1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Neo trong đất (Ground anchor): Cấu tạo, phân loại, nguyên lý hoạt động và cơ sở lý thuyết tính toán neo

13 900 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả tổng hợp, giới thiệu về cấu tạo, nguyên lý hoạt động và cơ sở lý thuyết tính toán sức chịu tải của neo trong đất theo một số tiêu chuẩn đã được sử dụng (Tiêu chuẩn Anh: BS 8081:1989; Tiêu chuẩn Trung Quốc: CECS 22-1990).

Trang 1

NEO TRONG ĐẤT (GROUND ANCHOR): CẤU TẠO, PHÂN

LOẠI, NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG VÀ CƠ SỞ

LÝ THUYẾT TÍNH TOÁN NEO

Th.S Lê Trường Sinh

Khoa Xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt

Hiện nay phương pháp giằng chống

tường vách hố đào sử dụng neo trong đất được

sử dụng khá phổ biến trong các công trình dân

dụng ở Việt Nam Nhưng ở nước ta chưa có

tiêu chuẩn thiết kế, thi công và giám sát neo

trong đất cho công trình dân dụng Tác giả

tổng hợp, giới thiệu về cấu tạo, nguyên lý hoạt

động và cơ sở lý thuyết tính toán sức chịu tải

của neo trong đất theo một số tiêu chuẩn đã

được sử dụng( Tiêu chuẩn Anh: BS 8081:1989;

Tiêu chuẩn Trung Quốc: CECS 22-1990)

Từ khóa

Neo trong đất, ground anchor

1 Neo trong đất (Ground anchor) 1.1 Lịch sử phát triển của neo trong đất

Neo trong đất là một loại thanh chịu kéo kiểu mới, một đầu thanh liên kết với kết cấu công trình hoặc tường cọc chắn đất, đầu kia neo chặt vào trong nền đất để chịu lực nâng lên, lực kéo nhổ, lực nghiêng lật hoặc áp lực đất, áp lực nước của tường chắn, nó lợi dụng lực neo giữ của tầng đất để duy trì ổn định của công trình

Qua một số công trình đã sử dụng

hệ thống tường neo trong đất, cho thấy giá thành sử dụng tường neo trong đất thấp hơn xấp xỉ 1/3 lần so với sử dụng kết cấu tường chắn thông thường Hơn nữa,

hệ thống được neo thường có thời gian thi công nhanh hơn và không cần làm đường tạm Neo trong đất thường được sử dụng

để thay thế các kết cấu chống đỡ tường chắn như thép, bê tông, gỗ

Neo trong đất được sử dụng ở đập Cheurfas, Algeria để neo bể chứa nước vào năm 1938 Sau chiến tranh thế giới thứ 2, neo trong đất được ứng dụng rộng rãi hơn trong các lĩnh vực: ổn định mái đào, ổn định mái dốc và chống sạt lở, gia

cố đập… Năm 1958 lần đầu tiên neo trong đất được sử dụng để giữ ổn định tường chắn đất trong thi công hố móng sâu Sau lần ứng dụng thành công năm 1958, neo trong đất đã cho thấy được nhiều ưu điểm nên được nhiều nước tiếp tục nghiên cứu phát triển, đưa ra các quy trình thiết kế và hoàn thiện công nghệ thi công

Ở Việt Nam, công trình đầu tiên sử dụng kỹ thuật neo trong đất đã được Bachy Soletanche Vietnam (Pháp) thực hiện thành công ở Tòa tháp VietcomBank tại 184 Trần Quang Khải, Hà Nội vào

