1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đại học xây dựng miền Trung thực hiện phương châm “học đi đôi với hành” nhằm nâng cao chất lượng đào tạo phát triển nguồn nhân lực hội nhập

9 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 486,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn nhân lực quý giá nhất của các tổ chức, đơn vị là yếu tố quyết định sự thành bại của họ trong tương lai. Bởi vậy, các tổ chức và đơn vị luôn tìm cách để duy trì và phát triển nguồn nhân lực của mình. Một trong các biện pháp hữu hiệu nhất nhằm thực hiện mục tiêu trên là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

Trang 1

ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG THỰC HIỆN PHƯƠNG CHÂM

“HỌC ĐI ĐÔI VỚI HÀNH” NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO

TẠO PHÁT TRIỄN NGUỒN NHÂN LỰC HỘI NHẬP

KS Lê Đức Gia

Phó Trưởng khoa Đào tạo nghề, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Ngày 31 tháng 12 năm 2015, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) sẽ chính

thức thành lập đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức cho các

nước thành viên, trong đó có Việt Nam Một trong những yếu tố quan trọng, quyết

định sự thành bại của quá trình hội nhập là chất lượng nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực quí giá nhất của các tổ chức, đơn vị là yếu tố quyết định

sự thành bại của họ trong tương lai Bởi vậy, các tổ chức và đơn vị luôn tìm

cách để duy trì và phát triển nguồn nhân lực của mình Một trong các biện

pháp hữu hiệu nhất nhằm thực hiện mục tiêu trên là đào tạo và phát triển

nguồn nhân lực

Từ khóa: Học đi đôi với hành, nâng cao chất đào tạo, nguồn nhân lực, hội nhập

1 Một số khái niệm về nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực hiện nay không

còn xa lạ với nền kinh tế nước ta Tuy

nhiên, cho đến nay quan niệm về vấn đề

này hầu như chưa thống nhất Tuỳ theo

mục tiêu cụ thể mà người ta có những

nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực

Có thể nêu lên một số quan niệm như

sau: Nguồn nhân lực là toàn bộ khả

năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân

trong tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì

Theo ý kiến này, nói đến nguồn nhân lực

là nói đến sức óc, sức bắp thịt, sức thần

kinh và nhìn nhận các khả năng này ở

trạng thái tĩnh Có ý kiến cho rằng,

nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân

những con người cụ thể tham gia vào

quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố

về thể chất và tinh thần được huy động

vào quá trình lao động Khác với quan

niệm trên, ở đây đã xem xét vấn đề ở

trạng thái động Lại có quan niệm, khi

đề cập đến vấn đề này chỉ nhấn mạnh

đến khía cạnh trình độ chuyên môn và

kỹ năng của nguồn nhân lực, ít đề cập một cách đầy đủ và rõ ràng đến những đặc trưng khác như thể lực, yếu tố tâm lý – tinh thần

Theo giáo sư Phạm Minh Hạc, nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy nhiên, chúng ta cần phải hiểu: Nguồn nhân lực

là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định Đào tạo nguồn nhân lực là một loại hoạt động có

tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người Là quá trình học tập để chuẩn

bị con người cho tương lai, để họ có thể

Trang 2

chuyển tới công việc mới trong thời gian

thích hợp

Nguồn nhân lực là quá trình học

tập nhằm mở ra cho cá nhân một công

việc mới dựa trên những định hướng

tương lai của tổ chức Theo quan niệm

này, khi nói đến đào tạo nguồn nhân

lực là nói đến việc trang bị cho người

lao động: kiến thức phổ thông, kiến

thức chuyên nghiệp, kiến thức quản

lý Từ đó cho thấy, Đào tạo: Là hoạt

động làm cho con người trở thành

người có năng lực theo những tiêu

chuẩn nhất định Là quá trình học tập

để làm cho người lao động có thể thực

hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả

hơn trong công tác của họ

Đào tạo nguồn nhân lực là cần thiết

cho sự thành công của tổ chức và sự

phát triển chức năng của con người

Việc đào tạo nguồn nhân lực không chỉ

được thực hiện bên trong một tổ chức,

mà còn bao gồm một loạt những hoạt

động khác được thực hiện từ bên ngoài,

như: học việc, học nghề và hành nghề

Kết quả của quá trình đào tạo nguồn

nhân lực sẽ nâng cao chất lượng, phát

triển nguồn nhân lực

Phát triển nguồn nhân lực Có

người cho rằng: Phát triển nguồn nhân

lực là các hoạt động nhằm chuẩn bị cho

nhân viên theo kịp với cơ cấu tổ chức

khi nó thay đổi và phát triển Phát triển

nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến

thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ

cho người lao động, để họ có thể đảm

nhiệm được một công việc nhất định

Phát triển nguồn nhân lực là truyền đạt

các kiến thức, thay đổi quan điểm, nâng

cao kỹ năng thực hành cho người lao

động trong tương lai

Phát triển nguồn nhân lực là quá trình biến đổi, hoặc làm cho biến đổi từ

ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao Là quá trình học tập, nhằm mở

ra cho cá nhân những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai cho tổ chức Trong khi đó, quan niệm của Tổ chức giáo dục - khoa học và văn hoá của LHQ (UNESCO): Phát triển nguồn nhân lực được đặc trưng bởi toàn

bộ sự lành nghề của dân cư, trong mối quan hệ phát triển của đất nước Tổ chức phát triển công nghiệp LHQ (UNIDO):

Phát triển con người một cách hệ thống vừa là mục tiêu vừa là đối tượng của sự phát triển của một quốc gia Nó bao gồm mọi khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội Như nâng cao khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo, bồi dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua giáo dục, đào tạo nghiên cứu và hoạt động thực tiễn Tổ chức Lương thực và nông nghiệp LHQ (FAO): Sự phát triển nguồn nhân lực như một quá trình mở rộng các khả năng tham gia hiệu quả vào phát triển nông thôn, bao gồm cả tăng năng lực sản xuất Quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Phát triển nguồn nhân lực, bao hàm một phạm vi rộng lớn hơn chứ không chỉ có sự chiếm lĩnh ngành nghề, hoặc ngay cả việc đào tạo nói chung Quan niệm này dựa trên

cơ sở nhận thức rằng, con người có nhu cầu sử dụng năng lực của mình để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như những thoả mãn về nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân Sự lành nghề được hoàn thiện nhờ bổ sung nâng cao kiến thức trong quá trình sống, làm việc, nhằm đáp ứng kỳ vọng của con người Từ những vấn đề trên, phát triển nguồn nhân lực là

Trang 3

quá trình gia tăng, biến đổi đáng kể về

chất lượng của nguồn nhân lực và sự

biến đổi này được biểu hiện ở việc nâng

cao năng lực và động cơ của người lao

động Như vậy, thực chất của việc phát

triển nguồn nhân lực là tìm cách nâng

cao chất lượng của nguồn nhân lực đó

Nâng cao chất lượng nguồn nhân

lực là quá trình tạo lập và phát triển năng

lực toàn diện của con người vì sự tiến bộ

kinh tế, xã hội và sự hoàn thiện bản thân

mỗi con người; nó là kết quả tổng hợp

của cả 03 bộ phận cấu thành gồm: Giáo

dục, Đào tạo và Phát triển Ở đây, giáo

dục được hiểu là các hoạt động học tập,

để chuẩn bị cho con người bước vào một

nghề nghiệp, hoặc chuyển sang nghề

mới, thích hợp hơn trong tương lai Cần

chú ý rằng, năng lực của người lao động

ở đây được thể hiện ở kiến thức, kỹ năng

và hành vi thái độ của người lao động

đó, và ứng với mỗi mục tiêu công việc,

cần một loại năng lực nhất định Năng

lực người lao động, Năng lực là sự tổng

hòa của các yếu tố kiến thức, kỹ năng,

hành vi và thái độ góp phần tạo ra tính

hiệu quả trong công việc của mỗi người

Kiến thức là những điều hiểu biết có

được hoặc do từng trải, hoặc nhờ học

tập Nó gồm 3 yếu tố: kiến thức tổng

hợp (những hiểu biết chung về thế giới),

kiến thức chuyên ngành (về một vài lĩnh

vực đặc trưng như kế toán, tài chính, kỹ

thuật ) và kiến thức đặc thù (những

kiến thức đặc trưng mà người lao động

trực tiếp tham gia hoặc được đào tạo)

Kỹ năng của người lao động là sự

thành thạo, tinh thông về các thao tác,

động tác, nghiệp vụ trong quá trình hoàn

thành một công việc cụ thể nào đó

Những kỹ năng sẽ giúp cho người công

nhân đó hoàn thành tốt công việc của mình, quy định tính hiệu quả của công việc Thái độ của người lao động cho thấy cách nhìn nhận của người đó về vai trò, trách nhiệm, mức độ nhiệt tình đối với các công việc, điều này sẽ được thể hiện qua các hành vi của họ Một người

có kỹ năng tốt nhưng thái độ không đúng thì hiệu quả đóng góp sẽ không cao Như vậy, nói đến năng lực của người lao động là nói đến cả 3 yếu tố:

Thái độ, kỹ năng và kiến thức Ở đây, thái độ là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công của người lao động với công việc cũng như với tổ chức Một người có thể có kiến thức sâu rộng, kỹ năng chuyên nghiệp nhưng thái độ bàng quan với cuộc sống, vô trách nhiệm với xã hội thì chưa chắc đã làm tốt công việc

Động cơ thúc đẩy người lao động Con người sống và làm việc có những nhu cầu khác nhau Đó là nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu xã hội

và cũng có thể là nhu cầu hoạt động, làm việc Đây là đòi hỏi khách quan của mọi con người để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của họ trong những điều kiện nhất định Động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động Đó chính là sức mạnh bên trong thúc đẩy con người hoạt động, chỉ đạo hành vi và làm gia tăng lòng quyết tâm bền bỉ giành lấy mục tiêu Như vậy, động cơ làm việc là sự sẵn sàng dồn tâm trí, sức lực theo đuổi mục tiêu của tổ chức để đáp ứng, thỏa mãn những nhu cầu cá nhân Những động cơ làm việc cá nhân phục vụ mục tiêu chung, có lợi cho

tổ chức, cho xã hội, đem lại những điều tốt đẹp cho mọi người được xem là

Trang 4

những động cơ trong sáng, tốt đẹp

Trong các cơ quan vốn đã có một đội

ngũ lao động thì việc thiết kế công việc,

bố trí đúng người, đúng việc là đòi hỏi

quan trọng hàng đầu đối với các nhà

quản lý

2 Nguồn lao động dồi dào

Dân số việt nam hiện nay đạt

ngưỡng dưới 93 triệu người (tính đến

tháng 12 năm 2015 Theo chương trình

mục tiêu dân số được Thủ tướng phê

duyệt, mức sinh giai đoạn 2012-2015)

Với lượng dân số này, hiện nay Việt

Nam đang đứng thứ 14 trên thế giới về

dân số và thứ 3 trong khu vực Đông

Nam Á Về lực lượng lao động, cả nước

có nguồn cung Lao động 54,43 triệu

người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng

lao động, chiếm 76,11% tổng dân số

(theo bản tin cập nhật thị trường Lao

động Việt Nam số 6 Quý 2 ngày 30

tháng 10 năm 2015)

Tuy nhiên, số người trong độ tuổi

lao động đông không có nghĩa là thị

trường lao động Việt Nam đáp ứng đủ

nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp

Bởi số lao động có tay nghề, có chất

lượng của nước ta đang còn rất hạn chế

Trong tổng số 54,43 triệu lao động chỉ

có gần 10,77 triệu người đã được đào

tạo, chiếm 20,77% tổng lực lượng lao

động (gồm 11,73% có tình độ giáo dục

nghề nghiệp, 8,33% có trình độ từ đại

học trở lên) Trong số 10,77 triệu lực

lượng lao động qua đào tạo có bằng

cấp/chứng chỉ từ sơ cấp và tương đương

trở lên, trình độ đại học trở lên có 4,47

triệu người (chiếm 41,51%); trình độ cao

đẳng có 1,46 triệu người (14,99%); trình

độ trung cấp có 2,92 triệu người (27,11%); trình độ sơ cấp có 1,77 triệu người (16,39%) Cơ cấu trình độ đại học

trở lên/cao đẳng/trung cấp/ sơ cấp là 1:

0,35: 0,65: 0,4 cảnh báo sự mất cân đối

về cơ cấu lao động qua đào tạo giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, nguy cơ này sẽ gia tăng khi Việt Nam hội nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN tháng 12 năm 2015

Nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây liên tục tăng, nhưng các doanh nghiệp vẫn kêu thiếu lao động Nguyên nhân là do lao động Việt Nam chỉ mới đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chứ chưa đáp ứng được nhu cầu về chất lượng Điều này không chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp và còn khiến cho người lao động tự làm mất cơ hội việc làm cho bản thân

3 Doanh nghiệp vẫn khát nhân lực

Theo số liệu của Viện nghiên cứu phát triển nhân lực TP HCM cho biết:

hiện nay, cung lao động tại Việt Nam rất dồi dào và lớn hơn cầu về lao động Tuy nhiên, phần lớn lượng cung lao động này

là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo cao và chất lượng lao động không đồng đều giữa các vùng, miền Cụ thể là gần 77% người lao động trong độ tuổi lao động chưa được đào tạo nghề, hoặc được đào tạo thì còn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp và chất lượng lao động ở khu vực thành phố cao hơn so với ở khu vực nông thôn Về mặt cầu, nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay phần lớn được phân bổ trong khu vực nông nghiệp, nơi kỹ năng, tay nghề

và trình độ của người lao động thường không cần ở mức độ cao Lực lượng lao

Trang 5

động đang làm việc trong khu vực công

nghiệp chỉ chiếm 20% và đối với khu

vực dịch vụ chỉ chiếm khoảng 26%

Theo Bộ LĐ-TB&XH thì hiện tại,

chất lượng việc làm vẫn rất thấp Cụ thể:

việc làm giản đơn, không cần kỹ năng

chiếm gần 40% tổng việc làm của cả

nước Ở khu vực thành thị tỷ lệ này là

18,1% nhưng khu vực nông thôn chiếm

gần 50% tổng việc làm Trong khi đó, so

với những năm trước đây, cùng với sự

phát triển của nền kinh tế nói chung và

các doanh nghiệp nói riêng, nhu cầu về

nguồn nhân lực có chất lượng cao của các

ngành dịch vụ và công nghiệp tăng rất

nhanh Đến các KCX-KCN, khi tuyển

công nhân cho các ngành may mặc, điện

tử cũng yêu tiên người có kinh nghiệm,

tay nghề, lao động đã qua đào tạo

Bên cạnh các Doanh nghiệp Việt

Nam, hiện nay các doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài ở nước ta cũng đang

rất khát nguồn lao động có tay nghề,

chất lượng cao Trong khi đó, tỷ lệ lao

động có chất lượng của chúng ta lại quá

ít, không đủ để đáp ứng cho nhu cầu của

các doanh nghiệp Chính vì vậy, việc

quan tâm đào tạo nguồn nhân lực là vấn

đề vô cùng quan trọng hiện nay

Như vậy, có thể thấy rằng chất

lượng nguồn lao động của nước ta hiện

nay đang còn rất thấp, trong khi nhu cầu

sử dụng lao động có tay nghề, chất lượng cao của các DN lại liên tục tăng

Điều này dẫn đến nguồn lao động của chúng ta dồi dào, nhu cầu việc làm lớn, nhưng các doanh nghiệp vẫn rơi vào tình trạng thiếu lao động Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thất nghiệp ngày càng gia tăng của nước ta hiện nay

Để khác phục tình trạng này, Nhà nước cùng các cơ quan ban ngành đã đưa ra các giải pháp như: Tích cực tổ chức các trường đào tạo ngắn hạn cho người lao động nhằm trau dồi, nâng cao kiến thức thực tế và kỹ năng nghề nghiệp Đồng thời cần quan tâm tới việc chăm sóc cuộc sống của người lao động, tuyên truyền, khuyến khích, động viên người lao động có ý thức trong việc học tập, nâng cao kiến thức, tay nghề cho bản thân Đây là vấn đề vừa giúp người lao động tìm được nhiều cơ hội việc làm cho chính mình,

và dần khắc phục được tình trạng yếu kém trong chất lượng nguồn lao động của nước ta hiện nay

4 Càng học cao, càng thất nghiệp: Thông tin Viện Khoa học Lao động

và Xã hội công bố Bản tin cập nhật thị

Trang 6

trường lao động quý 2/2015 ngày

30/10/2015 lại tiếp tục gây sửng sốt với

nhiều người bởi tỷ lệ thất nghiệp chung

đã giảm nhưng số lượng người có trình

độ đại học, sau đại học thất nghiệp tăng

cao là hơn 199.400 người (tăng 22.000

người so với quý 1/2015

Theo số liệu thống kê lao động đã

qua đào tạo cho thấy ngoại trừ nhóm trình

độ cao đẳng có tỷ lệ thất nghiệp giảm so

với quý 1/2015 (từ 7,13% xuống còn

6,56%), thì tỷ lệ thất nghiệp của các nhóm

trình độ chuyên môn kỹ thuật khác đều

tăng Cụ thể: Nhóm có trình độ đại học trở

lên tăng từ 3,92% lên 4,6%; trình độ trung

cấp tăng từ 3,66% lên 4,4% và trình độ sơ

cấp tăng từ 2,05% lên 2,71%

Bà Nguyễn Thị Lan Hương, Viện

trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã

hội cho rằng, tỷ lệ lao động trình độ đại

học thất nghiệp tăng là do quy mô tuyển

sinh đại học quá cao so với nhu cầu lao

động Đây cũng là nguyên nhân chính

khiến số lao động có chuyên môn kỹ

thuật, đặc biệt là trình độ đại học gia tăng

* 3 Ba nguyên nhân dẫn đến thất

nghiệp:

Theo GS Đào Trọng Thi – Chủ

nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh

niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc

hội cho rằng có 3 lý do:

Thứ nhất, quy hoạch đào tạo nguồn

nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường;

Thứ hai, Chất lượng nguồn nhân

lực đào tạo ra chưa đáp được nhu cầu,

thực tế nhiều doanh nghiệp cần tuyển người nhưng không tuyển được

Thứ ba, quy hoạch nhân lực đào

tạo không phải chỉ là số lượng mà còn phải đảm bảo hợp lý về cơ cấu vùng miền, ngành nghề, trình độ, chất lượng

Có thể thấy, lao động tốt nghiệp đại học thất nghiệp nhiều nhưng tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, trong khi nhiều sâu vùng xa thiếu người có trình độ lại không tuyển được ―Nếu ta đào tạo theo đúng quy hoạch thì chắc chắn sẽ không xảy ra tình trạng đào tạo thừa nguồn nhân lực, dẫn tới tình trạng sinh viên tót nghiệp cao đẳng, đại học thất nghiệp nhiều đến vậy‖

Theo GS Đào Trọng Thi, vai trò quan trọng nhất của Nhà nước trong định hướng phát triển giáo dục nói chung, các trường đại học, cao đẳng nói riêng là quy hoạch nguồn nhân lực cho đúng, quản lý các trường thực hiện đúng theo quy hoạch Trong đó, Nhà nước phải quy hoạch nguồn nhân lực dựa trên cơ sở dự báo đúng thị trường lao động Dự báo này phải có tính dài hạn, ít nhất 5-10 năm Quản lý hoạt động của các trường theo đúng quy hoạch cũng quan trọng không kém, nghĩa là phải quản lý làm sao để các trường không thể cứ thấy ngành nghề nào đang ―hot‖ là lao vào mở ngành,

mở lớp dẫn đến đào tạo thừa, trong khi những ngành nghề khác lại thiếu

Trang 7

Sinh viên thực hành Môn trắc địa Sinh viên Cầu đường TH xây hố ga thoát nước

* Bộ GD-ĐT ngừng đào nhiều

ngành học:

Tuy nhiên, theo thống kê của Bộ

GD-ĐT, Năm học 2014-2015 quy mô

đào tạo đã giữ tương đối ổn định, cả

nước có 219 trường đại học, 217 trường

cao đẳng (không tính các trường thuộc

khối an ninh, quốc phòng, quốc tế),

trong đó có 60 trường đại học và 28

trường cao đẳng ngoài công lập;

Quy mô sinh viên (SV) đại học

1.824.328, SV cao đẳng là 539.614,

trong đó, SV chính quy đại học là

1.348.937, SV chính quy cao đẳng là

519.722; SV vừa làm vừa học đại học là

339.301, SV vừa làm vừa học cao đẳng

là 19.892; quy mô đào tạo trình độ thạc

sĩ là 92.349 học viên cao học

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn

Ga cho biết, hiện nay Bộ đang dự thảo

thông tư thay thế Thông tư 57 về xác

định chỉ tiêu theo hướng giữ ổn định quy

mô đào tạo đại học, tập trung nâng cao

chất lượng và cam kết việc làm cho sinh

viên sau khi tốt nghiệp

Cụ thể, kiên quyết không cấp phép

mở các ngành không đủ điều kiện theo

quy định, đồng thời tạm dừng mở một số

ngành đã có nguy cơ dư thừa và thực

hiện cảnh báo xã hội để giảm quy mô

đào tạo các ngành này như Nhóm ngành

kinh tế, kế toán, quản trị kinh doanh, tài

chính ngân hàng trình độ đại học ở khu vực Hà Nội và TP Hồ Chí Minh

5 Làm thế nào để nâng cao chất lƣợng đào tạo nguồn nhân lực

Trong những năm qua lãnh đạo Nhà trường đã ý thức được rằng để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phải dựa vào ba trụ cột chính, đó là: Lực lượng giảng viên; cơ sở vật chất và người học

Cơ sở vật chất: Tập trung cải tạo,

mở rộng cơ sỏ A; nhằm tăng thêm diện tích phòng thí nghiệm; xưởng thực hành;

phòng học chuyên ngành, các phòng, khoa được kết nối internet, mạng wifi được phủ sóng toàn trường… xây dựng mới cơ B với đầy đủ chức năng từ nhà Hiệu bộ, lớp học lý thuyết, nhà thi đấu

đa năng… tiếp tục mua sắm máy móc thiết bị thí nghiệm, tài liệu, sách, giáo trình phục học tập cho học sinh – sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu khoa học của giảng viên

Lực lượng giảng viên: Tiếp tục tuyển giảng viên có trình độ cao như thạc

sĩ, tiến sĩ có kinh nghiệm Cử nhân; kỹ sư tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc tại các trường tốp trên Để nâng cao trình độ giảng viên hiện có, nhiều năm qua lãnh đạo nhà trường đã cử nhiều giảng viên đi học cao học và nghiên cứu sinh trong nước cũng như nước ngoài Từ thực tế này việc đào tạo giảng viên được chọn là

Trang 8

việc khởi đầu bởi chính là ―máy cái‖ tạo

ra các sản phẩm, người thầy không

những truyền thụ kiến thức, mà phải biết

tổ chức, hướng dẫn học sinh, sinh viên tự

học, tự khai thác, tự vận dụng tích lũy

kiến thức, nghiên cứu khoa học…

Chất lượng đầu vào (người học):

Năm học 2015-2016 nhà trường tổ chức

xét tuyển điểm sàn đại học, cao đẳng,

xét điểm học bạ ba năm học trung học

phổ thông theo quy định của Bộ

GD&ĐT Ngoài ra nhà trường tổ chức

thi liên thông cho các bậc đào tạo cao

đẳng và đại học Đặc biệt năm học

2015-2016 lãnh đạo nhà trường thực hiện việc

tiếp nhận đào tạo sinh viên Quốc tế bậc

cao đẳng; đại học với Cộng hòa Dân chủ

Nhân dân Lào, cử ba sinh viên của

trường sang Cộng hòa Cu ba học tập các

ngành Xây dựng và Kiến trúc

Nhà trường đã công khai công bố

chuẩn đầu ra cho bậc học đại học, cao

đẳng và đã hoàn thành tự đánh giá

trong Trong những năm qua Lãnh đạo

nhà trường đã tạo điều kiện cho Đoàn

thanh niên tham gia các hoạt động do

Trung ương Đoàn tổ chức như Phong

trào thanh niên tình nguyện đã được

Đảng ủy nhà trường tạo điều kiện hơn

10 năm trở lại đây Mục tiêu của thanh

niên tình nguyện là phát huy vai trò

xung kích, tình nguyện của thanh niên,

tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xóa

đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã

hội, xây dựng nông thôn mới, văn minh

đô thị Tạo sự chuyển biến về chất

lượng của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí

Minh, mở rộng đoàn kết, tạo môi

trường để thanh niên rèn luyện phẩm

chất, thấy rỏ vinh dự và trách nhiệm của

mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ tổ quốc Đây cũng là hoạt động để thanh niên trải nghiệm, tạo kỹ năng thực hành xã hội, kỹ năng sống cho học sinh - sinh viên…

Đặc biệt Nhà trường đào tạo các ngành học như Công nghệ kỹ thuật xây dựng, xây dựng cầu đường, kiến trúc, kinh tế xây dựng, kỹ thuật hạ tầng đô thị, ngành cấp thoát nước và Trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ Mỗi bậc đào tạo đều có chương trình khung, đề cương môn học, trong thời gian học lý thuyết

ở trường người học được thực hành các môn học như: Thực hành môn trắc địa, thí nghiệm kéo; nén vật liệu; các dạng bài tập lớn; vẽ AutoCAD; tính tiên lượng dự toán công trình; hạch toán kế toán máy; thực hành nghề nghiệp;

ngoài các phần học lý thuyết và thực hành trong chương tình chính khóa, sinh viên còn học môn giáo dục thể chất nhằm rèn luyện sức khỏe, tạo tinh thần sảng khoái sau các tiết học lý thuyết căng thẳng Các ngành học sau khi kết thúc học phần tại trường; nhà trường tổ chức cho các lớp đi thực tập tốt nghiệp cuối khóa Nhằm gắn chương trình học tập gần với thực tế sản xuất thực hiện phương châm giáo dục của đảng ― học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn…‖ Chính những con người này sau khi ra trường

sẽ trở thành cán bộ quản lý, thiết kế, thi công công trình, giám sát công trình

và họ sẽ đảm nhận công việc được ngay, tránh phải đào tạo lại như các ngành nghề khác Tránh lãng phí về thời gian, tiền bạc và lòng tin của xã hội, cũng như phụ huynh người học

Trang 9

Tóm lại: Nâng cao chất lượng

đào tạo nguồn nhân lực là trách nhiệm

của tất cả cán bộ, giảng viên, nhân viên

trong toàn trường, chất lượng đào tạo

nguồn nhân lực quyết định sự tồn tại và

phát triển của một trường đại học

Làm như thế nào để tạo cho người học

có năng lực như: Kiến thức, kỹ năng,

thái độ và trình độ ngoại ngữ Sau thời

gian học tập tại trường người học nhận

Bằng tốt nghiệp tự tin bước ra ngoài xã

hội tham gia vào nền kinh tế thị trường

đầy năng động và sẳn sàng dịch chuyển lao động sang các nước thành viên khi Việt Nam tham gia vào Cộng đồng

Kinh tế ASEAN (AEC) Mỗi thầy, cô

giáo phải thực hiện cuộc vận động của công đoàn Giáo dục Việt Nam phối hợp với Bộ giáo dục và Đào tạo tổ chức phong trào thi đua yêu nước dạy

tốt - học tốt và cuộc vận động “ Mỗi

thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” Vì Sự phát

triển của nhà trường

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nghị quyết hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số

29-NQ/TW) với nội dung đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT

[2] Cổng thông tin điện tử của Viện nghiên cứu phát triển nhân lực TP Hồ Chí Minh

[3] Cổng thông tin điện tử của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

[4] Thông tư quy định chuẩn Quốc gia đối với cơ sở giáo dục đại học; Số tư liệu:

24/2015/TT/BGDĐT ban hành ngày 23/9/2015

Ngày đăng: 17/06/2020, 01:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w