Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được chuyển vào manh tràng có các men của dịch ruột và tuyến tụy cùng tham gia, môi trường bị kiềm hoá tạo những điều kiện thích hợp cho sự hoạt động củ
Trang 1NGUYỄN ĐỨC THÔNG
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN GÀ THỊT TẠI TRẠI GÀ NGUYỄN HỒNG PHONG, XÃ KHE MO, HUYỆN ĐỒNG HỶ,
TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2NGUYỄN ĐỨC THÔNG
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN GÀ THỊT TẠI TRẠI GÀ NGUYỄN HỒNG PHONG, XÃ KHE MO, HUYỆN ĐỒNG HỶ,
TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2015- 2019 Giảng viên hướng dẫn: ThS Lê Minh Toàn
Thái Nguyên - năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thực tập tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em
đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này ngoài sự
nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhà trường, các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,Công ty Cổ Phần Chăn Nuôi C.P Việt Nam, trang trại gà gia công của anh Nguyễn Hồng Phong
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng chân thành cảm ơn tới sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của thầy giáo Th.S Lê Minh Toàn luôn giúp đỡ, động viên và hướng dẫn chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này
Do trình độ bản thân còn hạn chế và thời gian thực tập có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô, các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 06 tháng 12 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Đức Thông
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Trong chương trình đào tạo của nhà trường, giai đoạn thực tập tốt nghiệp chiếm một vị trí quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tế sản xuất Từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành công tác nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo để khi ra trường trở thành một người cán bộ kỹ thuật có chuyên môn, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước
Xuất phát từ thực tế chăn nuôi, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng sự giúp
đỡ của thầy giáo hướng dẫn Th.S Lê Minh Toàn, em tiến hành thực hiện đề
tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh trên đàn gà
thịt nuôi tại trại gà Nguyễn Hồng Phong, xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnhThái Nguyên”
Do thời gian và trình độ có hạn, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn để bản khóa luận được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, ngày 06 tháng 12 năm 2019
Sinh viên
NGUYỄN ĐỨC THÔNG
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1a Kết quả thực hiện tiêm phòng Vaccine cho gà tại lứa 1 35
Bảng 4.1b Kết quả thực hiện tiêm phòng Vaccine cho gà tại lứa 2 35
Bảng 4.2 Tỷ lệ nuôi sống của gà Broiler 36
Bảng 4.3 Sinh trưởng tích lũy 40
Bảng 4.4 Lượng thức ăn sử dụng cho đàn gà trong tuần (kg) 43
Bảng 4.5 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà 43
Bảng 4.6 Kết quả điều trị trên lứa 1 47
Bảng 4.7 Kết quả điều trị trên lứa 2 47
Bảng 4.8 Kết quả tham gia các hoạt động khác 49
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CP : Protein thô
Cs : Cộng sự FCR : Hệ số chuyển hóa thức ăn G- : Gram (-)
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 4
2.1.3 Điều kiện cơ sở vật chất của trại 4
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại 5
2.2 Tổng quan tài liệu 6
2.2.1 Cơ sở khoa học 6
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 23
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 27
3.1 Đối tượng 27
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27
3.3 Nội dung tiến hành 27
3.4 Phương pháp và các chỉ tiêu theo dõi 27
3.4.1 Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin 27
Trang 83.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 28
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 29
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh và phòng bệnh cho gà 30
4.1.1.Công tác chăm sóc 30
4.1.2 Công tác vệ sinh phòng bệnh 32
4.2 Kết quả theo dõi sức sản xuất của gà tại cơ sở 36
4.2.1 Tỷ lệ nuôi sống 36
4.2.2 Sinh trưởng của gà thịt 39
4.2.3 Khả năng chuyển hóa thức ăn 42
4.3 Kết quả điều trị bệnh trên gà 44
4.3.1 Tình hình mắc bệnh trên đàn gà thịt 44
4.3.2 Điều trị bệnh trên gà thịt 45
4.4.Tham gia các hoạt động khác 48
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Nghề chăn nuôi gia cầm của nước ta đã có lịch sử rất lâu đời chiếm vị trí quan trọng trong nghành chăn nuôi của Việt Nam Chăn nuôi gia cầm cung cấp thực phẩm cho con người, đồng thời cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một phần sản phẩm của nó là nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến Chăn nuôi gia cầm đã giúp cho người dân tăng thêm nguồn thực phẩm tự cung, tự cấp và góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng cũng như chất lượng, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm do nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng cao
Theo số liệu điều tra vào năm 2018 của Tổng cục Thống kê,đàn gia cầm ước đạt 11.400 nghìn con, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước Trong tổng số đàn gia cầm, gà là loại vật nuôi chủ yếu trong nhóm gia cầm, đàn gà đạt 9.171 nghìn con, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2017, chiếm trên 80% tổng đàn gia cầm
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm là điều kiện phát triển tốt cho các mầm bệnh Gia cầm nói chung và gà nói riêng là loài vật nuôi mẫn cảm, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm Thực
tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm như: H5N1, Newcastle, CRD… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số lượng và chất lượng đàn gà Từ đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và
sự phát triển của chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên
đề:“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡngvà phòng trị bệnh trên đàn
Trang 10gà thịt nuôitại trại gà Nguyễn Hồng Phong, xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnhThái Nguyên”
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
- Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh
- Đánh giá tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà thịt nuôi chuồng kín và tham gia điều trị bệnh cho gà thịt
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Đồng Hỷ là một huyện miền núi phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên Diện tích 427.73 km2, dân số năm 2019 là 94.480 người.Địa phận huyện Đồng Hỷ trải dài từ 21°32’ đến 21°51’độ vĩ bắc, 105°46’ đến 106°04’ độ kinh đông Phía Bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Kạn, phía Nam giáp huyện Phú Bình và thành phố Thái Nguyên, phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây giáp huyện Phú Lương và thành phố Thái Nguyên.Địa giới tự nhiên phân cách Đồng Hỷ và thành phố Thái Nguyên là dòng sông Cầu uốn lượn quanh co từ xã Cao Ngạn theo hướng Bắc - Nam xuống đến đập Thác Huống HuyệnĐồng Hỷ gồm2 thị trấn và 13 xã:2 thị trấn: thị trấn Sông Cầu, thị trấn Trại Cau 13 xã: Văn Lăng, Hòa Bình, Tân Long, Quang Sơn, Hóa Thượng, Hóa Trung, Minh Lập, Khe Mo, Văn Hán, Nam Hòa, Tân Lợi, Cây Thị, Hợp Tiến
Địa hình đất đai:Đồi núi xen kẽ các thung lũng, đất lâm nghiệp chiếm 50,8%, đất nông nghiệp 16,4%, đất thổ cư 3,96%, đất cho các công trình công cộng 3,2% và đất cho sử dụng chiếm 25,7%.Núi Chùa Hang- xưa còn gọi là núi đá Hoá Trung, núi Long Tuyền, nằm trên đất thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ ngày nay
Khí hậu: Khí hậu Đồng Hỷ chia thành 2 mùa, mùa mưa và mùa khô
Nhiệt độ không khí trung bình 23°C, tháng cao nhất là 28°C, tháng thấp nhất là 16,1°C
Độ ẩm trung bình năm 82%, tháng cao nhất là 86%, tháng thấp nhất
là 78%
Trang 12 Khí hậu chia thành 2 mùa, mùa mưa và mùa khô, lượng mưa trung bình khoảng 2.000 - 2.500 mm/năm
Tài Nguyên
Đồng Hỷ có vàng sa khoáng ở khu vực Ngàn Me, Cây Thị, cụm mỏ sắt Trại Cau (trữ lượng khoảng 20 triệu tấn) và mỏ Linh Sơn (trữ lượng từ 1 -3 triệu tấn) Ngoài ra, Đồng Hỷ còn có nhiều khoáng sản như: đá xây dựng, đất sét, đá vụn, cát sỏi, đá Carbuat, Dolomit
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Hầu hết các xã, thị trấn ở Đồng Hỷ có đường ô tô đến trung tâm Đất đai ở Đồng Hỷ thích hợp cho việc trồng rừng, trồng lúa, nấm, rau màu và chăn nuôi gia cầm…
Những năm gần đây tình hình chính trị, kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện đã có những chuyển biến tích cực Nhiều chỉ tiêu đạt cao so với kế hoạch như: sản lượng lương thực có hạt cả năm ước đạt 52,7 nghìn tấn, vượt 17% kế hoạch; diện tích trồng rừng đạt gần 1,5 nghìn ha, vượt 49% kế hoạch; thu ngân sách trong cân đối đạt gần 123 tỷ đồng, vượt 33% dự toán tỉnh giao…
Người dân trên địa bàn huyện chủ yếu là nông dân làm ruộng, trồng chè, trồng cây, chăn nuôi tại địa phương và một số hộ kinh doanh nhỏ lẻ
2.1.3 Điều kiện cơ sở vật chất của trại
Trang trại được xây dựng ngày 17 tháng 05 năm 2018 Cơ sở vật chất được đầu tư hiện đại
- Trại được thiết kế xa khu dân cư, trường học, chợ…Có hàng rào bao quanh
- Trang trại gồm 4 dãy chuồng cách nhau 15 mét, mỗi chuồng gồm có
1 tầng, với quy mô nuôi được 40000 gà/lứa
- Hệ thống máng ăn được lắp đặt và sử dụng tự động Máng uống nước tự động, một dãy chuồng gồm 4 đường ăn tự động và 5 đường nước
Trang 13uống tự động Nền trại bê tông và mái được lợp bằng tôn xốp cách nhiệt
- Có 2 kho thức ăn, 2 máy phát điện, mỗi chuồng 10 quạt thông gió và mỗi trại có 1 máy heater và 1 lò than được thiết kế bên ngoài chuồng,1 lò gồm gồm có 3 bếp nhỏ
- Trong mỗi chuồng có 2 nhiệt kế và các cảm biến nhiệt để theo dõi nhiệt độ trong chuồng nuôi
- Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng là nước giếng khoan công nghiệp có các bể xử lí nước trước khi sử dụng
- Hệ thống điện của trại sử dụng dòng điện 3 pha và được lắp thiết bị cảnh báo mất điện
- Mỗi chuồng được lắp đặt một camera và 6 camera xung quanh để theo dõi, sân trại được bê tông hóa
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại
Cơ cấu của trại tổ chức như sau:
- Diện tích chuồng trại là 4760m2 (4 chuồng)
- Gồm 4 dãy chuồng, mỗi chuồng nuôi khoảng 10000 con
- Mỗi chuồng có chiều dài 70 m, chiều rộng 17 m
- Đội ngũ cán bộ, quản lý, kĩ thuật, công nhân gồm:
Trang 142.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học
2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà
- Tiêu hóa ở miệng:
Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, một phút mổ 180 - 240 lần, lúc đói mổ nhanh, mỏ mở rộng Mặt trên lưỡi có những răng rất nhỏ hoá sừng hướng về
cổ họng để đưa thức ăn về phía thực quản - thị giác và xúc giác kiểm tra tiếp nhận thức ăn, còn vị giác và khứu giác ý nghĩa kém hơn Thiếu ánh sáng gà
ăn kém Tuyến nước bọt kém phát triển Nước bọt không chứa enzym, chỉ để dính bọc làm trơn thức ăn di chuyển vào thực quản Thức ăn vào diều, khi đói theo ống diều vào thẳng dạ dày Tuyến nhầy của thực quản tiết dịch nhầy làm thức ăn di chuyển dễ dàng
