1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

32 260 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệu Quả Tín Dụng Đối Với Doanh Nghiệp Nhà Nước Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Thành Phố Hà Nội
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tín Dụng
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 67,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hà Nội được thành lập ngày 27/07/1988 và chính thức đi vào hoạt động ngày 05/08/1988 với chức năng nhiệm vụ là huy động vốn và cho

Trang 1

HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

I MỘT VÀI NÉT VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

1.Giới thiệu chung

Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn thành phố Hà Nội được thành lập vào ngày 27/ 07/ 1988 Tên viết tắt là NHNo&PTNT HN Trụ sở đặt tại số 77 phố Lạc Trung quận Hai Bà Trưng, Hà Nội NHNo&PTNT HN gồm có 7 chi nhánh ngân hàng quận và một ngân hàng cấp 4 Trong cơ quan có 8 phòng ban, mỗi phòng ban giữ một nhiệm vụ riêng nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau hợp thành bộ máy hoàn chỉnh và hoạt động ngày càng có hiệu quả trong NHNN&PTNT HN.

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHNo&PTNT HN

Thực hiện Nghị định số 53/ HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng bộ trưởng, hệ thống ngân hàng 1 cấp chuyển thành ngân hàng 2 cấp, Ngân hàng Nhà nước là cơ quan quản lý nhà nước và các ngân hàng thương mại chuyên doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng

Đây là bước ngoặt quan trọng và đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động ngân hàng nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn nói riêng.

Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hà Nội được thành lập ngày 27/07/1988 và chính thức đi vào hoạt động ngày 05/08/1988 với chức năng nhiệm vụ là huy động vốn và cho vay các thành phần kinh tế sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, chế biến, công nghiệp thực phẩm

và tất cả các thành phần kinh tế khác trên địa bàn Hà Nội.

NHNo&PTNT HN được tách ra từ Ngân hàng Nhà nước của thành phố

Hà Nội Lúc này NHNo&PTNT HN gồm có 12 chi nhánh của các ngân hàng huyện thuộc Hà Nội và một trung tâm giao dịch là NHNo&PTNT HN hiện nay, thực hiện 2 nhiệm vụ chính là quản lý các NHNo&PTNT cấp huyện và trung tâm cấp giao dịch thực hiện kinh doanh trên địa bàn Hà Nội.

Đến tháng 10/1994, các ngân hàng tách tỉnh bàn giao một ngân hàng về Vĩnh Phú và 6 chi nhánh ngân hàng huyện là Ba Vì, Sơn Tây, Thạch Thất, Phú Thọ, Hoài Đức, Đan Phượng về Ngân hàng tỉnh Hà Tây Còn lại 5 ngân hàng

Trang 2

Sau đó, NHNo&PTNT HN thành lập các ngân hàng cấp quận.

Nhìn chung, được thành lập trong giai đoạn chuyển biến quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, trải qua hơn 10 năm hoạt động và trưởng thành, NHNo&PTNT HN đã vượt qua rất nhiều khó khăn của chính mình góp phần tích cực vào sự thành công của công cuộc đổi mới kinh tế đất nước, dần đưa Việt Nam hội nhập với nền kinh tế khu vực và kinh tế thế giới.

1.2 Cơ cấu tổ chức

NHNo&PTNT HN chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ NHNo&PTNT Việt Nam và

đã thực hiện mở chi nhánh ngân hàng tại 7 quận trên địa bàn Hà Nội:

NHNo&PTNT quận Cầu Giấy

NHNo&PTNT quận Hai Bà Trưng

NHNo&PTNT quận Hoàn Kiếm

NHNo&PTNT quận Tây Hồ

NHNo&PTNT quận Thanh Xuân

NHNo&PTNT quận Ba Đình

NHNo&PTNT quận Đống Đa

Và NHNo&PTNT HN (là trung tâm giao dịch) Ngoài ra, NHNo&PTNT HN còn có một ngân hàng cấp 4, đó là Ngân hàng khu vực Tam Trinh.

Sơ đồ mô hình tổ chức của NHNo&PTNT HN:

Trang 3

hạn của Chính phủ, các tổ chức kinh tế-xã hội, cá nhân trong nước và nước ngoài, thực hiện tín dụng tài trợ chủ yếu cho nông nghiệp và nông thôn.