Trang 2

năm 1977 Tường vây sử dụng neo trong

đất được sử dụng để thi công 3 tầng

hầm dự án Trung tâm điều hành và

Thông tin viễn thông Điện lực Việt Nam

có diện tích 14.000 m2 tại số 11 phố Cửa

Bắc, TP Hà Nội vào năm 2008 Tòa tháp

Keangnam Landmark Tower cao nhất

Việt Nam, tại Lô 6 đường Phạm Hùng,

Hà Nội, do Samwoo Geotech(Hàn Quốc)

thi công tháng 5/2008, tường bê tông

cốt thép liên tục trong đất dày 80cm và

hai tầng neo trong đất có sức chịu tải từ

35-40 tấn được sử dụng để thi công 2

tầng hầm của tòa tháp này Cọc ximăng

- đất trộn sâu được xem xét thiết kế làm

giải pháp ổn định hố đào (kết hợp một

phần với neo trong đất) cho 2 tầng hầm

của chung cư cao tầng Thương mại –

Dịch vụ LUGIACO ở số 70 đường Lữ Gia,

P.15, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh

Gần đây nhất Công ty Samwoo Vietnam

cũng sử dụng phương án tường cọc BTCT

kết hợp neo ứng suất trước (ƯST) để thi

công 4 tầng hầm công trình Trung tâm

Thương mại Đà Lạt (Dalat Center) tại

thành phố Đà Lạt

1.2 Phân loại neo trong đất

Neo trong đất có thể phân loại dựa

theo cách liên kết với nền đất, cách lắp

đặt, phương pháp phun vữa, công dụng,

phương pháp căng kéo Cơ bản chúng ta

có thể phân chia như dưới đây:

Hình 1.1 Phân loại neo trong đất

Theo mục đích và thời gian sử dụng,

neo có thể chia thành neo tạm thời và neo

cố định:

(1) Neo tạm thời là loại neo có thể

tháo ra sau khi kết cấu có khả năng tự

chịu lực

(2) Neo cố định được sử dụng lâu hơn tùy thuộc vào thời gian tồn tại của công trình, nó sẽ tham gia vào quá trình chịu lực chung của công trình

Theo cách lắp đặt và hoạt động của neo

có thể chia thành neo thường và neo ƯST: (3) Neo thường: Là loại neo mà trong quá trình lắp đặt thanh lõi neo không được căng ứng suất trước Đối với neo này, lõi neo có độ giãn đáng kể khi tải trọng tác dụng, do vậy chuyển dịch của đầu neo sẽ tương đối lớn khi sức chịu tải của neo được huy động tối đa Cấu tạo lõi neo: thường là một thanh thép cường độ cao [4]

(4) Neo ƯST: Là loại neo mà khi lắp đặt lõi neo cáp đã được căng ứng suất trước Để giảm bớt sự chuyển dịch của đầu neo tới mức có thể chấp nhận được, neo đất thường được tạo ứng suất trước bằng cách kéo trước neo đất về phía kết cấu Cấu tạo neo ƯST: lõi neo là một bó cáp cường độ cao được căng ứng suất trước khi lắp đặt [4]

1.3 Ứng dụng của neo trong đất

1.3.1 Neo ổn định tường chắn khi thi công hố đào

Neo trong đất kết hợp với tường chắn bằng cọc chống và ván lát ngang hoặc bê tông phun, tường bê tông cốt thép, tường vây cọc ván… tạo thành hệ thống tường chắn ổn định mái đất phục vụ công tác đào đất thi công các công trình ngầm: tầng hầm các tòa nhà, bể nước ngầm, nhà ga tàu điện ngầm đặt trong lòng đất, bãi đổ xe ngầm… Ưu điểm của

hệ thống này là không chiếm mặt bằng thi công, thời gian thi công nhanh

Hình 1.2 Neo ổn định tường chắn khi thi công đào đất khách sạn Pico Calheta – Bồ Đào Nha

2007 [9]

Trang 3

1.3.2 Ổn định tường chắn khi thi công

đường đào

Hệ thống tường neo thường được sử

dụng để ổn định mái dốc cho thi công đào

đường qua vách núi có mái dốc lớn, mở

rộng lòng đường,…

Hình 1.3 Neo ổn định tường chắn khi thi công

đào đất công trình đường tàu điện ngầm xuyên

núi Alpine, Thụy Sĩ 2003 [9]