- Tiêu hóa ở diều:
Ở diều, thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hoá từng phần do các men thức ăn và vi khuẩn trong thức ăn thực vật Thức ăn cứng lưu lại diều lâu hơn Khi thức ăn hạt và nước tỷ lệ bằng 1:1 thì được giữ lại ở diều 5 -6 giờ Độ pH trong diều gia cầm là 4,5 - 5,8 Sau khi ăn 1 - 2 giờ diều co bóp theo dạng dãy (khoảng 3 - 4 co bóp) với khoảng cách 15 - 20 phút; sau 5-12 giờ là 10 - 30 phút, khi đói 8 - 16 lần/giờ Ở diều, nhờ men amilaza tinh bột được phân giải thành đường đa có trọng lượng phân tử nhỏ hơn, một phần chuyển thành đường đơn glucoza
- Tiêu hóa ở dạ dày
+ Tiêu hóa ở dạ dày tuyến
Cấu tạo từ cơ trơn là dạng ống ngắn, có vách dày nối với dạ dày cơ bằng eo nhỏ Khối lượng 3,5 - 6g Vách gồm màng nhầy, cơ và màng mô liên kết Dịch có chứa axit chlohydric, pepsin, men bào tử và musin Sự tiết dịch của dạ dày tuyến là không ngừng, sau khi ăn càng được tăng cường
Trang 15Thức ăn không giữ lâu ở dạ dày tuyến, khi được dịch dạ dày làm ướt, thức
ăn chuyển đến dạ dày cơ nhờ nhịp co bóp đều đặn của dạ dày cơ (không quá
1 lần/phút) Ở dạ dày tuyến sự thuỷ phân protein như sau: Protein + nước + pepsin và HCl —> albumoza + pepton
+ Tiêu hóa dạ dày cơ
Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hoá, mà dịch này từ dạ dày tuyến tiết ra chảy vào dạ dày cơ Thức ăn được nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hoá dưới tác dụng của các men dịch dạ dày, enzym và vi khuẩn Axit chlohydric tác động làm cho các protein trở nên căng phồng, lung lay và nhờ
có pepsin, chúng được phân giải thành pepton và một phần thành các axit amin Dịch dạ dày tinh khiết, lỏng, không màu hoặc hơi trắng đục, độ axit tăng dần cùng với tuổi: Ở gà con vài ngày tuổi pH = 4,2 - 4,4, ở gà 31 - 40 ngày tuổi pH = 1,15 - 1,55 và giữ ở mức này với sự dao động không lớn trong các thời kỳ tuổi tiếp theo Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được chuyển vào manh tràng có các men của dịch ruột và tuyến tụy cùng tham gia, môi trường bị kiềm hoá tạo những điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của các men phân giải protein và gluxit.Dạ dày cơ co bóp nhịp nhàng trong 2 pha: pha đầu 2 cơ chính; pha thứ 2 cơ trung gian, số lần co bóp phụ thuộc độ rắn của thức ăn, khi ướt 2 lần, rắn cứng 3 lần/phút Sau 2 - 5 lần co bóp, thức
ăn ở dạ dày được chuyển tới manh tràng Sỏi và các dị vật trong dạ dày làm tăng tác động nghiền của vách dạ dày
- Tiêu hóa ở ruột
Ở ruột non quá trình tiêu hóa diễn ra là chủ yếu, gluxit được phân giải thành đường đơn, lipit thành glyxerin và axit béo, protein thành các peptid
và các axit amin để cơ thể hấp thu và lợi dụng được
Ở ruột già quá trình phân giải các chất các chất đạm, tinh bột còn lại
từ một non đưa xuống ruột già vẫn được tiếp tục nhờ các enzym tiêu hoá từ
Trang 16ruột non và được hấp thu vào máu qua màng vào ruột già Quá trình tiêu hóa chất xơ của gia cầm cũng nhờ tác dụng của hệ vi sinh vật lên men nhưng hoạt động kém, chất xơ được tiêu hoá thành đường glucozơ và hấp thu vào máu qua màng manh tràng ở ruột già, đặc biệt ở ruột già có sự tổng hợp vitamin nhóm B nhờ hệ vi sinh vật
Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu;
pH dao động trong những phần khác nhau của ruột
Dịch ruột là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH là 7,42) với
tỷ trọng 1,0076 Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic, aminolytic, lypolytic và cả men enterokinaza
Dịch tuỵ là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm (pH 7,2 - 7,5) Trong chất khô của dịch, ngoài các men, còn
có các axit amin, lipit và các chất khoáng (NaCl, CaCl2, NaHCO3 )
Dịch tuỵ của gia cầm trưởng thành có chứa các men tripsin, cacbosipeptidaza, amilaza, mantaza, invertaza và lipaza
Tripsin được bài tiết ra ở dạng chưa hoạt hoá là tripsinogen, dưới tác động của men dịch ruộtenterokinaza, nó được hoạt hoá, phân giải các protein phức tạp ra các axit amin Men proteolytic khác là các cacbosipeptidaza được tripsin hoạt hoá cũng có tính chất này
Các men amilaza và mantaza phân giải các polysacarit đến các monosacarit như glucoza, lipaza được dịch mật hoạt hoá, phân giải lipit thành glyserin và axit béo
Các quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non xảy ra đặc biệt tích cực
Sự phân giải các chất dinh dưỡng không chỉ có trong khoang ruột (tiêu hoá ở khoang), mà cả ở trên bề mặt các lông mao của các tế bào biểu bì (sự tiêu hoá ở màng) Các cấu trúc phân tử và trên phân tử của thức ăn có kích thước lớn được phân giải dưới tác động của các men trong khoang ruột, tạo ra các
Trang 17sản phẩm trung gian nhỏ hơn, chúng đi vào vùng có nhiều nhung mao của các tế bào biểu mô Trên các nhung mao có các men tiêu hoá, tại đây diễn ra giai đoạn cuối cùng của sự thuỷ phân để tạo ra sản phẩm cuối cùng như axit amin, monosacarit chuẩn bị cho việc hấp thu
Khả năng tiêu hoá chất xơ của gia cầm rất hạn chế Cũng như ở động vật có vú, các tuyến tiêu hoá của gia cầm không tiết ra một men đặc hiệu nào
để tiêu hoá xơ Một lượng nhỏ chất xơ được phân giải trong manh tràng bằng các men do vi khuẩn tiết ra Những gia cầm nào có manh tràng phát triển hơn như đà điểu, ngan, ngỗng, thì các chất xơ được tiêu hoá nhiều hơn
2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý và giải phẫu cơ quan hô hấp của gà
Trần Thanh Vân và cs,(2015)[16] cho biết: Hệ hô hấp của gia cầm gồm: Lỗ mũi, xoang mũi, khí quản, 2 phế quản, 2 phổi, 9 túi khí