Tháng 9/1995 thực hiện chủ trương của nhà nước xoá bỏ cầu cấp NHNo&PTNT HN bỏ phần chỉ đạo ngân hàng cấp huyện, tập trung vào kinh doanh Lúc này, NHNo&PTNT HN là một đơn vị kinh doanh thực sự phục vụ các đơn vị kinh doanh nông nghiệp, vật tư nông nghiệp và các đơn vị kinh doanh lương thực, các đơn vị chế biến thực phẩm.

Vốn của Ngân hàng Nông nghiệp đã thực sự góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phát triển và đứng vững trong cơ chế thị trường, đầu tư cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và chế biến nông sản, NHNo&PTNT HN còn đẩy mạnh đầu tư cho các hộ sản xuất nông nghiệp ở các huyện ngoại thành nhằm giúp các hộ có vốn phát triển sản xuất kinh doanh mở mang ngành nghề truyền thống, thay đổi giống cây trồng vật nuôi, chuyển dịch giống cây trồng Ngoài ra cùng với các tổ chức đoàn thể, NHNo&PTNTTPHN đã góp phần thực hiện tốt chính sách xoá đói giảm nghèo của Đảng nhà nước và thành phố đề ra.

NHNo&PTNT HN đã tập trung vốn cho các hộ nghèo với lãi suất ưu đãi mang lại hiệu quả thiết thực và tạo điều kiện cho các hộ nghèo có vốn, tạo công

ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống.

Trang 4

Mặt khác, NHNo&PTNT HN huy động vốn và cho vay nội - ngoại tệ, cho vay các chương trình quốc tế, chương trình EC, cho vay tiêu dùng, làm các dịch

vụ chuyển tiền nhanh, cho vay cầm đồ

2 Thực trạng hoạt động kinh doanh tại NHNo&PTNT HN

NHNo&PTNT HN là một chi nhánh hạch toán phụ thuộc nên các loại vốn như vốn pháp định, lợi nhuận, các quỹ chuyên dùng, quỹ dự trữ, quỹ tài trợ và các loại vốn khác đều được hạch toán và quản lý tại NHNo&PTNT Việt Nam.

Ngay từ khi mới thành lập, cùng với sự tăng trưởng kinh tế của cả nước nói chung và tăng trưởng kinh tế của Hà Nội nói riêng, hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT HN cũng tăng trưởng không ngừng Sự hoạt động có hiệu quả của NHNo&PTNT HN đã góp phần tích cực thúc đẩy nền kinh tế Hà Nội phát triển.

2.1 Hoạt động huy động vốn

Nhận thức được huy động vốn là hoạt động quan trọng có tính chất mở đường cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, NHNo&PTNT HN đã chú trọng nhiều đến hoạt động huy động vốn và làm cho nó trở thành thế mạnh của mình NHNo&PTNT HN luôn là kênh huy động vốn lớn nhất, là chi nhánh dẫn đầu trong hệ thống NHNo&PTNT tại Hà Nội về hoạt động huy động vốn với nguồn vốn huy động dồi dào Sau đây ta sẽ xem xét cơ cấu huy động vốn theo loại khách hàng của NHNo&PTNT HN trong giai đoạn 1999-2001.

Bảng 1- Cơ cấu huy động vốn của NHNo&PTNT HN trong giai

đoạn 1999-2001

CHỈ TIÊU Số tiền Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001

(tr.đ) Tỷ trọng (%) Số tiền (tr.đ) Tỷ trọng (%) Số tiền (tr.đ) Tỷ trọng (%) 1.Tiền gửi của

các tổ chức ktế 496037 36,7 295700 15,2 649769 31,9 2.Tiền gửi dân

Trang 5

(Nguồn; Bảng CĐTK tổng hợp năm 1999-2000-2001 của NHNo&PTNT HN )

Đến 31/12/2001 NHNo&PTNT HN có tổng nguồn huy động là 2035619 triệu đồng tăng 4,6% tổng huy động so với năm 2000 và thường xuyên vượt kế hoạch mà NHNo&PTNT VN giao trong đó:

Tiền gửi của các tổ chức kinh tế là 649769 triệu đồng chiếm 31,9% tổng nguồn huy động vào năm 2001, tăng 354069 triệu đồng so với năm 2000 tăng 153868 triệu đồng so với năm 1999.

