1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà lông xước đàn hạt nhân thế hệ 2 tại trường đại học nông lâm thái nguyên

66 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản chất di truyền của các tính trạng sản xuất Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm được nuôi trong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu đặc điểm di truy

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2015 - 2019

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: PGS TS Lê Minh

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian thực tập tại cơ sở và ở trường, đến nay em đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp đại học của mình Để có được kết quả này ngoài sự nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của nhà trường, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình dạy dỗ giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tại trường

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS TS Lê Minh

đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo em tận tình trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này

Để góp phần cho việc thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đạt kết quả tốt, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của gia đình

và bạn bè Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả mọi người đã luôn giúp đỡ

em trong thời gian qua

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Lịch dùng vắc xin và thuốc thú y cho gà sinh sản giai đoạn 20 - 38

tuần tuổi 29

Bảng 3.2 Chế độ dinh dưỡng cho gà Lông Xước đàn hạt nhân thế hệ 2 giai đoạn 20 – 38 tuần tuổi 29

Bảng 4.1 Quy trình tiêm vắc xin và sử dụng thuốc thú y phòng bệnh cho gà Lông Xước 36

Bảng 4.2 Khối lượng của gà sinh sản qua các giai đoạn tuổi (g) 38

Bảng 4.3 Tuổi thành thục tính dục của gà Lông Xước 39

Bảng 4.4 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu sinh sản của gà Lông Xước 41

Bảng 4.5 Khối lượng và chất lượng trứng của gà Lông Xước 38 tuần tuổi 43

Bảng 4.6 Tỷ lệ phôi và kết quả ấp nở trứng gà Lông Xước đàn hạt nhân thế hệ 2 46

Bảng 4.7 Hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Lông Xước 47

Trang 5

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ

Hình 4.1 Đồ thị tỷ lệ đẻ trứng của gà Lông Xước giai đoạn 20-38 tuần 42

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

1 NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

2 NQ-HĐND Nghị quyết- hội đồng nhân dân

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ iii

DANH MỤC VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Một số đặc điểm sinh học của gia cầm 3

2.1.2 Tính trạng sản xuất của gia cầm 6

2.1.3 Sức sống và khả năng kháng bệnh của gà 10

2.1.4 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm 10

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm 16

2.1.6 Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ 19

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 20

2.2.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm trên thế giới 20

2.2.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm trong nước 23

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 Đối tượng nghiên cứu 28

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 28

Trang 8

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu: 28

3.2.2 Thời gian nghiên cứu: Từ 21/11/2018 – 26/5/2019 28

3.3 Nội dung thực hiện 28

3.3.1 Công tác phục vụ sản xuất 28

3.3.2 Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà Lông Xước đàn hạt nhân thế hệ 2 28

3.4 Phương pháp nghiên cứu 28

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu khả năng sinh trưởng của gà Lông Xước 28

3.4.2 Phương pháp xác định khả năng sinh trưởng của gà Lông Xước đàn hạt nhân thế hệ 2 30

3.4.3 Phương pháp theo dõi đánh giá khả năng sinh sản của gà Lông Xước 30

3.4.4 Phương pháp nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng: 30

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 31

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 32

4.1.1 Công tác vệ sinh thú y khu vực trại chăn nuôi 32

4.1.2 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng gà Lông Xước 32

4.1.3 Công tác phòng bệnh bằng vắc xin và thuốc thú y 35

4.1.4 Công tác điều trị bệnh 37

4.2 Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà Lông Xước đàn hạt nhân thế hệ 2 38

4.2.1 Nghiên cứu khối lượng cơ thể gà Lông Xước đàn hạt nhân thế hệ 2 38

4.2.2 Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà Lông Xước đàn hạt nhân thế hệ 2 39

4.2.2.2 Theo dõi một số chỉ tiêu sinh sản của gà Lông Xước giai đoạn 20 - 38 tuần tuổi 40

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49

1.Kết luận 49

1.1 Về công tác phục vụ sản xuất 49

Trang 9

1.2 Về khối lượng cơ thể gà Lông Xước đàn hạt nhân thế hệ 2 giai đoạn 20 -

38 tuần tuổi 49 1.3 Về kết quả nghiên cứu khả năng sinh sản của gà Lông Xước đàn hạt nhân thế hệ 2 49

2 Đề nghị 50

MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi gia cầm ở nước ta có truyền thống lâu đời, đã và đang góp phần quan trọng cải thiện kinh kế của hàng triệu nông dân Hàng năm, ngành chăn nuôi gia cầm cung cấp 18 - 20% tổng khối lượng thịt các loại, đứng thứ hai sau thịt lợn (thịt lợn chiếm vị trí số 1 với tỷ lệ 75 - 76%), bên cạnh đó chăn nuôi gia cầm còn cung cấp nguồn thực phẩm có dinh dưỡng khá hoàn chỉnh đó là trứng gia cầm

Vốn có nhiều truyền thống trong chăn nuôi, song hành với tiến độ hội nhập của cả nước, ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng ở Việt Nam ngày càng phát triển Tuy nhiên, với tình hình chăn nuôi diễn biến phức tạp, dịch bệnh nhiều, do yếu tố thích nghi nên một số giống gà nhập ngoại thường có sức chống chịu bệnh tật kém và một số chưa phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Trong điều kiện đó một số giống gia cầm địa phương đang được chú trọng khôi phục và phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu đó

Gà Lông Xước là giống gà bản địa mới được phát hiện ở một số huyện như: Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh - tỉnh Hà Giang Giống gà này có đặc điểm: lông xước ngược toàn thân như lông nhím; hình dáng thon, nhỏ, nhanh nhen, chắc khỏe Chúng có chất lượng thịt ngon, có khả năng chịu đựng thời tiết khắc nghiệt ở vùng núi cao của tỉnh Hà Giang Trọng lượng lớn nhất của gà Lông Xước là 4 - 5kg và mỗi năm một gà mái có thể đẻ 50 - 60 quả trứng Tuy nhiên, cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu về giống gà này và chưa có công bố cụ thể về thực trạng của giống gà này ở tỉnh Hà Giang

Trên cơ sở lưu giữ đàn hạt nhân gà Lông Xước đã được chọn lọc qua 1

thế hệ, chúng em tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả năng sinh sản

Trang 11

của gà Lông Xước đàn hạt nhân thế hệ 2 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” để có cơ sở khoa học đánh giá về khả năng sinh sản của giống

gà này

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

Đánh giá được khả năng sinh sản của gà Lông Xước đàn hạt nhân thế hệ xuất phát thế hệ 2 được nuôi giữ tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

1.3 Ý nghĩa của đề tài

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Một số đặc điểm sinh học của gia cầm

2.1.1.1 Các dẫn xuất của da gia cầm

Lông là dẫn xuất của da, là một đặc điểm di truyền của giống, có ý nghĩa phân loại và ý nghĩa kinh tế Gà con mới nở có lông tơ che phủ, cùng với sự sinh trưởng của gia cầm non, lông tơ dần dần được thay thế bằng lông

cố định Tốc độ mọc lông là sự biểu hiện mức độ mọc lông sớm hay muộn, biểu hiện theo một nhịp điệu có tính di truyền Tốc độ mọc lông liên quan chặt chẽ đến cường độ sinh trưởng, những gia cầm lớn nhanh thì tốc độ mọc lông nhanh (Brandsch và Billchel H.1978) [2]

