1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số khía cạnh pháp lí và thực tiễn liên quan đến vấn đề đảm bảo quyền lợi việc làm cho người khuyết tật ở việt nam (2)

31 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 103,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng liệu các chính sách có thực sự hợp lý, có đảm bảo đủ quyền lợi cho họ không hay xã hôị đã thực hiện tốt được các chính sách đó chưa Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết thiết trên,

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Việt Nam là một trong những nước có nguồn nhân lực dồi dào Chính vì thếviệc đảm bảo việc làm cho người lao động luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của chính phủ Người lao động khuyết tật cũng không phải là ngoại lệ Họ tuy

là những người mang khiếm khuyết trên cơ thể nhưng họ cũng là nguồn nhân lực dồi dào của nước nhà, đóng góp không ít cho xã hội Chính vì vậy Đảng và nhà nước ta đã và đang tạo mọi điều kiện khơi dậy nguồn nhân lực này thông qua các chính sách pháp luật Nhưng liệu các chính sách có thực sự hợp lý, có đảm bảo đủ quyền lợi cho họ không hay xã hôị đã thực hiện tốt được các chính sách đó chưa

Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết thiết trên, nhóm đã chọn đề tài nghiên cứu “Một số khía cạnh pháp lí và thực tiễn liên quan đến việc đảm bảo quyền lợi

việc làm cho người khuyết tật ở việt nam”

Nghiên cứu này chú trọng vào một số nội dung chủ yếu sau:

1 Đưa ra các khái niệm về người khuyết tật, một số quy định pháp lí về ngườikhuyết tật

2 Tìm hiểu chế độ việc làm theo quy định của pháp luật hiện hành đối với người khuyết tật

3 Chỉ ra điểm mạnh và hạn chế của pháp luật hiện hành đối với người khuyết tật

4 Việc đảm bảo quyền lợi việc làm cho người khuyết tật ở việt nam đã thực hiện tốt hay chưa? Cần đưa ra các giải pháp gì để giải quyết

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu của nhóm khi nghiên cứu đề tài này là

- Bổ sung kiến thức cơ bản về người khuyết tật vào vốn hiểu biết của bảnthân

- Tìm ra những điều còn chưa rõ về pháp lí trong việc đảm bảo quyền lợiviệc làm cho người khuyết tật

Trang 2

- Liên hệ với thực tế về việc đảm bảo quyền lợi việc làm cho người khuyếttật ở Việt Nam hiện nay

- Đề ra các giải pháp giải quyết góp phần đảm bảo thực hiện quyền lợi việclàm của người khuyết tật cũng như các quyền lợi cơ bản khác, tạo điều kiện và cơhội cho người khuyết tật hòa nhập cộng đồng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

- Đối tượng đề tài này nhắm đến là

các quy định pháp luật về vấn đề việc làm cho người khuyết tật ở việt nam

và thực trạng áp dụng các quy định đó

- Phạm vi nghiên cứu nghiên cứu của đề tài được xác định là:

 Phạm vi về thời gian : từ năm 2005 đến nay

 Phạm vi về đối tượng : người khuyết tật

 Phạm vi về không gian : Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu : phương pháp định tính

- Phương pháp quan sát : quan sát thực trạng việc làm của ngườikhuyết tật trên thực tế sử dụng để phân tích những tích cực, bất cập chưa giảiquyết được trong thực tế…

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu : nghiên cứu trên sách, báo, tài liệu,tạp chí về người khuyết tật sử dụng để đánh giá về thực tế việc đảm bảo quyền lợingười khuyết tật

- Phương pháp thu thập thông tin: thu thập số liệu thống kê những nămgần đây về người khuyết tật để lập bảng phân tích số liệu thực trạng việc làmngười khuyết tật

Kết cấu bài thuyết trình :

1 Tổng quan

Trang 3

2 Chương I Khái quát chung một số vấn đề về người khuyết tật và pháp luật người khuyết tật ở Việt Nam

3 Chương II: Thực tiễn giải quyết việc làm cho người khuyết tật trong thực

tế và 1 số vấn đề pháp lí trong việc đảm bảo cơ hội việc làm cho người khuyết tật.