Tiền gửi dân cư 667683 triệu đồng chiếm 32,8% so với tổng huy động, bằng 96% tiền gửi dân cư năm 2000, tăng 45,4% so với năm 1999.

Tiền gửi của các tổ chức tín dụng là 171429 triệu đồng chiếm 8,4% tổng huy động, giảm 592643 triệu đồng, giảm 77,6% so với năm 2000, giảm

3930 triệu đồng, giảm 2,2% so với năm 1999

Nhìn chung, huy động vốn của NHNo&PTNT HN đều tăng tuyệt đối trong

cả giai đoạn từ năm 1999 đến 2001 Với lượng vốn dồi dào này cùng với các khoản vay ưu đãi lớn từ nước ngoài lên tới hàng chục tỷ đồng, NHNo&PTNT

HN mỗi năm thừa một lượng vốn lớn: năm 1999 là 142 tỷ đồng, năm 2000 là

336 tỷ đồng và năm 2001 là 355 tỷ đồng đã được điều chuyển đi.

2.2 Hoạt động cho vay

Căn cứ vào nội dung quyết định số 198/QĐ_Ngân hàng ngày 17/09/1996 của Thống đốc NHNN về việc ban hành thể lệ tín dụng ngắn hạn đối với các tổ chức kinh tế, quyết định số 367/QĐ_NH ngày 21/12/1997 về việc phát hành thể lệ tín dụng trung và dài hạn, văn bản số 1533/NHNo_KH ngày 16/12/1996 của NHNo&PTNT VN quy định về kinh doanh dịch vụ cầm cố và văn bản mới nhất là quyết định 324 của Thống đốc NHNN VN về việc ban hành qui chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và quyết định 180 của hội đồng quản trị NHNo&PTNT VN ngày 15/12/2000 về việc ban hành qui định cho vay đối với khách hàng đã kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong

Trang 6

quá trình cho vay, tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng tín dụng kích thích sản xuất kinh doanh.

Là một ngân hàng mới ra đời và hoạt động, có những bước đi vững vàng, hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, NHNo&PTNT HN đã thể hiện sự tiến bộ không ngừng của mình trong hoạt động tín dụng Điều này được thể hiện rõ trong bảng cơ cấu tín dụng của NHNo&PTNT HN giai đoạn 1999-2001.

Bảng 2- Cơ cấu dư nợ tín dụng của NHNo&PTNT HN

giai đoạn 1999-2001

Số tiền (tr.đ) Tỷ trọng (%) Số tiền (tr.đ) Tỷ trọng (%) Số tiền (tr.đ) Tỷ trọng (%)

4 59520 5,8%

89,2

10,8 100

81350 5

14458 8 95809 3 78651 8,2%

84,9

15,1 100

77706 6

20791 9 98498 5 45915 4,7%

78,9

21,1 100

(Nguồn: Bảng CĐTK tổng hợp năm 1999 – 2000 – 2001 của NHNo&PTNT HN )

Qua số liệu trên ta thấy, cho vay ngắn hạn giảm dần cả về giá trị tuyệt đối lẫn tương đối Năm 2001 cho vay ngắn hạn là 777066 triệu đồng, giảm

36439 triệu đồng, bằng 95,5% cho vay ngắn hạn năm 2000 và giảm 142953 triệu đồng so với dư nợ ngắn hạn năm 1999, bằng 84,5% dư nợ ngắn hạn năm 1999.

Cho vay trung và dài hạn lại có xu hướng tăng lên: năm 2001 đạt

207919 triệu đồng tăng 63331 triệu đồng so với dư nợ trung và dài hạn năm

2000, bằng 143,8% dư nợ trung và dài hạn năm 2000 và tăng 96694 triệu đồng so với dư nợ trung và dài hạn năm 1999, bằng 186,9% dư nợ trung và dài hạn năm 1999 Tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn so với tổng dư nợ các năm

Trang 7

1999, 2000, 2001 cũng có xu hướng tăng dần tương ứng là 10,8%; 15,1%; 21,1%.