- Mỏ: Có nguồn gốc vảy sừng, ngắn, cứng và chắc Gà có mỏ dài và

mảnh thì khả năng sản xuất thấp Những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng,

gà da đen thì mỏ cũng tối màu Ở gà mái màu sắc này cũng bị nhạt đi vào cuối thời kỳ đẻ trứng Mỏ gà cần chắc chắn và ngắn

- Chân: Được bao phủ bằng lớp vảy sừng và có sự khác nhau về màu

sắc Bàn chân và ngón chân bao phủ một lớp vảy sừng tương tự như mỏ Gà

có khoảng cách giữa hai chân rộng thường được ưa thích hơn vì chân đứng rộng chứng tỏ thân rộng Gà có chân chữ bát, các ngón cong và bộ xương khuyết tật không nên dùng làm giống Chân gà có 4 ngón (trừ gà ác chân có 5 ngón) Chân thường có vuốt và cựa Cựa là một đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp, có ở gà trống Cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài

2.1.1.2 Hình dáng và kích thước các chiều đo

Tùy mục đích sử dụng, các dòng gà được chia thành 3 loại hình: hướng trứng, hướng thịt và hướng kiêm dụng Gà hướng trứng có thân hình thon nhỏ, cổ dài, nhẹ cân, dáng nhanh nhẹn Gà hướng thịt có thân hình to, thô, cổ

Trang 13

dài trung bình, ngực nở, dáng đi nặng nề, khối lượng lớn Gà kiêm dụng có hình dáng trung gian, cơ thể có hướng kiêm dụng trứng - thịt hoặc thịt - trứng

2.1.1.3 Một số chỉ tiêu sinh lý máu gà

Máu là một trong những mô biệt hóa cao nhất ở dạng lỏng, lưu thông trong huyết quản, là nguồn gốc của tất cả các dịch thể, có ảnh hưởng sâu sắc đến các tổ chức, cơ quan trong cơ thể sống, là nội mô của cơ thể Khi lưu thông huyết quản của vòng tuần hoàn lớn, máu thực hiện các chức năng sinh lý: tham gia vận chuyển sinh dưỡng và chất thải trong quá trình trao đổi chất, điều hòa thân nhiệt, vận chuyển các chất khí O2 và CO2 cho quá trình hô hấp

mô bào Nhiệm vụ bảo vệ cơ thể là do các dạng protein miễn dịch, các kháng thể (phetixitin, inglutinin…) tồn tại trong huyết thanh, bạch cầu là phòng tuyến bảo vệ vững chắc sự xâm nhập của vi khuẩn Cân bằng nước và muối khoáng trong cơ thể, tạo một hệ thống đệm rất hoàn chỉnh và hoạt động linh hoạt

Hồng cầu ở gia cầm có hình bầu dục, lồi hai mặt, có nhân nhỏ Hồng cầu là loại tế bào có nhiều nhất trong máu, có chức năng vận chuyển khí O2

và CO2 Số lượng hồng cầu và kích thước của nó phụ thuộc vào loài giống, mùa vụ, tuổi của gia cầm Số lượng hồng cầu gà con dưới 5 ngày tuổi 2,3 triệu/mm3 Đến 3 - 4 tháng tuổi số lượng hồng cầu đạt tới mức như ở gia cầm trưởng thành 3 - 4 triệu mm3 Trong hồng cầu có 60 % là nước và 40 % là vật chất khô Trong vật chất khô có 90 - 95 % là hemoglobin, 3 - 8 % các protein khác, 0,5 % lexitin, 0,3% cholesteron, các muối kim loại chủ yếu là muối kali

Hồng cầu tăng khi con vật bị trở ngại về hô hấp (viêm phế quản, khí quản…) hoặc máu giảm trạng thái lỏng (ỉa chảy, tăng mô huyết…)

Hemoglobin (Hb) chiếm 9 - 14 % trong máu động vật khỏe mạnh Hemoglobin là một chromoprotein có cấu tạo globin (96%) và nhóm Hem (4%), kết cấu của nhóm Hem có nhân sắt (Fe) làm cho máu có màu đỏ, cũng như đồng (Cu) trong hemoxiamin làm máu loài nhuyễn thể có màu xanh da

Trang 14

trời và Magie (Mg) trong chlorophyll làm cho lá cây có màu lục Globin có bản chất protein nên hemoglobin mang tính đặc trưng cho loài

Hàm lượng hemoglobin còn đánh giá chất lượng của máu, mặc dù số lượng hồng cầu ít nhưng hàm lượng hemoglobin cao thì máu vẫn tốt Hàm lượng hemoglobin trong máu gia cầm phụ thuộc vào tuổi và giống Gà mái Leghorn 6,7g/100ml máu; gà mái trưởng thành 8,9 g/100ml máu; gà trống trưởng thành 10,2g/100ml máu

Bạch cầu là loại tế bào có nhân, có bào trứng được phân loại thành: bạch cầu có nhân, các nhân nằm ở nguyên sinh chất, tùy theo tính chất bắt màu của các nhân mà phân ra hạch cầu trung tính, toan tính, kiềm tính

Bạch cầu không nhân gồm: lâm ba cầu và bạch cầu đơn nhân Chức năng sinh lý của bạch cầu là bảo vệ cơ thể, chống lại những vi khuẩn xâm nhập vào máu và mô thông qua: phương thức thực bào, miễn dịch dịch thể (tiết kháng thể và làm ngưng kết kháng nguyên), miễn dịch tế bào (không tiết kháng thể, nhưng cố định được độc tố ngay trên bản thân nó)

Thực bào là phương thức quan trọng nhất chống lại sự nhiễm trùng của

cơ thể, là chức năng chỉ yếu của bạch cầu có hạt Còn bạch cầu không hạt như: lâm ba cầu (lymphocytes) thì tham gia quá trình miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể Tỷ lệ các loại bạch cầu trong máu gọi là công thức bạch cầu Khi sinh trưởng cơ thể thay đổi, công thức bạch cầu cũng biến đổi, dựa vào đó để chẩn đoán lâm sàng Bạch cầu trắng khi có bệnh nhất là chứng viêm, nhiễm trùng ở nơi có nhiều mầm bệnh

Bạch cầu là những tế bào có kích thước lớn hơn hồng cầu nhưng số lượng ít hơn nhiều lần so với hồng cầu Số lượng bạch cầu của gà trong 1mm3máu là 40 (20 - 60) nghìn Số lượng bạch cầu phụ thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng, tình trạng sức khỏe, đặc điểm giống, loài và các nguyên nhân khác

Ngoài các chỉ tiêu sinh lý máu như hồng cầu, bạch cầu, hemoglobin còn các chỉ tiêu khác như: đông máu, lắng máu, thể tích hồng cầu, sức kháng thẩm

Trang 15

thấu của hồng cầu, công thức bạch cầu cũng rất quan trọng Trong chăn nuôi thú y có ý nghĩa xác định giống, chọn và lai tạo giống, trong chẩn đoán lâm sàng cũng có ý nghĩa quan trọng

2.1.2 Tính trạng sản xuất của gia cầm

2.1.2.1 Bản chất di truyền của các tính trạng sản xuất

Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm được nuôi trong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu đặc điểm di truyền số lượng và ảnh hưởng của những tác động môi trường lên các tính trạng đó Hầu hết các tính trạng về năng suất của vật nuôi như sinh trưởng, sinh sản, mọc lông, tăng trưởng thịt, đẻ trứng đều là các tính trạng số lượng Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng cũng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể qui định Theo Nguyễn Ân và cs (1983) [1] các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng, thường là các tính trạng đo lường như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, sản lượng trứng, khối lượng trứng.v.v