- Hai lỗ mũi nằm ở gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ Ở gà, phía ngoài hai lỗ mũi có “van mũi hoá sừng bất động” và xung quanh lỗ mũi có lông cứng nhằm ngăn ngừa bụi và nước
- Xoang mũi được phát triển từ xoang miệng sơ cấp ở ngày ấp thứ 7 Xoang mũi ngắn, chia ra 2 phần: Phần xương và phần sụn Xoang mũi nằm
ở mỏ trên Xoang mũi là cơ quan thu nhận và lọc khí rồi chuyển vào khí quản, ở gà thanh quản dưới có hai nếp gấp liên kết, hai nếp gấp đó bị dao động bởi không khí và tạo nên âm thanh
- Khí quản là ống tương đối dài bao gồm nhiều vòng sụn và nhiều vòng hoá xương Số vòng khí quản ở gà là 110 - 120 và hầu hết là sụn, còn ở thuỷ cầm hầu hết đã hoá xương Khí quản tương đối cong queo, thành khí quản được cấu tạo bởi màng nhầy, màng xơ đàn hồi và màng thanh dịch ngoài
- Khí quản chia ra làm hai phế quản ở xoang ngực phía sau xương ngực Mỗi phế quản dài 6 - 7 cm và có đường kính 5 - 6 mm Một ống phế quản nối với lá phổi bên trái, còn một ống nối với lá phổi bên phải Thành phế
Trang 18quản cấu tạo bởi màng nhầy (ở đó có nhiều tuyến nhỏ tạo ra các dịch nhầy, màng xơ đàn hồi), có các bán khuyên sụn trong suốt và thanh dịch ngoài
- Phổi và phế quản được hình thành từ các nếp gấp ống hầu ở cuối khí quản vào ngày ấp thứ 4, ở ngày ấp thứ 5 xuất hiện túi phổi có màu dạng phế quản Ở ngày ấp thứ 9 phổi đang phát triển và chia ra mạng lưới phế quản, ở phần cuối của nó hình thành các ống hô hấp Phổi của gia cầm màu đỏ tươi, cấu trúc xốp, có dạng bọc nhỏ kéo dài, ít đàn hồi
Phổi nằm ở xoang ngực phía trục xương sống từ trục xương sườn thứ nhất đến mép trước của thận Trọng lượng của phổi vào khoảng 1/180 thể trọng gia cầm, phụ thuộc vào tuổi và loài Chức năng chính của phổi là làm nhiệm vụ trao đổi khí
- Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí Các túi khí là sự mở rộng và tiếp dài của phế quản Cơ thể gia cầm có 9 túi khí chính, trong đó có
4 đôi xếp đối xứng, còn 1 túi khí đơn Các đôi túi khí xếp đối xứng là đôi túi khí xương đòn, đôi túi khí ngực trước, đôi túi khí ngực sau, đôi túi khí bụng Túi khí đơn là túi khí cổ Các túi khí thực ra không phải là xoang tận cùng của phế quản sơ cấp và phế quản thứ cấp mà tất cả chỉ là phế nang khổng lồ
Theo Trần Thanh Vân và cs, (2015)[16], tần số hô hấp dao động trong khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh lý của gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không khí Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định Gia cầm càng lớn thì tần số hô hấp càng nhỏ Ban đêm tần số hô hấp giảm chậm xuống
30 - 40 % Nhiệt độ tăng tần số hô hấp cũng tăng Nếu nhiệt độ tăng tới 370C thì nhịp thở của gà lên tới 150 lần/phút Tần số hô hấp ở gà trưởng thành là 25
- 45 lần/phút Gà từ 4 - 20 ngày tuổi là 30 - 40 lần/phút
Cơ chế hô hấp của gia cầm gồm động tác hít vào và động tác thở ra với sự hoạt động của phổi và hệ thống 9 túi khí chính
Trang 19Vận động của xương sườn đóng vai trò quan trọng trong cử động hô hấp Lúc giãn, không khí xoang ngực giãn và mở rộng làm cho áp lực xoang ngực thấp hơn áp lực bên ngoài, do đó không khí từ ngoài đi vào trong phổi Lúc hít vào, không khí qua phổi vào các nhánh nhỏ và vào các túi khí Lúc thở ra thì ngược lại, không khí đi từ các túi khí đi ra ngoài qua phổi lần thứ hai, vì vậy người ta gọi là cơ chế hô hấp kép Vì phổi gia cầm nhỏ nhưng do không khí tuần hoàn hai lần nên lượng oxy cung cấp vẫn đảm bảo
Trong thời gian ngủ quá trình trao đổi chất nói chung giảm xuống 50% Trong thời gian hoạt động mạnh (bay, chạy, nhảy,…) quá trình trao đổi chất tăng lên và mức độ trao đổi khí tăng lên 60 - 100%
Hoạt động của phổi và túi khí của gia cầm bao gồm: khí lưu thông, khí hít vào thêm, khí thở ra thêm Hoạt động của phổi và túi khí nói lên khả năng hô hấp lớn nhất của gia cầm
Sau khi thở ra thêm, trong phổi vẫn còn một lượng khí nhỏ lưu lại gọi
là khí cặn Hoạt động phổi và túi khí của gà tổng cộng là 169 cm3
Một lượng nhỏ khí O2 được hòa tan vào máu và theo máu đến các mô bào, còn phần lớn kết hợp với hemoglobin trong hồng cầu để tạo oxy - hemoglobin vận chuyển theo tuần hoàn máu Lượng O2 tối đa kết hợp với hemoglobin gọi là dung lượng O2 máu, dao động trong khoảng 12 - 21 cm3 (Trần Thanh Vân và cs, 2015)[16]
2.2.1.3 Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt
Năng lượng: Gà có khả năng chuyển hoá năng lượng từ những carbonhydrate đơn giản, một vài carbonhydrate phức tạp như dầu và mỡ, nhưng những carbonhydrate quá phức tạp như cellulose thì gà không thể sử dụng được Mặc dù vậy nhưng gà cũng cần môt lượng cellulose nhất định để làm chất đệm giúp quá trình tiêu hoá được dễ dàng Tỷ lệ chất xơ trong khẩu phần không được vượt quá 4% Nhu cầu về năng lượng cho các mục đích
Trang 20trao đổi rất khác nhau, do vậy nếu thiếu năng lượng sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các quá trình sản xuất Đối với gà nuôi lấy thịt nhu cầu năng lượng thường cao hơn đẻ
Protein: đây là một chỉ số dinh dưỡng quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sức sản xuất và chất lượng sản phẩm Người ta cho rằng
20 -25% sức sản xuất của gia cầm ảnh hưởng trực tiếp bởi dinh dưỡng protein Gà thịt cần tỉ lệ protein tương đối cao trong khẩu phần để hỗ trợ tăng trưởng nhanh Khối lượng của gà thịt thương phẩm sẽ tăng lên gấp 50 -
55 lần trong 6 tuần sau khi nở Một phần lớn của việc tăng trọng này là tăng trưởng các mô có nhiều protein
Nước: chính là một thành phần dinh dưỡng quan trọng cho bất kỳ cơ thể sống nào kể cả gia cầm Nước không những là chất dẫn giúp vật hấp thu chất dinh dưỡng tốt hơn mà nước còn giúp cơ thể đào thải độc tố, giúp các tế bào hoạt động khỏe mạnh hơn… Hầu hết các động vật khác kể cả gà sẽ cần một lượng nước khoảng 50ml/kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày Khi thời tiết
