Trong đó, có các nghiên cứu về hợp chất steroid phân cực từ sinh vật biển đã thể hiện hoạt tính sinh học chống lại nhiều dòng tế bào ung thư, có thể ứng dụng trong y, dược học.. Hiện nay
Trang 1
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ
- Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS TS Trần Thị Thu Thủy Người hướng dẫn khoa học 2: PGS TS Ngô Đại Quang
vào hồi … giờ …., ngày … tháng … năm 2020
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam có nguồn tài nguyên sinh vật biển vô cùng đa dạng và phong phú với hàng trăm ngàn loài thực vật, động vật và vi sinh vật khác nhau Tuy nhiên, các giá trị cung cấp về nguồn dược liệu cho y học và dược học của các loài sinh vật biển vẫn còn rất hạn chế Trong đó, có các nghiên cứu về hợp chất steroid phân cực từ sinh vật biển đã thể hiện hoạt tính sinh học chống lại nhiều dòng tế bào ung thư, có thể ứng dụng trong y, dược học Các hoạt chất này cũng góp phần quan trọng cho lĩnh vực tổng hợp hữu cơ Chúng trở thành hình mẫu để tổng hợp từ các steroid phổ biến trong tự nhiên bằng các phương pháp hiệu quả và kinh tế
Lớp Sao biển thuộc ngành Da gai là một trong những nguồn cung cấp dồi dào các hợp chất steroid phân cực Lớp chất này có cấu trúc rất đa dạng và chúng thể hiện nhiều hoạt tính sinh học như: kháng khuẩn, kháng nấm, kháng viêm, chống ung thư, chống virut, ức chế sự thụ tinh Steroid phân cực từ sao biển đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới
Ở Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu về lớp chất này Các nghiên cứu chỉ theo hướng phân lập các hợp chất từ tự nhiên và đánh giá một số hoạt tính sinh học của chúng Hiện nay, chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu phân lập, chuyển hóa hóa học và đánh giá hoạt tính của các steroid phân lập
được từ sinh vật biển Sao biển Acanthaster planci là loài sao biển phổ biến ở
vùng biển Việt Nam, chúng là mối đe dọa với sự tồn vong của các rạn san hô sống do đây là nguồn thức ăn ưu thích của chúng Các nghiên cứu bước đầu
cũng chỉ ra thành phần hóa học chính của sao biển Acanthaster planci là các
steroid, đặc biệt là các steroid phân cực Điều này định hướng cho tác giả lựa
chọn đề tài nghiên cứu của luận án là: “Nghiên cứu phân lập, chuyển hóa và
đánh giá tác dụng sinh học của steroid từ loài sao biển Acanthaster planci”
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Trang 4Nghiên cứu thành phần hóa học loài sao biển Acanthaster planci của
Việt Nam, thực hiện tổng hợp các dẫn xuất steroid theo định hướng hydroxyl
và oxime hóa từ một steroid phân lập được từ loài sao biển này và đánh giá
hoạt tính sinh học của chúng
3 Các nội dung nghiên cứu chính của luận án
Để đạt được các mục tiêu trên, luận án đã thực hiện các nội dung sau:
• Phân lập và xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất từ loài sao biển
Acanthaster planci, đặc biệt là các steroid
• Chuyển hóa các dẫn xuất theo định hướng hydroxyl hóa và oxime hóa từ 1
steroid có hàm lượng lớn trong sao biển Acanthaster planci
• Thử nghiệm một số hoạt tính sinh học của các chất phân lập và tổng hợp được
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Phần này tập hợp các nghiên cứu trong nước và quốc tế về các vấn đề:
1.1 Giới thiệu chung về lớp sao biển (Asteroidea)
1.2 Các nghiên cứu về lớp chất steroid phân cực từ sao biển
1.3 Hoạt tính sinh học của các hợp chất steroid phân cực từ sao biển 1.4 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu
1.5 Tình hình nghiên cứu tổng hợp các hợp chất polyhydroxysteroid và hydroximinosteroid từ steroid tự nhiên
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phần này mô tả thông tin của đối tượng nghiên cứu; các phương pháp phân lập, xác định cấu trúc các hợp chất và các phương pháp đánh giá hoạt tính sinh học
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Loài sao biển Acanthaster planci được thu thập ở độ sâu 5-10 m, tại
Vịnh Vân Phong, Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam Tên loài được giám định bởi PGS.TS Đỗ Công Thung, Viện Tài nguyên và Môi trường biển – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Trang 5Mặt phía trên Mặt phía dưới
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp phân lập
Các phương pháp sắc ký được sử dụng để phân lập các hợp chất bao gồm: sắc ký bản mỏng (TLC), sắc ký cột silica gel (CC) pha thường hoặc pha đảo, sắc ký cột Polychrome 1, Sephadex LH-20, sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), ngoài ra còn dùng phương pháp kết tinh
2.2.2 Phương pháp xác định cấu trúc
Các phương pháp được sử dụng để xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất bao gồm: phổ khối ion hóa phun mù điện tử (ESI-MS), phổ khối phân giải cao (HR ESI-MS), độ quay cực ([α]D), phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều (1H, 13C, DEPT, 1D TOCSY) và hai chiều (HSQC, HMBC, COSY, NOESY, ROESY) được ghi trên máy Bruker Avance 500 MHz hoặc Bruker Avance III 700 MHz, sử dụng TMS là chất chuẩn nội
2.2.3 Các phương pháp đánh giá hoạt tính
2.2.3.1 Phương pháp đánh giá hoạt tính gây độc tế bào
Hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất được đánh giá theo phương pháp MTS thực hiện tại: Viện hóa học các hợp chất thiên nhiên – Viện HLKHCNVN (Hep G2, HeLa); Trung tâm nghiên cứu Hợp chất tự nhiên - Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST) (T98G); Viện Hóa sinh hữu
cơ Thái Bình Dương (PIBOC) – Viện Hàn lâm Khoa học liên bang Nga – Vladivostok (HCT-116, HT-29, RPMI-7951, T-47D, MDA-MB-231)
2.2.3.2 Phương pháp thử nghiệm khả năng ức chế hình thành khối u trên thạch mềm
Trang 6Các chất thử nghiệm được thêm vào môi trường nuôi tế bào ở các nồng
độ không gây độc 5, 10 và 15 μM, ủ trong 4 tuần Các khối u hình thành được
đo bằng kính hiển vi và phần mềm ảnh theo phương pháp của Colburn Thực hiện tại PIBOC – Viện Hàn lâm Khoa học LB Nga
2.2.3.3 Phương pháp thử nghiệm hoạt tính ức chế sự di căn của tế bào ung thư biểu mô tuyến vú bằng xét nghiệm chữa lành vết thương (wound-healing assay)
Các chất thử nghiệm (10 μM) được đưa vào môi trường đã được tạo một vết thương trên khối tế bào ung thư biểu mô tuyến vú MDA-MB-231 đã phát triển và để trong 48 giờ Độ đóng vùng tổn thương được đo và xác định phần trăm khoảng cách di chuyển của tế bào Thực hiện tại PIBOC – Viện Hàn lâm Khoa học LB Nga
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM
3.1 Phân lập các hợp chất từ loài sao biển Acanthaster planci
Phần này trình bày cách thức phân lập các hợp chất từ mẫu sao biển A planci Việc phân tách các hợp chất được nêu tóm tắt trong sơ đồ hình 3.1
Hình 3.1 Sơ đồ phân lập các hợp chất từ sao biển A.planci
Trang 73.2 Hằng số vật lý và dữ kiện phổ của các hợp chất phân lập được 3.3 Tổng hợp các dẫn xuất của cholesterol
Hợp chất AP7 được xác định là cholesterol, được lựa chọn là chất đầu
để chuyển hóa thành các dẫn xuất polyhydroxysteroid và hydroximinosteroid
3.3.1 Tổng hợp các dẫn xuất polyhydroxyl của cholesterol
3.3.2 Tổng hợp các dẫn xuất hydroximinosteroid từ cholesterol
3.4 Hoạt tính sinh học của các chất phân lập và các dẫn xuất tổng hợp được
3.4.1 Hoạt tính sinh học của các hợp chất steroid phân cực phân lập
từ sao biển Acanthaster planci
3.4.2 Hoạt tính gây độc tế bào của các dẫn xuất tổng hợp từ cholesterol
Các hydroxysteroid (15c-21c), hydroximinosteroid (23c, 25c, 29c,
31c) và các chất trung gian (22c, 24c, 26c-28c, 30c) được đánh giá hoạt
tính gây độc tế bào trên ba dòng tế bào Hep G2, HeLa và T98G
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Chương này trình bày các kết quả nghiên cứu phân lập, chuyển hóa và xác định cấu trúc của các hợp chất, kết quả hoạt tính sinh học của các hợp chất được thử nghiệm
4.1 Nghiên cứu thành phần hóa học loài sao biển Acanthaster planci
Phần này trình bày chi tiết kết quả phân tích phổ và xác định cấu
trúc hóa học của 14 hợp chất phân lập từ loài sao biển A.planci Trong đó
có 4 hợp chất mới và 8 hợp chất đã biết
Bảng 4.21: Bảng tổng hợp các chất phân lập từ sao biển A planci
AP1 Planciside A (chất mới) AP2 Planciside B (chất mới)
Trang 8AP3 Planciside C (chất mới) AP4 Planciside D
AP5 3-O-sulfothornasterol A AP6 5-ergost-7-en-3-ol
Trang 9* Dưới đây trình bày các phân tích phổ và xác định cấu trúc hóa học của
1 steroid glycoside mới đại diện là Acanthaglycoside G (AP11):
• Hợp chất AP11: Acanthaglycoside G (hợp chất mới)
Hợp chất AP11 được phân lập dưới dạng chất rắn, vô định hình Công thức phân tử của AP11 được xác định là C51H81O26SNa (M = 1164) từ pic ion
giả phân tử [M+Na]+ tại m/z 1187,4533 (tính toán lý thuyết cho CTPT
C51H81Na2O26S = 1187,4532) trong phổ (+) HR-ESI-MS và pic ion giả phân
tử [M–Na]− tại m/z 1141,4735 (tính toán lý thuyết cho CTPT C51H81O26S =
1141,4737) trong phổ (-) HR-ESI-MS, trong đó M là khối lượng phân tử của
AP11 Ngoài ra, trên phổ (–) HR-ESI-MS/MS của pic ion [M–Na]− ở m/z
1141 xuất hiện tín hiệu của các pic ion tại m/z 995 [(M–Na)–C6H10O4]−, 849 [(M–Na)–2xC6H10O4]−, 703 [(M–Na)–3xC6H10O4]−, 557 [(M–Na)–4xC6H10O4]−, 411 [(M–Na)–5xC6H10O4]−, tương ứng với các tín hiệu này là sự mất lần lượt của 1, 2, 3, 4, và 5 đơn vị đường 6-deoxyhexose, và pic ion tại
m/z 393 [(M–Na)–4 x C6H10O4 –C6H12O5]− tương ứng với sự mất của 1 chuỗi
oligosaccharide trong AP11 Từ dữ liệu phân tích phổ MS có thể dự đoán AP11 có chứa 5 đơn vị đường 6-deoxyhexose trong chuỗi carbohydrate
1269.4566 1+
1367.4546 +MS, 0.8-1.4min #44-83
570.2335 2-
849.3573 995.4151
1141.4735 1-
1163.4545
1127.4573 977.4046
-MS, 1.3-1.8min #76-100
0 1 2 3
4 x10 Intens.
400 500 600 700 800 900 1000 1100 1200 m/z
Hình 4.21: Phổ (+) HR-ESI-MS của AP11 Hình 4.22: Phổ (-) HR-ESI-MS của AP11
Phổ 1H-NMR của AP11 xuất hiện tín hiệu của 3 nhóm –CH3 đặc trưng của khung steroid bao gồm 2 nhóm methyl góc CH3-18 (s, 0,58 ppm) và CH3-19 (s, 0,94 ppm); 1 tín hiệu ở vùng trường yếu hơn của CH3-21 (s, 2,08 ppm) Ngoài ra còn có tín hiệu của 1 proton olefin ở δH
Trang 105,24 (brt, J 4,2 Hz); 1 nhóm oxymetin liên kết với một nhóm sulfate ở δH
4,87 (m) ppm; một nhóm oxymetin liên kết trực tiếp với một chuỗi
carbohydrate ở vị trí CH-6 với δH 3,78 (m) Ở vùng trường yếu quan sát
thấy 5 tín hiệu doublet của 5 proton anome của 5 đơn vị monosaccharide
ở δH 4,82 (1H, d, J = 7,6 Hz), 4,84 (1H, d, J = 7,9 Hz), 4,97 (1H, d, J = 6,8 Hz), 5,03 (1H, d, J = 7,7 Hz), 5,27 (1H, d, J = 7,7 Hz).
Hình 4.23: Phổ 1H-NMRcủa AP11 Hình 4.24: Phổ 13C-NMRcủa AP11
Phổ 13C-NMR của AP11 cho thấy sự có mặt của 51 nguyên tử carbon,
trong đó có 8 nhóm CH3, 7 nhóm CH2, 32 nhóm CH và 4 carbon bậc 4 Sự có
mặt của nối đôi bị thế ba lần trong phân tử được xác định tại δC 116,4/145,8 ppm 5 tín hiệu carbon nhóm CH tại δC 102,3; 103,6; 104,9; 104,9; 106,9 ppm
được xác định là các carbon anome của 5 gốc đường Ngoài ra, trong vùng từ
60 – 90 ppm có các tín hiệu cộng hưởng của 23 nguyên tử carbon liên kết trực tiếp với nguyên tử oxy, bao gồm 22 carbon oximetin trong đó có 2 carbon của
phần aglycon tại δC 77,4 (C-3) liên kết với nhóm sulfate; δC 80,1 (C-6) liên kết với chuỗi carbohydrate; và 20 carbon thuộc các phân tử đường tại δC 73,8; 91,0; 74,4; 71,7; 82,3; 75,1; 85,7; 71,4; 84,3; 77,5; 75,7; 72,8; 73,7; 74,9; 72,3;
71,8; 76,2; 77,5; 75,5; 73,4 ppm; và 1 carbon bậc 4 của nhóm C=O tại δC
208,0 ppm Độ chuyển dịch hóa học trong phổ 1H và 13C chỉ ra rằng phần
aglycon của AP11 có dạng đã biết là
Trang 113β,6α-dihydroxy-5α-pregn-9(11)-en-20-one (aster3β,6α-dihydroxy-5α-pregn-9(11)-en-20-one) đã bị sulfate hóa ở vị trí C-3 và có liên kết glycoside ở vị trí C-6 trong nhân steroid
Các tương tác nhận được trên phổ COSY và HSQC cho phép ghép nối các mảnh cấu trúc từ C-1 đến C-8, C-11 đến C-12, và C-8 đến C-17 của phần aglycon Trên cơ sở kết quả phổ COSY, cùng các tương tác HMBC giữa các proton với các carbon cho phép khẳng định vị trí của các nhóm H-
18, H-19, H-21 và một liên kết đôi ở vị trí 9(11) của phần khung steroid cũng như chứng minh cho toàn bộ cấu trúc của phần aglycon Phổ ROESY
cho thấy các tương tác chìa khóa giữa H-5 với H-3α, H-7α; H-14 với H-12α,
H-17; H3-18 với H-8, H-15β, H-16β; và H3-19 với H-2β, H-4β, H-6β, H-8 Điều này chứng minh cấu hình khung steroid ở các vị trí được xác định là
5α/8β/10β/13β/14α/17α và cấu hình tương đối của các nhóm thế ở 3 và
C-6 là 3β và C-6α Trên phổ HMBC có xuất hiện tương tác của proton anome
H-1 của đơn vị đường QuiH-1 ở δH 4,82 ppm với C-6 ở δC 80,H-1 ppm của aglycon
và trong phổ ROESY có xuất hiện tương tác của proton anome H-1 của
Qui1 ở δH 4,82 ppm với H-6 ở δH 3,78 ppm của aglycon Điều này chứng tỏ
vị trí liên kết của chuỗi oligosaccharide với phần aglycon là vị trí C-6
Hình 4.25: Phổ 1D TOCSYcủa hợp chất AP11
Phổ 1D TOCSY cho thấy sự có mặt của 4 đơn vị đường Qui và 1 đơn vị đường Fuc do có các tín hiệu cộng hưởng của H-1 – H-6 của 4 đơn vị quinovose và H-1 – H-4 của 1 đơn vị fucose, chiếu xạ 1 nhóm methyl tương ứng dẫn đến tín hiệu H-5 của đơn vị fucose Thứ tự liên kết giữa các phân tử đường và phần aglycon được khẳng định dựa trên
Trang 12các tương tác trong phổ HMBC Từ các tương tác chìa khóa giữa H-1 của Quip1 và H-6 (C-6) của aglycon, H-1 của Quip2 và H-3 (C-3) của Quip1, H-1 của Quip3 và H-4 (C-4) của Quip2, H-1 của Fucp và H-2 (C-2) của Quip3, H-1 của Quip4 và H-2 (C-2) của Quip2 có thể suy ra vị trí liên kết giữa các phân tử đường với nhau và giữa phần đường với phần aglycon của hợp chất steroid là Fuc(1→2)-Qui3(1→4)-[Qui4(1→2)]-Qui2(1→3)-Qui1-Aglycon Dựa vào các tín hiệu trên phổ 1D-, 2D-NMR
ta xác định được các giá trị carbon và proton của phần đường (bảng 4.9)
Hình 4.26: Cấu trúc hóa học của AP11
Hình 4.27: Các tương tác chính trong phổ HMBC và ROESY của AP11
Cấu hình của các đơn vị đường trong AP11 được chứng minh
bằng phương pháp của Leontein và cs, kết quả phân tích phổ GC thu
được chứng minh các đơn vị đường của AP11 đều có cấu hình D
Từ các kết quả phân tích dữ liệu phổ AP11 được xác định là: muối natri
quinovo-pyranosyl-(1→2)]-β-D-quinovopyranosyl-(1→3)-β-D-quinovo-
Trang 136α-O-{β-D-fucopyranosyl-(1→2)-β-D-quinovopyranosyl-(1→4)-[β-D-pyranosyl}-6α-hydroxy-5α-pregn-9(11)-en-20-one-3β-yl sulfate Đây là
asterosaponin hiếm với chuỗi carbohydrate gồm duy nhất hai dạng đơn vị
đường β-D-fucopyranosyl và β-D-quinovopyranosyl Như vậy, AP11 là chất
mới và lần đầu tiên được phân lập từ tự nhiên và được đặt tên là
Trang 14Bảng 4.9: Dữ liệu phổ NMR của chuỗi đường của hợp chất AP11
Trang 153 77,5 4,12 (t, J 8,8 Hz) H-1 Qui4
4 75,5 4,01 (t, J 8,7 Hz) H-6 Qui4
5 73,4 3,70 m H-1 Qui4
6 17,8d 1,79 (d, J 6,1 Hz) H-4 Qui4 C-4, C-5 Qui 4
a C 5 D 5 N, b 500,13 MHz, c 125,75 MHz, d các vị trí có thể hoán đổi cho nhau
4.2 Chuyển hóa hóa học của cholesterol
Các hợp chất polyhydroxysteroid, hydroximinosteroid có mạch nhánh giống cholesterol được đánh giá là các hợp chất tiềm năng có hoạt tính gây độc trên nhiều dòng tế bào ung thư Vì vậy, cholesterol (hợp
chất AP7) được lựa chọn làm nguyên liệu đầu cho các phản ứng chuyển hóa tạo các sản phẩm hydroxyl và oxime hóa
4.2.1 Chuyển hóa các dẫn xuất polyhydroxysteroid
Cholesterol được hydroxyl hóa để tạo ra nhiều nhóm OH xung quanh
vị trí nối đôi C5/C6 Các tác nhân hydroxyl hóa được sử dụng chủ yếu là các tác nhân oxy hóa và có khả năng tạo sản phẩm dạng diol Bảy hợp chất
polyhydroxysteroid (15c-21c) đã được tổng hợp từ cholesterol theo sơ đồ 4.1
dưới đây
Sơ đồ 4.1 Tổng hợp các dẫn xuất polyhydroxysteroid từ cholesterol