1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Các phương pháp xác định cường độ và biến dạng của nền đất yếu

9 169 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 254,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thực tế xây dựng, có rất nhiều công trình bị lún, sập hư hỏng khi xây dựng trên nền đất yếu do không có những biện pháp xử lý phù hợp, không đánh giá chính xác được các tính chất cơ lý của nền đất.

Trang 1

127

CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CƯỜNG ĐỘ VÀ BIẾN

DẠNG CỦA NỀN ĐẤT YẾU

ThS Võ Thanh Toàn

Khoa Cầu đường, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt

Việt Nam được biết đến là nơi có nhiều

đất yếu, đặc biệt lưu vực sông Hồng và sông

Mê Kông Nhiều thành phố và thị trấn quan

trọng được hình thành và phát triển trên nền

đất yếu với những điều kiện hết sức phức tạp

của đất nền, dọc theo các dòng sông và bờ

biển Thực tế này đã đòi hỏi phải hình thành và

phát triển các công nghệ thích hợp và tiên tiến

để xử lý nền đất yếu

Trong thực tế xây dựng, có rất nhiều

công trình bị lún, sập hư hỏng khi xây dựng

trên nền đất yếu do không có những biện pháp

xử lý phù hợp, không đánh giá chính xác được

các tính chất cơ lý của nền đất Do vậy việc

đánh giá chính xác và chặt chẽ các tính chất cơ

lý của nền đất yếu (chủ yếu bằng các thí

nghiệm trong phòng và hiện trường) để làm cơ

sở và đề ra các giải pháp xử lý nền móng phù

hợp là một vấn đề hết sức khó khăn, nó đòi hỏi

sự kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức khoa học và

kinh nghiệm thực tế để giải quyết, giảm được

tối đa các sự cố, hư hỏng công trình khi xây

dựng trên nền đất yếu

Từ khóa

Đất yếu, cố kết

1 Mở đầu

Đất yếu chưa có một khái niệm rõ ràng và thống nhất Bởi vì trong mối quan

hệ tương tác với công trình có qui mô và tải trọng khác nhau nền đất sẽ ứng xử khác nhau Có khi nền đất là yếu với công trình này, lại không yếu với công trình khác Nhìn chung đất yếu là đất có sức chịu tải thấp, vào khoảng 0.5–1.0 kg/cm2,

có tính biến dạng lớn, hầu như bão hòa nước, có hệ số rỗng lớn (thường e > 1), module biến dạng thấp (E0 ≤ 50 kg/cm2), lực dính c theo kết quả cắt nhanh không thoát nước ≤ 0.15 kg/cm2, góc nội ma sát

từ 00 đến 100 hệ số sức kháng cắt không đáng kể,…

Ngoài ra có thể định nghĩa nền đất yếu theo sức kháng cắt không thoát nước

Su và trị số xuyên tiêu chuẩn N như sau: Đất rất yếu: Su ≤ 12.5kPa hoặc N≤2 Đất yếu: Su ≤ 25kPpa hoặc N ≤ 4 Như vậy nếu không áp dụng các giải pháp xử lý thích hợp thì việc xây dựng công trình trên nên đất yếu sẽ rất khó khăn hoặc không thực hiện được

2 Nguyên nhân làm nền đất yếu

Đất yếu trong định nghĩa của là đất

có độ bền cơ học, thủy lực không cao, dễ

bị biến dạng khi gặp tải trọng Như vậy tác nhân làm ra đất yếu có thể qui về ba nhóm chính

2.1 Do kết cấu

Nguyên nhân này thường gặp ở các điều kiện địa chất đất sỏi, đá cuội, đá tảng Các phần tử đất đá gối lên nhau không chắc chắn, ở một số tải trọng nhất định, công trình lún ít do đất biến dạng không nhiều, ở các tải trọng lớn hơn xảy ra đứt gãy hoặc lún lệch làm công trình đổ sập như đập Malpasset ở Pháp hoặc do yếu tố thay đổi về kết cấu