4 Chương III: Quan điểm và một số giải pháp nhằm nâng cao đảm bảo cơ hội việc làm cho người khuyết tật ở Việt Nam

5 Kết luận

Chương I Khái quát chung một số vấn đề về người khuyết

tật và pháp luật người khuyết tật ở Việt Nam

1 Khái niệm người khuyết tật và luật người khuyết tật.

1.1 Khái niệm người khuyết tật

o Ngày 17/6/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua luật Người khuyết tật, có

hiệu lực từ 01/01/2011, chính thức sử dụng khái niệm “người khuyết tật” thay cho khái niệm “người tàn tật”, Theo quy định tại khoản 1, Điều 2 của Luật Người khuyết tật thì “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận

cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.”

Theo cách hiểu này thì người khuyết tật bao gồm cả những người bị khuyếttật bẩm sinh, người bị khiếm khuyết do tai nạn, thương binh, bệnh binh, Như vậy,luật Người khuyết tật Việt Nam đã đưa ra khái niệm người khuyết tật dựa vào môhình xã hội, tuy nhiên còn chung chung so với khái niệm trong Công ước vềquyền của người khuyết tật

Như vậy có thể hiểu khái niệm người khuyết tật như sau:

“Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác.”

Trang 4

1.2 Đặc điểm người khuyết tật.

1.2.1 dưới góc độ kinh tế – xã hội.

- Trước hết người khuyết tật là nhóm cư dân đặc biệt phải chịu thiệt thòi vềmặt kinh tế – xã hội và nhân khẩu học: Gia đình thiếu nhân lực, sống phụ thuộc,học vấn thấp, hầu hết thuộc dạng nghèo và có thu nhập thấp và đa số là thấtnghiệp

- Quan niệm của xã hội về người khuyết tật còn tiêu cực, dẫn đến sự kì thị

và phân biệt đối xử Điều này diễn ra dưới nhiều hình thức, ở nhiều bối cảnh khácnhau (gia đình, cộng đồng, trường học, bệnh viện, nơi làm việc và các tổ chức ởđịa phương) Trong cộng đồng, nhiều dân cư coi người khuyết tật là “đángthương”, không có cuộc sống “bình thường”, là “gánh nặng” của xã hội…

+ Hoạt động hỗ trợ cho người khuyết tật còn rất hạn chế, thực tế cho thấy

có sự khác biệt lớn giữa nhu cầu của người khuyết tật và những giúp đỡ mà họnhận được Sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng mang tính từ thiện nhiều hơn làphát triển con người Hầu hết người khuyết tật được hỗ trợ như bảo hiểm y tế, bảohiểm xã hội, lương thực… nhưng lại ít được trợ giúp trong việc làm, dạy nghề vàtham gia hoạt động xã hội

- Ngoài ra còn có những nhóm người khuyết tật như: người bị rối loạn hành

vi cảm xúc, người mắc hội chứng tự kỉ, người bị rối loạn ngôn ngữ, người đa tật…

1.1 Tình hình người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay.

Việt Nam là nước có số lượng người khuyết tật nhiều thứ tư trong khu vực các nước Châu Á – Thái Bình Dương Giải quyết việc làm cho đông đảo số lượng lao động người khuyết tật luôn là vấn đề làm

Trang 5

khó dễ đối với hầu hêt các nhà lãnh đạo trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Hiện nay chưa có một cuộc điều tra quốc gia nào

có thể cung cấp số liệu đáng tin cậy về tỷ lệ người khuyết tật cũng như người lao động khuyết tật của cả nước Rất nhiều tổ chức trong nước và quốc tế tham gia liên quan tới các cuộc điều tra về thực trạngngười khuyết tật ở Việt Nam, tuy nhiên hầu hết các cuộc điều tra chỉ tập trung trong phạm vi nhất định, cách thức tìm hiểu hay chỉ tiêu, đối tượng tìm hiểu cũng khác nhau nên kết quả từ những báo cáo cũng khác nhau và rất khó để kiểm chứng Chúng ta rất khó có thể giải quyết được tất cả những khó khăn hay hạn chế để có được một ước lượng hoàn toàn tin cậy về tỷ lệ người khuyết tật trên toàn quốc

Dù sao đi nữa thì các tài liệu và số liệu hiện có đã và đang là những

dữ liệu quan trọng quý báu giúp chúng ta tìm hiểu sâu sắc hơn về các vấn đề liên quan đến người khuyết tật

Khái quát chung về tỷ lệ người khuyết tật:

Dựa theo báo cáo nghiên cứu năm 2011 do Viện nghiên cứu phát triển xã hội thực hiện với sự hỗ trợ về tài chính của AusAid ( Cơ quan phát triển quốc tế Úc), người khuyết tật chiếm hơn 6% trong đó hơn một phần ba dân số trưởng thành từ 15 tuổi trở lên có khó khăn trong việc nhìn, nghe, vận động, nhận thức, tựchăm sóc bản thân hoặc giao tiếp

