1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH

28 380 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 44,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 01/ 07/ 1988, thực hiện Nghị định số 53 của Hội đồng Bộ trưởng Nay là Chính phủ ngành Ngân hàng chuyển hoạt động từ cơ chế quản lý hành chính, kế hoạch hoá sang hạch toán kinh tế ki

Trang 1

THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH

I KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH.

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHCT Ba Đình.

Chi nhánh ngân hàng công thương khu vực Ba Đình Hà Nội (hay gọi tắt là NHCT Ba Đình) ra đời từ năm 1959, với tên gọi lúc được thành lập là Chi điếm Ngân hàng Ba Đình trực thuộc ngân hàng Hà Nội, có trụ sở tại số 142 phố Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội Với số lượng cán bộ lúc ban đầu thành lập là 10 người, trong bối cảnh nền kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, nhiệm vụ của ngân hàng là vừa xây dựng cơ sở vật chất, củng cố tổ chức và hoạt động ngân hàng (hoạt động dưới hình thức cung ứng, cấp phát theo chỉ tiêu-kế hoạch được giao) nhằm mục tiêu phục vụ chế độ bao cấp, không lấy lợi nhuận làm mục tiêu, hoạt động theo mô hình quản lý 1 cấp (NHNN) Mô hình này được duy trì từ khi thành lập cho đến tháng 7 năm 1988 thì kết thúc.

Ngày 01/ 07/ 1988, thực hiện Nghị định số 53 của Hội đồng Bộ trưởng (Nay là Chính phủ) ngành Ngân hàng chuyển hoạt động từ cơ chế quản lý hành chính, kế hoạch hoá sang hạch toán kinh tế kinh doanh theo mô hình quản lý Ngân hàng hai cấp (Ngân hàng Nhà nước - NHTM) lấy lợi nhuận làm mục tiêu trong hoạt động kinh doanh, các Ngân hàng hoạt động thương mại quốc doanh lần lượt ra đời (NHCT - NHNT – NHĐT&PT- NHNN & PTNT) trong bối cảnh chuyển đổi đó, Ngân hàng Ba Đình cũng đã được chuyển đổi thành một chi nhánh NHTM quốc doanh với tên gọi chi nhánh Ngân hàng Công thương quận Ba Đình trực thuộc Ngân hàng Công thương thành phố Hà Nội Hoạt động kinh doanh mang tính kinh doanh thực sự, thông qua việc đổi mới phong cách giao tiếp, phục vụ, lấy lợi nhuận làm mục tiêu kinh doanh, cùng với việc

đa dạng hoá các loại hình kinh doanh dịch vụ, khai thác và mở rộng thị trường, đưa thêm các sản phẩm mới vào kinh doanh Lúc này Ngân hàng Công thương

Ba Đình hoạt động theo mô hình quản lý NHCT ba cấp (TW - Thành phố -

Trang 2

Quận) Với mô hình quản lý này trong những năm đầu thành lập (7/1988 - 3/1993) hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Ba Đình kém hiệu quả, không phát huy được thế mạnh và ưu thế của một Chi nhánh Ngân hàng Thương mại trên địa bàn thủ đô, do hoạt động kinh doanh phụ thuộc hoàn toàn vào Ngân hàng Công thương Thành phố cùng với những khó khăn thử thách của những năm đầu chuyển đổi mô hình kinh tế theo đường lối mới của Đảng Trước những khó khăn vướng mắc từ mô hình tổ chức quản lý cũng như

từ cơ chế, theo quyết định số 93/NHCT - TCCB của Tổng Giám đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam (01/04/1993) Ngân hàng Công thương Ba Đình thực hiện thí điểm mô hình tổ chức NHCT hai cấp (cấp TW - Quận) xoá bỏ cấp trung gian là Ngân hàng Công thương Hà nội cùng với việc đổi mới và tăng cường công tác cán bộ Do vậy ngay sau khi nâng cấp quản lý cùng với việc đổi mới cơ chế hoạt động, tăng cường đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực thì hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Ba Đình đã có sức bật mới, hoạt động kinh doanh theo mô hình một NHTM đa năng, có đầy đủ năng lực, uy tín để tham gia cạnh tranh một cách tích cực trên thị trường và không ngừng tự đổi mới, hoàn thiện để thích nghi với các môi trường kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị trường.