Các tính trạng số lượng thường bị chi phối bởi nhiều gen, các gen này hoạt động theo 3 phương thức:

- Công gộp (A) hiệu ứng tích lũy của từng gen

- Trội (D) hiệu ứng tương tác giữa các gen cùng một locus

- Át gen (I) hiệu ứng do tương tác của các gen không cùng 1 locus Hiệu ứng cộng gộp (A) là các giá trị giống thông thường (general breeding value) có thể tính toán được, có ý nghĩa trong chọn lọc nhân thuần

Hiệu ứng trội (D) và át gen (I) là những hiệu ứng không cộng tính và là giá trị giống đặc biệt (special breeding value) có ý nghĩa đặc biệt trong các tổ hợp lai Ở các tính trạng số lượng, giá trị kiểu hình cũng do giá trị kiểu gen (kiểu di truyền) và sai lệch môi trường qui định Những giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minon gen) cấu tạo thành

Đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp lại sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, tính trạng sản xuất là một

Trang 16

ví dụ (Nguyễn Văn Thiện, 1996) [19]

Khác với các tính trạng chất lượng, tính trạng số lượng chịu ảnh hương rất lớn bởi các yếu tố tác động của ngoại cảnh Tuy các điều kiện bên ngoài không thể làm thay đổi cấu trúc di truyền nhưng nó tác động làm phát huy hay kìm hãm việc biểu hiện các hoạt động của các gen Các tính trạng số lượng được qui định bởi kiểu gen và chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện ngoại cảnh, mối tương quan đó được biểu thị như sau:

P = G + E

Trong đó: P là giá trị kiểu hình, G là giá trị kiểu gen, E là sai lệch môi trường

Giá trị kiểu gen (G) hoạt động theo ba phương thức: cộng gộp, trội và át gen

- Sai lệch môi trường riêng (Es) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc ở một giai đoạn nhất định trong cuộc đời con vật Loại này có tính chất không thường xuyên Nếu

bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh, quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể được xác định bởi kiểu gen từ

2 locut trở lên có giá trị là: P P= G + E

Trong đó: G = A + D + I; E = Eg + Es, suy ra P = A + D + I +Eg + Es Trên cơ sở đó cho thấy, các giống gia cầm, cũng như các sinh vật khác, con cái đều nhận được từ bố mẹ một số gen quy định tính trạng số lượng nào

Trang 17

đó Tính trạng đó được xem như nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền, nhưng khả năng đó phát huy được hay không còn phụ thuộc vào môi trường sống như: chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý,

Người ta có thể xác định các tính trạng số lượng qua mức độ tập trung (Χg), mức độ biến dị (CV%), hệ số di truyền của các tính trạng (h2), hệ số lặp lại của các tính trạng (R), hệ số tương quan (r) giữa các tính trạng, v.v

2.1.2.2 Khả năng sinh sản của gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng

Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện thông qua các tính trạng

số lượng như tuổi thành thục sinh dục, năng suất trứng, tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng

* Tuổi thành thục sinh dục

Sự thành thục về tính là thời điểm các cơ quan sinh dục đã phát triển và hoàn chỉnh, độ thành thục sinh dục của con mái được xác định qua tuổi đẻ quả trứng đầu tiên, tuổi đẻ này được tính toán dựa trên số liệu của từng gia cầm,

do vậy mà nó phản ánh được mức độ biến dị của tính trạng Đối với quần thể không theo dõi được cá thể thì tuổi thành thục về tính được tính khi toàn bộ đàn có tỷ lệ đẻ đạt 5%

Tuổi thành thục sinh dục có liên quan chặt chẽ đến sức đẻ trứng của gia cầm Tuổi thành thục sớm cũng là một tính trạng mong muốn trong chọn giống gia cầm, tuy nhiên tuổi thành thục lại có tương quan với khối lượng cơ thể Khi chọn lọc tăng khối lượng cơ thể thì tuổi thành thục cũng tăng theo và ngược lại khi chọn lọc giảm khối lượng cơ thể thì tuổi thành thục cũng giảm theo

* Năng suất trứng

Năng suất trứng là số lượng trứng đẻ ra của một gia cầm mái trong một đơn vị thời gian Đối với gia cầm đẻ trứng thì đây là chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất, nó phản ảnh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ, điều kiện dinh dưỡng, chăm sóc và đặc

Trang 18

điểm của cá thể

* Khối lượng trứng

Khối lượng trứng cũng là một tính trạng số lượng do nhiều gen có tác động cộng gộp qui định, nhưng đến nay người ta cũng chưa xác định được số lượng gen qui định tính trạng này Sau sản lượng trứng, khối lượng trứng là chỉ tiêu quan trọng cấu thành năng suất của đàn bố mẹ

Khối lượng trứng là một tính trạng có hệ số di truyền cao, nên có thể đạt được mục đích nhanh chóng thông qua con đường chọn lọc Ngoài các yếu tố về di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố ngoại cảnh như: chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ, tuổi gia cầm Khối lượng trứng mang tính đặc trưng của từng loài và tính di truyền cao Hệ số di truyền của tính trạng này là 0,48 - 0,8 (Brandsch và Billchel (1978) [2]

* Những yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng

Theo Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [13], Nguyễn Trọng Thiện (2008) [21] sức sản xuất trứng chỉ sự chi phối của các tập hợp gen khác nhau; các gen qui định tính trạng này nằm trên nhiễm sắc thể thường và bị hạn chế bởi giới tính Sản lượng trứng được truyền lại cho đời sau từ bố mẹ Sức đẻ trứng của gà mái chịu sự ảnh hưởng của 5 yếu tố di truyền cá thể là: thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học, cường độ đẻ, tính nghỉ đẻ mùa đông, tính ấp bóng, tuổi thành thục sinh dục

* Khả năng thụ tinh và ấp nở

Tỷ lệ trứng có phôi ở gia cầm là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá về khả năng sinh sản của con trống và con mái Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, tỷ lệ trống mái, mùa vụ, dinh dưỡng, ghép đôi giao phối…

Tỷ lệ nở là một chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của phôi, sức sống của gia cầm non Đối với những trứng có chỉ số hình thái chuẩn, khối lượng trung bình của giống sẽ cho tỷ lệ ấp nở cao nhất Khả năng ấp nở phụ thuộc vào chất lượng trứng, tỷ lệ phôi, kỹ thuật ấp nở …

Trang 19

Nghiên cứu khả năng ấp nở của trứng gà, các tác giả cho biết tỷ lệ trứng được thụ tinh, tỷ lệ nở gà loại 1 phụ thuộc vào yếu tố di truyền và môi trường Trong điều kiện phối giống tự nhiên, đặc tính phối giống của gà trống

là rất quan trọng Các dòng gà nặng cân có tỷ lệ giao phối và thụ tinh kém so với dòng gà nhẹ cân, sự khác nhau này là do tính năng đạp máu của dòng gà nặng cân kém dòng gà nhẹ cân Nguyễn Quý Khiêm (2003) [12] nghiên cứu

gà Tam Hoàng cho biết, trứng có khối lượng 45g - 55g có tỷ lệ nở/trứng ấp và

tỷ lệ nở/trứng có phôi đạt tương ứng là 84,09 % - 86,46% và 86,95 % - 88,89%, cao hơn trứng có khối lượng dưới 45g và trứng có khối lượng trên 55g lần lượt là 7,41% - 9,06%; 12,35 - 13,45%