Trang 2

128

chịu lực của vùng như sập một vài mỏ

khai thác đá ở Việt Nam trong những

năm gần đây có thể tính một phần là do

yếu tố này Cũng có trường hợp đất sét

tạo gối nước trong lòng đất, công trình

đặt lên làm nền đất biến dạng từ từ,

hoặc khoan cọc móng tại vùng địa chất

bên cạnh, dẫn tới nứt ra những khe

ngang làm nước thoát đi, độ lún biến đổi

đột ngột, một số nhà cao tầng ở thành

phố Hồ Chí Minh có thể tính một phần là

vì lí do này mà lún sập

2.2 Do độ ẩm

Nguyên nhân này thường gặp ở đất

cát và đất sét, nước trong đất tồn tại

dưới hai dạng chủ yếu là tự do và liên

kết Đây là các tác nhân chính gây ra

hiện tượng đàn hồi thủy lực và tính nén

của đất Các nhân tố này gây ra sự khó

khăn lớn trong thi công, cản trở việc lắp

đặt và sử dụng thiết bị gia cố Hiện tượng

này phổ biến ở các vùng đồng bằng ven

sông, ven biển, các vùng rừng lâu năm

và là yếu tố chính đối với các công trình

thi công trên biển

2.3 Do đặc tính sinh hóa

Nguyên nhân này thường gặp ở các

điều kiện địa chất đã được gia cố Trải qua

thời gian, do các tác động sinh hóa, như

phản ứng hóa học trong thành phần của

chất gia cố với nước, hoạt động của sinh

vật và vi sinh vật, đất đã được gia cố trở

nên yếu đi Đây là một vấn đề tương đối

khó khăn đối với các công trình sử dụng

biện pháp hóa học để gia cố đất như xi

măng, thủy tinh,…

3 Phân biệt nền đất yếu và một số

loại đất yếu thường gặp

Đất mềm yếu nói chung là loại đất

có khả năng chịu tải nhỏ (áp dụng cho đất

có cường độ kháng nén quy ước dưới 0,50 daN/cm2), có tính nén lún lớn, hệ số rỗng lớn (e>1), có mô-đun biến dạng thấp (Eo<

50 daN/cm2), và có sức kháng cắt nhỏ Khi xây dựng công trình trên đất yếu mà thiếu các biện pháp xử lý thích đáng và hợp lý thì sẽ phát sinh biến dạng thậm chí gây hư hỏng công trình Nghiên cứu xử lý đất yếu có mục đích cuối cùng là làm tăng

độ bền của đất, làm giảm tổng độ lún và

độ lún lệch, rút ngắn thời gian thi công và giảm chi phí đầu tư xây dựng

3.1 Cách phân biệt nền đất yếu

Cách phân biệt nền đất yếu ở trong nước cũng như ở nước ngoài đều có các tiêu chuẩn cụ thể để phân loại nền đất yếu

Theo nguyên nhân hình thành: loại

đất yếu có nguồn gốc khoáng vật hoặc nguồn gốc hữu cơ

- Loại có nguồn gốc khoáng vật: thường là sét hoặc á sét trầm tích trong nước ở ven biển, vùng vịnh, đầm hồ, thung lũng

- Loại có nguồn gốc hữu cơ: hình thành từ đầm lầy, nơi nước tích đọng thường xuyên, mực nước ngầm cao, tại đây các loại thực vật phát triển, thối rữa phân hủy tạo ra các vật lắng hữu cơ lẫn với trầm tích khoáng vật

Phân biệt theo chỉ tiêu cơ lý (trạng thái tự nhiên): Thông thường phân biệt

theo trạng thái tự nhiên và tính chất cơ lý của chúng như hàm lượng nước tự nhiên,

tỷ lệ lỗ rỗng, hệ số co ngót, độ bão hòa, góc nội ma sát (chịu cắt nhanh) cường độ chịu cắt

Phân biệt đất yếu loại sét hoặc á sét, đầm lầy hoặc than bùn theo độ sệt

Một số chỉ tiêu phân biệt loại đất mềm yếu:

Bảng 3.1.Phân loại đất yếu dựa vào lượng nước, độ rỗng, cường độ chịu cắt

Cường độ chịu cắt (kPa)

Giá trị chỉ tiêu ≥ 35 và giới hạn lỏng ≥ 1,0 < 35

Trang 3

129

Bảng 3.2 Phân loại đất yếu dựa vào hệ số co ngót, độ bão hòa, góc ma sát trong

Chỉ tiêu

Loại đất

Hàm lượng nước tự nhiên (%)

Độ rỗng

tự nhiên

Hệ số co ngót (Mpa -1 )

Độ bão hòa (%)

Góc nội ma sát ( o ) (chịu cắt nhanh)