1.3.3 Ổn định và chống sạt lở mái dốc

Neo trong đất thường được sử dụng

kết hợp với tường, dầm ngang, khối bê

tông để ổn định mái dốc và chống sạt lở

Neo trong đất cho phép đào sâu để xây

dựng các đường cao tốc mới Neo trong

đất còn sử dụng để ổn định các khối đất

đá phía trên mái dốc và ổn định mặt

trượt Các dầm ngang và khối bê tông

được sử dụng để truyền tải trọng từ neo

vào đất tại bề mặt mái dốc để giữ ổn định

mái dốc ngay vị trí đào Việc lựa chọn sử

dụng dầm ngang hay các khối bê tông

phụ thuộc các điều kiện kinh tế, mỹ quan,

duy tu bảo dưỡng trong quá trình khai

thác sử dụng

Hình 1.4 Neo đất giữ ổn định mái dốc và

chống sạt lở tại Degendamm Australia [7]

1.3.4 Chống lật, chống đẩy nổi

Các neo cố định thường được sử

dụng để chống lại lực đẩy nổi Lực đẩy nổi

được tạo ra do áp lực thủy tĩnh hay do kết

cấu mất ổn định và bị lật đổ Các kết cấu

xây dựng thông thường chống lại lực đẩy nổi bằng tải trọng tĩnh của chính bản thân kết cấu

Ưu điểm của việc chống lại lực đẩy nổi bằng neo trong đất là khối lượng bê tông sàn ít hơn so với dùng phương pháp tải trọng tĩnh

Tuy nhiên cách này cũng tồn tại một

số nhược điểm:

- Sự thay đổi tải trọng trong neo có thể làm kết cấu bị lún xuống hoặc nâng lên; - Khó thi công chống thấm;

- Ứng suất trong sàn thay đổi nhiều

Hình 1.5 Hệ thống neo trong đất chống lực đẩy nổi tuyến hầm đường bộ Burnley Tunnel ở

Melbourne, Australia [7]

1.4 Cấu tạo neo trong đất

Về cơ bản cấu tạo của neo trong đất bao gồm phần đầu neo, đoạn tự do và đoạn neo giữ:

Hình 1.6 Mặt cắt điển hình neo trong đất

1.4.1 Lõi neo

Là bộ phận có khả năng truyền tải trọng kéo từ phần bầu neo đến đầu neo Lõi neo có thể là cáp nhiều sợi hoặc thép thanh, được gia công từ thép cường độ cao.Với lõi neo dạng cáp chiều dài của neo không bị hạn chế, còn với lõi neo là thanh thép ta có thể kéo dài được bằng cách dùng các hộp nối cường độ cao thích hợp

Trang 4

Lõi neo được phủ 1 lớp chống ăn

mòn đặc biệt (thường chủ yếu có gốc

bitum), sau đó được bọc trong các ống

chất dẻo polypropylene (PP) và

polyethylene (PE) không thấm nước trong

nhà máy, điều đó giúp dây neo hạn chế

được sự ăn mòn trong quá trình cất trữ,

vận chuyển và sử dụng

Mật độ lõi neo thép trong lỗ neo cần

phải được khống chế không vượt quá 15%

diện tích diện tích lỗ khoan đối với dây cáp

nhiều sợi song song và 20% diện tích lỗ

khoan đối với dây cáp đơn, thanh thép

hoặc dây cáp nhiều sợi loại sần thích hợp,

nhằm mục đích giảm thiểu hiện tượng

bong [1]

Hình 1.7 Lõi neo làm bằng thanh thép [9]

Hình 1.8 Lõi neo làm bằng cáp [9]

Vật liệu chế tạo cơ cấu đệm/định

tâm phổ biến hay dùng bằng nhựa chất

lượng cao

Hình 1.9 Cơ cấu định tâm/đệm cho dây neo

bằng cáp nhiều sợi [9]

1.4.2 Đầu neo

Đầu neo có nhiệm vụ truyền tải trọng kéo từ lõi neo đến bề mặt đất hoặc kết cấu chống đỡ (như tường chắn đất hố đào, mái dốc, tường đập ngăn nước, trụ móng tháp truyền hình,…)

(a)

(b) Hình 1.10 (a), (b) Chi tiết đầu neo với lõi neo

bằng dây cáp [9]