Ngoài ra, tỷ lệ nuôi sống gia cầm còn phụ thuộc vào sức sống của đàn

gà bố mẹ, gà mái đẻ tốt thì tỷ lệ nuôi sống của gà con sẽ tốt và ngược lại Đối với cơ thể sinh vật những phản ứng sinh lý trong phản ứng stress là tác động tương quan giữa gen và môi sinh, trong đó tất nhiên chịu ảnh hưởng vai trò của các quy luật di truyền đa gen, trội, lặn, giới tính v.v…

2.1.4 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm

2.1.4.1 Một số đặc điểm sinh học của gia cầm sinh sản

* Cơ quan sinh dục đực: gồm tinh hoàn, dịch hoàn phụ, ống dẫn tinh và

cơ quan giao phối Tinh hoàn có hình ô van hoặc hạt đậu màu trắng hoặc hơi vàng; nằm phía trên thùy trước của thận, cạnh túi khí bụng Khối lượng tinh hoàn phụ thuộc vào tuổi và trạng thái sinh lý của con vật Cơ quan giao cấu có

Trang 20

cấu trúc khác biệt Gai giao cấu nằm sâu ở dưới lỗ huyệt

Quá trình hình thành tinh trùng diễn ra tương tự như ở gia súc Tế bào

sơ cấp bằng con đường phân chia hình thành tinh bào thứ nhất phát triển Mỗi tinh bào thứ nhất lại chia thành tinh bào thứ hai, tiếp tục phát triển, sau đó hình thành tiền tinh trùng và cuối cùng hình thành tinh trùng Ở gà, một lần phóng tinh khoảng 0,6-2ml tinh dịch Trong mỗi ml tinh dịch chứa 3,2 tỷ tinh trùng Các phản xạ và cơ chế giao phối ở gia cầm giống động vật có vú nhưng thời gian để tinh trùng từ cơ quan sinh dục đực đến loa kèn rất lâu, khoảng 72-75 giờ (3 ngày) Tuy nhiên, tinh trùng gà sống được rất lâu trong đường sinh dục cái

* Cơ quan sinh dục cái: gồm buồng trứng và ống dẫn trứng

- Buồng trứng: có chức năng tạo lòng đỏ, nằm bên trái xoang bụng, được giữ bằng màng bụng, hình dạng và kích thước buồng trứng phụ thuộc vào tuổi và loại gia cầm Ở gà 1 ngày tuổi, buồng trứng có kích thước 1-2

mm, khối lượng đạt 0,03 g Đến 4 tháng tuổi, buồng trứng có dạng hình thoi, khối lượng đạt 2,66g Gà ở thời kỳ đẻ, buồng trứng hình chùm nho chứa nhiều

tế bào trứng, có khối lượng 45-55g Gà dò và gà đẻ thay lông có khối lượng buồng trứng là 5g

Theo Bùi Đức Lũng và Nguyễn Xuân Sơn (2003) [15], sự phát triển của mỗi tế bào trứng gồm 3 thời kỳ: tăng sinh, sinh trưởng và chín

Thời kỳ tăng sinh: trước khi bắt đầu đẻ trứng, đếm được 3500 - 4000 tế

bào trứng ở buồng trứng gà mái Trong tế bào trứng (phần noãn hoàng) có nhân to với những hạt nhỏ và nguyên sinh chất Trong noãn hoàng có chứa nhân tế bào

Thời kỳ sinh trưởng: tế bào trứng tăng trưởng nhanh, đặc biệt là lòng

đỏ Trong khoảng thời gian 3-14 ngày, lòng đỏ chiếm 90-95% khối lượng của

tế bào trứng Thành phần gồm: protit, photpholipit, mỡ trung hoà, các chất khoáng và vitamin Lòng đỏ tích lũy mạnh vào ngày thứ 9 và 4 ngày trước khi

Trang 21

trứng rụng Vào cuối thời kỳ phát triển của tế bào trứng, giữa lòng đỏ chứa đầy lympho Trong đó, noãn hoàng bơi tự do và các cực của nó nằm theo lực hướng tâm-cực anivan (cùng đĩa phôi) hướng lên trên, cực thực vật hướng xuống dưới Đường kính lòng đỏ khoảng 35-40mm

Thời kỳ chín của noãn hoàng (thời kỳ cuối hình thành trứng): lúc đầu

các tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào không có liên kết với biểu

bì phát sinh Tầng tế bào này phát triển trở thành nhiều tầng và sự tạo thành tiến tới bề mặt buồng trứng Cấu tạo này gọi là follicun Bên trong follicun có một khoảng hở chứa đầy dịch Bên ngoài follicun giống như một cái túi Trong thời kỳ đẻ trứng, nhiều follicun chin dần làm buồng trứng trở về hình dạng ban đầu Các follincun trứng vỡ ra, quả trứng chín chuyển ra ngoài cùng với dịch follicum và rơi vào phễu ống dẫn trứng Sự rụng trứng đầu tiên báo hiệu sự thành thục sinh dục Đó là quá trình xảy ra một lần trong ngày Có trường hợp đặc biệt, có hai hoặc ba tế bào trứng cùng rụng một lúc Trường hợp quả trứng của ngày hôm trước đẻ sau 4 giờ chiều thì phải sang ngày hôm sau mới xảy ra quá trình rụng trứng

- Ống dẫn trứng: Là một phần hình ống Ở đó xảy ra sự thụ tinh tế bào trứng và kết thúc ở lỗ huyệt Ống dẫn trứng có chức năng tiết ra lòng trắng đặc, lòng trắng loãng, màng vỏ, vỏ mỏng và lớp keo mỡ bao ngoài vỏ trứng Trứng lưu lại trong ống dẫn trứng 23 - 24 giờ

Kích thước ống dẫn trứng thay đổi theo tuổi và hoạt hóa chức năng hệ sinh dục Khi thành thục sinh dục, ống dẫn trứng trơn, thẳng, có đường kính đồng nhất trên chiều dài ống sau khi gà đẻ quả trứng đầu tiên, ống dẫn trứng

có chiều dài 68cm, khối lượng 77g Khi đẻ với cường đọ cao, chiều dài tăng tới 86 - 90cm, dường kính 10cm Ở gà không đẻ trứng, ống dẫn trứng có chiều dài 11 - 18cm, đường kính 0,4 - 0,7cm Khi gia cầm thành thục, ống dẫn trứng gồm các phần : phễu, phần tiết lòng trắng, phần eo, tử cung, âm đạo

Trang 22

Phễu: Phần mở rộng hình loa kèn ở đầu ống dẫn trứng dài 4 – 7cm,

đường kính 8 - 9cm, nằm ở dưới buồng trứng Bề mặt liêm mạc phễu gấp nếp, không có tuyến Lớp niêm mạc cổ phễu có tuyến hình ống Chất tiết của nó tham gia vào tạo trứng và hình thành dây chằng lòng đỏ Tại đây, trứng được thụ tinh nếu gặp tinh trùng Trứng dừng ở đây khoảng 20 phút