Tốc độ dư nợ năm 1999 tăng nhanh trên 100% trong khi Trung ương quy định tốc độ tăng trưởng là 25% Dư nợ năm 2000 lại giảm 7% so với năm

1999 do sự biến động của tỷ giá ngoại tệ đã đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá để trả

nợ làm cho dư nợ giảm 73151 triệu đồng Sang năm 2001 dư nợ tín dụng đã tăng thêm 26892 triệu đồng, tăng 2,8% so với năm 2000 Đây là kết quả của sự

nỗ lực rất cao của toàn bộ cán bộ công nhân viên Ngân hàng và hứa hẹn một quy mô tín dụng của NHNo&PTNT HN sẽ được mở rộng khi mức tăng trưởng của nền kinh tế trở lại bình thường.

Nợ quá hạn năm 1999 giảm đáng kể so với tỷ lệ này ở đầu năm nhưng sang năm 2000 tỷ lệ nợ quá hạn lại tăng lên tới 8,2%, đây là tỷ lệ khá cao so với tỷ lệ nợ quá hạn của hệ thống Ngân hàng Năm 2001 nợ quá hạn giảm khá mạnh từ 78651 triệu đồng xuống còn 45915 triệu đồng giảm 41,6% so với năm

2000 và giảm 22,8% so với năm 1999 Nếu NHNo&PTNT HN tiếp tục phát huy theo xu hướng này sẽ nhanh chóng giảm được nợ quá hạn, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình.

2.3 Hoạt động khác của NHNo&PTNT HN:

2.3.1 Về hoạt động đối ngoại và dịch vụ ngân hàng

Hoạt động đối ngoại tại NHNo&PTNT HN tuy mới bắt đầu thực hiện từ khi phòng thanh toán quốc tế được thành lập 1997 nhưng hoạt động này đã mang lại kết quả đáng mừng nhất là trong năm 2000: NHNo&PTNT HN đã mở

484 L/C nhập khẩu trị giá 107 triệu USD tăng trên 60% so với năm 1999 và bằng 160% so với năm 2001 Đã thanh toán 545 món trị giá 89 triệu USD tăng 118% so với năm 1999 và bằng 131% năm 2001 Thanh toán TTR 364 món trị giá 61 triệu USD tăng 95% so với năm 1999 và bằng 109% năm 2001 Thanh toán nhờ thu 74 món trị giá 3 triệu USD tăng 214% so với năm 1999 và bằng 158% năm 2001.

Về hàng xuất:

Thông báo 7 L/C trị giá 3 triệu USD, đòi tiền 21 món trị giá 6 triệu USD

và thanh toán 21 món tương đương trị giá 6 triệu USD

Phí dịch vụ thu được 122614 USD tăng 82% so với năm 1999 và bằng 136% thu phí dịch vụ 2001.

Về kinh doanh ngoại tệ:

Trang 8

Đa số các khách hàng vay vốn ngoại tệ để nhập khẩu đều tiêu thụ trong nước thu bằng VND nên nhu cầu ngoại tệ khi đến hạn trả nợ đều phải trông chờ vào ngân hàng, NHNo&PTNT HN lấy việc phục vụ khách hàng là chính, do vậy NHNo&PTNT HN luôn tìm bạn hàng, thị trường để thu gom ngoại tệ cân đối cho doanh nghiệp.

Năm 1999 NHNo&PTNT HN đã vay NHNo&PTNT VN 53 triệu USD để cho các đơn vị vay (vay nhiều nhất là tổng công ty vật tư nông nghiệp trên 40 triệu USD) Doanh số bán 42 triệu USD tăng 12,2 triệu so với đầu năm Doanh số mua 44 triệu USD tăng 20,7 triệu USD so với đầu năm Trong năm 2000 đã mua 134 triệu USD bán 155 triệu USD tăng 116% so với 1999 Nhiều khách hàng khi đến hạn trả nợ ngoại tệ đều được NHNo&PTNT HN cân đối kịp thời không phải gia hạn nợ đã tạo giữ được chữ tín với khách hàng, vừa tăng được vòng quay tín dụng Năm 2001 doanh số mua là 72,5 triệu USD, doanh số bán 73,5 triệu USD góp phần đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của khách hàng.

Trong hoạt động kinh doanh mua bán ngoại tệ, NHNo&PTNT HN chấp hành nghiêm túc quy định về tỷ giá mua bán, không ép giá, không đầu cơ để gây rối loạn không đáng có trên thị trường ngoại tệ.

2.3.2 Về kho quỹ và kế toán thanh toán:

Do tổ chức tốt hoạt động thu và cung ứng tiền mặt, ngân phiếu thanh toán từ nhiều năm nay nên doanh số thu chi tiền mặt và ngân phiếu thanh toán khá cao.

Năm 2000 doanh số thu 3086 tỷ tăng 52% so với 1999, bằng 118% năm

2001 Chi trong năm 2000 là 2310 tỷ tăng 15% so với năm 1999, bằng 88% năm 2001.

Đảm bảo an toàn quỹ nghiệp vụ trong quá trình giao dịch và vận chuyển, mọi nhu cầu thu chi tiền mặt hoặc ngân phiếu thanh toán của các doanh nghiệp đều được thoả mãn kịp thời, đầy đủ, tạo sự bình đẳng và thuận lợi cho khách hàng.

Thanh toán qua liên mạng lưới liên ngân hàng và thanh toán bù trừ đã được NHNo&PTNT HN chú ý xử lý trong nhiều năm nay nên việc luân chuyển vốn của các DN qua NHNo&PTNT HN luôn được thông suốt Tổng doanh số thanh toán liên hàng và thanh toán bù trừ năm 2000 là 7846 tỷ tăng 178% so với năm 1999 Năm 2001 thanh toán 26132 món với số tiền 10067 tỷ tăng 102,4% so với năm 2000 Ngoài ra NHNo&PTNT HN còn thực hiện 25138 lượt

Trang 9

chuyển tiền với giá trị 10000 tỷ đồng tăng 111,5% so với năm 2000 NHNo&PTNT HN luôn thực hiện tốt phương châm của mình: an toàn, kịp thời,

uy tín.

2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT HN giai đoạn 1999-2001:

Năm 1999 tổng doanh thu của NHNo&PTNT HN đạt 87 tỷ đồng trong đó thu lãi là 49 tỷ đồng Chênh lệch thu chi là 5572 triệu đồng Quỹ thu nhập cả năm là 3570 triệu đồng và trích quỹ rủi ro 531 triệu đồng Năm 1999 kinh doanh có hiệu quả Đảm bảo được đời sống cho cán bộ công nhân viên ổn định Làm nghĩa vụ với cấp trên và ngân sách đầy đủ.

Năm 2000 tổng thu nhập đạt 106 tỷ tăng 112% so với năm 1999 Tổng chi phí 96 tỷ tăng 38% so với năm 1999 Năm 2000 NHNo&PTNT HN đã tận dụng các nguồn thu nên mặc dù dư nợ giảm 7% nhưng thu lãi cho vay năm

2000 tăng 95% so với năm 1999 mặc dù lãi suất cho vay tăng 20% so với năm trước Với tình hình thu chi như vậy nên sau khi hạch toán 4589 triệu đồng quỹ rủi ro, NHNo&PTNT HN vẫn đảm bảo đủ quỹ thu nhập, đủ chi lương và ăn ca theo chế độ khoán tài chính và chi lương của NHN&PTNT Việt Nam quy định.

Năm 2001 tổng thu nhập là 259 tỷ đồng trong đó thu lãi cho vay là 51 tỷ đồng Tổng chi phí là 355 tỷ đồng trong đó chi trả lãi là 157 tỷ đồng Quỹ thu nhập năm 2001 đạt 11270 triệu đồng tăng 113,3% so với năm 2000 Mặc dù năm 2001 NHNo&PTNT HN gặp rất nhiều khó khăn, hoạt động đối ngoại giảm mạnh so với năm 2000 về số lượng và quy mô các món giao dịch nhưng bằng

sự nỗ lực hết mình cùng với các biện pháp kết hợp kịp thời như tăng nguồn vốn, mở rộng dư nợ tín dụng nên vẫn có thể đảm bảo hiệu quả tín dụng, công

ăn việc làm và thu nhập.

II HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNNN TẠI NHNO&PTNT HN

1 Một vài nét về DNNN - khách hàng của NHN&PTNT HN

NHNo&PTNT HN được thành lập với nhiệm vụ là huy động vốn và cho vay các thành phần kinh tế sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, chế biến và công nghiệp thực phẩm cùng tất cả các thành phần kinh tế khác trên địa bàn Hà Nội, vì vậy lượng khách hàng chủ yếu của NHNo&PTNT HN vẫn luôn là các DNNN Các DNNN này nằm trong hệ thống DNNN, đóng vai trò chủ yếu trong sản xuất, cung ứng cho xã hội nhiều loại sản phẩm hàng hoá và dịch

vụ Do đó các DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Điều này được quy định tại điều 1 Luật DNNN ban hành ngày 30/4/1997: “DNNN là tổ

Trang 10

chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội do Nhà nước giao”

Số lượng khách hàng là DNNN tại NHNo&PTNT HN hiện nay là hơn 70 đơn vị Một số doanh nghiệp trong số này là thành viên của các Tổng công ty

90 (Công ty được thành lập theo Quyết định 90TTg của Thủ tướng Chính phủ)

và các Tổng công ty 91 (Công ty được thành lập theo Quyết định 91TTg của Thủ tướng Chính phủ) Đây là các DNNN nắm các ngành kinh tế chủ chốt như điện, than, xi măng, thép, đá quý, dầu khí, bưu chính viễn thông, hàng hải, dệt may, thuốc lá, giấy, cao su, cà phê, lương thực

Để hiểu rõ hơn về các doanh nghiệp này, ta hãy xem xét ưu điểm và nhược điểm của các DNNN về mặt tài chính, tổ chức, nhân sự

1.1 Ưu điểm:

- Các DNNN đủ sức can thiệp vào thị trường, khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường DNNN chính là công cụ của Nhà nước để Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế DNNN là thành phần kinh tế chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân, nắm giữ những ngành then chốt, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.

- Các DNNN có thể tham gia vào các ngành, các lĩnh vực kinh doanh không có lợi nhuận hoặc ít lợi nhuận Điều này doanh nghiệp khác khó có thể thực hiện được vì trong nền kinh tế thị trường mục tiêu của các doanh nghiệp

đã lựa chọn.

1.2 Nhược điểm:

Về máy móc công nghệ: thiết bị máy móc dùng cho sản xuất còn thiếu, công nghệ còn lạc hậu Do đó hàng hoá sản xuất ra chất lượng kém, mẫu mã không phù hợp, không đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, khả năng cạnh tranh không cao.

Vốn tự có ít, hiệu quả sử dụng vốn của DNNN còn thấp.

Trang 11

Sản phẩm sản xuất ra của các DNNN thường có giá thành cao hơn so với hàng hoá nhập lậu.

Dễ nảy sinh hiện tượng tham nhũng, tiêu cực do cơ chế quản lý giám sát lỏng lẻo, kém hiệu lực, việc phân định chức năng quản lý chưa được xác định rõ ràng.

Một số DNNN còn mang nặng tư tưởng “cấp-phát”, “xin-cho” của thời kỳ bao cấp nên chưa thực sự chủ động trong kinh doanh mà còn trong chờ vào ưu đãi của Nhà nước.

Lao động thuộc khu vực này tuy đông đảo nhưng ở một số DNNN thì người lao động làm việc chưa hết năng lực, trách nhiệm công việc chưa cao, thu nhập của người lao động thường thấp hơn ở một số khu vực khác.

1.3 Mối quan hệ giữa NHNo&PTNT HN và DNNN

NHNo&PTNT HN phục vụ mọi thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn Hà Nội nhưng trong đó chủ yếu vẫn là phục vụ các doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước bao gồm các đơn vị quốc doanh sản xuất

và dịch vụ nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, thuỷ lợi, các xí nghiệp, trạm trại, trung tâm sản xuất thực nghiệm nông-lâm-ngư nghiệp do Nhà nước thành lập, cấp vốn và quản lý với tư cách là chủ sở hữu, hoạt động theo cơ chế thị trường có định hướng của Nhà nước và thực hiện nguyên tắc hạch toán kế toán, có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn.

Một trong những nguyên lý quan trọng của việc quản lý ngân hàng tại NHNo&PTNT HN là thu thập những thông tin về DNNN – khách hàng của mình nhờ vào quan hệ khách hàng lâu dài, có uy tín Thông qua tài khoản tiền gửi và tiền vay của doanh nghiệp qua một thời gian dài, nhân viên tín dụng có thể nắm được một số thông tin về khách hàng của mình như lịch sử thanh toán các khoản vay của khách hàng Thông qua kiểm tra tình hình thực tế của doanh nghiệp, cán bộ tín dụng có thể nắm được chu kỳ sản xuất kinh doanh của từng loại hình doanh nghiệp, để qua đó có thể cho doanh nghiệp vay vốn một cách kịp thời và sử dụng đồng vốn một cách có hiệu quả nhất Ngoài ra, những khách hàng có quan hệ tín dụng sòng phẳng, có uy tín ngân hàng luôn

ưu tiên mức lãi suất hợp lý, có những chính sách ưu đãi đối với khách hàng này.