Với lõi neo làm bằng dây cáp, tải trọng kéo từ các tao cáp truyền vào chốt nêm thông qua ma sát rồi truyền qua quả neo  bản đỡ  bệ đỡ (thường dưới dạng các khối bê tông hay dầm gân thép hình)  các kết cấu chính

Với lõi neo làm bằng thanh thép, tải trọng kéo từ thanh thép truyền vào ê-cu

 vòng đệm  bản đỡ  kết cấu chính

Hình 1.11 Chi tiết đầu neo với lõi neo bằng

thanh thép [2]

1.4.3 Đoạn tự do

Đoạn tự do là chiều dài lõi neo nằm trong đất và không liên kết với đất Đoạn

tự do của neo cần đủ dài sao cho đoạn

Trang 5

neo giữ nằm hoàn toàn ngoài phạm vi mặt

trượt giới hạn của khối đất phía sau tường

chắn Trong đoạn tự do lõi neo được bao

ngoài để chống ăn mòn

1.4.4 Đoạn neo giữ

Đoạn neo giữ hay còn gọi là bầu

neo, được bao bọc bằng vữa XM và truyền

tải trọng từ neo vào đất đá xung quanh

Trong phần bầu neo, lõi neo được bóc lớp

vỏ bọc để liên kết với vữa XM

Bầu neo có nhiều hình dạng khác

nhau tùy thuộc vào từng điều kiện địa

chất, có 4 loại bầu neo đã được nghiên

cứu và áp dụng [1]:

- Bầu neo kiểu A: được thi công

khoan lỗ với ống vách, không mở rộng

bầu neo, phun vữa xi măng và rút ống

vách từ từ Kiểu này được dùng rất phổ

biến trong đá và rất ổn định đối với đất

đắp dính cứng Sức kháng nhổ phụ thuộc

vào ma sát bên tại giao diện đất/vữa

- Bầu neo kiểu B: được phun vữa áp

lực thấp (áp lực phun vữa tiêu biểu Pi

1000 kN/m2) Với kiểu neo này vữa xi

măng thấm qua các lỗ rỗng hoặc nứt nẻ

tự nhiên của đất làm tăng đường kính bầu

neo Kiểu neo này dùng phổ biến nhất

trong đá yếu nứt nẻ và trong các lớp hạt

thô, nhưng cũng rất phổ biến trong đất rời

hạt mịn Ở đây các loại vữa xi măng

không đi qua các lỗ rỗng nhỏ nhưng dưới

áp lực vữa làm chặt đất cục bộ sau khi

khoan và làm tăng đường kính có hiệu

tăng cường sức kháng cắt Sức kháng chịu

nhổ phụ thuộc chủ yếu vào sức kháng cắt

bên thực tế, nhưng cũng có thể kể đến

thành phần sức kháng mũi khi tính toán

sức chịu tải giới hạn

Hình 1.12 Bốn loại bầu neo đã và đang được

áp dụng [1]

- Bầu neo kiểu C: được phun vữa áp lực cao (Pi > 2000 kN/m2) Dưới áp lực cao, vữa xi măng sẽ len lỏi qua các nứt nẻ

tự nhiên, lỗ rỗng lớn nhỏ của khối đất tạo

ra chùm rễ vữa  làm tăng đường kính của bầu neo Khi thi công các neo kiểu C người ta thường tiến hành phun vữa nhiều lần để tăng khả năng chống nhổ của bầu neo, thường phun lần thứ hai sau khi vữa phun lần thứ nhất đã sơ ninh Kiểu neo này áp dụng phổ biến trong đất rời hạt mịn Thiết kế dựa trên cơ sở giả thiết về ứng suất không đổi dọc theo bầu neo

