1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Cơ sở lý thuyết và phương pháp xác định điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước trong nhà

9 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 335,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi tính toán thủy lực mạng lưới cấp nước nói chung và mạng lưới cấp nước lạnh trong nhà nói riêng, ta đều phải tính toán cho trường hợp bất lợi nhất. Trường hợp bất lợi nhất của mạng được thiết lập khi mạng phải chuyển tải lưu lượng nước lớn nhất với điểm bất lợi của mạng được xác định.

Trang 1

`

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH

ĐIỂM BẤT LỢI CỦA MẠNG LƯỚI CẤP NƯỚC TRONG NHÀ

KS Đào Xuân Trà

Khoa Kỹ thuật Hạ tầng Đô thị, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt

Khi tính toán thuỷ lực mạng lưới cấp

nước nói chung và mạng lưới cấp nước lạnh

trong nhà nói riêng, ta đều phải tính toán cho

trường hợp bất lợi nhất Trường hợp bất lợi

nhất của mạng được thiết lập khi mạng phải

chuyển tải lưu lượng nước lớn nhất với điểm

bất lợi của mạng được xác định

Không thể hoàn tất việc tính toán thuỷ

lực mạng lưới cấp nước khi chưa xác định được

điểm bất lợi của nó Nhưng việc xác định điểm

bất lợi của mạng lưới cấp nước nhiều khi lại rất

tốn thời gian mà vẫn có thể dẫn đến nhầm lẫn

Sau đây, trình bày cơ sở lý thuyết và

phương pháp xác định điểm bất lợi của mạng

lưới cấp nước lạnh trong nhà, hỗ trợ việc tính

toán thuỷ lực mạng lưới cấp nước hoàn tất

nhanh chóng và chính xác

Từ khóa

Hệ thống cấp nước, tính toán thuỷ lực,

điểm bất lợi

1 Đặt vấn đề

Như chúng ta đã biết, một nội dung quan trọng của việc tính toán thuỷ lực mạng lưới cấp nước lạnh trong nhà là xác định áp lực cần thiết (Hct) của mạng Áp lực cần thiết của mạng, là áp lực mà mạng lưới cấp nước đó yêu cầu phải cung cấp cho nó, để nó có thể đưa nước tới được mọi điểm tiêu thụ nước bên trong ngôi nhà, đáp ứng các yêu cầu của việc sử dụng nước

Áp lực cần thiết của mạng lưới cấp nước được xác định theo công thức sau đây:

Hct = Hhh + Hđh + Hdđ + Hcb + Hd (m) Trong đó:

Hhh - Độ cao hình học đưa nước, tính từ điểm trích nước trong sơ đồ cấp nước (trục ống cấp nước ngoài phố) đến điểm bất lợi

Hđh - Tổn thất áp lực qua đồng hồ

đo nước (Hđh = S.Qtt2)

Hdđ, Hcb - Tổng tổn thất áp lực dọc đường, tổng tổn thất áp lực cục bộ trên tuyến ống bất lợi (Hcb = 30% Hdđ)

Hd - Áp lực dư cần có tại đầu vòi nước của thiết bị dùng nước tại điểm bất lợi (Hd = 2 - 4m cột nước)

Trong công thức trên, trừ thông số Hđh ra, thì các thông số còn lại (Hhh, Hdđ, Hcb, Hd) đều liên quan đến khái niệm điểm bất lợi hay tuyến ống bất lợi Tuyến ống bất lợi sẽ hoàn toàn được xác định khi ta xác định được điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước đó

Điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước được xác định dựa trên những cơ sở lý thuyết được trình bày dưới đây

2 Cơ sở lý thuyết về điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước

Trang 2

2.1 Những yếu tố bất lợi của điểm

(điểm tiêu thụ nước)