Phần tiết lòng trắng: Là bộ phận dài nhất của ống dẫn trứng, có thể dài

tới 20 - 30cm Niêm mạc phần này có nhiều tuyến hình ống như cổ phễu tiết

ra lòng trắng đặc, hình thành dây chằng lòng đỏ và tiết ra lòng trắng loãng Trứng dừng ở đây khoảng 3 giờ

Phần eo: Là phần hẹp hơn của ống dẫn trứng, dài khoảng 8cm Các

tuyến ở đây tiết ra một phần lòng trắng và chất hạt hình thành nên màng dưới

vỏ gồm hai lớp Hai lớp này tách nhau ra tại đầu lớn của vỏ trứng tạo nên buồng khí Các dung dịch muối và nước có thể thấm qua màng này đi vào lòng trắng Trứng rừng ở đây 60 - 70 phút

Tử cung: Là phần tiếp theo của quá trình tạo vỏ, dài 8 - 12cm Tuyến

vách tử cung tiết ra một chất dịch lỏng Nó thẩm thấu qua màng vỏ đi vào trong làm tăng khối lượng lòng trắng Một số tuyến ở tử cung tiết ra chất dịch tạo vỏ trứng diễn ra chậm chạp Trứng dừng lại ở đây khá lâu, khoảng 18 - 20 giờ

Âm đạo: Là đoạn cuối cùng của ống dẫn trứng, là cửa ngõ để trứng ra

ngoài cơ thể Thành âm đạo có nhiều lớp lớn Niêm mạc nhăn nhưng không

có các tuyến hình ống Mép biểu mô của âm đạo tiết ra chất dịch tham gia hình thành lớp màng keo trên vỏ Trứng đi qua phần âm đạo rất nhanh

2.1.4.2 Khả năng sinh sản ở gia cầm

Trong chăn nuôi gia cầm, khả năng sinh sản của đàn gà bố mẹ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá khả năng sản xuất của một con giống hoặc một dòng nào đó Khả năng sản xuất của gà không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh trưởng, khối lượng lúc giết thịt mà còn phụ thuộc vào khả năng sinh sản, số lượng trứng, số lượng gà con trên một đầu mái

Trang 23

Theo Brandsch và Bichel (1978) [2], thì sức đẻ trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng của 5 yếu tố:

- Tuổi đẻ đầu hay tuổi thành thục;

- Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng;

- Tần số thể hiện bản năng đòi ấp;

- Thời gian nghỉ đẻ, đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông;

- Thời gian đẻ kéo dài hay chu kỳ đẻ (tính ổn định sức đẻ)

Các yếu tố trên do gen di truyền của từng giống gia cầm quy định

Để đánh giá khả năng sinh sản của gia cầm, người ta dựa vào chỉ tiêu đầu và năng suất trứng

Khối lượng trứng bình quân theo các tháng Chambers (1990) [29] cho biết: khối lượng trứng thường tăng đến cuối chu kỳ đẻ trứng Nhiều tác giả cho rằng, giữa khối lượng trứng và sản lượng trứng có tương quan âm

- Tuổi đẻ đầu: Tuổi đẻ quả trứng đầu là thời điểm đàn gà đã thành thục

về tính Tuổi đẻ đầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loài, giống, hướng sản xuất, kĩ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu,… đặc biệt là chế độ chiếu sáng

Tuổi đẻ đầu đánh giá sự thành thục về tính của đàn gà Thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm Sự thành thục về tính sớm hay muộn có lien quan chặt chẽ tới sự tăng khối lượng cơ thể cũng như sự hoàn thiện tới các cơ quan, bộ phận của cơ thể Những giống gia cầm có tầm vóc nhỏ thường có tuổi thành thục sớm hơn những con có tầm vóc lớn

Trong cùng một giống, cá thể nào được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, điều kiện khí hậu và chế độ chiếu sáng phù hợp sẽ thành thục sớm hơn Nhiều công trình khoa học đã chứng minh, tuổi thành thục sinh dục sớm là trội so với tuổi thành thục sinh dục muộn

Tuổi đẻ lứa đầu là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả năng tham gia quá trình sinh sản Đối với gia cầm mái, tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới năng suất trứng Đối với một đàn gà cùng lứa tuổi thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là thời điểm tại đó, đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5%

Trang 24

- Năng suất trứng: Năng suất trứng hay sản lượng trứng của một gia cầm

mái là tổng số trứng đẻ ra trong một đơn vị thời gian Đối với gia cầm thì đây là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của

hệ sinh dục Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản suất, khí hậu, thức ăn, dinh dưỡng, mùa vụ, tuổi, độ béo, thể trọng và đặc điểm của

cá thể Trong cùng một điều kiện nuôi dưỡng như nhau, năng suất đẻ của các cá thể trong cùng một giống khác nhau Giữa các cá thể có sự chênh lệch khá lớn

so với chỉ tiêu trung bình của cả đàn Các giống gà khác nhau thì khả năng đẻ trứng cũng khác nhau Năng suất trứng gia cầm phụ thuộc vào tuổi; năng suất trứng của gà ở năm thứ nhất cao hơn so với năm thứ hai

Nhiệt độ môi trường xung quanh liên quan mật thiết với sản lượng trứng Nếu nhiệt độ môi trường quá cao hoặc quá thấp đều làm cho sản lượng trứng giảm Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp nhất cho gà đẻ là 14 – 22oC Năng suất trứng là một tính trạng số lượng, phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh Năng suất trứng được đánh giá qua cường độ và thời gian kéo dài sự đẻ

Tỷ lệ đẻ là chỉ tiêu đánh giá sức đẻ trứng của đàn gia cầm Đỉnh cao của

tỷ lệ đẻ có mối tương quan với năng suất trứng Giống gia cầm nào có tỷ đẻ cao và kéo dài thời kỳ sinh sản thì chứng tỏ là giống tốt Nếu chế độ dinh dưỡng đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao Gà chăn thả có tỷ lệ đẻ thấp trong vài tuần đầu của chu kỳ đẻ, sau đó tăng dần và đạt cao ở những tuần tiếp theo rồi giảm dần và thấp ở cuối thời kỳ sinh sản

Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn Thời gian

kéo dài sự đẻ có liên quan đến chu kỳ đẻ trứng Chu kỳ đẻ kéo dài hay ngắn phụ thuộc vào cường độ và thời gian chiếu sáng Đây là cơ sở để áp dụng chế

độ chiếu sáng nhân tạo trong chăn nuôi gà đẻ Giữa các đợt đẻ, gà thường có khoảng thời gian thường ấp Các giống khác nhau có bản năng ấp khác nhau Điều này chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng,…

Trang 25

Khối lượng trứng phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, giống, tuổi đẻ, dinh

dưỡng, khối lượng trứng quyết định chất lượng trứng, giống, tỷ lệ ấp nở, khối lượng cơ thể và sức sống của gà con Brandsch H và Bichel H (1978)[2] cho rằng hiện nay chưa có cách nào để tăng khối lượng trứng mà không đồng thời tăng khối lượng cơ thể Đó cũng là một trong những nguyên nhân phải hạn chế khối lượng trứng ở mức 55-60g để phù hợp với sinh lý của

gà và kỹ thuật ấp nở Ngoài ra tăng khối lượng trứng còn làm tăng tiêu tốn thức ăn