ấm áp, nhu cầu này có tăng lên một chút và tương tự, khi thời tiết lạnh, lượng nước gà cần sẽ giảm hơn so với bình thường
Khoáng chất: là phần vô cơ trong thành phần thức ăn chăn nuôi gia cầm, thường chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong khẩu phần thức ăn, tuy nhiên khoáng chất có một vai trò vô cùng quan trọng đối với gia cầm
+ Khoáng đa lượng: canxi, photpho: Trong cơ thể canxi chiếm 1,3 - 1,8% khối lượng cơ thể, phopho chiếm 0,8 - 1% khối lượng cơ thể
+ Khoáng vi lượng: các khoáng vi lượng gồm có đồng, kẽm, sắt, iodine và selenium cũng rất cần thiết cho sự phát triển của gia cầm
Trong cơ thể vật nuôi và con người khoáng chất có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành các tổ chức trong cơ thể như xương, răng, máu,
mô thịt,…một số chất khoáng có vai trò trong quá trình tạo các kênh ion như
Trang 21natri, kali,… một số khác lại có tác dụng trong việc kích thích sự hoạt động của các enzyme, khoáng chất còn có tác dụng trong việc tham gia hệ thống
đệm trong cơ thể…
2.2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển của gà thịt
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà với những mức độ khác nhau như di truyền, tính biệt, tốc độ mọc lông, các điều kiện môi trường, nuôi dưỡng chăm sóc…
- Ảnh hưởng của dòng giống
Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau sẽ có khả năng sinh trưởng khác nhau
Tài liệu của Chanbers J R (1990)[20] cho biết, nhiều gen ảnh hưởng đến sự phát triển của gà Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ
Theo Nguyễn Duy Hoan và cộng sự (1998) [4] cho biết, gà con ở 40 ngày tuổi khối lượng tăng gấp 10 lần so với lúc 01 ngày tuổi, trong khi đó vịt con chỉ cần có 20 ngày để tăng gấp 10 lần khối lượng so với lúc 01 ngày tuổi Nguyễn Thị Thuý Mỵ (1997) [9] khi nghiên cứu 3 giống gà AA, Avian
và BE 88 nuôi tại Thái Nguyên cho thấy khối lượng cơ thể của 3 giống khác nhau ở 49 ngày tuổi là khác nhau, cụ thể lần lượt là: 2501,09g; 2423,28g; 2305,14g Khảo sát khả năng sinh trưởng của 3 dòng gà Plymouth Rock thì dòng TĐ9 có khả năng sinh trưởng tốt nhất Đến tuần tuổi thứ 8, dòng TĐ9
có khối lượng sống vượt dòng TĐ8 12,90% và vượt dòng TĐ3 17,40%, (Lê Hồng Mận và cộng sự, 1996) [8] Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (1994) [5], thì sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng từ 500 - 700g (13 - 30%) Như vậy, các nhà nghiên cứu đã chứng minh sự khác biệt về sinh trưởng là
do di truyền, mà cơ sở di truyền là do gen, có ít nhất một gen quy định khả
Trang 22năng sinh trưởng liên kết với giới tính, cho nên con trống thường lớn hơn con mái Điều này chứng tỏ di truyền có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm
- Ảnh hưởng của tính biệt
Ở gia cầm tốc độ sinh trưởng giữa con trống và con mái có sự khác nhau về trao đổi chất, đặc điểm sinh lý, tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể Thường thì con trống có tốc độ sinh trưởng mạnh hơn gà mái Sự khác nhau này được giải thích qua tác động của các gen liên kết giới tính Tác giả Jull F A (1972) [22], cho biết gà trống có tốc độ sinh trưởng khác gà mái từ 24- 32%, những gen này ở gà trống (2 nhiễm sắc thể giới tính) hoạt động mạnh hơn gà mái (1 nhiễm sắc thể giới tính) Theo M O North và cộng sự (1990) [24] ở cùng điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng giống nhau thì gà trống thường sinh trưởng nhanh hơn gà mái Lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn; ở 3 tuần tuổi là >11%, 7 tuần tuổi
là > 23%, 8 tuần tuổi là > 27% Ở gà hướng thịt giai đoạn 60 - 70 ngày tuổi, con trống nặng hơn con mái 180 - 250g (Nguyễn Duy Hoan và cộng sự 1998) [4] Sự khác nhau này là do nhiều nguyên nhân như quá trình trao đổi chất, đặc điểm sinh lý giữa 2 giới là khác nhau Như vậy gà trống và gà mái đòi hỏi mức năng lượng và protein khác nhau cho quá trình sinh trưởng và phát triển Theo Hoàng Toàn Thắng (1996) [14] khuyến cáo: đối với gia cầm
để đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi cần nuôi tách riêng trống mái
- Ảnh hưởng của tốc độ mộc lông
Theo Brandsch H và cộng sự (1978) [1], tốc độ mọc lông là một tính trạng di truyền có liên quan đến trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển của gia cầm Tốc độ mọc lông có liên quan chặt chẽ đến quá trình sinh trưởng của gia cầm Theo nghiên cứu trong cùng một giống, một dòng, một tính biệt thì gà có tốc độ mọc lông nhanh sẽ có tốc độ sinh trưởng và phát triển tốt
Trang 23hơn gà có tốc độ mọc lông chậm Theo Hayer J F và cộng sự (1970) [21],
đã xác định trong cùng một dòng thì gà mái có tốc độ mọc lông đều hơn gà trống và các tác giả cho rằng tác dụng của hormon ngược chiều với gen liên kết giới tính quyết định tốc độ mọc lông
- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng của gia cầm Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất
sẽ giúp cho gia cầm phát huy cao tiềm năng di truyền về sinh trưởng
Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng sinh trưởng của gia cầm, khi đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng thì thời gian đạt khối lượng tiêu chuẩn sẽ giảm xuống
Chanbers J R.(1990)[20] cho biết, tương quan giữa trọng lượng của
gà và hiệu quả sử dụng thức ăn khá cao (r = 0,5 - 0,9) Để phát huy khả năng sinh trưởng của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lượng, thức ăn theo nhu cầu mà còn phải đảm bảo cân bằng protein, acid amin và năng lượng Do vậy, khẩu phần ăn cho gà phải hoàn hảo trên cơ sở tính toán nhu cầu của gia cầm
- Ảnh hưởng của môi trường
Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh, nếu điều kiện môi trường không thuận lợi thì tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe gia cầm
Nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh tế lớn khi chăn nuôi gà broilertheo hướng công nghiệp ở vùng khí hậu nhiệt đới
Chế độ chiếu sáng ảnh hưởng tới khả năng lấy thức ăn, sinh trưởng do
Trang 24vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm Tổng thời gian chiếu sáng cho gà thịt từ 1 ngày đến 4 tuần khoảng 20 - 24 giờ và 10 - 18 giờ cho
gà từ 5 tuần đến xuất bán, theo Nguồn cây trồng vật nuôi (2015), [30]
Ngoài ra trong chăn nuôi cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như: độ ẩm, độ thông thoáng, tốc độ gió lùa và ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt đến khả năng sinh trưởng của gia cầm
Sinh trưởng của gia súc, gia cầm luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh về tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm Sinh trưởng và phát dục của cơ thể gia súc, gia cầm tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn
2.2.1.5 Các bệnh thường gặp trên gà thịt
Trong thời gian nuôi dưỡng hàng ngày phải theo dõi tình hình sức khỏe của đàn gà để chẩn đoán, phát hiện bệnh và có những hướng điều trị kịp thời Trong thời gian nuôi gà thường gặp bệnh như sau:
Bệnh bạch lỵ
- Nguyên nhân:
Do vi khuẩn gram âm Salmonella gallinarum,Salmonella pullorum
gây ra, chủ yếu thông qua đường tiêu hoá và hô hấp Gà đã khỏi bệnh vẫn tiếp tục thải vi khuẩn ra theo phân, đây là nguồn lây lan quan trọng và nguy hiểm nhất
Trang 25+ Ở gà lớn: gà thường bị bệnh ở dạng ẩn (mãn tính) Gà biểu hiện gầy yếu, ủ rũ, xù lông, niêm mạc, mào, yếm nhợt nhạt…
- Bệnh tích: ở gà con mổ khám thấy gan, lách bị viêm sưng có màu
đỏ, tím ở lách, tim, phổi có các hoại tử
- Phòng bệnh:
+ Nhập giống từ cơ sở gà bố mẹ đảm bảo nguồn gốc
+ Nuôi dưỡng chăm sóc tốt để tăng sức đề kháng cho gà
+ Thức ăn trên máng phải thường xuyên sàng qua để loại bỏ những phân gà dính bám vào thức ăn có mang mầm bệnh
+ Giữ gìn vệ sinh chuồng trại để làm giảm nguy cơ lây lan bệnh
+ Dùng dung dịch formol 2-5% để sát trùng toàn bộ khu chuồng nuôi
và khu vực xung quanh
+ Thời gian ủ bệnh từ 6 - 21 ngày
+ Gà trưởng thành và gà đẻ: tăng khối lượng chậm, thở khò khè, chảy nước mũi, ăn ít, gà trở nên gầy ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng nhưng vẫn
Trang 26duy trì ở mức độ thấp
+ Gà thịt: xảy ra giữa 3 - 8 tuần tuổi với triệu chứng nặng hơn so với
các loại gà khác do kết hợp với các mầm bệnh khác (thường với E.coli) Vì vậy trên gà thịt còn gọi là thể kết hợp E.coli-CRD (C - CRD) với các triệu
chứng: âm ran khí quản, chảy nước mũi, ho, sưng mặt, sưng mí mắt, viêm kết mạc
- Phòng bệnh: thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y, chuồng thông thoáng, mật độ hợp lý, nhiệt độ thích hợp, chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, cho uống thuốc để phòng bệnh
Do các loại cầu trùng thuộc giống Eimeria gây ra Gà con 9 - 10 ngày
tuổi bắt đầu nhiễm bệnh nhưng tỷ lệ nhiễm cao nhất ở giai đoạn từ 15 - 45 ngày tuổi Gà bị nhiễm do nuốt phải noãn nang cầu trùng có trong thức ăn, nước uống Bệnh xảy ra quanh năm nhưng trầm trọng nhất là vào vụ xuân hè khi thời tiết nóng ẩm
Theo Đoàn Văn Hùng (2014) [28], các loại cầu trùng gây bệnh cho gà tồn tại rất lâu ngoài môi trường và rất khó tiêu diệt bằng các loại thuốc sát khuẩn cũng như vôi bột vì vậy đàn gà rất dễ bị mắc bệnh từ môi trường
- Triệu chứng:
+ Gà bệnh ủ rũ, ăn ít, uống nhiều nước, xù lông, cánh sã, chậm chạp, phân dính quanh hậu môn, phân loãng, sệt, có màu socola hoặc đen như bùn
+ Nếu gà bị bệnh nặng thì phân lẫn máu tươi, gà mất thăng bằng, cánh
tê liệt, niêm mạc nhợt nhạt, da và mào tái nhợt do mất máu Tỷ lệ ốm cao,
Trang 27nhiều gà chết
- Bệnh tích:
+ Cầu trùng manh tràng: manh tràng sưng to và chứa đầy máu
+ Cầu trùng ruột non: ruột non căng phồng, xuất huyết bề mặt ruột có nhiều đốm trắng xám, bên trong ruột có dịch nhầy màu hồng
Do vi khuẩn Escherichia coli (E coli) gây ra
Chúng tôi thấy gà ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, đặc biệt là giai đoạn gà con 3 - 15 ngày tuổi, tỷ lệ chết 20 - 60 %, gà lớn bệnh ở thể nhẹ và
ít chết Truyền bệnh trực tiếp qua trứng bệnh, lây bệnh nhanh chóng trong lò
ấp, ngoài ra có thể lây bệnh gián tiếp qua thức ăn, nước uống và qua vết hở của rốn
- Triệu chứng:
+ Đầu ổ dịch gà bệnh thường chỉ kém ăn, sức lớn cả đàn chậm lại, sau
đó bệnh có thể tiến triển cấp tính ở những đàn gia cầm con
+ Gà bị bệnh thường ủ rũ, xù lông, gầy rạc Một số con có triệu chứng sốt, sổ mũi và khó thở Sau vài ngày gà ỉa chảy, phân lỏng có dịch nhầy màu nâu, trắng, xanh, đôi khi lẫn máu rồi chết hàng loạt Đôi khi gà có hiện tượng sưng khớp
- Bệnh tích:
+ Gan sưng và xuất huyết, gan sưng đỏ, gan và màng bao tim có lớp
Trang 28nhầy trắng Màng túi khí có nốt xuất huyết nhỏ Niêm mạc ruột sưng đỏ, ỉa phân trắng Gia cầm ở thời kỳ đẻ, buồng trứng bị vỡ và teo
- Điều trị:
+Tiêm gentamycine với liều 8mg/kg khối lượng cơ thể
+Hoặc cho uống florfenicol 20% liều 1ml/10 kg khối lượng cơ thể +Bổ sung vitamin C với liều 1g/lít nước để nâng cao sức đề kháng
Viêm ruột hoại tử
- Nguyên nhân:
Do vi khuẩn Clostridium perfingen typ C gây ra