Bảng 2.1 Tỷ lệ người khuyết tật theo dạng khuyết tật và mức độ khó

Trang 6

Nguồn: Báo cáo người khuyết tật của AusAID VN 2011

Khuyết tật là hiện tượng chủ yếu phổ biến ở ngườicao tuổi Tỷ lệ người khuyết tật ở người cao tuổi (từ60 tuổi trở lên) khá cao, chiếm tới 75,1% số

ngườiđược hỏi Trong khi đó, tỷ lệ này trong nhóm trungniên từ 25 đến 59 tuổi chỉ

là 35,5% và trong nhómthanh thiếu niên từ 15 đến 24 tuổi chỉ là 16,6%.Bên cạnh đó,tỷ lệ người đa khuyết tật tăng dần theo độ tuổi Tỷlệ thanh thiếu niên có đa khuyết tật là rất thấp trongkhi đó đa số người cao tuổi khuyết tật thuộc nhómđa khuyết tật

Theo điều tra lao động – xã hội Việt Nam do Viện Khoa học lao động và các vấn đề về an sinh xã hội về tình hình người khuyết tật ở các vùng miền có một

xu hướng đáng quan tâm ở hoàn cảnh sống của người khuyết tật đó là tuổi càng cao thì tỷ lệ người khuyết tật sống cùng gia đình càng giảm đi và ngược lại tỷ lệ người khuyết tật sống độc thân càng tăng lên Bên cạnh một số người khuyết tật được sống cùng với gia đình thì vẫn còn một bộ phận không nhỏ người khuyết tật sống lang thang ở mọi nhóm tuổi tuy nhiên phổ biến là ở nhóm tuổi 16 – 55 là nhóm tuổi vẫn còn khả năng lao động Tỷ lệ người khuyết tật lang thang thường tập trung ở thành thị nhiều hơn so với nông thôn vì thành thị dân số đông, kinh tế phát triển hơn và có nhiều công việc thích hợp với điều kiện sức khỏe của người khuyết tật nên nhiều người khuyết tật kéo nhau ra đường phố ở thành thị kiếm kế sinh nhai

1.1.1 Lực lượng lao động khuyết tật và thu nhập:

 Tình trạng việc làm:

Trang 7

Tỷ lệ người trưởng thành trong độ tuổi lao động (từ 18 đến dưới 60 tuổi đối với nam và từ 18 đến dưới 55 tuổi đối với nữ) đang đi làm của người khuyết tật rấtgần với tỷ lệ của người không khuyết tật Tuy nhiên, người khuyết tật do có nhữngkhiếm khuyết về thể lực hay trí tuệ nên khả năng tham gia lao động của họ thấp hơn so với những người lao động bình thường và tùy vào hoàn cảnh kinh tế - xã hội nên tỷ lệ người khuyết tật có khả năng lao động ở mỗi địa phương là khác nhau

Theo báo cáo của Viện nghiên cứu phát triển xã hội thực hiện với sự hỗ trợ về tài chính của AusAid về người khuyết tật thì tại thời điểm khảo sát có khoảng 80% sốngười khuyết tật cũng như người không khuyết tật trưởng thành trong độ tuổi lao động hiện đang đi làm Tuy nhiên, tỷ lệ này trong nhóm người khuyết tật nặng lại rất thấp và ở mức dưới 5%

Bảng 2.3 Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động đi làm theo trình trạng khuyết tật.

Người không khuyết tật Người khuyết tật Người khuyết tật nặng

Trang 8

Bên cạnh những người khuyết tật có việc làm thì lại có một phần đông bộ phận người khuyết tật không đi làm hoặc không thể đi làm Theo điều tra lao động

xã hội do Bộ lao động thương binh và xã hội, Viện khoa học xã hội thì nguyên nhân chủ yếu để người khuyết tật không có việc làm là do không có công việc phùhợp với thực trạng bệnh tật, do không được đào tạo dạy nghề, do hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn nên không có vốn để phát triển sản xuất hoặc không có vốn

để mở các hoạt động buôn bán kinh doanh nhỏ tại gia đình, đường phố, trong cộngđồng dân cư

Bảng 2.4 Lý do không đi làm theo tình trạng khuyết tật

Người không khuyết tật Người khuyết tật Người khuyết tật nặng

Trang 9

Phân chia cơ cấu việc làm với người lao động khuyết tật tập trung nhiều

nhất vào nghề nông ngư nghiệp còn ngành nghề dịch vụ xã hội thì rất ít - thành thị

do có dân trí cao hơn nên số lao động khuyết tật làm việc cho các dịch vụ xã hội cao hơn ở nông thôn