Theo Lochus và Starstikov (1979) thì trứng gia cầm khi bắt đầu đẻ nhỏ hơn trứng gia cầm lúc trưởng thành Theo Awang (1984) thì khối lượng trứng phụ thuộc trực tiếp vào chiều dài và chiều rộng của quả trứng cũng như khối lượng lòng trắng, lòng đỏ và vỏ trứng (dẫn theo Trần Huê Viên, 2011) [27]

Theo Trương Thúy Hằng, khối lượng trứng của gia cầm thuộc nhóm tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng của nhiều gen, đặc biệt là gen liên kết với giới tính Khối lượng trứng của gia cầm tăng nhanh trong giai đoạn đẻ đầu sau

đó chậm lại và ổn định khi tuổi gia cầm càng cao

Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [26], trong cùng một độ tuổi, khối lượng trứng tăng lên chủ yếu do khối lượng lòng trắng lớn hơn nên giá trị năng lượng giảm dần Khối lượng gà con khi nở bằng 62-78% khối lượng trứng ban đầu Khối lượng trứng của các giống khác nhau là khác nhau

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm

Sức sản xuất trứng của gia cầm là đặc điểm phức tạp và biến động Nó chịu ảnh hưởng bởi tổng hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài như: giống dòng, sự phát triển, tuổi, trọng lượng cơ thể, trạng thái sức khỏe, sự thay lông, bản tính ấp bóng, tuổi thành thục, cường độ và sức bền để trứng, chu kỳ và nhịp độ đẻ Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào yếu tố di truyền, chọn lọc, thức

ăm, mùa vụ,…

Trang 26

- Giống, dòng

Giống, dòng có ảnh hưởng trực tiếp tới sức sản xuất của gia cầm Các giống dòng gia cầm khác nhau thì sản lượng trứng cũng khác nhau Nếu dòng nào được chọn lựa tốt thì khả năng sản xuất trứng sẽ cao hơn Giống, dòng gia cầm là yếu tố quyết định đến khả năng sản xuất trứng Về sản lượng trứng, những dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chưa được chọn lọc kỹ khoảng 15-30%

Sự phát triển của cơ thể cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất trứng Các cá thể thành thục sớm hay muộn hơn bình thường đều do sản lượng trứng thấp

- Tuổi gia cầm

Tuổi gia cầm có liên quan chặt chẽ tới sự đẻ trứng, sản lượng trứng giảm dần theo tuổi Ở gà, sản lượng trứng trung bình năm thứ hai giảm 15-20% so với năm thứ nhất

- Tuổi thành thục

Tuổi thành thục có liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm, nó là đặc điểm di truyền của cá thể Sản lượng trứng 3-4 tháng đầu tiên tương quan thuận với sản lượng trứng cả năm

- Mùa vụ

Mùa vụ có ảnh hưởng đến sức đẻ trứng rất rõ rệt Ở nước ta, sức đẻ trứng ở mùa hè giảm xuống nhiều so với mùa xuân, đến mùa thu lại tăng lên

- Nhiệt độ môi trường xung quanh

Liên quan mật thiết tới sản lượng trứng Ở nước ta, nhiệt độ nuôi thích hợp với gia cầm đẻ trứng là 14-22oC Nếu nhiệt độ dưới giới hạn thấp thì gia cầm cần phải huy động năng lượng chống rét và trên giới hạn cao thì gia cầm

sẽ thải nhiệt nhiều qua hô hấp

- Ánh sáng

Ánh sáng có ảnh hưởng đến sản lượng trứng của gia cầm, nó được xác

Trang 27

định qua thời gian và cường độ chiếu sáng Thời gian chiếu sáng yêu cầu của

gà đẻ là 12-16 giờ/ngày Có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên và nhân tạo để đảm bảo thời gian và cường độ chiếu sáng 3-3,5 w/m² Theo Letner và Taylor (1987) [30], thời gian gà đẻ trứng là 7-17 giờ nhưng đa số đẻ vào buổi sáng

Cụ thể, số gà đẻ lúc 7-9 giờ đạt 17,7%; độ đẻ trứng của gà cao nhất vào lúc

8-12 giờ, chiếm 60-70% số gà đẻ trứng trong ngày

- Cường độ đẻ trứng

Cường độ đẻ trứng có liên quan mật thiết với sản lượng trứng Cường

độ đẻ trứng cao thì sản lượng trứng cao và ngược lại

- Chu kỳ đẻ trứng

Chu kỳ đẻ trứng được tính từ khi gà đẻ quả trứng đầu tiên đến khi ngừng đẻ và thay lông Chu kỳ đẻ trứng liên quan tới vụ nở gia cầm non bắt đầu và kết thúc ở các tháng khác nhau Ở gà, chu kỳ đẻ trứng thường là một năm; nó có mối tương quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và chu kỳ đẻ trứng Sản lượng trứng phụ thuộc vào thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng

- Thay lông

Gia cầm nghỉ đẻ và thay lông sau mỗi chu kỳ đẻ trứng Ở điều kiện bình thường, thay lông lần đầu tiên là thời điểm quan trong để đánh giá khả năng đẻ của chúng Những con thay lông sớm và kéo dài (thường kéo dài tới

4 tháng) thường đẻ kém Ngược lại, nhiều con thay lông muộn và nhanh, thời gian nghỉ đẻ dưới 2 tháng Ở gà, khi thay lông cánh, gà thường ngừng đẻ nhưng nó vẫn có khả năng đẻ khi thay lông ở các bộ phận khác Những cá thể thay lông cánh chính nhanh có khả năng đẻ trứng cao

- Tính ấp bóng

Con người đã sử dụng nhiều biện pháp khoa học kỹ thuật để hạn chế bản năng ấp bóng của gia cầm nhưng vẫn chưa xóa được bản tính tự nhiên này Cá thể có bản năng ấp bóng kéo dài thì sản lượng trứng giảm

Trang 28

2.1.6 Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ

Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ được xác định trên nhu cầu duy trì, nhu cầu sinh trưởng đối với gà giai đoạn đầu đẻ, nhu cầu sản xuất trứng

- Nhu cầu năng lượng: gà đẻ sử dụng năng lượng cảu TĂ vào việc duy

trì cơ thể, tạo trứng, sinh trưởng ở thời kỳ đầu và tích lũy mỡ Sản lượng trứng càng cao thì nhu cầu năng lượng càng lớn Năng lượng trong khẩu phần

ăn quá cao thường gây các rối loạn trao đổi năng lượng, gan nhiễm mỡ, giảm năng suất trứng 30 – 40%

- Nhu cầu protein: Gà đẻ có nhu cầu protein và một số axit amin khá

cao Gà sử dụng protein để duy trì cơ thể, thay cũ đỏi mới các tế bào và tạo protit cho trứng Protein là thành phần cấu trúc quan trọng nhất đối với cơ thể Tất cả những biểu hiện của sự sống đều gắn liền với protein mà không có một loại vật chất nào thay thế được Do cơ thể động vật không tạo ra protein từ gluxit và lipit nên phải lấy đều đặn từ TĂ với số lượng đầy đủ theo tỷ lệ hợp

lý Để duy trì sự sống, cứ 1 kg thể trọng cần 3 g protein/ngày và tạo 100 g trứng cần 28 g protein vì trong 100 g trứng có 11,2 g protein, mà hiệu suất sử dụng protein trong TĂ để tạo trứng là khoảng 40 % Nhu cầu protein cũng thay đổi theo tuổi và sức đề kháng của gia cầm Theo Trần Thanh Vân và cs (2015)[38], thì axit amin là thành phần chủ yếu của cơ thể, giữ một vai trò quan trọng trong chăn nuôi

- Nhu cầu khoáng: Ở gà mái đẻ, phần lớn canxi trong TĂ được sử

dụng để tạo thành vỏ trứng Vì thế, nếu trong TĂ thiếu canxi thì gà có thể ngừng đẻ trứng hoàn toàn Cứ 1 quả trứng cần 2 g canxi nên yêu cầu hàm lượng khoáng trong khẩu phần ăn gà đẻ là 3,5 % Gà thiếu canxi sẽ đẻ trứng

vỏ mỏng hay trứng không vỏ Ngoài ra, gà đẻ còn có nhu cầu về các nguyên

tố khoáng đa vi lượng như: P, Mn, Zn, Cu, Co, I, …các nguyên tố này có yêu cầu với số lượng ít nhưng cũng tham gia cấu tạo vỏ, làm bền vững trứng, tăng

tỷ lệ có phôi và ấp nở

Trang 29

- Nhu cầu nước: Nước trong cơ thể vừa là dung môi vừa là phương

tiện vận chuyển các chất dinh dưỡng Cơ thể gà mái có tới 60 % là nước Trong trứng hàm lượng nước là 66 % Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995) [14], thì gà tiêu thụ lượng nước gấp 2 – 3 lần so với lượng thức ăn

hằng ngày

- Nhu cầu vitamin: vitamin tham gia hầu hết các phản ứng sinh hóa

học trong cơ thể Gà đẻ rất nhạy cảm với sự thiếu hụt vitamin Thậm chí thiếu hụt một ít cũng làm giảm sức sản xuất của gà Vitamin ảnh hưởng tới quá

trình trao đổi protein, hydratcacbon, khoáng

Trong chăn nuôi, vitamin đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Các vitamin A, D, E, C, K, B có vai trò quan trọng đối với gà sinh sản

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm trên thế giới

Chăn nuôi gia cầm có mặt ở tất cả các quốc gia trên thế giới để cung cấp thịt trứng cho bữa ăn hàng ngày của con người và là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm Trong các loại gia cầm thì gà là vật nuôi quan trọng hơn cả

FAO dự đoán: thập niên 2015 - 2025 là thập niên của sản xuất thịt gia cầm, lần đầu tiên trong tiên trong lịch sử ngành sản xuất thịt thế giới: Sản lượng thịt gia cầm toàn cầu đang đuổi kịp và vượt sản lượng thịt lợn Sản xuất thịt gia cầm toàn cầu tiếp tục tốc độ tăng cao hơn so với thịt lợn và thịt trâu bò Tới năm 2020 sản lượng thịt gia cầm toàn cầu sẽ đạt tương đương sản lượng thịt lợn và tới năm 2025, sẽ vượt sản lượng của thịt lợn 254 ngàn tấn Năm 2015: 10 nước có sản lượng trứng trên 1 triệu tấn là: Trung Quốc: 29,990 triệu tấn; Hoa Kỳ: 5,786; Ấn Độ: 4,356; Mexico: 2,638; Nhật Bản: 2,521; Nga: 2,500; Brazil: 2,371; Indonesia: 1,387; Thổ Nhĩ Kỳ: 1,045; Ucraina: 1,007 triệu tấn Việt Nam đứng thứ 20 thế giới về sản xuất thịt gia cầm

Trang 30

Do từ năm 2000, sản xuất thịt gia cầm liên tục tăng và tỷ lệ tăng cao hơn so với các loại thịt khác nên đến năm 2016, tổng sản lượng thịt gia cầm toàn cầu đã xấp xỉ tổng tống sản lượng thịt lợn (chỉ thấp hơn 200.000 tấn) Châu Á sản xuất tới 34 % tổng sản lượng thịt gia cầm thế giới Các nước Hoa

Kỳ, Trung Quốc, EU, Brazil đã sản xuất 68 triệu tấn, chiếm 58,56% sản lượng thịt gia cầm toàn cầu

Mặc dù Dịch cúm gia cầm đã gây tổn thất không nhỏ cho ngành nuôi

gà lấy trứng ở nhiều nước, nhất là ở Hoa Kỳ và ở Trung Quốc, năm 2015, tổng sản lượng trứng gia cầm toàn cầu vẫn tiếp tục tăng và đạt mức kỷ lục là 70,8 triệu tấn với 1338 tỷ quả trứng, tăng 1,6% so với năm 2014 (tăng 1,11 triệu tấn)

FAO dự kiến, sản lượng trứng toàn cầu sẽ đạt tới 100 triệu tấn năm

2035 So với năm 2000, sản lượng trứng toàn cầu 2015 đã tăng 38,7%, bình quân tăng 2,2 %/năm Số lượng gà mái đẻ toàn cầu năm 2015 đạt 7,3 tỷ con; 1 tấn trứng tương đương 18.895 quả trứng; bình quân năng suất trứng/mái/năm toàn cầu đạt 183,8 quả Khu vực châu Á - Thái Bình Dương sản xuất 60% sản lượng trứng gia cầm toàn cầu, luôn dứng đầu các khu vực về sản xuất trứng gia cầm

Gà Newhamshire có nguồn gốc ở bang Newhamshire Trọng lượng gà mái trưởng thành nặng 2,3 - 3 kg; gà trống nặng 3,5 - 4 kg Gà con chậm lớn (ở

10 tuần tuổi nặng khoảng 1,2 - 1,4 kg) Phẩm chất thịt thơm ngon, năng suất

trứng đạt khoảng 200 - 220 quả /năm, trứng nặng khoảng 60g Gà Newhamshire

được sử dụng để tạo ra các giống gà chuyên trứng có sức sống cao

Hãng H&N International tạo ra giống gà “Brown Nick” có sản lượng trứng 60 tuần tuổi đạt 250 - 255 quả/mái, 80 tuần tuổi đạt 350 - 360 quả/mái,

tỷ lệ đẻ đỉnh cao đạt: 94 - 95 % (24 - 28 tuần tuổi) Khối lượng trứng 63 - 64 g/quả, tiêu tốn thức ăn /10 quả trứng (21 - 80 tuần tuổi): 2,05 - 2,10 kg; tỷ lệ

Trang 31

nuôi sống (18 - 80 tuần tuổi) là 93 - 96% Khối lượng gà mái 18 tuần tuổi là 1,48kg; khối lượng gà 60 tuần tuổi 2,00 kg; khối lượng

Ở vùng Bắc Mỹ đã tạo ra giống gà Tetra Brown, gà có màu lông nâu

đỏ, khối lượng gà mái lúc vào đẻ (18 tuần tuổi) là 1520g, sản lượng trứng đạt

311 quả/mái/72tuần tuổi, khối lượng trứng trung bình 63 - 64g/quả

Tại Cộng hoà Pháp hãng ISA đã tạo ra một số giống gà chuyên trứng có năng suất trứng cao như: ISA Brown và ISA White, Hisex Brown và Hisex White, Shever Brown và Shever White, Bovans Brown và Bovans White, Babcock Brown và Babcock White Gà mái khối lượng lúc vào đẻ (18 tuần tuổi) là 1470 - 1500g, năng suất trứng/mái/80 tuần tuổi đạt 350 - 360 quả, khối lượng trứng trung bình 62 - 64g/quả Với đặc điểm thuận lợi đó là sự di truyền màu sắc lông theo giới tính (autosex) nên các giống gà này được sử dụng trong công tác phân biệt trống mái theo màu lông khi gà con mới nở điều này đã đem lại nhiều lợi ích như giảm chi phí thức ăn, công sức

Tại Mỹ, hãng Hyline tạo ra bộ giống gà chuyên trứng gồm bốn dòng: Variety Brown: có sản lượng trứng đến 65 tuần tuổi đạt 249 quả/mái, tỷ lệ đẻ đỉnh cao: 92 % (28 tuần tuổi) Tiêu tốn thức ăn /10 quả trứng là 1,65 kg; tỷ lệ nuôi sống (19 - 65 tuần tuổi) là 91% Khối lượng gà 18 tuần tuổi con mái là 1,44 kg; con trống là 2,2 kg Khối lượng gà 65 tuần tuổi: con mái là 1,88 kg; con trống là 2,80 kg Tiêu thụ thức ăn giai đoạn 1-18 tuần tuổi là 6,55 kg Variety W - 36: năng suất trứng đến 65 tuần tuổi đạt 262 quả/mái đầu kỳ, tỷ lệ

đẻ đỉnh cao: 91% (27 tuần tuổi) Tiêu tốn thức ăn /10 quả trứng là 1,48 kg; tỷ

lệ nuôi sống (19 - 65 tuần tuổi) là 96% Khối lượng gà 18 tuần tuổi con mái là 1,20 kg; con trống là 1,56 kg Khối lượng gà 65 tuần tuổi: con mái là 1,59 kg; con trống là 2,12 kg Tiêu thụ thức ăn giai đoạn 1 - 18 tuần tuổi là 5,58 kg

Như vậy ngành chăn nuôi không chỉ có vai trò cung cấp thịt, trứng

mà còn góp phần đa dạng nguồn gen và đa dạng sinh học trên trái đất

Trang 32

2.2.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm trong nước

Đến nay, Việt Nam đã tìm kiếm và thống kê được 93 giống vật nuôi bản địa, trong đó có đến 48 giống gia cầm (gồm có 32 giống gà, 9 giống vịt, 4 giống ngan và 3 giống ngỗng)

Ở Việt Nam trước đây, chăn nuôi gia cầm mang tính tự cấp tự túc, chưa

có ý nghĩa như là một ngành sản xuất hàng hoá Từ năm 1996, cùng với sự đổi mới kinh tế đất nước, ngành chăn nuôi gia cầm có những bước tiến nhảy vọt Nhiều giống gia cầm có lông màu, năng suất trứng và thịt khá được nhập vào nước ta, thích hợp với chăn nuôi (thả vườn) trong gia đình như gà Tam Hoàng, Kabir, Lương Phượng, gà Ai Cập; các giống vịt siêu thịt (Super meat), siêu trứng Sản phẩm gia cầm tăng lên rõ rệt qua các năm Năm 2000, sản lượng thịt 286,513 nghìn tấn, sản lượng trứng 3,708 tỷ quả Năm 2003, sản lượng thịt 372,720 nghìn tấn và trứng 4,854 tỷ quả

Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta chăn nuôi gà với các giống địa phương vẫn chiếm tỷ lệ khá cao (70%), các giống này chăn nuôi theo phương thức thả vườn cũng không ngừng phát triển và hiệu quả cũng ngày càng tăng với các giống địa phương như: Gà Ri, gà Mía, gà Tre, gà Hồ, gà Ác…

Với chương trình Quốc gia bảo tồn nguồn gen động vật nuôi Việt Nam, chúng ta đã thu thập được nhiều số liệu về giống vật nuôi truyền thống được nuôi ở các vùng miền, trong đó nhiều giống gia cầm số liệu đã được đưa và danh sách mục các giống Quốc gia và Quốc tế cụ thể như:

Giống gà Ri: Địa bàn phân bố khắp cả nước, đặc biệt là đồng bằng Bắc

bộ, miền Đông nam bộ Là giống gà có tầm vóc nhỏ, tăng khối lượng chậm

Gà mái có màu vàng rơm, chân vàng, đầu nhỏ, mào đơn Gà trống có màu đỏ tía, cánh và đuôi có lông đen, dáng chắc khỏe, mào đơn Ở tuổi trưởng thành, con trống nặng từ 1,5 - 2 kg, con mái nặng 1,1 - 1,6 kg, sản lượng trứng từ 70

- 90 quả/mái/năm, khối lượng trứng từ 45 - 50g/quả…

Giống gà Hồ: Giống gà Hồ có nguồn gốc từ vùng Hồ (nay là làng Lạc

Trang 33

Thổ), thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đang ở trạng thái tối nguy hiểm (Phạm Công Thiếu, Hoàng Văn Tiệu và cs (2009) [23] Nhưng với việc thực hiện công tác bảo tồn quỹ gen giống gà được mở rộng, thành lập được Hội khôi phục và phát triển giống gà Hồ, tổ chức bình tuyển và chọn gà theo đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất

Giống gà Mía: Là giống gà thịt nổi tiếng từ xưa đến nay, nó được lai tạo

ra không rõ từ thời nào tại xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây cũ, nay

là Hà Nội, nhưng nó được phát triển nhiều và còn giữ được những đặc trưng chủ yếu về giống chỉ được thấy ở thôn Mông Phu, xã Đường Lâm Gà Mía có đặc điểm ngoại hình: Thân hình to lớn, gà Trống có lông chủ yếu màu “mận chín”, còn lại là màu đen, mào đơn, chân hơi cao và nhỏ hơn gà Đông Tảo Gà mái có lông màu “lá chuối khô xám”, mắt tinh nhanh, da chân màu vàng nhạt Đặc biệt nhất, gà mái sau khi đẻ được 3 - 4 tháng, lườn chảy xuống giống “yếm bò” Đây là đặc điểm nổi bật của gà Mía khác với các giống gà khác

Gà Lông Xước: Là giống gà được phát hiện ở khu vực núi cao ở phía Bắc của huyện Đồng Văn, huyện Yên Minh - tỉnh Hà Giang Chúng có bộ lông xù như lông nhím, không xẹp xuống như các giống gà khác, chất lượng thịt ngon, có khả năng chịu đựng thời tiết khắc nghiệt ở vùng núi cao; trọng lượng lớn nhất khoảng 5 kg, mỗi năm một gà mái có thể đẻ 50 - 60 quả trứng

Gà Lông chân: Là giống gà mới được phát hiện tại huyện Mèo Vạc - tỉnh Hà Giang, chúng có đặc điểm: có nhiều lông ở chân ngay từ khi mới nở, chúng có lông ở gần bàn chân, các ngón chân tõe ra; chất lượng thịt ngon, có khả năng chịu đựng thời tiết khắc nghiệt ở vùng núi cao; trọng lượng lớn nhất khoảng 5 kg, mỗi năm một gà mái có thể đẻ 50 - 60 quả trứng

Các giống gia cầm được bảo tồn đã được sử dụng làm nguyên liệu cho công tác chọn lọc giống và lai tạo

Nguyễn Huy Đạt và cs (2006) [6] tiếp tục nghiên cứu chọn lọc nâng cao năng suất gà Ri vàng rơm, kết quả cho thấy màu lông vàng rơm tăng cao

Ngày đăng: 16/06/2020, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm