THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG ĐỐI VỚI KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI SỞ GIAO DỊCH I - NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM2.1.. Thực trạng hoạt động tín dụng và chất lượng
Trang 1THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG ĐỐI VỚI KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI SỞ GIAO DỊCH I - NGÂN
HÀNG ĐẦU TƯ và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM2.1 Khái quát về SGDI - nhđt&ptvn
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Sở Giao dịch được thành lập theo Quyết định số 572 TCCB/ ĐT ngày 26/12/1990 của Vụ Tổ chức cán bộ Ngân hàng Nhà nước về tổ chức bộ máy của NHĐT&PTVN và Quyết Định số 76 QĐ/TCCB ngày 28/03/1991 của Tổng Giám đốc Ngân hàng ĐT&PT VN Theo các Quyết định này, Sở Giao dịch là đơn
vị trực thuộc, thực hiện hạch toán nội bộ, có bảng cân đối tài khoản riêng, có con dấu riêng và trực tiếp giao dịch với khách hàng Trụ sở đặt tại 53 Quang Trung- Hai Bà Trưng- Hà nội
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Sở Giao dịch trải qua hai thời kỳ:
- Thời kỳ từ 1991 - 1995: nhiệm vụ chính trong thời kỳ này là cấp phát vốn ngân sách cho đầu tư XDCB.
- Thời kỳ từ 1995 đến nay: thực hiện kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ thanh toán, tự cân đối nguồn, tìm dự án cho vay.
2.1.2.Cơ cấu tổ chức
Trang 2Cơ cấu tổ chức của Sở Giao dịch được trình bày qua sơ đồ sau
h ng à Phòng tín dụng 1;2
Phòng thanh toán quốc tế Phòng điện toán Phòng Giao dịch 1,2 Phòng kế toán
t i à chính Phòng t.chức
h nh à
chính k.quỹ
Chi nhánh gia lâm
Quỹ tiết kiệm 3 Quỹ tiết kiệm 4 Quỹ tiết kiệm 5 Quỹ tiết
Quỹ tiết kiệm 2
Quỹ tiết kiệm số1
Quỹ tiết
Quü tiÕt kiÖm 6 Quü tiÕt kiÖm 6 Quü tiÕt kiÖm 6 Quü tiÕt kiÖm 6 Quü tiÕt kiÖm 6
Trang 3kiệm 7 77 6
Phòng kiểm soát nội bộ Phòng giao dịch trung tâ
Quỹ tiết kiệm 8,9
Ban Giám đốc gồm 1 Giám đốc và 3 Phó Giám đốc Đội ngũ cán bộ tăng nhanh về số lượng, đến 31/12/2002 lên tới trên 230 người, tăng 2% so với cuối năm trước, đa số là cán bộ trẻ, có trình độ, nhiệt tình phấn đấu vì sự phát triển của hệ thống NHĐT&PT VN
SGD có 11 phòng, được tổ chức và sắp xếp theo Quyết định số 210 QĐ/TCCT ngày 18/12/1998 của Tổng Giám đốc NHĐT&PTVN, về việc thành lập bộ máy của Sở Giao dịch như sơ đồ trên.
Sự phân chia rõ chức năng, nhiệm vụ của từng phòng có tác dụng giới
hạn nghĩa vụ, quyền hạn trên cơ sở đó thực hiện chuyên môn hoá sâu trong một lĩnh vực hoạt động của SGD.Tuy nhiên, sự phân chia chỉ có tích chất tương
Chi nh¸nh gia l©m Quü tiÕt kiÖm 6 Quü tiÕt kiÖm 6 Quü tiÕt kiÖm 6 Quü tiÕt kiÖm 6 Quü tiÕt kiÖm 6
Trang 4đối các phòng đều có quan hệ hữu cơ với nhau trong một tổng thể chung, phụ trợ và tăng cường cho nhau.