Đất sét > 40 > 1,2 > 0,50 > 95 < 5

Đất á sét

(Đất bột) > 30 > 0,95 > 0,30 > 95 < 5

3.2 Vị trí nền đất yếu

Nền đất yếu thường gặp ở khu vực

miền duyên hải (bãi bồi ven sông, biển)

hoặc ở các thung lũng thuộc vùng núi,…

có chung đặc tính là lượng nước tự nhiên

lớn (≥35%) độ lún cao, cường độ chịu cắt

thấp (< 35kPa), hệ số rỗng lớn (e ≥ 1,0)

và độ thoát nước kém,… khi xây dựng

công trình trên loại đất này dễ bị lún sụt

Từ các khu vực châu thổ Bắc bộ,

Thanh - Nghệ Tĩnh, ven biển Trung bộ, đến

đồng bằng Nam Bộ đều có những vùng đất

yếu Trong lĩnh vực nghiên cứu và xử lý

nền đường đắp trên đất yếu trên các tuyến

đường của Việt Nam, ngành GTVT đã có

nhiều cố gắng trong việc ứng dụng công

nghệ mới để xử lý hàng trăm km đường bộ

đắp trên đất yếu và đã thu được những kết

quả bước đầu đầy khích lệ

3.3 Các loại nền đất yếu thường gặp

Đất sét mềm: gồm các loại đất sét

hoặc á sét tương đối chặt, ở trạng thái

bão hòa nước, có cường độ thấp;

Bùn: Các loại đất tạo thành trong

môi trường nước, thành phần hạt rất mịn

(<200μm) ở trạng thái luôn no nước, hệ

số rỗng rất lớn, rất yếu về mặt chịu lực;

Than bùn: Là loại đất yếu có nguồn

gốc hữu cơ, được hình thành do kết quả

phân hủy các chất hữu cơ có ở các đầm

lầy (hàm lượng hữu cơ từ 20 – 80%);

Cát chảy: Gồm các loại cát mịn, kết

cấu hạt rời rạc, có thể bị nén chặt hoặc

pha loãng đáng kể Loại đất này khi chịu

tải trọng động thì chuyển sang trạng thái

chảy gọi là cát chảy

Đất bazan: Đây cũng là đất yếu với đặc điểm độ rỗng lớn, dung trọng khô bé, khả năng thấm nước cao, dễ bị lún sập

4 Các phương pháp xác định cường

độ và biến dạng nền đất yếu 4.1 Các phương pháp thí nghiệm xác định sức kháng cắt của đất yếu

* Thí nghiệm nén đơn (Unconfined

compression test)

Cường độ chống nén của đất thường được xác định bằng cách nén đến phá hoại một mẫu trong điều kiện nở hông tự do Lực phá hoại khi nén mẫu chỉ tác dụng theo một hướng Do đó thí nghiệm này gọi

là nén một trục – nén đơn

Cường độ chống nén của đất ứng với lúc mẫu bị phá hoại, được thể hiện khi có sự tăng biến dạng tương đối một cách rõ rệt hoặc thấy rõ mẫu đất bị phá hoại bằng mắt Cường độ chống nén của đất cho phép đánh giá được sức chịu tải của nền tức là tải trọng cho phép để nền không bị phá hoại hoặc sức chịu tải của nền tức thời

Cường độ chống nén q u hay sức kháng nén đơn cực hạn của mẫu đất được tính theo công thức:

A

P

q u max

(1) Trong đó:

P max– Lực nén lớn nhất làm mẫu bị phá hoại (ghi nhận trên đồng hồ đo lực)

A – Diện tích tiết diện mẫu bị phá

hoại Tương quan giữa cường độ chống

Trang 4

130

nén q u và giá trị sức chống cắt

Sức chống cắt không thoát nước hay

lực dính không thoát nước

2

u u

q

c

(2) Trong đó: u = 0

Thí nghiệm phù hợp để xác định sức

chống cắt của đất sét bão hòa nước hoàn

toàn

* Thí nghiệm cắt trực tiếp (Direct

shear test)

Tùy theo tương quan giữa tốc độ

truyền lực nén và lực cắt, cùng điều kiện

thoát nước của mẫu đất khi thí nghiệm, có

thể phân biệt các phương pháp (sơ đồ)

chính sau đây để xác định sức chống cắt

Tiến hành thí nghiệm trên mẫu đất

có h=2cm, Ø=6.3cm

- Sơ đố cắt nhanh không cố kết (UU):

Sau khi mẫu thí nghiệm đặt vào hộp

cắt, cho tác dụng lực thẳng đứng N để xác

định cấp áp lực pháp tuyến đầu tiên σ1

Cho hộp cắt ngập nước và kiểm tra các

thiết bị đo

Tác động lực cắt ngang (T) chuyển

động với vận tốc cắt khoảng

1.25mm/phút và cho chuyển vị liên tục

trong khoảng 9mm Số đo ứng suất cắt

được đọc ở đồng hồ gắn với vòng ứng biến

theo từng khoảng chuyển vị bằng nhau

Phương thức tiến hành tương tự như

trên cho 3 mẫu đất thí nghiệm với các cấp

áp lực pháp tuyến khác nhau

Như vậy, ngay sau khi đặt ứng suất

pháp σ, áp lực nước lỗ rỗng thặng dư xuất

hiện trong mẫu đất và trong suốt quá

trình cắt nhanh áp lực nước lỗ rỗng thay

đổi nhưng không đo đạc được chúng

Từ kết quả thí nghiệm, ta xác định

được các thông số sức kháng cắt ở trạng

thái ứng suất tổng c u và φ u

- Sơ đồ cắt nhanh, cố kết (CU):

Quá trình chuẩn bị đến thí nghiệm

cắt là tương tự như trong thí nghiệm UU,

ngoại trừ các dao vòng mẫu thí nghiệm

cho cố kết trước theo từng cấp áp lực

pháp tuyến dự kiến trước khi tiến hành thí

nghiệm cắt Trong thí nghiệm này cũng

không đo được áp lực nước lỗ rỗng

Từ kết quả thí nghiệm, ta xác định được các thông số sức kháng cắt ở trạng

thái ứng suất tổngc cu và φ cu

- Sơ đồ cắt chậm, cố kết (CD):

Mẫu đất thí nghiệm được cố kết dưới

áp lực nén thẳng đứng cho đến khi kết thúc giai đoạn cố kết ban đầu Sau đó cắt mẫu với tốc độ dịch chuyển đủ chậm để nước có thể thoát ra Tùy theo loại đất và khả năng của thiết bị mà chọn vận tốc cắt cho phù hợp Sơ đồ thí nghiệm này có thể được xem như cắt ở trạng thái cố kết, thoát nước, cung cấp thông số ứng suất hữu hiệu

Từ kết quả thí nghiệm, ta xác định được trị số c’ và φ’

- Ưu điểm:

+ Cơ sở lý thuyết đơn giản dễ chấp nhận

+ Là thí nghiệm đơn giản nhất để xác định sức chống cắt: cách chuẩn bị mẫu, thực hiện thí nghiệm đơn giản, không đòi hỏi máy móc phức tạp Do vậy, thí nghiệm được sử dụng rộng rãi

+ Thời gian thực hiện nhanh

- Khuyết điểm:

+ Máy cắt trực tiếp chỉ cắt theo một mặt phẳng ấn định trước, đôi khi mặt phẳng này chưa phải là mặt phẳng yếu nhất trong nền (đối với đất trầm tích không đồng nhất, mặt trượt là mặt xiên)

Do vậy kết quả c, φ tìm được theo thí nghiệm này không phản ánh trung thực ứng xử của nền

+ Sự phân bố ứng suất trên bề mặt cắt là không đều

Do vậy để có kết quả chính xác hơn

về hình ảnh của một mẫu đất khi làm việc trong phòng thí nghiệm giống như nền đất khi làm việc ở ngoài hiện trường, người ta

thường dựa vào thí nghiệm nén 3 trục (triaxial compression test) thì sẽ tìm được

c, φ chính xác hơn Hơn nữa c, φ cũng được xác định theo 3 sơ đồ khác nhau phù hợp điều kiện thoát nước và tốc độ xây dựng công trình trong thực tế nhằm mục đích ứng dụng các thiết bị hiện đại trong nghiên cứu thí nghiệm xác định các thông

Trang 5

131

số phục vụ cho tính toán ổn định lâu dài

các công trình

* Thí nghiệm nén ba trục (Triaxial

compression test)