Từ đó đến nay hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Ba Đình được ổn định và phát triển theo bốn định hướng lớn của ngành, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kìm chế lạm phát, thực hiện có hiệu quả chính sách tiền tệ, đưa lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với những năm trước.

1.2 Đặc điểm môi trường hoạt động và khách hàng của NHCT Ba Đình.

Ngân hàng công thương Ba Đình nằm trên địa bàn không có nhiều lợi thế về

cơ sở kinh tế (dân cư không tập trung, các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế lớn không nhiều…) nhưng lại có nhiều các tổ chức tín dụng lập trụ sở để huy động vốn Chính vì vậy ngân hàng phải xác định phương châm luôn tự làm mới

Trang 3

bản thân để tồn tại trong môi trường cạnh tranh mà ở đó có không nhiều cơ hội kinh doanh Những ngày đầu mới thành lập, hoạt động của ngân hàng chủ yếu trong địa bàn quận, do vậy đã hạn chế đi nhiều khả năng kinh doanh của ngân hàng Đến nay, hoạt động kinh doanh của ngân hàng đã phát triển, mở rộng quy mô cả về lượng và về chất, hiện nay ngân hàng đã và đang mở thêm nhiều chi nhánh cũng như quầy giao dịch với mạng lưới rộng khắp nội ngoại thành, có nhiều sản phẩm, dịch vụ đa năng , tổng hợp trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, thu hút được sự tín nhiệm của đông đảo khách hàng trong và ngoài nước.

Chương trình đẩy mạnh cho vay và đầu tư của chi nhánh NHCT Ba Đình đã

mở rộng khắp các thành phần kinh tế với phương châm tập trung chọn lọc, vừa đẩy mạnh bán buôn, vừa quan tâm đến bán lẻ

1.3 Sơ lược về tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Hoạt động huy động vốn.

Mục tiêu của chi nhánh trong những năm qua là tiếp tục đẩy mạnh hoạt động huy động vốn, nâng cao cả về số lượng và chất lượng của các khoản huy động Biện pháp thực hiện huy động vốn của ngân hàng trong những năm qua có một số điểm cơ bản như sau:

- Từng cán bộ tại các quỹ tiết kiệm luôn chú ý đến phong cách giao dịch với

khách hàng, mặt khác Chi nhánh thường xuyên cải tạo sửa chữa, nâng cấp và

bổ sung thêm trang thiết bị máy móc cho các quỹ tiết kiệm đảm bảo phục vụ cho khách hàng kịp thời

- Mở thêm nhiều quỹ tiết kiệm nơi dân cư tập trung, cải tạo nâng cấp hầu hết

các quỹ tiết kiệm nhằm nâng cao chất lượng mạng lưới huy động vốn tại nhiều địa bàn, chủ động tìm kiếm khai thác nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và các

tổ chức kinh tế với các hình thức huy động hấp dẫn.

Trang 4

- Chuẩn bị chu đáo trong triển khai các đợt tiết kiệm dự thưởng, phát hành kì

phiếu theo chỉ đạo của NHCT Việt Nam nên các đợt huy động đều vượt mức so với các chỉ tiêu giao như: trong năm 2003 tiết kiệm dự thưởng đã huy động được 337,3 tỷ đồng vượt kế hoạch 62 tỷ(+22%), đợt phát hành kì phiếu 6 tháng trả lãi sau huy động được 282 tỷ đồng, vượt kế hoạch 132 tỷ(+88%) Đợt huy động trái phiếu vô danh từ tháng 6/2003 đến tháng 8/2003 NHCT Việt Nam giao huy động 90 tỷ VNĐ, chi nhánh đã huy động được 190,65 tỷ vượt trên 100 tỷ (gấp 2,1 lần).