Bệnh có thể lây lan trên mọi lứa tuổi gia cầm và có thể gây chết ở những gà bị bệnh nặng Những gà thịt bị nhiễm bệnh, biểu hiện triệu chứng cận lâm sàng là cơ thể suy nhược và đi phân lỏng ở giai đoạn 2-5 tuần tuổi,Tỷ lệ chết cao 10 - 20%, dùng các kháng sinh đặc trị tiêu chảy thông thường bệnh không giảm Các lứa tuổi gà đều có thể bị.Bệnh truyền lây qua thức ăn, nước uống hoặc không khí
- Triệu chứng:
+ Gà bị tiêu chảy phân lẫn máu và nhầy giống triệu chứng và màu phân của bệnh Cầu trùng gà Gà bị bệnh chậm chạp, giảm ăn, khô chân, sã cánh không thể đứng dậy được
Trang 292.2.1.6 Giới thiệu thuốc sử dụng trong chuyên đề
Thuốc doxycyline:
- Tính chất:
Doxycycline có kháng khuẩn phổ rộng với các vi khuẩn G+ như
Staphylococcus, Streptococcus, Actinomyces; các vi khuẩn G- nhưE.coli,
Klebsiella bacteroides, Enterobacter, Proteus và Pseudomonasaeruginosa, Salmonella,Bordetellaspp,Brucella,Bartonella,Haemophilus spp,Pasteurella multocida, Shigella và Yersinia pestis, kể cảMycoplasma,Chlamydia, Rickettsia,
Doxycycline có ái lực rất mạnh đến các mô phổi, vì thế nó đặc biệt thích hợp trong phòng và điều trị nhiễm trùng đường hô hấp
- Chỉ định: dùng trên lợn, bê, nghé, gia cầm và thủy cầm
Gia cầm và thủy cầm: bệnh CRD, viêm túi khí do E.coli, tiêu chảy phân trắng do E.coli, thương hàn,…
- Liều lượng và cách dùng:
+ Trộn thức ăn hay pha nước uống: dùng 3 - 5 ngày
+ Gia cầm và thủy cầm: 1g/ 1 - 2 lít nước uống
Thuốc florfenicol
Florfenicol là kháng sinh thế hệ mới nhất của nhóm Phenicol, là kháng sinh tổng hợp phổ rộng, có hiệu quả trong điều trị các bệnh do vi khuẩn Gram (+) và Gram (-) Kháng sinh florfenicol: dạng bột, màu trắng, không mùi, nhưng có vị đắng và tan kém trong nước
Cơ chế tác động:
Florfenicol có hoạt tính chống lại sự phát triển của vi khuẩn bằng cách kết dính với tiểu đơn vị 50S của ribosom, ngăn chặn cầu nối peptid giữa các acid amin Vì vậy ức chế sự tổng hợp protein làm cho vi khuẩn không còn khả năng phát triển và tồn tại
- Chỉ định: dùng trên lợn, bê, nghé, gia cầm và thủy cầm
Trang 30Gia cầm và thủy cầm: bệnh CRD, viêm túi khí do E coli, tiêu chảy phân trắng do E.coli, thương hàn,…
- Liều lượng và cách dùng:
+ Trộn thức ăn hay pha nước uống: dùng 3 - 5 ngày
+ Gia cầm và thủy cầm: 1g/ 1 - 2 lít nước uống
2.2.1.7 Một số đặc điểm của giống gà broiler C.P 707 (ROSS 308)
- Nguồn gốc xuất xứ: Hãng ross breeder được thành lập từ năm 1920
ở Anh Giống gà Ross được hình thành vào năm 1978 đến năm 1998 thì hợp nhất thành hãng Arbor brands, Nicholas Turkeys, Indian River brands, mặc
dù hợp nhất nhưng tên giống gà Ross vẫn tiếp tục giao dịch trên thị trường thế giới: Ross 208, Ross 308, Ross 508, Ross 708 Việt Nam nhập gà Ross
208 năm 1993, trong quá trình phát triển nhập thêm Ross 308, Ross 508
Về đặc điểm ngoại hình: Gà Ross cả gà trống và gà mái đều có lông màu trắng, mào đơn, ngực sâu, rộng, cơ ngực và cơ đùi phát triển, thân thịt chiếm tỷ lệ tương đối cao so với khối lượng sống
Về khả năng sản xuất:Theo Đoàn Xuân Trúc (2006) [15], gà Ross
308 sau 42 ngày tuổi khối lượng cơ thể đạt 2,35 - 2,47 kg, tiêu tốn thức ăn 1,75 - 1,92 kg tăng khối lượng Thịt gà Ross có tỉ lệ thịt xẻ cao 70 -71%, ít
mỡ, tỷ lệ VCK chiếm từ 27,6 - 29,3% Xét về chất lượng thịt gà Ross chỉ hơi kém so với thịt gà lông màu về mùi vị thơm ngon nhưng lại hơn hẳn về các chỉ số đánh giá khả năng sản xuất thịt
Một số chỉ tiêu sản xuất chính của gà broiler Ross 308 như sau:
Ngày
tuổi
Khối lượng sống (g)
Tăng khối lượng tuyệt đối (g/con/ngày)
Hệ sô chuyển hóa thức ăn
Trang 31Về điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng: Gà Ross 308 thương phẩm nuôi tại
Việt Nam có khả năng thích nghi tốt với điều kiện thời tiết khí hậu Việt Nam
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nhìn chung chăn nuôi gia cầm ở nước ta đang phát triển khá nhanh và vững chắc cả về quy mô, sản lượng, chất lượng và hiệu quả Trong đó chăn nuôi gà phát triển mạnh thì ảnh hưởng của dòng giống, mùa vụ và dịch bệnh xảy ra cũng là một vấn đề lớn cần phải giải quyết vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới ngành chăn nuôi
Ở nước ta các công trình nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của mùa vụ đối với gà thịt cũng được quan tâm đến
Theo Hồ Lam Sơn (2005) [12], khi nghiên cứu năng suất thịt của gà broiler Sinh trưởng của gà broiler cả trống và mái vào mùa xuân là tốt nhất, tiếp sau đó là mùa đông, thấp nhất ở mùa hè Khối lượng cơ thể của gà mái
và gà trống đều đạt cao nhất vào mùa xuân, thấp nhất ở mùa hè Sự chênh lệch về khối lượng cơ thể nuôi ở các mùa đối với gà trống rõ hơn gà mái Ở
84 ngày tuổi chênh lệch về khối lượng giữa mùa xuân so với mùa hè: gà trống là 296,72g, gà mái là 261,76g; chênh lệch mùa đông so với mùa hè: gà trống là 233,16g, gà mái là 93,1g; chênh lệch giữa mùa xuân so với mùa đông: gà trống là 63,58g, gà mái là 252,45g
Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên (1998) [10] cho biết, tốc độ mọc lông là tính trạng di truyền liên kết với giới tính, trong cùng một dòng gà thì
gà mái có tốc độ mọc lông đều hơn gà trống, đó là hormone tác dụng ngược chiều với gen liên kết giới tính Trong cùng một giống, cùng giới tính, ở gà
có tốc độ mọc lông nhanh có tốc độ sinh trưởng, phát triển tốt hơn
Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1993) [7] cho biết, gà broiler nuôi trong vụ hè cần phải tăng mức ME và CP cao hơn nhu cầu vụ đông 10 - 15%
Trang 32Ảnh hưởng của dịch bệnh là điều mà tất cả mọi người đều rất quan tâm vì nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới vật nuôi mà còn lây lan dịch bệnh, giảm hiệu quả chăn nuôi và gây thiệt hại kinh tế
Theo Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu (2001) [17], tác nhân gây
bệnh CRD là Mycoplasma gallisepticum, tỷ lệ nhiễm bệnh ở miền Bắc Việt
Nam là 51,6% ở gà thương phẩm, còn gà giống là 10%, tỷ lệ đẻ trứng giảm
20 - 30%
Phạm Sỹ Lăng và Trương Văn Dung (2002) [6] cho biết, bệnh CRD
có thể làm giảm tỷ lệ đẻ trứng xuống tới 30%, giảm tỷ lệ ấp nở tới 14% và giảm trọng lượng của gà thịt thương phẩm tới 16% Ngoài ra bệnh còn kết hợp với các bệnh khác như:Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm, tụ
huyết trùng, bệnh do E.coli đã gây nên những vụ dịch với tỷ lệ chết cao
Hoàng Huy Liệu (2002)[29] cho biết, bệnh CRD do 3 loài
Mycoplasma gây ra: M.gallisepticum, M.synoviae, M.meleagridis Nhưng chủ yếu là loài M.gallisepticum Mycoplasma có nghĩa là “dạng nấm”, nhìn
dưới kính hiển vi thì giống như tế bào động vật nhỏ, không nhân; gallisepticum có nghĩa là “gây độc cho gà mái” Điều này được thấy rõ tỷ lệ nhiễm bệnh ở gà đẻ trứng rất cao và sản lượng trứng được giảm đáng kể
Hoàng Hà (2009) [27] cho biết, trong tự nhiên thời gian ủ bệnh CRD
từ 3 - 8 tuần tuổi Bệnh CRD rất phổ biến ở gà và tỷ lệ gà bị nhiễm bệnh này
là rất cao: 10 - 15% (ở đàn gà giống), 30 - 40% (ở đàn gà thịt) và 70 - 80% (ở đàn gà đẻ)
Nguyễn Lân Dũng và cs (2007) [3] cho biết, năm 1898, Nocard E và
cs lần đầu tiên phân lập được Mycoplasma từ bò bị bệnh viêm phổi màng
phổi truyền nhiễm Khi đó được gọi là vi sinh vật viêm màng phổi (PPO:
Pleuropneumonia organism) Về sau người ta tiếp tục phân lập được PPO từ
các động vật khác và đổi tên là vi sinh vật loại viêm màng phổi
(PPLO:Pleuropneumonia like organism) Từ năm 1955, PPO và PPLO được
chính thức đổi thành Mycoplasma
Trang 33Trường Giang (2008) [26] cho biết, trên gà thịt: bệnh hay xảy ra lúc đàn gà được 4 - 8 tuần, triệu chứng thường nặng hơn so với các loại gà khác
do sự phụ nhiễm các loại vi trùng khác mà thông thường nhất là E.coli, vì vậy trên gà thịt người ta còn gọi là thể kết hợp E.coli - CRD (C-CRD) với
các triệu chứng giảm ăn, chảy nước mũi, xuất hiện âm ran khí quản, ho, viêm kết mạc mắt, chảy nước mắt, sưng đầu, gà ủ rũ và chết sau khi mắc bệnh 3 - 4 ngày, tử số có thể lên đến 30%, số còn lại chậm lớn Trên gà trưởng thành - gà đẻ: bệnh phát ra khi thay đổi thời tiết, tiêm phòng, chuyển chuồng, cắt mỏ,…các triệu chứng chính vẫn là chảy nước mũi, thở khò khè,
ăn ít, gà trở nên gầy ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng, trứng ấp nở cho ra các
gà con yếu ớt Ở một số đàn gà đẻ đôi khi chỉ thấy xuất hiện sự giảm sản lượng trứng, gà con yếu, tỷ lệ ấp nở kém, còn các triệu chứng khác không thấy xuất hiện
Theo Vương Trung Sơn và cs (2001) [11], gà nhiễm cầu trùng bằng con đường duy nhất là miệng thông qua những chất mà gà thường xuyên tiếp xúc như: thức ăn, chất độn chuồng, phân, bụi, Mặc dù bình thường, bệnh cầu trùng gắn liền với chăn nuôi thâm canh cải tiến trong đó một số lượng lớn gà nuôi chung với nhau Điều quan trọng là phải biết rằng bất kỳ điều kiện nào dẫn tới việc nuôi quá đông và tích tụ ô nhiễm phân trong môi trường đều có thể là tiền đề của căn bệnh quan trọng này, vì vậy các ổ dịch bệnh cầu trùng có thể xảy ra ở thôn xóm cũng như ở các xí nghiệp hiện đại
Theo Nguyễn Lân Dũng và cs (1995) [2], E.colicó sức đề kháng kém,
bị diệt ở nhiệt độ 550C trong 1 giờ và ở 600C trong vòng 30 phút Các chất
sát trùng thông thường như nước gia ven 0,5%, phenol 0,5% diệt được E
colisau 2 - 4 phút
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu thế giới
Brandsch và Billchel (1978) [1], tốc độ mọc lông là tính trạng di
Trang 34cầm.Theo Warren (1994), gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh, thành thục về thể vóc sớm thì chất lượng thịt tốt hơn gia cầm có tốc độ mọc lông chậm.
Arbor Acres (1993) [19] khuyến cáo: với gà broiler giết thịt sớm 38 -
42 ngày tuổi, từ 1 ngày tuổi đến 3 ngày tuổi chiếu sáng 24/24 giờ cường độ chiếu sáng 20 lux, từ ngày thứ 4 trở đi thời gian chiếu sáng 23/24 giờ cường
độ chiếu sáng 5 lux, với gà broiler nuôi dài ngày 49 - 56 ngày thời gian chiếu sáng ngày thứ 1 là 24 giờ; ngày thứ 2 là 20 giờ; ngày thứ 3 đến ngày thứ 15 là 12 giờ; ngày thứ 16 - 18 là 14 giờ; ngày 19 - 22 là 16 giờ; ngày 23
- 24 là 18 giờ và ngày 25 đến kết thúc là 24 giờ
Kojima và cs (1997) [23] đã sử dụng phương pháp PCR để phát hiện mầm bệnh thuộc 9 loài Mycoplasma của gia cầm trong vắcxin sống tạo từ phôi gà với độ nhạy cảm khá cao Tuy nhiên, chưa có một cặp mồi nào được khẳng định là đặc trưng cho toàn bộ lớp mollicus mà không nhân lên các loại
vi khuẩn khác
Phạm Sỹ Lăng và Trương Văn Dung (2002) [6] cho biết, năm 1984 Glison và Kleven đã nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vắcxin nhược độc và vắcxin chết nhằm khống chế lây truyền MG qua trứng
Theo tài liệu của Chambers J R (1990) [20] nhiều gen ảnh hưởng đến
sự phát triển của gà Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ
Winkler G,Weinberg M D (2002) [25] cho biết: các nhà vi trùng học
đã phân loại hơn 170 nhóm huyết thanh E.colikhác nhau Trong mỗi một nhóm có 1 hay nhiều serotype E.coli O157H7 được trung tâm giám sát dịch bệnh của Mỹ phát hiện đầu tiên vào năm 1975, sau 8 năm E.coli O157H7 mới xác định chắc chắn là nguyên nhân gây bệnh viêm ruột Đặc biệt năm 1982, một số ổ dịch ngộ độc thực phẩm bao gồm cả trường hợp bị dung huyết dạ dày, ruột Với kết quả này, người ta xác định rõ E.coli O157H7 là vi khuẩn gây dung huyết