Tình trạng thu nhập và trợ cấp xã hội:

- Về lương:

Mức lương của người lao động khuyết tật lại ít hơn so với người không

khuyết tật Thậm chí có những người khuyết tật nặng hầu hết đều dựa vào gia

đình Những người có khó khăn về tự chăm sóc bản thân và thính giác có mức

lương thấp hơn những người khuyết tật dạng khác nhưng những khác biệt này

2 Hỗ trợ chăm sóc hàng tháng cho ngườikhuyết tật nặng, đặc biệt nặng mang thai,

nuôi con dưới 36 tháng tuổi

Đối tượng độ tuổi NKT

nặng

NKTđặcbiệtnặng

Đối tượng độ tuổi NKT

nặng

NKTđặc biệtnặng

Từ đủ 16 tuổi đến

Trang 10

3 Hỗ trợ hộ gia đình 4 Hỗ trợ người có đủ điều kiện và nhận nuôi

dưỡng người khuyết tật đặc biệt

Hộ gia đình trực tiếp nuôi

dưỡng chăm sóc người

Bảng 2.5 Tỷ lệ người có thu nhập, bao gồm lương và phụ cấp trợ cấp ngoài lương

Trang 11

Người không khuyết tật Người khuyết tật Người khuyết tật nặng 0%

Nguồn: Báo cáo người khuyết tật AusAID VN năm 2011.

1.2 Sự cần thiết đảm bảo việc làm và thu nhập cho người khuyết tật

2.2.1 Đảm bảo việc làm và thu nhập cho người khuyết tật là

cơ sở để xóa bỏ kì thị với người khuyết tật trong xã hội

Trên thực tế, có rất nhiều người khuyết tật bị đối xử bất bình đẳng, bị kì thị

xa lánh do những khác biệt về thể chất hoặc tinh thần Người khuyết tật phải đối mặt với rất nhiều những điều kiện khó khăn khi bị phân biệt đối xử dưới nhiều hình thức hoặc dưới những hình thức nghiêm trọng Trong số đó phụ nữ và trẻ em

dễ bị bạo hành, thương tổn hoặc lạm dụng, bị đối xử vô trách nhiệm hoặc bất cẩn, ngược đãi hay bóc lột Ở Việt Nam, kết quả khảo sát của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy, có rất nhiều người khuyết tật đang sống dựa vào gia đình, người thân, trợ cấp xã hội hoặc các tổ chức từ thiện Một trong những

nguyên nhân dẫn đến tình trạng người khuyết tật sống nghèo khổ, bị kỳ thị, xem thường, thậm chí bị hành hạ, bị chà đạp phẩm giá là do họ gặp rất nhiều khó

Trang 12

khăn trong việc tiếp cận việc làm và không có nguồn thu nhập cần thiết để trang trải cho cuộc sống hàng ngày của bản thân

2.2.2 Đảm bảo việc làm và thu nhập cho người khuyết tật là

cơ sở xóa bỏ sự mặc cảm của bản thân người khuyết tật.

Do những khiếm khuyết về hình thể hay tinh thần nên mặc cảm tự ti luôn làmặc cảm tâm lý phổ biến ở người khuyết tật Nhiều người cảm thấy vô dụng ,bất mãn, dễ cáu giận đối với mọi người xung quanh, thậm chí có những người đã có những hành động tự hủy hoại bản thân mình Một trong những nguyên nhân chínhdẫn đến tâm lý này là do họ không có việc làm và không tạo được nguồn thu nhập

để trang trải cho cuộc sống của mình và gia đình

Đảm bảo việc làm và thu nhập cho người khuyết tật là cách cơ bản nhất để người khuyết tật nhận ra những khả năng thực sự của mình, đồng thời chứng minhđược giá trị của bản thân mình trước mọi người Ngoài ra, việc người khuyết tật tham gia lao động, làm việc và có thu nhập nuôi sống được bản thân và gia đình còn giúp cho họ có được địa vị bình đẳng hơn trong gia đình và xã hội

2.2.3 Đảm bảo việc làm và thu nhập cho người khuyết tật

giúp bổ sung nguồn lực lao động phát triển kinh tế - xã hội

Nhà nước đã ban lành Luật người khuyết tật 2010 để thay thế cho pháp lệnhngười tàn tật năm 1998, trong đó dành Chương V để quy định về vấn đề dạy nghề

và việc làm cho người khuyết tật Tuy nhiên, sau nhiều năm thực thi những quy định được cho là có ý nghĩa đảm bảo cơ hội việc làm cho người khuyết tật trong Luật Người khuyết tật, thì thực tế, chúng ta chưa thực sự giúp được nhiều cho người khuyết tật có được việc làm ổn định, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho họ

Trang 13

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRONG THỰC TẾ VIỆT

NAM HIỆN NAY

1 Quy định pháp luật Việt Nam về đảm bảo việc làm cho người khuyết tật

1.1.1 Khái niệm việc làm đối với người khuyết tật

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người Lao động không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn cải tạo con người, biến con người thành sinh vật xã hội có ý thức, tham gia các quan hệ xã hội, hình thành xã hội Việc làm cũng có thể là một hoặc là sự tập hợp của một số công việc, thuộc hệ thống ngành nghề kinh tế quốc dân, do người lao động thực hiện thông qua các hoạt động lao động (làm việc) nhằm tạo ra những giá trị với mục đích thỏa mãn những nhu cầu của đời sống

Ở Việt Nam, khái niệm việc làm chính thức được ghi nhận trong văn bản

pháp luật trong Bộ luật lao độngvào năm 1994 điều 13 việc làm được hiểu là mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm

người được coi là có việc làm phải là người thực hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định Đồng thời các hoạt động lao động này phải tạo ra thu nhập và hoạt động đó phải là hợp pháp

 việc làm đối với người khuyết tật cũng được hiểu là các hoạt động lao động tạo ra thu nhập cho người khuyết tật và không bị pháp luật cấm.

Trang 14

1.2.1 Quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm.

Người khuyết tật nếu tham gia vào quan hệ lao động thì cũng trở thành chủ thể của quan hệ lao động

Khi tham gia quan hệ lao động, người khuyết tật được giảm thời gian làm việc

Để bảo vệ sức khỏe cho người khuyết tật, pháp luật còn quy định người khuyết tật không phải làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội và

Bộ Y tế ban hành và

người khuyết tật bị suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên không phải làm thêm giờ, làm việc ban đêm

1.2.2 Chế độ hỗ trợ việc làm với người khuyết tật và một

số chủ thể có trách nhiệm trong việc hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật

- Trách nhiệm của một số chủ thể trong lĩnh vực việc làm đối với người khuyết tật.

 Trách nhiệm của nhà nước:

Điều 13 BLLĐ “ Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội” Người khuyết tật cũng là công dân, là lực lượng lao động

xã hội nên Nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết việc làm cho họ Hơn nữa, người khuyết tật lại là bộ phận dân cư cần được quan tâm đặc biệt nên Nhà nước càng cần phải có trách nhiệm hơn đối với đối tượng này

Trang 15

Họ cùng với những hỗ trợ khác để người khuyết tật có việc làm cũng như

ổn định việc làm và duy trì việc làm lâu bền

Điều 33 Luật người khuyết tật “Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của người khuyết tật”

 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân:

Đặc biệt, người khuyết tật lại là đối tượng lao động đặc thù nên các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cá nhân càng cần phải có sự quan tâm đến đối tượng này nhằm đảm bảo cho họ được bình đẳng như những người lao động khác mà không bị phân biệt đối xử Để tránh tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử, tạo ra những rào cản dẫn đến sự hạn chế cơ hội có việc làm của người khuyết tật,

các doanh nghiệp có trách nhiệm nhận tỷ lệ lao động là người khuyết tật đốivới một số nghề và công việc theo quy định của Chính phủ (theo khoản 3 Điều

125 BLLĐ) Cụ thể theo Điều 14 Nghị định 81/NĐ-CP các doanh nghiệp thuộc các ngành sản xuất điện năng, luyện kim, hoá chất, địa chất, đo đạc bản đồ, dầu khí, khai thác mỏ, khai thác khoáng sản, xây dựng cơ bản, vận tải phải nhận 2% lao động là người khuyết tật; doanh nghiệp thuộc các ngành khác là 3%.Tỷ lệ người tàn tật các doanh nghiệp phải tiếp nhận là tỷ số giữa số người tàn tật so với tổng số lao động có mặt bình quân tháng của doanh nghiệp

- Chế độ hỗ trợ đối với người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm.

Các cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh; được ưu tiên cho thuê đất,

Ngày đăng: 16/06/2020, 09:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w