Nói tóm lại, mỗi phòng trong SGD là độc lập tương đối, chuyên môn hoá trong lĩnh vực của mình để thực hiện tham mưu cho ban Giám đốc các hoạch và chính sách kinh doanh của từng lĩnh vực, nghiệp vụ Các phòng thống nhất với nhau qua mục đích chung đó là cùng đóng góp vào quá trình tối
đa hoá lợi nhuận cho Sở giao dịch và hoàn thành tốt các nhiệm vụ NHĐT&PT
VN giao
2.1.3 Các hoạt động kinh doanh cơ bản và tình hình hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch NHĐT&PTVN trong thời gian qua.
2.1.3.1 Môi trường hoạt động
Trong giai đoạn 1997-2002, nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế khu vực Châu Á nói riêng có nhiều biến động, gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam Đặc biệt, cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Nam Á năm 1997
đã lan toả và trở thành cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính Châu Á trong năm
1998 Mặc dù đã có những biện pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực và ngăn chặn sự lan truyền cuộc khủng hoảng này đối với nền kinh tế Việt Nam, nhưng trong những tháng đầu năm 1999, kinh tế Việt Nam vẫn bị bao trùm một khung cảnh trì trệ Tổng sản phẩm trong nước tăng 4,8% so với năm 1998 Hệ thống Ngân hàng Việt Nam chịu một sức ép lớn trước sự phục hồi của các nền kinh tế Châu Á với một đồng bản tệ bị mất giá mạnh, sau thời gian khủng hoảng đến nay đã phát huy tác dụng trong xã hội.
Năm 2002 nền kinh tế Việt Nam khá ổn định, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 6,8%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 17,2%, giá trị các ngành dịch vụ tăng 6,7% Sự phát triển của các ngành sản xuất cùng với sự khôi phục của nền kinh tế đều có tác động đến hoạt động của ngành Ngân hàng nói chung và
Sở giao dịch nói riêng.
Trang 52.1.3.2 Các hoạt động nghiệp vụ của Sở giao dịch trong thời gian qua.
Trong bối cảnh kinh tế đầy biến động, Sở giao dịch không ngừng vươn lên trong nỗ lực chung của hệ thống NHĐT&PTVN.Tính đến 31/12/2002, tổng tài sản của Sở giao dịch tăng gần 1.248.275 triệu VNĐ so với cuối năm 2001, tăng 18% Đặc biệt, tỷ trọng tài sản Có sinh lời (Không tính khoản mục ngân quỹ và các tài sản Có khác) trên tổng tài sản tăng từ 89% lên 95% tính bình quân trong 5 tháng cuối năm, góp phần tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
*Công tác huy động vốn
Tính tới 31/12/2002 tổng Tài sản của SGDI đạt 10.564 tỷ VND,
tăng 1.871tỷ so với cùng kỳ năm 2001 tương đương 21,51% , thị phần huy động vốn trên địa bàn vẫn giữ vững ở mức 7% trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng trên địa bàn SGDI có 3 phòng giao dịch với 9 quỹ tiết kiệm , kết quả huy động vốn như sau:
Nguồn : Tài liệu Báo cáo của SGD
- Tổng nguồn vốn huy động từ các loại tiền gửi đạt 8.515.541 tỷ đồng tăng 1.459.658 tỷ đồng so với năm 2001( 20,81%) trong đó huy động tiền
Trang 6dân cư tăng 1.031.491 tỷ, tiền gửi các TCKT tăng 607.666 tỷ, tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng hơn 100 tỷ.
- Nguồn vốn huy động từ dân cư và các TCKT tại SGDI ngoài việc
tự đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên ( gần 100 tỷ ) còn gửi có kỳ hạn dài tại TW tiền VND ( hơn 200 tỷ ) tăng 190 tỷ so với năm 2001, nguồn USD gửi có kỳ hạn tại NHĐT TW là 68.600.000USD.
- Công tác huy động vốn: cân đối và sử dụng vốn hàng ngày linh hoạt, chặt chẽ, tiết kiêm đảm bảo tốt khả năng thanh toán thương xuyên Công tác thanh toán, chi trả lãi trái phiếu đảm báo an toàn, chính xác, kịp thời
- SGDI đã mở thêm 3 điểm huy động vốn mới và triển khai nhiều hình thức huy động vốn mới, huy động tiền gửi tiết kiệm tích luỹ nhằm thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trên mọi kênh huy động, phat tờ rơi quảng cáo nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác huy động vốn đối vơí từng cán bộ của SGDI
- Hàng tháng duy trì công tác phân tích tài sản Nợ - Có, phân tích tình hình huy động vốn tại SGDI, theo dõi thường xuyên lãi suất trên thị trường để đưa ra các giải pháp phù hợp kịp thời với diễn biến của thị trường Tình hình cơ cấu lại tài sản Nợ -Có đã có những chuyển biến tích cực,
sử dụng nguồn huy động ngắn hạn để cho vay trung - dài hạn đã giảm, hiệu suất sử dụng nguồn USD đã tăng lên, cơ cấu về sử dụng loại tiền đã được thay đổi theo chiều hướng tốt hơn tuy nhiên cơ cấu về kỳ hạn cho vay chưa có thay đổi.
*Hoạt động tín dụng
-Tổng dư nợ tín dụng liên tục tăng trong các năm từ 2000 đến 2002 ,
tính đến ngày 31/12/2002 tổng dư nợ tín dụng đạt 6.289.298 tỷ tăng 1.317 tỷ
so với năm 2001
Trang 7- TD trung-dài hạn theo KHNN tính đến năm 2002 đạt được 1.124,6
tỷ đồng tăng 29,7 tỷ so với năm 2001 và tăng 152,7 tỷ so với năm 2000 ( cho vay theo KHNN bằng VND vẫn tăng , cho vay ngoại tệ giảm )
- TD trung- dài hạn thương mại năm 2002 đạt 3.556 tỷ tăng 1.345
tỷ VND bằng 60,86% so với năm 2001, tăng 2.545 tỷ bằng 251,7 % so với năm
2000, chủ yếu tăng ở TDTM ngoại tệ ( 74% ), tỷ trọng TDTM trong tổng dư nợ năm 2002 là 56,54% trong khi năm 2001 là 44,47%
- TD ngắn hạn năm 2000 đạt 713,6 tỷ thì đến năm 2002 đạt 922,6 tỷ tăng 111 tỷ so với năm 2001 TD ngắn hạn tăng ít so với tỷ trọng dư nợ TD nhưng đã đẩy mạnh việc sử dụng nguồn ngoại tệ huy động được Tính đến năm 2002 tỷ trọng TD ngắn hạn trong tổng dư nợ chiếm 14,57% , chưa can đối , phù hợp về cơ cấu TD về loại tiền và kỳ hạn và loại tiền huy động ( bình quân
- Năm 2002, tổng dư nợ quá hạn 47 tỷ ( ODA là 28 tỷ ) trong đó : nợ tồn đọng 24 tỷ , nợ quá hạn thông thường là 23 tỷ
- Xử lý nợ tồn đọng : Thực hiện công văn 3310 của TGĐ NHĐT& PT VN
về việc xử lý nợ tồn đọng, SGDI đã tích cực xử lý nợ tồn đọng, tính đến 31/12/2002 đạt kết quả như sau:
Trang 8+ Kết quả xử lý : lập hồ sơ của 5 dự án đủ điều kiện trìng lên đoàn thẩm định của liên bộ để xoá nợ số tiền là 1400 triệu, thu bằng tiền từ 31/12/2000 đến 10/2002 là 1363 tỷ
+ Lập phương án chi tiết xử lý cá khoản nợ còn là 33328 triệu báo cáo NHĐT&PTVN theo quy định
+ Chuyển hồ sơ của công ty CBL’S Trung Văn cho BAMC xử lý để thu hồi nợ
- Lập phương án và biện pháp cụ thể đẻ thu các khoản nợ của công ty ĐT& TM Vạn xuân Công ty XNK Thanh Niên , công ty thiết bị điện tử , công ty
cơ điện và phát triển nông thôn
- SGDI đã thực hiện nghiêm túc các qui định & hướng dẫn NHĐT & PTVN
về chuyển nợ quá hạn theo quyết định 1627 của NHNN, dã thảo luận và hướng dẫn thực hiện đến từng cán bộ nghiệp vụ đồng thời đến từng doanh nghiệp vay vốn Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn gặp một số vướng mắc như : rất khó khăn trong việc theo dõi các khoản nợ quá hạn để chhuyển nợ quá hạn cho khoản nợ gốc , khó khăn trong việc giải thích với khách hàng.
- Liên tục trong các năm qua, SGDI đã thực hiện nghiêm chỉnh quy chế tính và xử lý rủi ro
*Công tác khách hàng
Trong những năm qua,SGDI đã cố gắng tìm kiếm khách hàng mới, đặc biệt là khách hàng tiền gửi duy trì và củng cố quan hệ cập nhật thông tin khách hàng , nắm bắt được yêu cầu khách hàng.Tuyên truyền đưa tin về các hoạt động của SGDI trên các phương tiện thông tin đại chúng Nghiên cứu thực hiện phân loại doanh nghiệp khách hàng để đưa các chính sách hợp lý
*Hoạt động dịch vụ
Trang 9Thu ròng từ hoạt động dịch vụ liên tục tăng trong cá năm gần đây.Tính rieng trong năm 2002 thu ròng từ hoạt động dịch vụ đạt 27,4 tỷ đồng tăng 11,48% KH giao, bằng 32,24% lợi nhuận trước thuế Các dịch vụ như bảo lãnh,thanh toán trong nước, chi trả tiền kiều hối, kinh doanh ngoại tệ đã có chiều hướng tăng trưởng mạnh cụ thể như sau:
- Thanh toán quốc tế
Doanh số hoạt động thanh toán quốc tế trong năm 2002 đạt
451 triệu USD bằng 101 % so với năm 2001, đạt 96,06 % KH năm 2002 Doanh
số thanh toán XNK đạt 233 triệu USD, chuyển tiền đi và chuyển tiền đến (mậu dịch ) trong năm 2002 tăng trên 120 % so với năm 2001 về số món (10500 món ) nhưng doanh số lại giảm ( chỉ đạt 128,5 triệu USD ) Thu phí dịch vụ từ hoạt động thanh toán quốc té 6,5 tỷ đồng bằng 148,09% năm 2001 và đạt 116,07% KH năm
Đã soạn thảo và hoàn tất quy trình hạch toán chuyển tiền nhanh ( Westen Union ) đã được ban lãnh đạo duyệt và đưa vào áp dụng
- Bước đầu đưa dịch vụ Bank Draf vào triển khai tại SGD và đã thực hiện được những giao dịch đầu tiên, tham gia vào phát hành Bank Draf du lịch
-Kinh doanh ngoại tệ : doanh số mua bán qui đổi đạt 460 tỷ, thu kinh doanh ngoại tệ đạt gần 7,2 tỷ đồng chiếm 26,27% thu dịch vụ , luôn đáp
Trang 10ứng đầy đủ kịp thời với nhu cầu của khách hàng , với cạnh tranh trên thị trường
* Công tác quản trị điều hành
-Tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật cũng như các quy định
của ngành, hệ thống.
- Chấp hành đầy đủ chế độ thông tin kịp thời, chính xác.
- Thực hiện đúng chế độ phân cấp uỷ quyền.
- Hàng tháng có sơ kết đưa ra mục tiêu giải pháp cho tháng, quý sau, phát động thi đua khen thưởng vật chất kịp thời động viên cá nhân tập thể có thành tích suất xắc trong tháng, tổ chức các buổi hội thảo năng cao chất lượng làm việc của CBCNV
- Thực hiện tốt quản lý tài sản, đảm báo các điều kiện làm việc của
cơ quan, thực hiện tốt công tác liên quan đến chế độ chính sách và đời sống của CBCNV.
*Hiệu quả kinh doanh
Chênh lệch thu chi năm 2002 đạt 119 tỷ VND(trong đó 34 tỷ trích dự
phòng rủi ro),lợi nhuận trước thuế đạt 85 tỷ bằng 100% kế hoạch được giao,tăng trưởng so với năm trước là 46,93%,trong đó tỉ trọng thu từ hoạt động dịch vụ là 32,24%,tăng 61,17% so với 2001
-Trích dự phòng rủi ro đạt 34 tỉ, hoàn thành 106,255% kế hoạch được giao
-ROA đạt 0,55, hoàn thành122,22% kế hoạch được giao.
Trang 112.2 Thực trạng hoạt động tín dụng và chất lượng tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại Sgd I- NHĐT& PTVN
2.2.1.Thực trạng hoạt động tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại SGDI - NHĐT& PTVN
Cho vay là một hình thức tín dụng và với kinh tế ngoài quốc doanh hình thức cấp tín dụng chủ yếu của SGD cũng là cho vay Vì vậy, việc tìm hiểu tình hình hoạt động tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại SGD được thực hiện thông qua hoạt động cho vay đối với thành phần này.
Để thấy được thực trạng hoạt động tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại SGD cần xem xét tình hình tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh dựa trên các con số cụ thể sau:
2.2.1.1 Tình hình cho vay NQD
Trong những gần đây, hoạt động cho vay của SGD đối với kinh tế ngoài quốc doanh đang tăng lên chứng tỏ SGD đã chú trọng đến thành phần này.Tuy nhiên, sự tăng lên về doanh số cho vay không đáng kể Có thể thấy rõ tình hình này thông qua việc phân tích các số liệu sau:
Trang 12Bảng 2: Doanh số cho vay NQD phân theo đối tượng khách hàng
Nguồn: Báo cáo tín dụng năm 2000-2002
Qua bảng 2 cho thấy, doanh số cho vay giữa KTQD và KT NQD đang có chiều hướng thay đổi, doanh số cho vay KT NQD mặc dù chiểm tỷ trọng thấp hơn nhiều so với KTQD nhưng tăng cả về tương đối và tuyệt đối.Cụ thể: Tăng
từ con số 406.443 trđ tức 4,8% năm 2000 lên 500.988 trđ năm 2001 với tỷ trọng 5,4% và đạt mức 757.510 trđ tức đạt 7,5% năm 2002.
Sự tăng lên của tỷ trọng cho vay bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, năm 2001 là năm mà nền kinh tế Việt nam khá ổn định, giữ vững được mức độ tăng trưởng cao Điều đó làm cho mức sống người dân tăng lên, chính sách kích cầu của Nhà nước đạt hiệu quả rõ rệt, nhu cầu mua sắm, sản xuất hàng hoá và tiêu dùng tăng mạnh mẽ dẫn đến các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bán được hàng, quay vòng vốn nhanh, tăng khả năng thanh toán và giữ vững uy tín với SGD Từ thực tế đó, SGD cũng bắt đầu chú trọng hơn và ngày càng cho vay nhiều hơn đối với KTNQD.
Thứ hai, đứng trước môi trường cạnh tranh ngày càng lớn với các NHTM trên cùng địa bàn, cùng với việc được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao nên SGD đã có những bước đột phá và mạnh dạn hơn khi cho vay đối với KTNQD
Trang 13Bên cạnh đó, chất lượng thẩm định dự án vay vốn đạt hiệu quả cao, chính sách kinh tế mở cửa nhưng chưa phải là tự do hoá nên các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động trong môi trường kinh tế ít biến động hơn SGD
và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh kết hợp chặt chẽ trong quá trình cho vay và thu hồi vốn, giao trách nhiệm cho cán bộ tín dụng phải theo sát tình hình doanh nghiệp và đôn đốc các doanh nghiệp trả nợ đúng hạn.
Tuy nhiên, xét tổng thể KTQD vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong doanh số cho vay còn KTNQD chỉ chiếm một tỷ trọng rất khiêm tốn Điều đó cho thấy rằng, KTNQD thường có những dự án thiếu tính khả thi, khả năng quản lý yếu kém, thị trường đầu ra bấp bênh nên SGD rất hạn chế cho vay Bên cạnh đó còn những vướng mắc ở thủ tục cầm cố, thế chấp tài sản.
Bảng số liệu còn cho thấy cơ cấu cho vay giữa các thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh cũng có sự biến đổi rõ rệt: Doanh số cho vay đối với các công
ty TNHH luôn chiếm tỷ trọng cao nhất và tăng dần qua các năm cả về số tương đối và tuyệt đối.Cụ thể: tăng từ con số 240614 (59,2%) năm 2000 lên 313118(62,6%) năm 2001 và 485564(64,1%) năm 2002.Còn doanh số cho vay đối với DNTN và các đối tượng khác luôn chiếm tỷ trọng thấp hơn mặc dù có chièu hướng gia tăng qua các năm.
Điều này có thể được lí giải do một số nguyên nhân:
Số lượng các công ty TNHH mọc lên như nấm, tính đến 31/12/2002,có khoảng 2450 công ty được thành lập, nhu cầu sử dụng vốn lại rất cao.Mặt khác, nước ta dang đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa nên số doanh nghiệp được cổ phần hóa ngày càng nhiều, tới gần 600 doanh nghiệp KTNQD nước ta càng ngày càng có nhu cầu về vốn lớn để mử rộng sản xuất, phục vụ không những cho nhu cầu trong nước mà còn cho xuất khẩu.
Bên cạnh việc không ngừng mở rộng của KTNQD, phải kể đến một thuận lợi của SGD do có vị trí gần với các doanh nghiệp lớn,làm ăn có hiệu quả nêncó
Trang 14cơ hội gặp gỡ, tìm hiểu và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn ngân hàng
Một số khách hàng còn nợ quá hạn cho vay từ trước năm 1997 trở về trước tập trung ở các huyện ngoại thành Hà Nội Việc SXKD của các hộ này gặp nhiều khó khăn, một số làm ăn thua lỗ, không có khả năng trả nợ, tài sản không phát mại được Chính vì những lý do đó mà cho vay vốn hộ sản xuất ở
Hà nội gặp nhiều khó khăn, nhiều khách hàng có nhu cầu vay vốn nhưng tài sản thế chấp không đủ tính pháp lý để có thể dùng làm tài sản đảm bảo tiền vay hoặc dự án sản xuất kinh doanh chưa đủ sức thuyết phục Nhu cầu vay vốn hiện nay lớn nhưng ở Hà nội, các hộ vay vốn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, tài sản thế chấp thì không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà nên đã hạn chế việc cho vay của SGD đối với đối tượng này.
Nếu phân theo thời hạn thì có thể thấy doanh số cho vay đối với
KTNQD thông qua bảng số liệu sau:
Bảng3:Doanh số cho vay NQD phân theo thời hạn
Trang 15trung dài hạn luôn chiếm tỷ trọng nhỏ, chỉ là 23% năm 2000, năm 2001 giảm còn 21% và năm 2002 chỉ con18,8%.
Điều này dược lí giải do một số nguyên nhân sau:
Về phía KTNQD với đặc điểm là nguồn vốn nhỏ và hoạt động kinh doanh mang tính không ổn định nen thường xuất phát vốn lưu đọng lớn.Vì vậy, chủ yếu đi vay vốn ngắn hạn để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động cho việc mua sắm nguyên vật liệu, trả lương công nhân viên.
Mặt khác, về phía ngân hàng, không muốn cho vay trung dài hạn do hoạt động của KTNQD hoạt động còn nhiều bất cập, ít nhiều có ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng Vì vậy, với ngân hàng, việc giảm thiểu cho vay trung dài hạn đối với KTNQD luôn gắn liền với lợi ích của ngân hàng
Điều đó không có nghĩa là kinh tế ngoài quốc doanh được "ưu ái” vay
vốn trung dài hạn mà tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh vẫn chủ yếu là tín dụng ngắn hạn, với hạn mức được tính chung cho cả doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp ngoài quốc doanh như sau:
HMTD = (Chi phí sản xuất cần thiết trong kỳ: Vòng quay vốn lưu động)- Vốn tự có và coi như tự có- Các khoản huy động khác
Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần/ Tài sản lưu động dự trữ bình quân
Qua quá trình áp dụng thực tế trong việc xác định hạn mức tín dụng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh vay vốn phát sinh một số vướng mắc và dẫn đến cách tính trên có bất cập so với thực tế.
Theo công thức trên vòng quay VLĐ dựa vào trong một số yếu tố
là Tài sản lưu động dự trữ bình quân trong năm, thực tế trong kinh doanh các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không phải thời điểm nào dự trữ Tài sản lưu
Trang 16động cũng bằng nhau, mà có quý cao, quý thấp, nên hạn mức tín dụng ở công thức trên chỉ là hạn mức tín dụng bình quân trong năm.
Trong khi đó mục 7 điều 3 quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo quy định 284/2000/QĐ-NHNN ngày 25/8/2000 của Thống đốc Ngân hàng có nghi "Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trong một thời gian nhất định mà tổ chức tín dụng và khách hàng đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng" Hoặc tại khoản 2 điều 16 quy định" cho vay theo hạn mức tín dụng là tổ chức tín dụng và khách hàng xác định đã thoả thuận theo một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời hạn nhất định hoặc theo chi phí sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình thực hiện xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng vay vốn theo hạn mức nếu sử dụng công thức trên (hạn mức bình quân)
và quản lý hạn mức trong quy trình vay vốn thì trong những thời điểm nhất định sẽ không đáp ứng nhu cầu vốn cho đối tượng khách hàng này buộc phải điều chỉnh hạn mức tín dụng, đặc biệt là trong thời điểm nhu cầu vốn dự trữ tăng cao trong năm.
2.2.1.2.Tình hình thu nợ NQD
Cùng với việc cho vay thì công tác thu nợ cũng là công việc được SGD đặt ra một cách nghiêm túc và đạt được một số kết quả khả quan Nhìn chung, tình hình thu nợ đối với kinh tế ngoài quốc doanh ở SGD là tương đối cao.Có thể thấy rõ tình hình này qua bảng số liệu sau:
Trang 17Bảng 4:Doanh số thu nợ NQD phân theo đối tượng khách hàng
Nguồn: Báo cáo tín dụng 2000-2002
Cụ thể: Doanh số thu nợ KTNQD mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ so với KTQD song lại tăng dần về tương đối qua các năm, tăng từ 237615 Trđ(năm2000) lên 317627Trđ(năm 2001), và 628733 Trđ (Năm 2002).Điều này cho thấy hầu hết các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều vay trả sòng phẳng, chỉ có một số
ít phải gia hạn nợ và chủ yếu chỉ là gia hạn nợ theo từng thời điểm bởi uy tín
là tiêu chí hàng đầu để các đối tượng này tiếp cận vốn ngân hàng nên họ phải
cố gắng tối đa trong việc hoàn trả nợ ngân hàng đúng hạn, nếu không sẽ sớm
bị loại khỏi cuộc chơi
Bảng số liệu còn cho thấy daonh số thu nợ tăng dần về tỷ trọng đối với Cty TNHH, DN tư nhân và giảm dần với các đối tượng khác.Cụ thể:năm 2000,thu nợ đối với CTy TNHH chiếm tỷ trọng 62,3% thì sang năm 2001, con số này tăng lên 69,1% và năm 2002 là 73%; Đối với DN tư nhân cũng vậy,tăng từ