Thí nghiệm nén ba trục là thí nghiệm

xác định sức kháng cắt của đất được áp

dụng rộng rãi nhất hiện nay bởi vì thí

nghiệm này mô hình hóa được đúng hơn

trạng thái ứng suất tự nhiên của mẫu đất

trong điều kiện thế nằm tự nhiên Thí

nghiệm được thực hiện trên mẫu đất hình

trụ có tỉ số giữa chiều cao và đường kính

bằng 2/1: kích thước mẫu thường là 100 x

50mm hoặc 76 x 38mm

Trong thực tế, sức kháng cắt của đất

thường được thực hiện theo 3 sơ đồ:

Thí nghiệm không cố kết, không

thoát nước đối với đất bão hòa, ký hiệu

UU

Đây là sơ đồ thí nghiệm đơn giản,

vận hành nhanh, giá thành rẻ và thông

dụng nhất của thí nghiệm nén ba trục Kết

quả sức kháng cắt thu được là ở trạng thái

ứng suất tổng

Những nguyên lý được trình bày sau

đây chỉ liên quan đến đất bão hòa Trong

suốt quá trình thí nghiệm, nước lỗ rỗng bị

khống chế không được thoát ra ngoài,

mẫu đất không được cố kết dưới các tải

trọng tác dụng lên nó Vì nước và cốt đất

hầu như không chịu nén và giả thiết trong

nước không chứa không khí nên trong quá

trình thí nghiệm mẫu không bị biến dạng

thể tích Khi thí nghiệm với đất bão hòa,

độ tăng nào đó của ứng suất tổng tạo nên

sự tăng tương ứng của áp lực nước lỗ rỗng

(Δu = Δσ) và vì thế không xảy ra sự tăng

ứng suất hiệu quả, tức là Δσ’=0 Khi đó ta

có: S u = c u và u = 0

Giá trị S u gọi là sức kháng cắt không

thoát nước của đất

Thí nghiệm cố kết, không thoát nước

đối với đất bão hòa, ký hiệu CU

Trong phương pháp thí nghiệm có cố

kết – không thoát nước, sau khi bơm nước

vào buồng nén và tăng áp tạo ứng suất

đẳng hướng σ c lên mẫu đất, áp lực nước

trong mẫu đất sẽ tăng lên một lượng bằng

với σ c, nếu mẫu đất là mềm và bão hòa

hoàn toàn Giữ yên áp lực trong buồng nén cho đến lúc áp lực nước lỗ rỗng thặng

dư bên trong mẫu phân tán hết (có cố kết), lúc này ứng suất hữu hiệu theo các phương như nhau và bằng với áp lực

buồng nén (σ 1 ’= σ 2 ’= σ 3 ’= σ c )

Sau đó giữ nguyên áp lực buồng nén, khóa van thoát nước tức là thể tích mẫu đất bão hòa nước không đổi thể tích,

gia tăng ứng suất thẳng đứngσ 1 cho đến lúc mẫu đất bị trượt, đo áp lực nước lỗ rỗng gia tăng u trong suốt quá trình tăng tải Vận tốc nén từ 1mm/phút đến 2mm/phút Trong quá trình áp ứng suất

lệch q=Δu = σ 1 - σ 3 = Δσ 1

- Mẫu đất là cát rời hoặc đất dính cố

kết thường (NC = normally consolidation),

nếu không thoát nước áp lực nước lỗ rỗng

sẽ tăng

- Mẫu đất là cát chặt hoặc đất dính

cố kết trước mạnh (OC = over consolidation), nếu không thoát nước áp

lực nước lỗ rỗng sẽ giảm

Kết quả thu được theo sơ đồ này là sức kháng cắt theo hai trạng thái:

Đặc trưng sức kháng cắt cố kết

không thoát nước: c cu và φ cu sử dụng cho thiết kế đắp đất theo giai đoạn trên nền đất yếu

Đặc trưng sức kháng cắt cố kết, thoát nước: c’ và φ’ được dùng trong tính

ổn định dài hạn

Thí nghiệm cố kết, thoát nước, ký hiệu CD

Giống như trong thí nghiệm cố kết không thoát nước, mẫu thí nghiệm trước tiên được tiến hành cố kết dưới các tải trọng tác dụng lên nó nhưng ở giai đoạn nén, mẫu đất được thoát nước tự do Sau

đó tăng tải trọng gây cắt Tốc độ tăng tải trọng gây cắt phải chậm đủ để đảm bảo rằng không xảy ra việc tăng áp lực nước

lỗ rỗng

Vận tốc cắt (nén) cực đại được suy

ra từ thời gian cố kết mẫu:

100

0 max

t b

H

(3) Trong đó:

Trang 6

132

ε f : Biến dạng tương ứng giai đoạn

sụp đổ theo các thí nghiệm trước (ε f=3%

cho sét cứng hoặc sét cố kết trước; ε f =

6% cho các trường hợp khác);

t 100 : Thời gian cố kết 100% của

mẫu;

H0 : Chiều cao ban đầu của mẫu;

b = 8.5;

Đặc trưng sức kháng cắt nhận được,

theo sơ đồ thí nghiệm này, ở trạng thái

ứng suất hữu hiệu với các thông số c’ và

φ’ riêng của mẫu

Thí nghiệm theo phương pháp CD

nhằm mô phỏng ứng xử của đất vào giai

đọan mà cố kết sơ cấp đã kết thúc

Các tham số sức chống cắt (c, φ)

được thí nghiệm theo cùng một sơ đồ dựa

vào máy cắt trực tiếp và máy nén 3 trục

có sự khác nhau nhưng không đáng kể

Trong đó góc ma sát φ được thí

nghiệm theo 2 sơ đồ khác nhau (CU) và

(CD) trên các lọai máy lớn hơn góc ma sát

của đất trong điều kiện không cố kết và

không thoát nước (UU) trên 100 tùy theo

tốc độ cắt hoặc nén

Lực dính của đất có khác nhau,

nhưng không nhiều

Khi các công trình đất đắp như

đường, đê, đập,… được đặt trưc tiếp trên

nền đất sét mềm và phải hoàn thành công

trong một đợt thi công thì nên chọn các

tham số sức chống cắt (c, φ) theo sơ đồ

(UU) Khi đợt đắp thứ 2 trở đi thì chọn các

tham số sức chống cắt (c, φ) theo sơ đồ (CU) hoặc (CD)

Nếu các công trình này được đắp trên nền đất sét mềm có gia cố bằng giếng cát hoặc bấc thấm kết hợp gia tải trước thì các tham số sức chống cắt (c, φ) được chọn để thiết kế phải theo sơ

đồ (CD)

Bảng tổng kết của Ladd, năm 1971,

về ứng dụng các phương pháp thí nghiệm khác nhau để tính sức chống cắt và sức chịu tải của đất nền dưới công trình

Bảng 4.1 Một số ứng dụng của phương pháp

CD

CD

Thi công công trình đất đắp từng lớp thật chậm trên nền sét mềm

Ứng suất chống cắt tại chỗ có thoát nước sau khi đã cố kết

Đập đất với sự

thường trực

Ứng suất chống cắt của lõi đập có thoát nước, sau khi đã cố kết

Mái dốc tự nhiên hoặc mái đào của hố móng

Ứng suất chống cắt tại chỗ có thoát nước, sau khi đã cố kết

Móng nông trên nền đất sét, sau khi lún

ổn định

Ứng suất chống cắt tại chỗ có thoát nước, sau khi đã cố kết

Bảng 4.2 Một số ứng dụng của phương pháp CU

Công trình và giai đọan làm việc

Đắp lớp đất tiếp theo sau khi đã cho nền

cố kết hoàn toàn với lớp đắp trước của

công trình đất đắp, hoặc gia tải từng cấp

trong gia tải trước

Ứng suất chống cắt tại chỗ không thoát nước, ngay sau khi đắp lớp sau và nền đã

cố kết hoàn toàn bởi tải của lớp đắp trước

Xả nước hồ chứa nhanh Lõi không thấm

của đập chưa kịp thoát nước trong quá

trình tháo đập

Ứng suất chống cắt lõi đập không thoát nước, trong lúc xả nhanh hồ chứa, sau khi lõi đã cố kết hoàn toàn trong sự thấm thường trực

Thi công nhanh công trình đất đắp trên

suờn dốc

Ứng suất chống cắt ngay sau khi gia tải không thoát nước, nền đã cố kết hoàn toàn bởi trọng lượng bản thân trước đó

Trang 7

133

Bảng 4.3 Một số ứng dụng của phương pháp UU

Công trình và giai đọan làm việc tương

ứng

Ứng suất chống cắt UU

Thi công nhanh công trình đất đắp trên

lớp sét mềm

Ứng suất chống cắt ngay sau khi gia tải không thoát nước, nền sét mềm chưa cố kết hoàn toàn bởi tải trọng lượng bản thân (NC)

Đập kích thước lớn khi thi công nhanh,

độ ẩm của lõi không kịp thay đổi

Ứng suất chống cắt không thoát nước của lõi sét đầm chặt của đập

Móng nông thi công nhanh trên nền sét Sức chịu tải phụ thuộc ứng suất chống

cắt không thoát nước

* Thí nghiệm cắt cánh hiện trường (Field

Vane test)

Ta đã biết, khả năng thoát nước của

lỗ rỗng của đất dính rất chậm nên trong

một số trường hợp tính toán nền móng,

đặc biệt nghiên cứu đất đắp trên nền đất

yếu, thì thí nghiệm theo sơ đồ UU (không

thoát nước, không cố kết) là thích hợp

Trong khi đó, việc xác định c u ở trong

phòng thí nghiệm không phải lúc nào cũng

thuận lợi, nhất là sét yếu và than bùn

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên,

người ta đề xuất một loại thí nghiệm,

không cần tiến hành lấy mẫu nguyên

dạng, có thể xác định nhanh chóng sức

kháng cắt không thoát nước của đất yếu

Phương pháp cắt cánh thường được sử

dụng trong các loại đất mềm yếu, khó có

khả năng lấy mẫu nguyên dạng để thí

nghiệm trong phòng như đất loại sét mềm

yếu, cát hạt nhỏ và mịn bão hòa nước, các

loại đất bùn và than bùn Hiện nay, ở

nước ta, khi thiết kế nền đất yếu, thiết kế

thi công cọc khoan nhồi, hố móng, người

ta thường sử dụng phổ biến các tài liệu thí

nghiệm cắt cánh

Thí nghiệm cắt cánh theo nguyên

tắc là cắt đất trên một mặt phẳng định

sẵn Nguyên lý thí nghiệm rất đơn giản là

ấn vào trong đất một cánh cắt chữ thập

bằng thép, sau đó quay cánh cắt cho đến

khi đất bị cắt xoay tròn (phá hủy) xung

quanh trục của nó và đo mô-men xoắn

Đất bị cắt trong thời gian khá nhanh, nước

không kịp thoát ra ngoài nên thí nghiệm

được xem như là theo sơ đồ UU Ta tính

được ứng suất tiếp τ, từ đó có sức kháng

cắt không thoát nước S u (tức là c u) của đất yếu, do u = 0

3 7

6

d

M x

(4) Trong đó:

M x: Mô-men giới hạn do ngọai lực tác dụng lên cần nối và cánh chữ thập

d : Đường kính cánh chữ thập

Thí nghiệm cắt cánh có độ tin cậy tương đối tốt Các sai sót có thể có do thí nghiệm cắt cánh thường là: cánh cắt quá dày, tỷ lệ chiều cao với bề rộng cánh không phù hợp, ma sát

4.2 Các phương pháp thí nghiệm xác định tính nén lún của đất yếu

Bên cạnh các tham số (c, φ) đặc trưng cho sức chống cắt của đất nền Tính nén lún của nền đất yếu còn được đặc trưng bởi các hệ số nén lún a hoặc chỉ số nén Cc; hệ số cố kết thẳng đứng Cv; mô-đun biến dạng E0

Sau đây là một số phương pháp thí nghiệm xác định mô đun biến dạng E của nền đất

Mô-đun biến dạng E cho biết khả năng chống lại tác dụng nén lún của tải trọng tác dụng

- Khi E càng nhỏ thì đất càng yếu và biến dạng lún lớn

- Khi E càng lớn thì đất tốt và biến dạng lún nhỏ E = 300 ÷ 5000kN/m2 (đất bùn yếu) đến 100000kN/m2 (đá gốc, đá tảng)

- Mô-đun đàn hồi là mô đun chỉ xét đến biến dạng đàn hồi

- Mô-đun biến dạng khi xét đến biến

Trang 8

134

dạng đàn hồi và biến dạng dư

* Thí nghiệm bàn nén hiện trường:

Khi xác định E trong phòng nghiệm

không phản ánh hoàn toàn đầy đủ tính

liên tục của đất (đất nền bị nở hông khi

chịu nén), để có giá trị E phù hợp với

trạng thái của khối đất tự nhiên, người ta

dùng phương pháp thí nghiệm bàn nén

hiện trường

Ngành xây dựng thường dùng bàn

nén vuông có cạnh từ 0,3m; 0,45m;

