoài trường nhằm nâng cao năng lực
NCKH, từ đó có cơ sở tiếp cận, thực
hiện các dự án đề tài cấp tỉnh, cấp bộ và
Nhà nước Bởi hiện tại, các cá nhân
nghiên cứu tại trường mang tính độc lập,
chưa kết nối các nhà khoa học với nhau,
do vậy, những dự án khoa học với nguồn kinh phí lớn từ Tỉnh và Trung ương chưa thể tiếp cận được Đa số các dự án khoa học với nguồn kính phí lớn mới đảm bảo cho quá trình công bố khoa học quốc tế
Bên cạnh đó, dựa vào hoạt động của dự
án, cán bộ, giảng viên có cơ hội tham gia các diễn đàn khoa học, hội thảo quốc tế
về lĩnh vực chuyên môn phụ trách, tiếp cận các nhà khoa học thế giới và nhận thức được xu hướng phát triển lĩnh vực nghiên cứu, hạn chế các nghiên cứu ngõ cụt, khó ứng dụng và khó xuất bản;
Bốn là, Đảng ủy, Ban Giám hiệu
Nhà trường quan tâm nhiều vào các hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên và sản phẩm công bố khoa học
Nhà trường tạo cầu nối cho Giảng viên tiếp cận với các Giáo sư, các nhà khoa học quốc tế từ đó mở rộng hoạt động nghiên cứu khoa học, dự án liên kết quốc tế Nhà trường có thể lập Quỹ ủng
hộ cho các dự án liên kết quốc tế trong nghiên cứu khoa học và công bố khoa học Nhà trường nâng cao số hóa các hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ… đưa lên website Nhà trường, đây
là giải pháp giúp mang hình ảnh Nhà trường ra thế giới, giúp các hệ thống đánh giá, phân hạng các trường Đại học của các tổ chức uy tín có cơ sở đánh giá
và đưa vào tiêu chí xếp loại;
Năm là, Giảng viên phải tự nâng
cao ngoại ngữ.Ngoại ngữ là một công cụ quan trọng trong thời kỳ thế giới đang xích lại gần nhau và hội nhập toàn cầu.Ngoại ngữ giúp giảng viên tiếp xúc được nền khoa học mới đang cập nhật trên phương tiện đại chúng hàng giờ, hàng ngày.Ngoại ngữ giúp kết quả
Trang 7nghiên cứu của giảng viên và kết quả
nghiên cứu của nhà khoa học thế giới
được liên thông, kết nối nhau Đơn giản
hơn, ngoại ngữ giúp mang hình ảnh Nhà
trường ra thế giới qua công bố khoa học
và các hội thảo quốc tế Do vậy, hội
nhập giáo dục, khoa học và công nghệ
trong khu vực và thế giới không thể
không phủ nhận vài trò của ngoại ngữ
4 Kết luận
Trên cơ sở cung cấp những thông
tin thành tựu khoa học và công nghệ,
giáo dục của các trường Đại học của
Việt Nam so với khu vực và thế giới,
một hệ thống đánh giá trường Đại học
theo tiêu chí của Webometrics đã được
tìm nghiên cứu, tìm hiểu và giới thiệu
Bài báo cũng đưa ra nhìn nhận thẳng thắn vị trí của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung, những tồn tại, hạn chế và thách thức hiện nay Từ đó, tác giả đã nêu ra các giải pháp mà tập thể Nhà trường và cán bộ, giảng viên cần phải thực hiện để cùng nhau xây dựng năng lực nghiên cứu cá nhân, đưa sự phát triển của Nhà trường theo đúng hướng với các trường Đại học trong nước và quốc tế Tuy các giải pháp đưa ra còn mang tính tổng quát, thực hiện và triển khai sẽ còn phụ thuộc nhiều vào chất lượng cán bộ, giảng viên, cơ sơ vật chất, điều kiện địa lý…hiện tại
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Cơ sở dữ liệu Web of Knowledge của NXB Thomson
Reuters.www.webofknowledge.com
[2] Đinh Ái Linh, Trần Trí Trinh 2015 Bảng xếp hạng QS châu Á và khả năng hiện
diện của các trường Đại học Việt Nam Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu
Giáo dục, Tập 31, Số 3 (2015), 50-57
[3] Nguyễn Văn Tuấn Chất lượng nghiên cứu khoa học ở Việt Nam qua chỉ số trích dẫn
[4] Kỷ yếu hội thảo khoa học: Đánh giá và xếp hạng các trường Đại học và Cao đẳng
Việt Nam Ban liên lạc cá trường Đại học và Cao đẳng Việt Nam 2010
[5] Đỗ Đình Thái, Hồ Văn Bình và Lê Chi Lan 2013 Một số công tác chuẩn bị cho
một trường Đại học tham gia xếp hạng trên Webometrics Tạp chí Khoa học- ĐHSP
TPHCM, số 45, 194-200
[6] Acedemic Ranking of World Universities, http://www.arwu.org
[7] Times Higher Education Supplement, http://www.timeshighereducation.co.uk
[8] Ranking Web of Universities, http://www.webometrics.info