Khi yêu cầu sử dụng nước tại các

điểm trên mạng lưới cấp nước là như

nhau, những yếu tố thuỷ lực xuất hiện

khiến cho điểm đó có khả năng phải

nhận giá trị áp lực thấp nhất, thì những

yếu tố thuỷ lực đó được gọi là những yếu

tố bất lợi của điểm Trong trường hợp

yêu cầu sử dụng nước tại các điểm trên

mạng lưới cấp nước là khác nhau, thì

cần phải xác định thêm một yếu tố thuỷ

lực khác nữa, đó là áp lực dư đòi hỏi tại

các điểm đó Như vậy, trong trường hợp

tổng quát, những yếu tố bất lợi của điểm

sẽ bao gồm:

2.1.1 Độ cao hình học đưa nước

(Hhh)

Độ cao hình học đưa nước của điểm,

được tính từ điểm trích nước trong sơ đồ

cấp nước, tức là từ trục ống cấp nước

ngoài phố đến điểm tính toán đó Điểm

nào có độ cao hình học đưa nước càng

lớn, thì điểm đó sẽ càng bất lợi

2.1.2 Tổng tổn thất áp lực dọc đường

(Hdđ)

Tổng tổn thất áp lực dọc đường

trong tuyến ống cấp nước, là một trong

những yếu tố quyết định áp lực đầu ra tại

điểm cuối của tuyến ống Điểm nào có

tổng tổn thất áp lực dọc đường trên tuyến

ống tính từ điểm trích nước tới nó mà

càng lớn, thì điểm đó sẽ càng bất lợi

2.1.3 Tổng tổn thất áp lực cục bộ

(Hcb)

Tương tự như trên, tổng tổn thất áp

lực cục bộ trong tuyến ống cấp nước, cũng

là một trong những yếu tố quyết định áp lực

đầu ra tại điểm cuối của tuyến ống Điểm

nào có tổng tổn thất áp lực cục bộ trên

tuyến ống tính từ điểm trích nước tới nó mà

càng lớn, thì điểm đó sẽ càng bất lợi

2.1.4 Áp lực dư đòi hỏi (Hd)

Trong trường hợp yêu cầu yêu cầu

sử dụng nước tại các điểm trên mạng lưới

cấp nước là khác nhau, điểm nào có áp lực

dư đòi hỏi càng lớn, thì điểm đó sẽ càng

bất lợi

Đối với mạng lưới cấp nước lạnh trong nhà, thì áp lực dư đòi hỏi của vòi tắm hoa sen là lớn nhất, từ 3 - 4 mét cột nước Còn của các thiết bị dùng nước khác chỉ cần từ 1.5 - 2.0 mét cột nước là đảm bảo yêu cầu

2.2 Nhận dạng điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước

Với những yếu tố bất lợi của điểm đã nêu trên, dựa trên cơ sở lý thuyết tính toán thuỷ lực mạng lưới cấp nước, ta hiển nhiên thấy rằng: Điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước, là điểm có tổng đại số các giá trị của các yếu tố bất lợi đối với nó là lớn nhất, so với tổng tương ứng của bất

kỳ điểm tiêu thụ nước nào trong mạng lưới cấp nước đó Điều đó có nghĩa là, nếu một điểm X nào đó trong mạng lưới cấp nước mà là điểm bất lợi, thì điểm X đó phải thoả mãn điều kiện: Tổng đại số các giá trị của các yếu tố bất lợi đối với X là lớn nhất, so với tổng tương ứng của bất

kỳ điểm tiêu thụ nước nào trong mạng lưới cấp nước đó, tức là, tổng đại số của X: HX = HhhA-X + HdđA-X + HcbA-X + HdX (m) phải là lớn nhất, so với tổng tương ứng của bất kỳ điểm tiêu thụ nước nào trong mạng lưới cấp nước, với:

A : Điểm trích nước trong sơ đồ cấp nước

HhhA-X : Độ cao hình học đưa nước tính từ điểm A đến điểm X đó

HdđA-X , HcbA-X : Tổng tổn thất áp lực dọc đường, tổng tổn thất áp lực cục bộ trên tuyến ống A - X