- Bầu neo kiểu D: được khoan lỗ bằng một máy khoan chuyên dụng có khả năng tạo một loạt chỗ mở rộng theo hình chuông hoặc theo hình bầu Khi thi công thường phun trước vữa xi măng, hóa chất trong đất bao quanh bầu neo, bơm dung dịch khoan polime vào lỗ khoan khi khoan tạo bầu Kiểu neo này được sử dụng phổ biến nhất trong đất dính từ chặt đến cứng Sức chịu nhổ phụ thuộc vào ma sát bên

và sức chịu ở mũi mặc dù đối với các bầu đơn hoặc có bầu rộng sức chống giữ của đất có thể được huy động chủ yếu bằng sức chống ở mũi

Vữa xi măng dùng để tạo bầu neo thường dùng vữa nguyên chất (vữa không

có cấp phối) Loại vữa xi măng cát cũng

có thể sử dụng cho các lỗ khoan có đường kính lớn Máy trộn vữa tốc độ cao thường được sử dụng để đảm bảo sự đồng nhất giữa vữa và nước tỷ lệ theo khối lượng nước/xi măng trong khoảng từ 0,40 đến 0,55 Xi măng loại I thường được sử dụng với cường độ nhỏ nhất vào thời điểm tạo ứng suất là 21 MPa Tùy vào đặc điểm của công trình các phụ gia có thể được sử dụng để tăng độ sụt cho vữa Các chất phụ gia không yêu cầu sử dụng, nhưng hiệu quả hơn nếu sử dụng phụ gia siêu dẻo khi bơm vữa ở nhiệt độ cao và chiều dài bơm lớn

1.5 Các hệ thống tường neo

Một ứng dụng phổ biến của neo trong đất trong các công trình dân dụng là tường neo được sử dụng nhằm ổn định

Trang 6

mái đào và ổn định mái dốc Các tường

neo này bao gồm tường hẫng không trọng

lực với một hoặc nhiều tầng neo trong

đất Các loại tường hẫng không trọng lực

gồm các bộ phận thẳng đứng có thể liên

tục hoặc không liên tục được khoan hoặc

đóng xuống dưới đáy cao độ đào Tường

hẫng không trọng lực chịu lực bằng sức

kháng cắt, độ cứng chống uốn của thành

phần theo phương đứng và sức kháng bị

động của đất dưới cao độ đào Sức chịu tải

của tường neo dựa vào các thành phần

này và sức chịu tải ngang của neo để

chống lại áp lực ngang (đất, nước, động

đất,…) tác dụng vào tường

Phân loại tường neo ƯST thường

được sử dụng như sau:

- Tường cọc ván thép, dầm giằng;

- Tường cọc chống, ván lát hoặc bê

tông cốt thép lát ngang;

- Hệ thống tường gồm các cọc chèn

nhau

- Tường cừ bê tông cốt thép liên tục;

- Tường bê tông cốt thép không liên

tục (cọc chống và bê tông cốt thép lát

mặt)

Chuyển vị và mô men uốn của

tường ổn định mái đào là hàm số của

cường độ đất và độ cứng của tường Độ

cứng của tường phụ thuộc vào độ cứng

kết cấu tường (EI) và khoảng cách theo

phương đứng của các hàng neo (L)

Tường cọc ván thép và tường gồm hệ

thống cọc chống, ván lát ngang được

xem là hệ thống tường mềm Tường gồm

các cọc chèn nhau, tường cọc bê tông

cốt thép liên tục, tường cọc bê tông cốt

thép không liên tục được xem là các hệ

thống tường cứng

1.5.1 Tường cọc chống đứng và ván

lát ngang

Tường cọc chống và ván lát ngang

được sử dụng đầu tiên ở Đức vào những

năm cuối thế kỉ 19 và nhanh chóng được

sử dụng rộng rãi ở Châu Âu Tường gồm 2

bộ phận chính: cọc chống chịu toàn bộ tải

trọng do lực xô ngang của đất và ván lát

ngang chịu tải trọng do áp lực đất ở giữa hai cọc chống

Tường neo cọc chống đứng bằng thép hình và ván lát ngang bằng gỗ để giữ ổn định hố đào Cọc chống đứng là thép hình có tiết diện ngang hình chữ I, giằng ngang bằng thép hình có tác dụng phân bố lực neo cho các cọc chống đứng liền kề

Hình 1.13 Tường neo cọc chống và ván lát

ngang [8]