0,6m; 0,75m;… Ngành cầu đường thường

sử dụng bàn nén tròn có đường kính

0,75m Đôi khi, bàn nén được tiến hành ở

đáy hố khoan với những bàn nén tròn

cùng đường kính lỗ khoan

Thí nghiệm bàn nén hiện trường là

tăng tải từng cấp lên bàn nén, đo chuyển

vị đứng của bàn nén ứng với từng cấp tải

trọng, cho đến khi đạt được tải trọng giới

hạn Pult (tải trọng ứng với giá trị đó,

chuyển vị đứng của bàn nén giảm dần về

giá trị ổn định Giá trị ổn định được chọn

khi trong khoảng thời gian 1 giờ độ lún

nhỏ hơn 0,2mm)

Từ kết quả bàn nén hiện trường, ta

vẽ đường cong quan hệ giữa ứng suất và

biến dạng đứng của bàn nén

Mô đun đàn hồi của nền đất được

xác định theo biểu thức:

s

p R E

 1 , 57 ( 1 2) .

(5) Trong đó:

ν : hệ số Poisson

R : bán kính bàn nén

Δp: biến thiên cấp áp lực trong pha

đàn hồi

Δs: biến thiên độ lún, tương ứng

khoảng cấp áp lực nêu trên

* Phương pháp nén cố kết (OCT):

Độ lún của đất yếu bão hòa nước,

dưới tác dụng của tải trọng, xảy ra hiện

tượng cố kết

Hiện tượng này có thể xác định trên thiết bị nén một trục không nở hông và thí nghiệm nén 3 trục Tuy nhiên, thí nghiệm nén 3 trục tiến hành khá phức tạp Thí nghiệm nén cố kết được tiến hành trên máy nén một trục nhằm xác định sự thay đổi chiều cao của một mẫu đất nguyên dạng trong một hộp hình trụ không cho phép biến dạng ngang và chịu áp lực thẳng đứng

Mẫu đất được lấy vào trong một dao vòng bằng thép không rỉ, cứng có đường kính 70mm, chiều cao 20mm Dao vòng,

có mẫu đất, được đặt trong một hộp nén với 2 viên đá bọt ốp trên và dưới Cả hộp được đặt chìm trong nước

Hộp mẫu được đặt trong hệ khung đặc biệt, có thể gia tải qua cánh tay cân, trên đó treo các quả cân có trọng lượng khác nhau Đo chuyển vị thẳng đứng mẫu đất bằng thiên vân kế gắn liền với khung Tiến hành chất tải theo cấp đầu tiên của cấp áp lực dự kiến (0,25 - 0,5 - 1,0 - 2,0 - 4,0 - 8,0 - 16,0 - 32,0 kg/cm2) Kết quả quan trắc được thể hiện dưới 2 dạng biểu đồ:

+ Biểu đồ quan hệ giữa hệ số rỗng – cấp áp lực

+ Biểu đồ quan hệ giữa chuyển vị - thời gian

Tại hai điểm bất kỳ trên đường cong nén lún ta có thể rút ra biểu thức:

) 1

e H H

(6)

e a

 là hệ số nén lún và

khi đó ta có:

0 0

1

v

e E

a

Phương pháp dùng bảng tra:

Trang 9

135

5 Kết luận

Khi nghiên cứu về các đất yếu, cần

tiến hành các thí nghiệm để xác định các

đặc trưng cơ học (cường độ chống cắt và

các đặc trưng biến dạng) của chúng

Các chỉ tiêu biểu thị sức kháng cắt

của đất gồm có lực dính kết c và góc ma

sát trong φ Tuỳ theo các giải pháp thiết

kế khác nhau màc, φ sẽ được xác định

theo các phương pháp thí nghiệm khác nhau

Các chỉ tiêu biểu thị tính nén lún của

đất gồm có: hệ số nén lún a v hoặc chỉ số

nén C c ; hệ số cố kết thẳng đứng C v; mô

đun biến dạng E 0

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bùi Trường Sơn, 2009 “Bài giảng địa chất công trình”

[2] Bùi Trường Sơn, 2009 “Thổ chất và công trình đất”

[3] Châu Ngọc Ẩn, 2009 “Cơ học đất” NXB Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh

[4] K.H.Head, 1994 “Soil laboratory testing, volume 2, Permeability, shear strength and compressibility”

[5] Tiêu chuẩn xây dựng TCVN 8868-2011; TCVN 4199-1995; TCVN 4200-2012; TCVN 9354-2012

Ngày đăng: 17/06/2020, 00:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w