- Chuẩn bị tốt cơ sở vật chất như: thiết bị thông tin, đường truyền, máy in, đào tạo cán bộ… và các bước chuẩn bị khác nên khi thực hiện công tác hiện đại hóa theo chương trình INCAS của NHCT Việt Nam từ ngày 1/11/2003 đến nay đã dần được ổn định và chính xác hơn ở tất cả các quỹ tiết kiệm.

Hoạt động cho vay và đầu tư.

Trong điều kiện tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều diễn biến không thuận lợi, lãi suất đầu vào biến động theo xu hướng ngày càng tăng, bên cạnh đó sức cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trên cùng địa bàn ngày càng mạnh hơn, nên hoạt động tín dụng đã gặp rất nhiều thách thức Nhưng với sự nỗ lực tìm kiếm thị trường, áp dụng nhiều hình thức đầu tư mới trong các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh đa dạng đặc biệt ở các ngành Giao thông vận tải xây dựng cầu đường, bến cảng, sản xuất công nghiệp trong ngành dầu khí…Thực hiện chỉ đạo của NHCT Việt Nam theo phương châm “ Phát triển- an toàn- hiệu quả’’ chi nhánh đã chú trọng tăng trưởng tín dụng phải kiểm soát được vốn cho vay Trên cơ sở chọn lọc khách hàng, giảm dần dư

nợ đối với những doanh nghiệp có tình hình tài chính yếu kém, vốn chủ sở hữu nhỏ, nâng cao chất lượng thẩm định dự án, coi trọng hiệu quả kinh tế và thực hiện nghiêm túc các quy chế về tín dụng hiện hành Trong những năm vừa qua,

Trang 5

chi nhánh luôn tập trung nâng cao chất lượng tín dụng đi đôi với việc tăng trưởng dư nợ lành mạnh nhằm đảm bảo an toàn vốn cho vay và hiệu quả vốn tín dụng Kết quả sơ bộ như sau:

Năm 2001 tổng dư nợ cho vay đạt 1166 tỷ So với cùng kì năm trước tăng

360 tỷ , tốc độ tăng 45% so với cùng kì , vượt 25% so với kế hoạch ( toàn hệ thống tăng 34% ) Trong đó:

- Cho vay ngắn hạn :

Dư nợ 958 tỷ, so với cùng kì năm trước tăng 254 tỷ, tốc độ tăng 36% + Ngành nông nghiệp : Có mức dư nợ 169 tỷ tăng hơn năm trước 106 tỷ + Ngành thương nghiệp : mức dư nợ tăng 38 tỷ

+ Ngành sản xuất công nghiệp : có mức dư nợ 355 tỷ tăng hơn trước 23

tỷ - Cho vay trung và dài hạn :

Dư nợ 31/12/2001 đạt 208 tỷ tăng 2,02 lần so với năm trước

Doanh số cho vay năm 2001 đạt 3077 tỷ tăng hơn năm trước 679 tỷ , tốc

- Cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 52 tỷ , chiếm tỷ trọng 4% tổng dư nợ.

Tình hình nợ quá hạn , xử lý tài sản bảo đảm của nợ tồn đọng :

Trang 6

+ Nợ quá hạn , tồn đọng đến cuối năm 17.706 triệu , chiếm 1,5% tổng

dư nợ tăng hơn năm trước 0,66% , mức tăng thêm 11.474 triệu + Thu

nợ quá hạn 5444 triệu đồng.

Xử lý rủi ro và xét giảm miễn lãi :

Xử lý rủi ro và nợ tồn đọng : Trong năm không có trường hợp nào xét rủi

ro về tín dụng Tuy nhiên về xác định nợ tồn đọng theo quyết định 149 của Chính phủ thì nợ tồn đọng đến cuối năm 2001 còn được xác định là 20.012 triệu đồng và đã được phân loại theo từng tiêu thức hướng dẫn của quyết định

149

Đã tận thu nợ được bằng quỹ rủi ro năm 2000 xấp xỉ 5 triệu đồng qua bán tài sản cầm cố của công ty Đầu tư phát triển Sinh vật cảnh

Về xét giảm miễn lãi :

Đã xét và trình NHCT Việt Nam giảm miễn lãi cho 3 doanh nghiệp 3884 triệu đồng và tận thu lãi được 2550 triệu Trong đó trong năm đã thực hiện miễn giảm lãi 2195 triệu cho 2 doanh nghiệp và tận thu lãi 600 triệu