Như vậy, NHNo&PTNT HN luôn luôn chú trọng tăng cường và mở rộng các mối quan hệ khách hàng truyền thống lâu dài bởi điều này làm giảm bớt

Trang 12

rủi ro tiềm ẩn cho ngân hàng, làm giảm chi phí cho vay đối với khách hàng, từ

đó làm tăng lợi nhuận của ngân hàng, đồng thời tạo thuận lợi cho các DNNN trong việc vay vốn kinh doanh, nâng cao hiệu quả của đồng vốn tín dụng.

2 Thực trạng hiệu quả tín dụng đối với DNNN tại NHNo&PTNT HN

2.1 Về dư nợ DNNN tại NHNo&PTNT HN

Trong thời gian hơn 10 năm qua kể từ khi NHNo&PTNT HN mới được thành lập cho đến nay, DNNN luôn luôn là khách hàng lớn của NHNo&PTNT

HN Mối quan hệ giữa DNNN và ngân hàng là mối quan hệ truyền thống tốt đẹp Ngân hàng luôn tập trung vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay để doanh nghiệp đổi mới thiết bị, hiện đại hóa công nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh có hiệu qủa, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân góp phát triển kinh tế xã hội của đất nước Trong quá trình tồn tại và phát triển, kể cả khi Nhà nước có chính sách chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường, mối quan hệ này ngày càng được củng cố, phát triển trên cơ sở bình đẳng đôi bên cùng có lợi Để thấy rõ được điều này ta sẽ phân tích dư nợ DNNN tại NHNo&PTNT HN giai đoạn 1999-2001

Bảng 3 Tình hình cho vay đối với DNNN

CHỈ TIÊU

Số tiền (tr.đ)

Tỷ trọng(%

)

Số tiền (tr.đ)

Tỷ trọng(%

)

Số tiền (tr.đ)

Tỷ trọng(% )

Trang 13

0 200 400 600 800 1000 1200

Du no DNNN

KT ngoai QD

1999 2000 2001

0 10 20 30 40 50 60 70 80 90

No qua han DNNN

7 346255

901382 610314 219068

103124

4 882503 157869

59520 36295 23225

100 67,0 33,0

100 92,2 7,8

100 85,6 14,4

100 61,0 39,0

246250

6 197138

6 491120

253563

9 205636

2 479295

958093 797527 160566

78651 45465 33186

100 80,1 19,9

100 81,1 18,9

100 83,2 16,8

100 57,8 42,2

203747

7 171167

3 325804

201058

5 167649

5 334090

984985 832705 152280

45915 15636 30279

100 83,7 16,3

100 81,0 19,0

100 84,5 15,5

100 34,1 65,9

(Nguồn: Bảng CĐTK tổng hợp năm 1999 – 2000 – 2001 của NHNo&PTNT HN )

Biểu đồ 1: Dư nợ DNNN tại NHNo&PTNT HN giai đoạn 1999-2001

Biểu đồ 2:Nợ quá hạn DNNN tại NHNo&PTNT HN giai đoạn 1999-2001

Trang 14

Năm 2000, dư nợ DNNN là 797527 triệu đồng chiếm 83,2% dư nợ tín dụng ngân hàng, giảm 84976 triệu đồng so với dư nợ DNNN năm 1999, giảm 9,6% so với dư nợ DNNN năm 1999 Nguyên nhân chủ yếu gây nên sự sụt giảm này là do doanh số thu nợ năm 2000 tăng nhanh hơn doanh số cho vay cùng

kỳ Doanh số cho vay năm 2000 tăng 835369 triệu đồng tương đương tăng 73,5% doanh số cho vay năm 2000, còn doanh số thu nợ năm 2000 tăng

1154980 triệu đồng tương đương tăng 128% so với doanh số thu nợ DNNN năm 1999 Đây là một kết quả đáng khích lệ đối với NHNo&PTNT HN bởi trong thời kỳ này nền kinh tế của Việt Nam nói chung, của Thủ đô nói riêng vẫn chưa

ra khỏi sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và tiền tệ trong khu vực làm cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn như hàng ngoại tràn ngập thị trường, hàng nội bị ứ đọng, sức mua giảm thấp nhiều doanh nghiệp phải ngừng sản xuất hay sản xuất cầm chừng gây trở ngại lớn cho hoạt động tiền

tệ Mặc dù vậy NHNo&PTNT HN vẫn nắm bắt thường xuyên tình hình kinh tế – tiền tệ trên địa bàn Hà Nội để vận dụng linh hoạt vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình theo hướng đa dạng hoá

Dư nợ DNNN năm 2001 tăng 35178 triệu đồng, bằng 104% dư nợ DNNN năm 2000, chiếm 84,5% dư nợ tín dụng ngân hàng năm 2001 Doanh số cho vay và doanh số thu nợ đều có xu hướng giảm sút nhưng tốc độ sụt giảm của doanh số thu nợ nhanh hơn tốc độ sụt giảm của doanh số cho vay làm cho

dư nợ DNNN năm 2001 vẫn tăng lên Có 2 nguyên nhân dẫn tới sự giảm sút doanh số cho vay và doanh số thu nợ trong năm 2001.

Thứ nhất, nền kinh tế tăng trưởng chậm và không đều giữa các ngành, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp của cả nước chưa tìm được thị trường, các doanh nghiệp sản xuất cầm chừng, trong khi đó hoạt động thương mại và dịch vụ lại giảm so với năm 2000

Trang 15

Thứ hai, mạng lưới kinh doanh tiền tệ tín dụng trên địa bàn Hà Nội được mở ra nhiều chưa từng thấy dẫn đến sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các ngân hàng về nguồn vốn, lãi suất

Nhìn chung, về dư nợ tín dụng, những phân tích khi xem xét cơ cấu dư

nợ tín dụng theo thành phần kinh tế cho thấy tuy dư nợ DNNN có giảm nhưng

tỷ trọng dư nợ DNNN so với tổng dư nợ tương đối ổn định Để thấy rõ hơn điều này ta sẽ xem xét tình hình cho vay đối với DNNN theo thời hạn tín dụng.

Trang 16

Bảng 4: Tình hình cho vay đối với DNNN theo thời hạn tín dụng trong giai đoạn 1999-2001

CHỈ TIÊU

31/ 12/ 1999 31/ 12/ 2000 31/ 12/ 2001

Số tiền (tr.đ)

Tỷ trọng(%

)

Số tiền (tr.đ)

Tỷ trọng(%

)

Số tiền (tr.đ)

Tỷ trọng(% )

111091 6

25101 901382 870455 30927 882503 804533 77970

100 97,8 2,2 100 96,6 3,4 100 91,2 8,8

197138 6

193551 3

35873 205636 2

204210 8

14254 797527 697938 99589

100 98,2 1,8 100 99,3 0,7 100 87,5 12,5

171167 3

168497 6

26697 167649 5

160152 9

74966 832705 781385 51320

100 98,4 1,6 100 95,5 4,5 100 93,8 6,2

(Nguồn: Bảng CĐTK tổng hợp năm 1999 – 2000 – 2001 của

NHNo&PTNT HN )

Ngày đăng: 09/10/2013, 03:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1-  Cơ cấu huy động vốn của NHNo&PTNT HN trong giai - HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bảng 1 Cơ cấu huy động vốn của NHNo&PTNT HN trong giai (Trang 4)
Bảng 2-  Cơ cấu dư nợ tín dụng của NHNo&PTNT HN - HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bảng 2 Cơ cấu dư nợ tín dụng của NHNo&PTNT HN (Trang 6)
Bảng 3. Tình hình cho  vay đối với DNNN - HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bảng 3. Tình hình cho vay đối với DNNN (Trang 12)
Bảng 4: Tình hình cho vay đối với DNNN theo thời hạn tín dụng trong giai đoạn 1999-2001 - HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bảng 4 Tình hình cho vay đối với DNNN theo thời hạn tín dụng trong giai đoạn 1999-2001 (Trang 16)
Bảng 6:_ Tình hình nợ quá hạn của DNNN tại NHNo&PTNT HN giai đoạn 1999-2001 - HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bảng 6 _ Tình hình nợ quá hạn của DNNN tại NHNo&PTNT HN giai đoạn 1999-2001 (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w