1.5.2 Tường neo cừ thép

Tường cừ thép thường được sử dụng trong các loại đất không lắp đặt được ván lát như đất sét yếu, đất bùn bão hòa nước, đất bùn yếu, cát pha sét yếu… Các loại đất này không ổn định khi đào nếu không được chống giữ Hình 1.14 mô tả tường cừ thép với giằng ngang và neo trong đất Cừ thép thường được đóng hoặc

ép thành hàng chèn nhau Cừ thép còn có thể ngăn không cho nước thấm qua

Hình 1.14 Tường neo cừ thép (Nguồn Murphy

International Ltd)

1.5.3 Tường cọc bê tông cốt thép

Trang 7

Tường gồm các cọc bê tông cốt thép

liền kề nhau thường được sử dụng trong

các điều kiện địa chất không có xảy ra

hoặc có thể kiểm soát được hiện tượng

mất đất và thấm nước Tường gồm các

cọc liền kề có thể là kết cấu tạm phục vụ

thi công hoặc tham gia chịu lực với kết

cấu cuối cùng

Các cọc bê tông có thể liên kết theo

nguyên tắc cứng – mềm (thông dụng) hay

cứng – cứng Các cọc bê tông mềm được

thi công trước, sử dụng hỗn hợp bê tông

mềm và không có cốt thép Các cọc cứng

được thi công sau và chèn vào các cột

mềm ở cả 2 mặt Các cọc cứng sử dụng

kết cấu bê tông cốt thép Các cọc cứng

tạo nên cường độ và độ cứng của kết cấu

tường Cũng giống như tường gồm các cọc

liền kề, tường gồm các cọc chèn vào nhau

có thể dùng làm kết cấu tạm phục vụ thi

công hoặc tham gia chịu lực với kết cấu

cuối cùng

Hình 1.15 Tường neo cọc bê tông cốt thép liền

kề làm kết cấu tạm phục vụ công tác đào đất

tại dự án Dalat Center (Nguồn Samwoo

Geotech CO Ltd)

1.5.4 Tường cọc xi măng - đất trộn

sâu

Cọc ximăng - đất trộn sâu là phương

pháp cải tạo đất nền nhằm tăng cường độ

khống chế chuyển vị và giảm tính thấm

[9] Mũi khoan nhiều trục và guồng trộn

được sử dụng để thi công các cọc chồng

lên nhau và được tăng cường độ bằng việc

trộn xi măng với đất Phương pháp này

được sử dụng để chống đỡ hố đào bằng

cách tăng cường độ chịu cắt của đất, ngăn

ngừa phá hoại do trượt, giảm tính thấm

và chống lại hiện tượng trồi bề mặt

Hình 1.16 Tường neo cọc xi măng – đất trộn sâu (Nguồn Samwoo Geotech CO Ltd)

1.5.5 Tường cừ bê tông cốt thép trong đất (tường barrette)

Tường cừ bê tông cốt thép trong đất

có thể dùng làm kết cấu tạm phục vụ thi công hoặc tham gia chịu lực cùng kết cấu cuối cùng Khi tường cừ tham gia chịu lực với kết cấu cuối cùng sẽ kinh tế hơn và việc thi công sẽ nhanh hơn Tường cừ bê tông cốt thép trong đất có độ cứng lớn hơn so với hệ thống tường cọc chống và ván lát ngang, tường cừ ván thép Nó được sử dụng để giảm độ lún, chuyển vị ngang của đất và kết cấu liền kề trong suốt quá trình thi công, đặc biệt là trong

các loại đất mềm yếu

Hình 1.17 Tường cừ bê tông cốt thép trong

đất [8]

1.5.5 Ưu, nhược điểm của hệ thống tường neo

* Ưu điểm:

- Thi công hố đào gọn gàng tạo mặt bằng thi công rộng rãi và không sử dụng

Trang 8

hệ thống văng ngang nên có thể thi công

đào đất bằng cơ giới

- Chống được vách đất với độ ổn

định và độ an toàn cao, có thể thi công

được những hố đào rất sâu mà không phụ

thuộc vào kết cấu của tầng hầm

- Neo kết hợp với tường chắn mềm

làm phân bố lại nội lực trong kết cấu

tường, do đó có thể giảm kích thước,

chiều sâu của thép trong tường chắn

* Nhược điểm:

- Cần các thiết bị thi công chuyên

dụng, đội ngũ kỹ thuật thi công chuyên

nghiệp có nhiều kinh nghiệm

- Nền đất yếu thì khó áp dụng, chiều

sâu neo lớn khó thi công

- Khi sử dụng neo phải dùng đất của

các công trình lân cận do đó cần phải

được sự cho phép của đơn vị chủ quản

công trình này

2 Cơ sở lý thuyết tính toán neo trong đất

Trong các công trình dân dụng, neo

được sử dụng phổ biến nhất là để giằng

giữ ổn định tường chắn vách hố đào sâu,

chủ yếu là neo ƯST Trong mục này, tác

giả tìm hiểu cơ sở lý thuyết, cách tính

toán neo ƯST cho tường chắn hố đào Tập

trung vào 2 loại neo được sử dụng phổ

biến nhất là neo kiểu A và neo kiểu B

2.1 Áp lực dất chủ động

Xét trường hợp lưng tường thẳng

đứng, mặt đất lấp nằm ngang thì có thể

vận dụng lý thuyết cân bằng giới hạn theo

Rankine để tính áp lực đất chủ động (Hình

2.1) Nếu lưng tường chắn dưới tác động

của áp lực đất mà làm cho lưng tường

dịch chuyển như hình vẽ, khi đó thể đất

sau lưng tường đạt đến trạng thái cân

bằng giới hạn, tức trạng thái chủ động

Rankine [2] Lấy một phân tố đất ở độ sâu

z, chỗ lưng tường thì ứng suất theo

phương đứng của nó là z z

là ứng suất chính lớn nhất 1

, ứng suất theo phương ngang x

là ứng suất chính nhỏ nhất 3

, cũng tức là áp lực đất chủ động

tính toán pa Lấy 3  pa

,1  z

thay vào công thức ta sẽ được công thức tính

áp lực đất chủ động Rankine:

Đối với đất cát:

2 tan 45

2

o

Đất có tính sét: (2) 2

p z   c   zKc K

Trong đó:

2

2

o a

Ka : hệ số áp lực đất chủ động:

: dung trọng thiên nhiên của đất

(kN/m3);

C : lực dính của đất (kN/m2);

: góc ma sát trong của đất (độ);

Z : độ sâu từ điểm tính toán đến mặt đất (m)

a) b) Hình 2.1 Áp lực đất chủ động theo Rankine a) Đối với đất cát, b) Đối với đất sét Với đất cát, hợp lực EA của áp lực đất chủ động trên lưng tường sẽ là diện tích của hình phân bố pa, vị trí của điểm tác động ở chỗ trọng tâm của hình phân bố:

2

1 2

(3) Đối với đất tính sét: khi z = 0, từ công thức (2), biết pa   2 c Ka

tức là xuất hiện vùng lực kéo Cho pa trong công

Trang 9

thức 2.2 bằng 0, có thể giải được độ cao

của vùng chịu kéo là:

2

o

a

c h

K

(4)

Vì giữa đất lấp và lưng tường không

thể chịu ứng suất kéo, do đó trong phạm

vi lực kéo sẽ xuất hiện khe nứt, khi tính

áp lực đất chủ động lên lưng tường sẽ

không xét đến tác động của vùng lực kéo

[2], nên: (5)

2

c

Nếu phía sau tường là đất gồm nhiều

lớp (Hình 2.2) vẫn có thể theo công thức

(1) và công thức (2) để tính áp lực đất

chủ động nhưng phải chú ý trên mặt ranh

giới của các lớp đất, do chỉ tiêu cường độ

chịu cắt của 2 lớp đất là khác nhau, làm

cho phân bố của áp lực đất có đột biến

Phương pháp tính như sau:

Hình 2.2 Tính áp lực đất chủ động của đất

gồm nhiều lớp

Điểm a: Pa1   2 c1 Ka1

Trên điểm b (trong tầng đất thứ

nhất): Pa 2 1 1h Ka1 2 c1 Ka1

Dưới điểm b (trong tầng đất thứ

hai):

Điểm c:

3 ( 1 1 2 2) 2 2 2 2

Trong đó:

1 tan 45

2

o a

2 tan 45

2

o a

Khi bề mặt đất phía sau tường chắn

có tải trọng phân bố đều liên tục q tác động, khi tính toán có thể cho ứng suất đứng z

ở độ sâu z tăng thêm một trị q Thay  z trong công thức (1), (2) bằng

(  z q) sẽ được công thức tính áp lực đất

chủ động khi có siêu tải trên mặt đất:

Hình 2.3 Áp lực đất chủ động khi có siêu tải

quanh bờ hố móng Đất tính cát: pa  (  zq K ) a

(6) Đất tính sét:

(7)

2

a o

c q K h

Khi không có siêu tải cố định, để kể đến việc có thể chất tải thi công ở quanh

hố móng, và các yếu tố xe cộ chạy qua… thông thường lấy q = 10 – 20 kN/m2[2]

2.2 Hệ số an toàn khi tính toán neo

Hệ số an toàn của một neo là tỉ số giữa tải trọng giới hạn và tải trọng thiết

kế Sau đây là quy định về hệ số an toàn trong tính toán neo theo quy phạm của một số nước:

Quy định về hệ số an toàn trong tính toán neo trong quy phạm ngành của hội tiêu chuẩn hóa xây dựng Trung Quốc (CECS 22-1990) [6] được trình bày trong bảng 2.1:

Trang 10

Bảng 2.1: Hệ số an toàn neo theo CECS 22-1990

Mức độ nguy hiểm khi thanh neo bị

phá hủy Neo tạm thời Neo vĩnh cửu

Nguy hại nhẹ, không ảnh hưởng công

Nguy hại lớn, không có vấn đề về công

Nguy hại lớn, liên quan đến an toàn

Các hệ số an toàn tối thiểu được

kiến nghị để thiết kế neo theo tiêu chuẩn

Anh BS 8081:1989 [1] được thể hiện trong bảng 2.2

Bảng 2.2: Các hệ số an toàn neo theo BS 8081:1989

Hệ số an toàn tối thiểu

neo

Giao diện đất/vữa

Giao diện vữa/dây/neo hoặc vữa/mũ neo

Hệ số tải trọng thử

Các neo tạm khi thời gian sống nhỏ hơn 6

tháng hoặc sự phá hoại không gây hậu

quả nghiêm trọng hoặc không gây nguy

hiểm công cộng, ví dụ như thử tải cọc

thời gian ngắn dùng neo làm hệ đối trọng

Các neo tạm khi thời gian sống kéo dài

đến 2 năm và hậu quả do phá hoại khá

nghiêm trọng nhưng không gây nguy

hiểm cho an toàn công cộng, không cần

thiết cảnh báo, ví dụ như tường chắn có

neo sau

1,60 2,5* 2,5* 1,25*

Các neo dài hạn và tạm thời khi nguy

hiểm do ăn mòn cao và/hoặc hậu quả do

phá hoại là nghiêm trọng, ví dụ như cáp

chủ của cầu treo hoặc đối trọng để nâng

các bộ phận kết cấu nặng

Một số quy định về hệ số an toàn neo theo các tiêu chuẩn khác:

Bảng 2.3: Hệ số an toàn của neo theo một số tiêu chuẩn

thời Neo vĩnh cửu

Đức (DIN 4125-1990) [12] 1,33 1,50 Nhật (JSFD 1990) [15] 1,50 2,50

2.3 Các phương pháp tính toán tường

neo

Có 3 phương pháp để tính toán,

phân tích tường neo bao gồm:

- Phương pháp RIGID (dầm tựa trên gối cứng)

- Phương pháp WINKLER (dầm tựa trên gối đàn hồi)

Ngày đăng: 17/06/2020, 01:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w