Về nghiệp vụ bảo lãnh :

Tổng giá trị bảo lãnh trong và ngoài nước đến 31/12/2001 đạt 341 tỷ so với cùng kì năm trước tăng 78 tỷ, tốc độ tăng 30% Trong đó: Bảo lãnh trong nước 327 tỷ tăng 87 tỷ, bảo lãnh trả chậm nước ngoài 13 tỷ ( tương đương

891000 USD) giảm 9 tỷ do đến hạn thanh toán đã trả nợ nước ngoài

Toàn bộ giá trị bảo lãnh trong năm 2001 được an toàn, không phát sinh

nghĩa vụ bảo lãnh thay doanh nghiệp Trong năm 2002 hoạt động cho vay và đầu tư đạt được những kết quả cụ thể như sau:

* Doanh số cho vay đạt 3.166 tỷ đồng, tăng hơn năm trước 103 tỷ đồng

Trang 7

* Doanh số thu nợ đạt 2.711 tỷ đồng, so với năm trước giảm 214 tỷ đồng

* Về dư nợ:

+ Tổng các khoản đầu tư và cho vay đạt 1.632,37 tỷ đồng, tăng 18,37 tỷ đồng, đạt 101% kế hoạch giao Trong đó:

Góp vốn cho vay đồng tài trợ: 56,90 tỷ đồng

Dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 1.564,67 tỷ đồng, tăng 399,17 tỷ đồng, tốc

độ tăng 34% so với đầu năm và đạt 100% kế hoạch giao Trong đó:

Dư nợ cho vay VNĐ: 1.364,65 tỷ đồng, tăng 295, 65 tỷ đồng tốc

độ tăng 28% so với đầu năm.

Dư nợ cho vay ngoại tệ quy VNĐ: 200,02 tỷ đồng tăng 103,52

tỷ đồng, tốc độ tăng 107% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 13%

* Cơ cấu đầu tư, tín dụng

- Theo loại đầu tư, cho vay

+ Dư nợ đầu tư, cho vay ngắn hạn: 1.233,54 tỷ đồng, tăng 274,24 tỷ đồng, tốc độ tăng 28,5% so với đầu năm

+ Dư nợ đầu tư, cho vay trung dài hạn: 388,03 tỷ đồng tăng 182 tỷ, tốc

độ tăng 88% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 24%/ tổng dư nợ

- Cơ cấu đầu tư, cho vay theo thành phần kinh tế:

+ Dư nợ cho vay quốc doanh: 1.483,41 tỷ đồng, tăng 366,95 tỷ đồng, tốc

độ tăng 33% so với đầu năm.

+ Dư nợ cho vay ngoài quốc doanh: 138,16 tỷ đồng tăng 86,12 tỷ đồng, tốc

độ tăng 165% so với đầu năm và chiếm tỷ trọng 9% so với tổng dư nợ ( tăng 5% so với đầu năm ).

Về nghiệp vụ bảo lãnh:

Trang 8

Dư bảo lãnh đến 31/12/2002 đạt 380 tỷ đồng tăng 40 tỷ tương ứng 11,4%

so với năm 2001 trong đó:

+ Dư bảo lãnh trong nước : 356 tỷ đồng.

+ Dư bảo lãnh nước ngoài : 24 tỷ đồng.

Hoạt động cho vay và đầu tư của ngân hàng trong năm 2003:

Tổng dư nợ cho vay và đầu tư đến 31/12/2003 đạt 1.717 tỷ VNĐ , so với năm trước tăng 85tỷ (+5,2%) Trong đó:

- Dư nợ cho vay nền kinh tế dến 31/12/2003 đạt 1.703 tỷ đồng ( bao gồm cả cho vay đồng tài trợ dài hạn), tăng so với năm trước 81 tỷ đồng (+5%)

So với kế hoạch giao 1842 tỷ VNĐ đạt 92,5% Bao gồm:

+ Dư nợ ngắn hạn: đến 31/12/2003 đạt 1.112 tỷ VNĐ, so với năm trước giảm 122 tỷ VNĐ (-11%).

+ Dư nợ cho vay trung dài hạn: đến 31/12/2003 đạt 591 tỷ VNĐ (không kể dư nợ nhận vốn góp đồng tài trợ 18 tỷ) so với năm trước tăng 203

tỷ VNĐ (+52,3%) Chi nhánh đã hoàn thành chỉ tiêu cho vay trung dài hạn do NHCT Việt Nam giao.

Bảng2: Tình hình hoạt động cho vay và đầu tư của NHCT Ba Đình.

Trang 9

202%

1233,54 388,03

28,5%

88%

1112 591

-11% 52,3%

4 Góp vốn cho vay

-5

Cơ cấu đầu tư TD:

+Cho vay ngoài QD

+Cho vay QD

52 1114

138,16 1483,41

374 1329

6 Doanh số cho vay 3077 96,4 3166 103 3364 133

Trong năm 2004 tổng dư nợ cho vay nền kinh tế và các khoản đầu tư khác tính đến ngày 31/12 đạt 1894tỷ VNĐ, so với cuối năm 2003 tăng 191 tỷ VNĐ, tốc độ tăng là 11,2%, so với kế hoạch đạt 95,8% Trong đó:

+ Dư nợ cho vay ngắn hạn là 1261 tỷ VNĐ, tăng 149 tỷ VNĐ, tốc độ tăng 13,4%.

+ Dư nợ cho vay trung và dài hạn là 633 tỷ VNĐ, tăng 42 tỷ VNĐ, tốc độ tăng 7,1%.

Hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ:

Song song với công tác kinh doanh đối nội, NHCT Ba Đình cũng chú trọng hoạt động kinh doanh đối ngoại, và trong những năm vừa qua hoạt động này đã mang lại những kết quả hết sức khả quan, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng dư

nợ Kết quả cụ thể như sau:

+ Về hoạt động kinh doanh ngoại tệ:

Trang 10

- Năm 2002: Doanh số mua 98.402.139 USD tăng 107% so với năm 2001.

Doanh số bán 97.045.162 USD tăng 105% so với năm 2001.

- Năm 2003: Doanh số mua 101.580.951 USD tăng 103% so với năm 2002 Doanh số bán 103.584.934 USD tăng 107% so với năm 2002.

- Năm 2004: Doanh số mua 137.011.253 USD tăng 134% so với năm 2003 Doanh số bán 136.242.623 USD tăng 131% so với năm 2003.

Chi nhánh đã chủ động khai thác các nguồn ngoại tệ mua của các đại lý, mua trên thị trường liên ngân hàng, mua của các doanh nghiệp, tự cân đối và được

sự hỗ trợ của ngân hàng công thương Việt Nam nên đã đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về ngoại tệ thanh toán của khách hàng Thu chênh lệch giá mua bán

và tỷ giá được 1.125 triệu đồng Tổng doanh số mua bán đạt 273.253.876 USD (kể các ngoại tệ khác quy đổi), so với năm trước tăng 33,19%.

+ Về công tác thanh toán quốc tế:

Kể từ khi những quy trình thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế được thực hiện theo quyết định số 26/NHCT – QĐ ngày 1/3/1996 của giám đốc NHCT Việt Nam, quyết định số 311/NHCT – KT ngày 23/3/1994 về việc hướng dẫn hạch toán kế toán ngoại tệ và bản “ Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ “ của phòng thương mại quốc tế 1993 số 500(UCP- 500) thì hoạt động thanh toán quốc tế của NHCT Ba Đình đã có bước phát triển đáng

kể Năm 2001 doanh số thanh toán XNK đạt được 111.690.760 USD Mặc dù năm 2002 bị ảnh hưởng lớn của ngày 11/9, tuy nhiên sự kiện ngày này ảnh hưởng lớn đến các nước trên thế giới Còn ở Việt Nam chỉ ảnh hưởng một phần nhỏ, doanh số thanh toán quốc tế năm 2003 không dừng lại mà còn tăng lên đạt 114.115.400 USD tăng lên 1.212.320 USD so với năm 2002 và tăng 2.424.640 USD so với năm 2001 Qua kết quả như vậy ta cũng thấy được phương thức thanh toán L/C là phương thức thanh toán chủ yếu trong thanh

Trang 11

toán XNK Tỷ trọng thanh toán L/C qua các năm đều đạt trên 81% tổng thanh toán XNK, chất lượng nghiệp vụ thanh toán ngày càng nâng cao, tuy khối lượng thanh toán lớn nhưng không để xảy ra sai sót nào làm ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng, do vậy uy tín của ngân hàng ngày càng được nâng cao Nhờ phát triển nghiệp vụ thanh toán quốc tế, NHCT Ba Đình thu hút thêm được nhiều doanh nghiệp XNK về giao dịch, vay vốn và thanh toán XNK qua Chi nhánh Qua đó Ngân hàng tạo được một nguồn thu đáng kể từ phí thanh toán đóng góp vào doanh thu.

Bảng 3 : Tình hình hoạt động thanh toán quốc tế tại NHCT Ba Đình

( Đơn vị : 1000 USD )

trọng 2002

Tỷ trọng 2003

Tỷ trọng

Công tác kế toán tài chính, kho quỹ và dịch vụ.

Trang 12

Sau một năm triển khai công tác hiện đại hoá ngân hàng theo chương trình INCAS đến nay đã hoạt động ổn định, phát huy hiệu quả và không xảy ra mất mát tài sản Tuy nhiên vào một số thời điểm vẫn còn xảy ra tình trạng giao

dịch bị tắc nghẽn, khách hàng chưa hài lòng, phải chờ đợi lâu.

+ Công tác kế toán thanh toán.

Đã có 2579 doanh nghiệp và cá nhân đến giao dịch với chi nhánh, với hơn 10.000 tài khoản tiền gửi, tiền vay hoạt động theo chương trình hiện đại hoá, với khối lượng 375.059 lượt chứng từ và trên 35.000 tỷ đồng thanh toán Qua hoạt động thanh toán và đối chiếu số dư tiền gửi, tiền vay cuối năm 2004 chưa có trường hợp nào khách hàng khiếu kiện sai sót + Công tác kho quỹ

Doanh số thu chi tiền mặt cả năm 2004 là 15.025 tỷ VNĐ và 127 triệu USD (kể cả ngoại tệ khác được quy đổi) So với năm 2003 khối lượng VNĐ tăng hơn 50% nhưng vẫn đảm bảo an toàn tuyệt đối, lựa chọn tiền đủ tiêu chuẩn phục vụ khách hàng Với đức tính trung trực, liêm khiết, cán bộ ngân hàng đã trả cho khách hàng tiền nộp thừa 400 món bao gồm 445.673.000 VNĐ, 4.951 USD và 1000 EUR Đã phát hiện và thu giữ được 802 tờ tiền giả

Trang 13

tại các điểm giao dịch thuận tiện Phát hành thêm được 1.032 thẻ, nâng tổng số thẻ Chi nhánh quản lý lên 1.606 thẻ, trong đó có 690 thẻ trả lương tháng của 04 doanh nghiệp với doanh số 2.800 triệu đồng/ tháng

Phát triển dịch vụ mới về dịch vụ giải ngân vốn ODA theo tài khoản đặc biệt không những thu thêm được phí dịch vụ mà còn tạo nguồn vốn thanh toán và mua bán ngoại tệ Đến cuối năm 2004 khi thời điểm tiếp nhận vốn có hiệu lực,

đã có 3 dự án chuyển trên 7,3 triệu USD về chi nhánh, chấm dứt tình trạng thiếu nguồn ngoại tệ của 2 tháng trước đó, lập lại thế chủ động về nguồn vốn ngoại tệ Năm 2004 phí dịch vụ thu được 9.368 triệu động, vượt kế hoạch 25%.

Công tác kiểm tra, kiểm soát.

Thường xuyên tiến hành kiểm tra, kiểm soát theo các chương trình kế hoạch của NHCT Việt Nam và của chi nhánh trên tất cả các mặt nghiệp vụ Kiểm tra 899 món có tổng dư nợ 1.414 tỷ đồng, kiểm tra 299 món bảo lãnh với giá trị 493 tỷ đồng; kiểm tra 680 món mua bán ngoại tệ, 165.253 chứng từ kế toán và 28.102 chứng từ tiết kiệm; đối chiếu nợ vay của một số khách hàng gửi tiền và vay vốn không có chênh lệch, sai sót lớn Kho quỹ

được bảo đảm an toàn tuyệt đối.

Tuy nhiên trong các mặt nghiệp vụ vẫn còn những sai sót cần phải chỉnh sửa qua kiến nghị của các đoàn kiểm tra tín dụng của NHCT Việt

Nam; các đoàn kiểm toán Nhà nước, kiểm toán Quốc tế.

Công tác khác.

Đã xắp xếp ổn định lại tổ chức các phòng nghiệp vụ, bổ nhiệm cán bộ

và xây dựng các quy trình nghiệp vụ: đào tạo lại 180 lượt cán bộ, tổ chức 2 lớp tin học với trên 90 người tham gia, 100% cán bộ nghiệp vụ tín dụng tham dự bồi dưỡng kiến thức pháp luật, sổ tay tín dụng, tổ chức cho cán bộ

kiểm ngân, thủ quỹ tập huấn về kiểm đếm, nhận biết tiền giả

Trang 14

Thành lập mới QTK số 16 tại Tây Hồ – Hà Nội đưa vào hoạt động từ tháng 8/2004, đồng thời tiến hành khảo sát, nghiên cứu nâng cấp hoạt động theo tổ chức mô hình Phòng giao dịch và đã được Tổng giám đốc

NHCT Việt Nam phê duyệt cho Chi nhánh thực hiện.

Tổ chức thi nghiệp vụ tín dụng, kế toán, tài trợ thương mại theo kế hoạch của NHCT Việt Nam, xây dựng đề thi nghiệp vụ tín dụng và chuẩn bị cử cán

bộ thi nghiệp vụ NHNN Tp Hà Nội tổ chức.

Kết quả kinh doanh.

Nhờ phát triển đồng bộ có chất lượng về nguồn vốn, tín dụng và dịch vụ ngân hàng lợi nhuận hạch toán cả năm 2004 đạt 78,157 tỷ đồng, tăng 17,326

tỷ đồng so với năm 2003 (+28,5%), tăng 20,2% so với kế hoạch NHCT Việt Nam giao Năm 2004 Chi nhánh đã được NHCT Việt Nam xếp loại là một trong những đơn vị đạt danh hiệu đơn vị xuất sắc của toàn hệ thống và đề nghị Chủ tịch nước tăng thưởng Huân chương lao động hạng hai

II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NHCT BA ĐÌNH

2.1 Hình thức huy động vốn của ngân hàng.

Huy động vốn là một trong những nhiệm vụ tạo vốn hàng đầu của ngân hàng công thương Ba Đình thông qua các nghiệp vụ chủ yếu như: huy động tiền gửi, nghiệp vụ ngoại bảng của ngân hàng và các nghiệp vụ trung gian khác Khi chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngân hàng bước đầu còn nhiều bỡ ngỡ, hiệu quả kinh doanh nhiều mặt bị hạn chế, kể cả mảng huy động vốn Nhưng cùng với sự nỗ lực của bản thân ngân hàng, sự ủng hộ từ nhiều phía, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, ngân hàng đã quen dần cơ chế mới, đạt được những thành quả nhất định trong kinh doanh Chỉ xét riêng về mảng huy động vốn của ngân hàng, cả quy mô và chất lượng đều được phát triển Các hình thức huy động vốn của ngân hàng ngày

Ngày đăng: 09/10/2013, 04:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3   : Tình hình hoạt động thanh toán quốc tế tại NHCT Ba Đình - THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH  NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH
Bảng 3 : Tình hình hoạt động thanh toán quốc tế tại NHCT Ba Đình (Trang 11)
Bảng 1: Tình hình huy động vốn tại NHCT Ba Đình 2002-2004 - THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH  NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH
Bảng 1 Tình hình huy động vốn tại NHCT Ba Đình 2002-2004 (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w