HdX : Áp lực dư đòi hỏi tại điểm X đó Nhận dạng được điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước, sẽ là tiền đề quan trọng cho phương pháp xác định điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước

3 Phương pháp xác định điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước

Từ cơ sở lý thuyết nêu trên, phương pháp xác định điểm bất lợi của một mạng lưới cấp nước sẽ trở nên đơn giản, đó là: muốn tìm điểm bất lợi của mạng, ta chỉ việc lập tổng đại số (H) ở trên đối với mọi điểm tiêu thụ nước, sau đó đem so sánh

Trang 3

Điểm nào có tổng của nó lớn nhất, thì

điểm đó sẽ là điểm bất lợi

Tuy nhiên, để xác định điểm bất lợi

một cách nhanh chóng, ta cần phải chú ý

đến những điểm (điểm tiêu thụ nước) đặc

biệt trong mạng lưới cấp nước Trong

trường hợp thông thường, đối với mạng

lưới cấp nước lạnh trong nhà, thì những

điểm đặc biệt trong mạng là những điểm

sau đây:

- Những điểm tiêu thụ nước ở tầng

trên cùng, vì những điểm này có độ cao

hình học (Hhh) lớn hơn, so với các điểm

tiêu thụ nước ở các tầng phía dưới

- Những điểm tiêu thụ nước, là điểm

đầu mút của các tuyến ống ở tầng trên

cùng, vì những điểm này có chiều dài

tuyến ống so sánh lớn, do đó giá trị tổng

tổn thất áp lực dọc đường và tổng tổn thất

áp lực cục bộ (Hdđ , Hcb) sẽ lớn

- Những tiêu thụ nước có lắp đặt vòi

tắm hoa sen ở tầng trên cùng, vì những

điểm này có áp lực dư đòi hỏi (Hd) lớn

hơn so với các điểm tiêu thụ khác

Khi đã tìm được những điểm đặc biệt

trong mạng lưới cấp nước, ta chỉ việc lập

tổng (H) đối với từng điểm đặc biệt đó rồi

đem so sánh, điểm nào có tổng của nó lớn

nhất thì điểm đó sẽ là điểm bất lợi

Khi đã xác định được điểm bất lợi

của mạng lưới cấp nước, thì áp lực cần

thiết (Hct) của mạng lưới cấp nước đó sẽ

được xác định cụ thể theo điểm bất lợi Vì

thế, công thức xác định Hct của mạng

lưới cấp nước, lúc này sẽ được viết lại

như sau:

Hct = HhhA-BL + Hđh + HdđA-BL +

HcbA-BL + HdBL (m)

Với: A: Điểm trích nước trong sơ đồ

cấp nước

BL: Điểm bất lợi của mạng đã được

xác định

Sau đây, trình bày tóm tắt ví dụ về

cách xác định điểm bất lợi của một mạng

lưới cấp nước lạnh trong nhà cụ thể

4 Ví dụ

Cho sơ đồ không gian mạng lưới cấp

nước lạnh của một ngôi nhà 2 tầng như

hình vẽ, với A là điểm trích nước Lưu lượng nước chảy qua từng đoạn ống đã xác định và chiều dài các đoạn ống được ghi trong bảng 01 Tổn thất áp lực qua đồng hồ đo nước giả thiết bằng 0.75m (Hđh = 0.75m)

Hãy xác định điểm bất lợi và từ đó tính

áp lực cần thiết của mạng lưới cấp nước

Bảng 1 Lưu lượng và chiều dài các đoạn ống

Đoạn ống

Lưu lượng Q(l/s)

Chiều dài l(m)

Hình 1 Sơ đồ không gian mạng lưới cấp nước

Từ lưu lượng nước chảy qua từng đoạn ống đã xác định, ta lập bảng tính toán thuỷ lực cho mạng lưới cấp nước, kết quả tính toán thể hiện trong bảng 02 Tra ống nhựa tổng hợp Vận tốc nước

Trang 4

chảy trong các đoạn ống lấy theo giá trị

kinh tế từ 0.60 - 1.20 m/s Đường kính

các đoạn ống lấy giá trị nhỏ nhất thoả

mãn vận tốc kinh tế Tổn thất áp lực dọc

đường trong các đoạn ống xác định theo công thức hdđ = i.l (m) Tổn thất áp lực cục bộ trong các đoạn ống lấy bằng 30%

hdđ của đoạn ống đó

Bảng 2 Bảng tính toán thuỷ lực mạng lưới cấp nước

Kết quả tính toán thuỷ lực mạng lưới

cấp nước tại bảng 02 là cơ sở để xác định

điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước và từ

đó tính áp lực cần thiết của mạng

a Xác định điểm bất lợi của mạng lưới

cấp nước

- Tìm những điểm đặc biệt trong mạng

(điểm tiêu thụ nước)

+ Những điểm ở tầng trên cùng

(tầng 2): 04 điểm là D, E, F, G

+ Những điểm đầu mút của các

tuyến ống ở tầng trên cùng (tầng 2): 02

điểm E, G Vậy loại được 02 điểm là D và F

+ Những điểm có lắp đặt vòi tắm

hoa sen ở tầng trên cùng (tầng 2): Điểm

D Vậy điểm D lại được bổ sung

Như vậy, tổng hợp lại ta tìm được 03

điểm đặc biệt trong mạng là E, G, D

- Lập tổng HX = HhhA-X + HdđA-X+ HcbA-X +

Hd (m) đối với 03 điểm đặc biệt E, G, D,

với điểm X trong biểu thức lần lượt được

thay thế bằng 03 điểm E, G, D

+ Đối với điểm E:

HhhA-E = 5.9 m

HdđA-E = 0.74 + 0.14 + 0.10 + 0.12 = 1.10 m

H cbA-E = 30% H dđA-E = 0.30 x 1.10 = 0.33 m

Hd = 2.0 m (không phải vòi tắm hoa sen)

Vậy đối với E:

Tổng HE = H hhA-E + H dđA-E + H cbA-E + H d (m)

HE = 5.9 +1.10 + 0.33 + 2.0 = 9.33 (m)

+ Đối với điểm G

HhhA-G = 5.9 m

HdđA-G = 0.74 + 0.14 + 0.08 + 0.22 = 1.18 m

H cbA-G = 30% H dđA-G = 0.30 x 1.18 = 0.35 m

H d = 2.0 m (không phải vòi tắm hoa sen)

Vậy đối với G:

Tổng HG = H hhA-G + H dđA-G + H cbA-G + H dG (m)

HG = 5.9 +1.18 + 0.35 + 2.0 = 9.43 (m)

+ Đối với điểm D

HhhA-D = 5.9 m

HdđA-D = 0.74 + 0.14 + 0.10 = 0.98 m

HcbA-D = 30% HdđA-D = 0.30 x 0.98 = 0.29 m

HdD = 3.0 m (vòi tắm hoa sen) Vậy đối với D:

Tổng H D = HhhA-D + HdđA-D + HcbA-D + HdD (m)

HD = 5.9 +0.98 + 0.29 + 3.0 = 10.17 (m)

- So sánh 03 tổng HE, HG, HD, ta thấy tổng

HD của điểm D với HD = 10.17 (m) là lớn nhất, do đó kết luận rằng: Điểm D là điểm bất lợi của mang lưới cấp nước

b Xác định áp lực cần thiết của mạng lưới cấp nước

Khi đã xác định được điểm D là điểm bất lợi của mạng lưới cấp nước, thì áp lực cần thiết (Hct) sẽ được xác định cụ thể theo điểm bất lợi D Vì thế, công thức xác định Hct của mạng, lúc này sẽ được viết như sau:

H ct = H hhA-D + H đh + H dđA-D+ H cbA-D + H dD (m)

Thay số:

Hct = 5.9+0.75+0.98+0.29+3.0 = 10.92 (m)

Giá trị Hct của mạng sẽ là cơ sở để triển khai tính toán các phần việc tiếp theo

5 Kết luận

Trang 5

Trong khuôn khổ của bài báo, tác

giả đã cố gắng trình bày tương đối ngắn

gọn cơ sở lý thuyết và phương pháp xác

định điểm bất lợi trong mạng lưới cấp

nước lạnh trong nhà cùng ví dụ tính toán

tóm tắt

Khi điểm bất lợi của mạng lưới cấp

nước đã được xác định, áp lực cần thiết

cung cấp cho mạng sẽ được tính toán cụ

thể để thoả mãn các yêu cầu của điểm bất

lợi đó Và nếu như, các yêu cầu của điểm bất lợi đó đã hoàn toàn được thoả mãn thì đương nhiên, yêu cầu của tất cả các điểm tiêu thụ nước khác trong mạng lưới cũng

sẽ được thoả mãn

Giá trị Hct của mạng lưới cấp nước đã tính toán, sẽ là cơ sở để người thiết kế xác định chiều cao thuỷ lực của bể chứa nước trên mái và từ đó, quyết định sơ đồ cấp nước tổng thể cho toàn công trình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Trần Hiếu Nhuệ, Trần Đức Hạ, Đỗ Hải, Ứng Quốc Dũng và Nguyễn Văn Tín, 2002 Cấp thoát nước, NXB Khoa học Kỹ thuật

[2] TS Hoàng Huệ, 1993 Giáo trình Cấp thoát nước, NXB Xây dựng

[3] Trần Thị Mai, Trần Thị Sen và Nguyễn Đình Hải, 2004 Giáo trình Cấp thoát nước trong nhà, NXB Xây dựng [4] Nguyễn Văn Tín, Nguyễn Thị Hồng và Đỗ Hải, 2001 Cấp nước tập 1: Mạng lưới cấp nước, NXB Khoa học Kỹ

thuật

[5] Hoàng Đình Thu, 2005 Giáo trình Cấp thoát nước đô thị, NXB Hà Nội

[6] Viện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công nhân Bộ Xây dựng, 1980 Giáo trình Cấp thoát nước trong nhà, NXB

Xây dựng

Trang 6

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG

TRONG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

KS Lê Đức Gia

Khoa Đào tạo Nghề, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt

Xây dựng là một trong những ngành tiêu

thụ năng lượng rất lớn, ở hầu hết các giai đoạn

trong chu trình sống của công trình Bởi vậy,

trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay, vấn

đề tiết kiệm năng lượng trong xây dựng cần

được tính đến ở mọi giai đoạn xây dựng

Từ khóa

Giải pháp, tiết kiệm năng lượng

Trong điều kiện hiện nay, khi biến đổi khí hậu xảy ra mạnh mẽ thì vấn đề tiết kiệm năng lượng không phải là chuyện của riêng ngành Xây dựng Đó là công việc chung của mọi ngành, nếu không chung tay góp sức thì kết quả rất hạn chế Tuy nhiên, theo số liệu của các nước tiên tiến, chỉ riêng tổng năng lượng tiêu thụ cho các công trình xây dựng đã chiếm đến 40% - 70% tổng năng lượng cung cấp cho

đô thị Từ thiết kế, thi công, khai thác sử dụng công trình đến sản xuất vật liệu xây dựng đều phải tiêu thụ năng lượng

Thông thường, tuổi thọ các công trình xây dựng rất lớn, trên 50 năm, do đó các công trình áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng về lâu về dài sẽ tiết kiệm rất nhiều chi phí… Theo tham khảo các công trình từ nhiều nước trên thế giới, để xây dựng những tòa nhà, công trình tiết kiệm năng lượng, chi phí xây dựng có thể tăng

từ 10% - 30% nhưng có thể mang đến mức tiết kiệm khoảng trên 20% chi phí năng lượng so với các công trình không áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng

09:2013/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về các công trình xây dựng

sử dụng năng lượng hiệu quả

QCVN 09:2013/BXD về “Các công trình xây dựng sử dụng năng lượng hiệu quả” do Hội Môi trường Xây dựng Việt Nam soạn thảo, Vụ Khoa học Công nghệ

và Môi trường trình duyệt, Bộ Xây dựng ban hành theo Thông tư số15/2013/TT-BXD ngày 26 tháng 9 năm 2013 Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 09:2013/BXD thay thế Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam QCXDVN 09:2005 “Các công trình xây dựng sử dụng năng lượng

có hiệu quả” được ban hành theo Quyết

Trang 7

định số 40/2005/QĐ-BXD ngày

17/11/2005 của Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ

Xây dựng

Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN

09:2013/BXD được sự tham gia nghiên

cứu và góp ý của các chuyên gia quốc tế

do các tổ chức quốc tế tài trợ, bao gồm:

Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC –

International Finance Corporation), Cơ

quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID –

United States Agency for International

Development), Cục Năng lượng Đan Mạch

(Vương Quốc Đan Mạch)

Hòa nhập với xu hướng phát triển

thế giới, một số doanh nghiệp tại Việt

Nam đã đầu tư xây dựng các tòa nhà

thông minh, tiết kiệm năng lượng và thân

thiện với môi trường Khách sạn La Thành

- Hà Nội, Majestic, Continental, tòa nhà

Green Power, siêu thị Big C, Tòa văn

phòng FPT Đà Nẵng, Chung cư Nam Long

TPHCM,… là một vài ví dụ điển hình trong

những “tòa nhà xanh” tiêu biểu về việc

ứng dụng các giải pháp tiết kiệm năng

lượng hiệu quả

Các giải pháp tiết kiệm năng lượng

đơn giản được áp dụng như: tất cả hệ

thống điện, nước, điều hòa nhiệt độ, kiểm

soát an ninh, mạng,… của tòa nhà được

lập trình theo một hệ thống điều khiển tập

trung để vận hành tự động; hệ thống cảm

ứng tự điều chỉnh nhiệt độ của máy lạnh

trong phòng phù hợp với nhiệt độ ngoài

trời, tự động ngắt điện khi không có người

trong phòng, sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời, hay tận dụng ánh sáng mặt trời, thông gió tự nhiên,… và thực tế cho thấy, những giải pháp này đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm 15%–40% điện năng tiêu thụ mỗi năm

Năm 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 102 về việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, trong đó có đề cập đến vấn đề sử dụng năng lượng tiết kiệm

và hiệu quả trong các công trình xây dựng

Một tòa nhà TKNL dựa trên 3 yếu tố: thiết kế, công nghệ và quản trị năng lượng Tuy nhiên, tại Việt Nam, hầu như các công trình không đạt hiệu quả tòa nhà năng lượng vì 3 yếu tố này vẫn còn hạn chế

Hiện nay tại Việt Nam chưa thật sự

có được lực lượng tư vấn thiết kế như kiến trúc sư, thiết kế cơ điện, thiết kế hệ thống quản lý năng lượng,… đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiết kiệm năng lượng Lực lượng

tư vấn thiết kế của Việt Nam chưa có nhiều điều kiện để tiếp xúc với các chương trình đào tạo bổ sung, cập nhật kỹ năng thiết kế các công trình xanh, tiết kiệm năng lượng nên hiện nay, nhiều công trình, các chủ đầu tư thường phải thuê tư vấn thiết kế từ nước ngoài

* Giải pháp:

Dưới đây là một số giải pháp tiết kiệm năng lượng trong công tác thiết kế các công trình xây dựng

Không gian bê tông hóa xung quanh công trình xây dựng

1 Khai thác các điều kiện tự nhiên

Ngay từ bước đầu thiết kế, chọn số

liệu đầu vào (về bức xạ mặt trời, nhiệt độ

không khí, độ ẩm tương đối, gió…) để tận dụng khí hậu thiên nhiên và cảnh quan tự nhiên

Trang 8

2 Lựa chọn kiểu dáng, hình khối công

trình

Trong khâu thiết kế, việc chọn kiểu

dáng, hình khối nhà cao tầng không chỉ

thuần túy về phương diện thẩm mỹ kiến

trúc mà còn có tác dụng tiết kiệm năng

lượng trong quá trình xây dựng và vận

hành, sử dụng

Thứ tự ưu tiên, lựa chọn hình khối

nhà cao tầng để tiết kiệm năng lượng là

khối trụ tròn, khối đa diện đều, khối trụ

vuông, khối trụ chữ nhật rồi mới đến các

khối có hình thù lồi lõm phức tạp khác

3 Chiếu sáng tự nhiên

Thiết kế hệ thống cửa sổ nhằm tận

dụng ánh sáng tự nhiên để chiếu sáng cho

phòng cũng là một biện pháp hữu hiệu để

tiết kiệm năng lượng trong xây dựng Nên

chọn loại cửa sổ cao và hẹp thì sẽ tốt hơn

loại cửa thấp mà rộng (so với cùng một

diện tích của cửa) Cửa dễ dàng đóng mở

nhưng cũng đảm bảo yêu cầu che nắng

4 Sử dụng kính

Bề mặt kính trong các công trình

xây dựng không chỉ thụ động tiết kiệm

năng lượng tức là chỉ ngăn nhiệt từ ngoài

vào trong mà giảm thiểu truyền tải nhiệt

ra ngoài, kính còn có khả năng chủ động

thu năng lượng chuyển hóa thành dạng

năng lượng phục vụ sinh hoạt của tòa

nhà Sử dụng kính tiết kiệm năng lượng

phù hợp với điều kiện khí hậu nóng ẩm ở

Việt Nam

5 Sử dụng vật liệu xây dựng phù hợp,

thân thiện môi trường

Vật liệu xây dựng thân thiện với môi

trường có rất nhiều ưu điểm như giảm

trọng tải móng, cách âm cách nhiệt tốt,

tiết kiệm năng lượng

Gạch đất nung tác động lớn đến môi

trường, gây ô nhiễm nhiệt Vì vậy nên giảm

sử dụng gạch đất sét nung, chuyển sang

dùng gạch không nung với tỷ lệ 50 - 70%

Sử dụng các vật liệu tác dụng chống

thấm và chống nhiệt thích hợp góp phần

tiết kiệm năng lượng cho công trình

6 Sử dụng cây xanh

Không gian xung quanh công trình

được xanh hóa sẽ tạo môi trường không

khí thấp hơn, sạch hơn, mát hơn, ít phải

sử dụng điều hòa không khí và tiết kiệm điện năng một cách rõ rệt

7 Thiết kế hệ thống chiếu sáng

Sử dụng các thiết bị chiếu sáng tiết kiệm năng lượng hơn như: đèn LED, compact,…

Sử dụng hệ thống điều khiển thông minh giúp giảm hoặc cắt hẳn lượng chiếu sáng khi không cần thiết bằng các sensor, điều khiển tự động độ sáng của đèn theo ánh sáng ngoài trời hoặc tự tắt đèn khi không có người sử dụng

8 Thiết kế cấp nước

Sử dụng các thiết bị vệ sinh thế hệ mới có thể tiết kiệm được 20% lượng nước

sử dụng

Tận dụng nước mưa và nước thải như nước thải từ vòi sen, vòi rửa tay, máy giặt được xử lý và tái sử dụng cũng góp phần tiết kiệm năng lượng

Sử dụng bình nước nóng bằng năng lượng mặt trời kết hợp thêm hệ thống đun nóng dùng điện (hoạt động khi trời không nắng)

9 Hệ thống điều hòa không khí

Sử dụng thiết bị điều hòa không khí theo công nghệ biến tần inverter kết hợp với điều hòa không khí bằng năng lượng mặt trời

Xem xét sử dụng hệ thống điều hòa trung tâm với hệ thống cảm ứng tự điều chỉnh nhiệt độ trong phòng phù hợp với nhiệt độ ngoài trời

Ngày 28 tháng 10 năm 2016, tại Trường đại học Xây dựng Miền Trung, Vụ khoa học Công nghệ và Môi trường - Bộ Xây dựng kết hợp với Trường Đại học Xây dựng Miền Trung tổ chức hội thảo Tập huấn Quy chuẩn 09:2013/BXD về các công trình xây dựng sử dụng năng lượng hiệu quả - nội dung và kinh nghiệm thực tiễn áp dụng

Chủ trì buổi Hội thảo có PGS.TS Vũ Ngọc Anh Hiệu Trưởng Nhà trường, Bà Phạm Ngọc Linh Chuyên gia Tư vấn, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) giới thiệu chứng chỉ công trình xanh theo tiêu chuẩn EDGE của IFC-WB, Ông Poul Erik

Trang 9

Kristensen - Chuyên gia tư vấn kỹ thuật

của Tổ chức IFC-WB phân tích “”Tính toán

chi phí, lợi ích trong việc đầu tư công trình

xanh của quốc tế và thực tế áp dụng tại

Việt Nam” Về dự Hội thảo có Đảng ủy –

BGH, Trưởng các đơn vị, cán bộ giảng viên

và sinh viên quan tâm Đây là hoạt động

Khoa học & Công nghệ thường niên của

Nhà trường có tính lan tỏa trong công tác

hoạt động dạy và hoạt động học trong

Nhà trường, nhất là trường chuyên ngành

đào tạo Kiến trúc sư, Kỹ sư Xây dựng Sau

này họ là những hạt nhân áp dụng tiến bộ

kỹ thuật trong thết kế và thi công các

công trình Xanh đạt Tiêu chuẩn Khu vực

và Quốc tế

Tóm lại: Thực tế trên cho thấy làm

thế nào để hài hòa giữa nhân tạo và tự

nhiên nhằm bảo đảm sức khỏe con

người, giảm chi phí khi đưa công trình

vào sử dụng, giảm hiệu ứng nhà kính

chống biến đổi khí hậu, chính là bài toán

cần giải Công trình xây dựng tiết kiệm

năng lượng ra đời như một lời đáp tất

yếu và thỏa đáng cho bài toán bức bối của đô thị Công trình xanh tiết kiệm năng lượng được hiểu như việc để thiên nhiên tham gia vào hoạt động xây dựng, với mục tiêu làm giảm các xung đột chính giữa môi trường xây dựng nhân tạo với sức khỏe con người và môi trường thiên nhiên Đó là quy trình khép kín từ việc lựa chọn địa điểm xây dựng, đến thi công, thiết kế và vận hành dự

án Địa điểm xây dựng dự án cần gần vùng có sông nước, ao hồ để điều hòa khí hậu; quá trình thi công dự án vật liệu xây dựng bền vững, tường xây bao che dùng vật liệu không nung, vật liệu thân thiện với môi trường, vật liệu tái tạo,… lắp đặt thiết bị điện, nước theo giải pháp tiết kiệm, thiết kế không gian cần phóng khoáng, đảm bảo cung cấp ánh sáng và gió tự nhiên Một yếu tố quan trọng không thể bỏ qua là sự đầu

tư vào diện tích mảng xanh Mảng xanh thiên nhiên giúp gia tăng tuổi thọ của con người

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hội Môi trường Xây dựng Việt Nam, 2013 QCVN 09:2013/BXD về “Các công trình xây dựng sử dụng năng

lượng hiệu quả”

Ngày đăng: 17/06/2020, 00:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm