1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu một số cơ sở khoa học chuyển hoá rừng trồng keo tai tượng (acacia mangium willd) kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn ở bắc giang

160 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 4,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Luận án xác định các mục tiêu nghiên cứu bao gồm : Về lý luận Xác định được một số cơ sở khoa học của việc chuyển hóa rừng trồngKeo tai tượng cung cấp gỗ nhỏ thành

Trang 1

PHẠM QUỐC CHIẾN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CƠ SỞ KHOA HỌC CHUYỂN HÓA

RỪNG TRỒNG KEO TAI TƯỢNG (ACACIA MANGIUM WILLD)

KINH DOANH GỖ NHỎ THÀNH RỪNG KINH DOANH GỖ LỚN

Ở BẮC GIANG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP

Hà Nội, năm 2020

Trang 2

NCS PHẠM QUỐC CHIẾN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CƠ SỞ KHOA HỌC CHUYỂN HÓA

RỪNG TRỒNG KEO TAI TƯỢNG (ACACIA MANGIUM WILLD)

KINH DOANH GỖ NHỎ THÀNH RỪNG KINH DOANH GỖ LỚN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả phân tích nêu trong luận án là trung thực và chưa từng đượccông bố trong bất kỳ công trình nào Những số liệu kế thừa đã được chỉnguồn gốc rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận án

Phạm Quốc Chiến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Ban Khoa học,Đào tạo và Hợp tác quốc tế; Viện Nghiên cứu Lâm sinh thuộc Viện Khoa họclâm nghiệp Việt Nam; Lãnh đạo Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp; Dự ánPhát triển ngành Lâm nghiệp đã quan tâm, chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợitrong quá trình đào tạo và nghiên cứu, hoàn thiện luận án!

Trong thời gian thực hiện luận án, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, chỉbảo tận tình của các thầy giáo hướng dẫn khoa học TS Đặng Thịnh Triều và

TS Đặng Văn Thuyết Tác giả cũng nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình và hiệuquả của Ths Lò Quang Thành, Ths Dương Quang Trung; Ths Trần Anh Hảithuộc Viện nghiên cứu lâm sinh - Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam Quađây, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất!

Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ths Hoàng VănChúc – Chủ tịch hội đồng thanh viên; anh Hoàng Văn Khang, cán bộ kỹ thuậtcùng toàn thể cán bộ, nhân viên công ty TNHH Hai thành viên Lâm nghiệpYên Thế, tỉnh Bắc Giang đã cho phép và hỗ trợ tôi khi làm thí nghiệm và thuthập số liệu tại hiện trường!

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, gia đình vàbạn bè đồng nghiệp đã hỗ trợ động viên để tác giả hoàn thành luận án này!

Với tất cả nỗ lực của bản thân, tuy nhiên, do trình độ và thời gian hạnchế nên luận án không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhậnđược những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học và đồng nghiệp

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả

Phạm Quốc Chiến

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG VII DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁN 1 2 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 3 2.1 Ý nghĩa khoa học 3

2.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3 4 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 4 4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Giới hạn nghiên cứu 4

5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 5 6 CẤU TRÚC LUẬN ÁN 5 CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN 6 1.2 TRÊN THẾ GIỚI 7 1.2.2 Những nghiên cứu về tỉa thưa rừng trồng 8

1.2.3 Nghiên cứu về ảnh hưởng của tỉa thưa đến các sinh trưởng cây 10

1.2.4 Nghiên cứu về ảnh hưởng của tỉa thưa đến năng suất, chất lượng gỗ và hiệu quả kinh tế rừng trồng 14

1.3 Ở VIỆT NAM 14 1.3.1 Nghiên cứu về tỉa thưa rừng trồng 14

1.3.3 Nghiên cứu về ảnh hưởng của tỉa thưa đến chất lượng gỗ và hiệu quả kinh tế rừng trồng 20

1.4 THẢO LUẬN CHUNG 24 CHƯƠNG 2

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 26 2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 2.2.1 Quan điểm và cách tiếp cận 27

2.2.2 Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 28

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu 31

2.2.3.1 Phương pháp đánh giá thực trạng chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn tại Bắc Giang 31

2.2.3.2 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng rừng trồng Keo tai tượng 32

iii

Trang 6

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 THỰC TRẠNG CHUYỂN HÓA RỪNG TRỒNG GỖ NHỎ THÀNH RỪNG GỖ LỚN TẠI BẮC GIANG 42 3.1.1 Tình hình chung về trồng rừng nguyên liệu tại Bắc Giang 42

3.1.2 Thực trạng trồng rừng gỗ lớn và chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn tại Bắc Giang 44

3.2 ẢNH HƯỞNG CỦA TỈA THƯA ĐẾN SINH TRƯỞNG RỪNG TRỒNG KEO TAI TƯỢNG 49 3.2.1 Tỷ lệ sống 49

3.2.2 Chỉ số diện tích lá và quang hợp 54

3.2.2.1 Chỉ số diện tích lá và độ tàn che 54

3.2.2.2 Cường độ quang hợp 56

3.2.3 Đường kính ngang ngực và tiết diện ngang 57

3.2.3.1 Phân bố số cây theo cỡ kính 57

3.2.3.2 Sinh trưởng đường kính ngang ngực 65

3.2.3.3 Tiết diện ngang của Keo tai tượng 69

3.2.4 Chiều cao của Keo tai tượng 72

3.2.5 Đường kính tán lá của Keo tai tượng 76

3.2.6 Trữ lượng rừng Keo tai tượng 77

3.3 ẢNH HƯỞNG CỦA TỈA THƯA ĐẾN CHẤT LƯỢNG GỖ XẺ 83 3.3.1 Chiều dài đoạn gỗ lớn 83

3.3.2 Khối lượng gỗ 84

3.3.3 Khối lượng sản phẩm sơ chế và sản phẩm phụ 87

3.3.4 Số lượng mắt trên thân 88

3.3.5 Tỉ lệ gỗ lõi, gỗ dác 90

3.3.6 Tỷ lệ sử dụng gỗ xẻ 93

3.4 HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA RỪNG KEO TAI TƯỢNG SAU TỈA THƯA, CHUYỂN HÓA 94 3.4.1 Hiệu quả kinh tế khi bán gỗ tại Bãi 1 94

3.4.2 Hiệu quả kinh tế khi bán sản phẩm sơ chế 97

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

KẾT LUẬN 99 1 ẢNH HƯỞNG CỦA TỈA THƯA ĐẾN SINH TRƯỞNG KEO TAI TƯỢNG 99 1.1 Ảnh hưởng của tỉa thưa đến tỷ lệ sống 99

1.2 Chỉ số diện tích tán lá và độ tàn che 99

1.3 Cường độ quang hợp 99

1.4 Ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng cây 100

3 HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA RỪNG TỈA THƯA, CHUYỂN HÓA 100 TỒN TẠI 101 CHƯA TÌM ĐƯỢC THỜI ĐIỂM KHAI THÁC MANG LẠI HIỆU QUẢ KINH TẾ CAO NHẤT TRONG TRỒNG RỪNG KEO TAI TƯỢNG Ở NƠI NGHIÊN CỨU 101 KIẾN NGHỊ 101 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 102

2 PHẠM QUỐC CHIẾN, LÒ QUANG THÀNH, ĐẶNG THỊNH TRIỀU, DƯƠNG QUANG TRUNG (2019), ẢNH HƯỞNG CỦA TỈA THƯA ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA KEO TAI TƯỢNG (ACACIA

iv

Trang 7

MANGIUM WILLD) TẠI YÊN THẾ, BẮC GIANG TẠP CHÍ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP SỐ 3- 2019 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

IRR (%) Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

BẢNG 2 1: MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ LÔ RỪNG ĐƯỢC LỰA CHỌN

ĐỂ LÀM THÍ NGHIỆM BẢNG 2.2: MẬT ĐỘ VÀ SỐ CÂY TRONG CÁC CÔNG THỨC THÍ NGHIỆM BẢNG 2.3: KÍCH THƯỚC THANH GỖ VÀ GIÁ BÁN SẢN PHẨM BẢNG 3.1: DIỆN TÍCH RỪNG TRỒNG CÓ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT

GỖ LỚN TẠI BẮC GIANG BẢNG 3.2: QUY HOẠCH TRỒNG RỪNG GỖ LỚN ĐẾN NĂM 2020 TỈNH BẮC GIANG BẢNG 3.3A: DIỆN TÍCH RỪNG TRỒNG GỖ LỚN CỦA DỰ ÁN TẠI BẮC GIANG BẢNG 3.3B: CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG RỪNG GỖ LỚN TẠI BẮC GIANG BẢNG 3.4: SINH TRƯỞNG CỦA KEO TAI TƯỢNG TRONG CÁC

MÔ HÌNH CHUYỂN HÓA TẠI BẮC GIANG BẢNG 3.5: TỶ LỆ SỐNG CỦA KEO TAI TƯỢNG SAU 5 NĂM THÍ NGHIỆM BẢNG 3.6: TỶ LỆ CÂY CHẾT DO CÁC NGUYÊN NHÂN THEO THỜI GIAN BẢNG 3.7: CƯỜNG ĐỘ QUANG HỢP CỦA KEO TAI TƯỢNG TẠI CÁC THỜI ĐIỂM KHÁC NHAU TRONG NGÀY BẢNG 3.8: SINH TRƯỞNG ĐƯỜNG KÍNH CỦA KEO TAI TƯỢNG SAU 5 NĂM TỈA THƯA BẢNG 3.9: TĂNG TRƯỞNG ĐƯỜNG KÍNH CỦA KEO TAI TƯỢNG SAU 5 NĂM TỈA THƯA BẢNG 3.10: TIẾT DIỆN NGANG CỦA RỪNG KEO TAI TƯỢNG SAU

5 NĂM TỈA THƯA BẢNG 3.11: TĂNG TRƯỞNG TIẾT DIỆN NGANG CỦA RỪNG KEO TAI TƯỢNG SAU 5 NĂM TỈA THƯA BẢNG 3.12: CHIỀU CAO CỦA KEO TAI TƯỢNG SAU 5 NĂM TỈA THƯA

Trang 10

BẢNG 3 13: TĂNG TRƯỞNG CHIỀU CAO CỦA KEO TAI TƯỢNG SAU 5 NĂM TỈA THƯA BẢNG 3.14: TỶ LỆ ĐƯỜNG KÍNH VÀ CHIỀU CAO CỦA KEO TAI TƯỢNG SAU 5 NĂM TỈA THƯA BẢNG 3.15: ĐƯỜNG KÍNH TÁN LÁ CỦA KEO TAI TƯỢNG SAU 5 NĂM TỈA THƯA BẢNG 3 16: TRỮ LƯỢNG GỖ SAU 5 NĂM THÍ NGHIỆM TỈA THƯA BẢNG 3 17: TỶ LỆ GỖ GIỮA CÔNG THỨC TỈA THƯA SO VỚI KHÔNG TỈA TRƯỚC VÀ SAU THÍ NGHIỆM BẢNG 3.18: TRỮ LƯỢNG GỖ TRONG CÁC CÔNG THỨC TỈA THƯA SO VỚI KHÔNG TỈA BẢNG 3 19: CHIỀU DÀI ĐOẠN GỖ LỚN SO VỚI CHIỀU CAO CÂY TRONG THÍ NGHIỆM TỈA THƯA BẢNG 3 20: KHỐI LƯỢNG GỖ TRONG CÁC THÍ NGHIỆM TỈA THƯA BẢNG 3.21: KHỐI LƯỢNG SẢN PHẨM GỖ DĂM VÀ GỖ THANH TRONG THÍ NGHIỆM TỈA THƯA BẢNG 3 22: SỐ LƯỢNG VÀ KÍCH THƯỚC MẮT GỖ TRONG THÍ NGHIỆM TỈA THƯA BẢNG 3.23: TỶ LỆ GỖ LÕI, GỖ DÁC TRONG THÍ NGHIỆM TỈA THƯA BẢNG 3 24: TỶ LỆ SỬ DỤNG GỖ XẺ PHÂN THEO LOẠI SẢN PHẨM BẢNG 3.25: HIỆU QUẢ KINH TẾ KHI BÁN GỖ TẠI BÃI 1 CỦA RỪNG KEO TAI TƯỢNG TỈA THƯA TẠI YÊN THẾ, BẮC GIANG BẢNG 3 26: HIỆU QUẢ KINH TẾ KHI BẢN SẢN PHẨM SƠ CHẾ CỦA RỪNG KEO TAI TƯỢNG TỈA THƯA TẠI YÊN THẾ, BẮC GIANG

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang 12

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Ngành công nghiệp chế biến gỗ ở nước ta đang phát triển với tốc độ rấtnhanh và đã đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu Năm 2010, kimngạch xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ Việt Nam chỉ đạt trên 3 tỷ Đô la và phảinhập khẩu gần 80% nguyên liệu từ nước ngoài Tuy nhiên, đến năm 2018,tổng kim ngạch xuất khẩu lâm sản của Việt Nam đã đạt 9,3 tỷ Đô la và gỗtrong nước đã đáp ứng được 75% nguyên liệu cho sản xuất (Tổng cục Lâmnghiệp, 2018) [27] Theo Bộ NN&PTNT đến năm 2025 kim ngạch xuất khẩu

đồ gỗ và lâm sản của nước ta sẽ phấn đấu đạt 25 tỷ USD Để đạt được mụctiêu trên thì việc phát triển vùng nguyên liệu cung cấp gỗ xẻ cho ngành chếbiến gỗ của nước ta là rất quan trọng Định hướng của Bộ NN&PTNT đếnnăm 2020 sẽ xây dựng vùng trồng rừng gỗ lớn tập trung với diện tích khoảng1,2 triệu ha để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; Nâng cao chấtlượng rừng để đạt sản lượng gỗ thương phẩm đạt 80% trữ lượng, trong đó40% gỗ lớn và 60% gỗ nhỏ (Bộ NN&PTNT, 2013) [4] Giai đoạn 2014 –

2020 tại 19 tỉnh thuộc 3 vùng: Đông Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Duyên hảiNam trung Bộ dự kiến chuyển hóa 110.000 ha rừng trồng hiện có sang kinhdoanh gỗ lớn (gỗ xẻ); trồng mới 100.000 ha và trồng lại 165.000 ha với kinhdoanh gỗ lớn (Bộ NN&PTNT, 2014) [5] Đối với Bắc Giang, định hướng đếnnăm 2020 sẽ trồng 29.000 ha rừng tập trung, áp dụng các tiến bộ khoa học -

kỹ thuật, công nghệ, giống mới vào trồng rừng nhằm nâng cao năng xuất rừngtrồng bình quân lên 20 m3/ha/năm; đến năm 2020 diện tích kinh doanh gỗ lớnkhoảng 7.200 ha, chiếm 10% diện tích rừng trồng sản xuất (UBND tỉnh BắcGiang (2014) [33]

Trang 14

Theo Tổng cục Lâm nghiệp (2019) [30], đến năm 2018, diện tích rừngtrồng sản xuất các loài Keo của nước ta đạt 1.515.898 ha, chiếm 53,6% tổngdiện tích rừng trồng sản xuất toàn quốc, trong đó, diện tích trồng Keo taitượng thuần loài chiếm khoảng 50% Đa số rừng được trồng với mật độ dày(>1600 cây/ha) để cung cấp gỗ nhỏ cho nguyên liệu giấy hoặc làm dăm gỗ.Riêng tỉnh Bắc Giang những năm gần đây, trồng rừng sản xuất phát triểnmạnh, bình quân mỗi năm toàn tỉnh trồng từ 6000 - 7000 ha rừng, tập trung ở

4 huyện miền núi Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Thế Cũng như hiệntrạng chung toàn quốc hầu hết diện tích rừng này được trồng và khai thác vớichu kỳ ngắn, 5-7 năm, mật độ dày (> 1600 cây/ha) để cung cấp gỗ nhỏ làmnguyên liệu giấy, sản xuất gỗ dăm kết hợp lấy một phần gỗ lớn làm gỗ xẻhoặc gỗ bóc ván mỏng

Keo tai tượng kinh doanh gỗ nhỏ thường được khai thác sau khi trồng4-6 năm để cung cấp nguyên liệu sản xuất giấy và gỗ ép nên giá trị kinh tếthấp, với mức giá nguyên liệu giấy chỉ được khoảng từ 600-800 triệuđồng/m3, trong khi với nguyên liệu gỗ xẻ, người dân có thể bán với giá caogấp đôi (Bùi Chính Nghĩa, 2018) [20] Từ những hạn chế về hiệu quả kinh tếtrong việc trồng rừng kinh doanh gỗ nhỏ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn đã đề ra mục tiêu thiết lập 201.220 ha rừng trồng gỗ lớn trong đó chuyểnhóa 28.658 ha từ rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng trồng gỗ lớn [20]

Hiện nay, việc tỉa thưa để chuyển hóa rừng trồng cung cấp gỗ nhỏ thànhrừng gỗ lớn đã được người trồng rừng quan tâm Một số công trình nghiêncứu về tỉa thưa để chuyển hoá rừng gỗ lớn cũng đã được thực hiện nhằm đưa

ra các biện pháp kỹ thuật và quản lý phù hợp nhất để tối ưu hoá hiệu quả kinhdoanh (Vũ Đức Bình và cộng sự, 2019; Trần Lâm Đồng, 2018; Vu DinhHuong, 2016) ([2, 13, 92]) Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về vấn đềnày chưa nhiều, đặc biệt việc nghiên cứu sâu về độ tàn che, chỉ số diện tích tán lá

Trang 15

và quang hợp mới chỉ được nghiên cứu cho Keo lai (Vu Dinh Huong, 2016) [92],còn đối với Keo tai tượng, hầu như chưa được thực hiện ở Việt Nam

Keo tai tượng là một trong 3 loài gỗ lớn thuộc chi Keo (Acacia) đượctrồng rộng rãi ở Việt Nam nhưng thường được trồng với mật độ cao, chu kỳngắn để kinh doanh gỗ nguyên liệu giấy hoặc dăm Những đối tượng rừng nàykhá thích hợp cho tỉa thưa để chuyển hóa thành rừng cung cấp gỗ lớn Tuynhiên, cần có những nghiên cứu thêm về cơ sở khoa học cũng như hiệu quảkinh tế của việc chuyển hóa trước khi áp dụng rộng rãi

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, đề tài “Nghiên cứu một số cơ sơ khoa học chuyển hoá rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn ơ Bắc Giang” đã được

lựa chọn nhằm xác định những cơ sở khoa học cho việc chuyển hóa rừngtrồng kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn, góp phần phát triểnkinh tế cho người dân trồng rừng ở khu vực nghiên cứu

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

3 Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định các mục tiêu nghiên cứu bao gồm :

Về lý luận

Xác định được một số cơ sở khoa học của việc chuyển hóa rừng trồngKeo tai tượng cung cấp gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn tại Yên Thế, BắcGiang

Về thực tiễn

Trang 16

Xác định được ảnh hưởng của tỉa thưa đến một số chỉ tiêu sinh trưởngcủa rừng trồng Keo tai tượng tại Yên Thế, Bắc Giang

Xác định được mật độ tốt nhất để lại sau tỉa thưa cho năng suất, chấtlượng và hiệu quả kinh tế cao hơn so với không tỉa rừng Keo tai tượng tại YênThế, Bắc Giang

4 Đối tượng, địa điểm và giới hạn nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là rừng trồng Keo tai tượng tại Yên Thế, BắcGiang

4.2 Giới hạn nghiên cứu

Luận án nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng cây, chấtlượng gỗ và hiệu quả kinh tế của rừng Keo tai tượng 3; 4 và 5 tuổi sau khitỉa thưa 5 năm, trong đó:

- Giới hạn cụ thể về nội dung nghiên cứu:

+ Nội dung 1: Đánh giá hiện trạng chuyển hóa rừng trồng kinh doanh

gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn tại Bắc Giang Nội dung này luận án chỉ tập trungvào việc đánh giá diện tích rừng trồng Keo tai tượng, tình hình chuyển hóarừng trồng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn (thời gian, quy mô, địa điểm, sinhtrưởng cây); thuận lợi, khó khăn trong việc chuyển hóa rừng trồng

+ Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng rừng

trồng Keo tai tượng (bao gồm đường kính ngang ngực, tiết diện ngang; đườngkính tán lá, chiều cao, trữ lượng; chỉ số diện tích lá; độ tàn che; quang hợp)

+ Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng tỉa thưa đến chất lượng gỗ Keo tai

tượng (bao gồm số lượng mắt gỗ; tỷ lệ gỗ lõi, gỗ dác; tỷ lệ lợi dụng gỗ xẻ)

+ Nội dung 4: Đánh giá hiệu quả kinh tế rừng trồng Keo tai tượng sau

tỉa thưa, chuyển hóa theo hai kịch bản là hiệu quả kinh tế khi bán gỗ tại Bãi

1 và hiệu quả kinh tế khi bán sản phẩm sơ chế

- Giới hạn cụ thể về địa điểm nghiên cứu:

Trang 17

+ Nội dung 1: sẽ được đánh giá trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Giang bao

gồ các huyện Sơn Động; Lục Ngạn; Lục Nam và Yên Thế

+ Nội dung 2,3,4: Sẽ được thực hiện trên địa bàn huyện Yên Thế

- Giới hạn về thời gian nghiên cứu: Luận án sẽ được thực hiện trong 5năm từ 2013 – 2018

5 Những đóng góp của luận án

- Đã xác định được ảnh hưởng của tỉa thưa đến một số chỉ tiêu sinhtrưởng, năng suất và chất lượng gỗ xẻ của rừng trồng Keo tai tượng tại YênThế, Bắc Giang

- Đã xác định được hiệu quả kinh tế của việc chuyển hóa rừng trồngKeo tai tượng kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng Keo tai tượng kinh doanh gỗ lớntại Bắc Giang

6 Cấu trúc luận án

Luận án gồm 117 trang (không kể phụ lục), có 30 bảng biểu, 02 hình vẽ

sơ đồ, 14 biểu đồ Tham khảo 99 tài liệu trong đó 33 tài liệu tiếng Việt, 65 tàiliệu tiếng nước ngoài, có liên quan đến chủ đề nghiên cứu và 01 trang web

Luận án được cấu trúc thành 3 chương và hai phần (phần mở đầu và kết luận)

như sau:

- Phần Mở đầu: 5 trang

- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 20 trang

- Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu: 16 trang

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 59 trang

Trang 18

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Một số khái niệm có liên quan

Khái niệm gỗ lớn và rừng trồng gỗ lớn:

Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11567-1:2016:

Gỗ lớn: là gỗ có đường kính đầu nhỏ lớn hơn hoặc bằng 15 cm và

chiều dài lớn hơn hoặc bằng 2 m

Khái niệm rừng trồng gỗ lớn:

Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11567-1:2016:

Rừng trồng gỗ lớn là rừng trồng với mục đích cung cấp gỗ lớn với tỷ lệ

gỗ lớn đạt ≥ 70%

Theo Thông tư 29/2018/TT-BNNPTNT, ngày 16 tháng 11 năm 2018 vềquy định các biện pháp lâm sinh thì Rừng trồng gỗ lớn là rừng có tổi thiểu70% số cây đứng trên một đơn vị diện tích có đường kính tại 1,3m từ 20 cmtrở lên đối với cây sinh trưởng nhanh

Khái niệm chuyển hóa rừng:

Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11567-1:2016:

Chuyển hóa rừng là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đểthay đổi mục đích kinh doanh, quản lý của rừng

Đối với chuyển hóa rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinhdoanh gỗ lớn thì nguyên lý chuyển hóa được xác định như sau:

- Chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn dựa trên nguyên lý tạođiều kiện và môi trường để cây cá thể và toàn lâm phần sinh trưởng nhanhhơn, đặc biệt là sinh trưởng đường kính để nhanh chóng đạt tiêu chuẩn gỗ lớn

- Về nguyên lý, có ba cách để gia tăng sinh trưởng đường kính cây: (i)Kéo dài thời gian sinh trưởng; (ii) Điều chỉnh không gian sinh trưởng hợp lý

để cây phát triển về đường kính; và (iii) Cải thiện điều kiện dinh dưỡng chocây thông qua bón phân

Trang 19

- Về kéo dài thời gian sinh trưởng: chu kỳ kinh doanh ba loài cây keo

sẽ được kéo dài đến >10 tuổi để sản xuất gỗ lớn thay vì 6-8 năm trong

kế hoạch sản xuất gỗ nhỏ

1.2 Trên thế giới

1.2.1 Tình hình phát triển rừng trồng Keo tai tượng

Vùng sinh thái của Keo tai tượng thường là nhiệt đới ẩm, với mùa khôngắn (4 - 6 tháng), lượng mưa trung bình từ 1.446 mm đến 2.970 mm Nhiệt

độ trung bình tháng thấp nhất là 13 - 210C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất

là 25 -320C (Awang Kamis and David Taylor, 1993) [40] Keo tai tượng là câymọc nhanh, xanh quanh năm, trong điều kiện thuận lợi Keo tai tượng sinhtrưởng quanh năm, tuy nhiên ở Thái Lan trong điều kiện nhiệt độ thấp, mưa ít,cây sinh trưởng chậm hoặc ngừng sinh trưởng (Atippanumpai L, 1989) [39].Keo tai tượng có chu kỳ sống tương đối ngắn, khoảng từ 30 - 50 năm, cây cóthể sinh trưởng ở những nơi có biên độ pH từ 4,5 đến 6,5 Keo tai tượng đôikhi có nhiều thân, nguyên nhân chưa được nghiên cứu kỹ, tuy nhiên có thể do

độ phì đất, cạnh tranh về điều kiện sống (Turvey ND, 1995) [91]

Diện tích rừng trồng Keo tai tượng ngày càng tăng lên trong nhữngnăm gần đây ở Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia và Việt Nam Indonesia lànhững nước trồng Keo tai tượng nhiều nhất thế giới, với diện tích khoảng 1,2triệu ha (Nirsatmanto và cộng sự, 2004) [81] Loài keo này đã thể hiện khảnăng thích ứng cao với các lập địa thoái hóa, sinh trưởng nhanh và các tínhchất gỗ đáp ứng được yêu cầu cho công nghiệp chế biến gỗ [81]

Keo tai tượng đã được đưa vào trồng ở Trung Quốc từ những năm

1960, tới năm 1997 đã có khoảng 200.000 ha được trồng ở phía Nam TrungQuốc gồm 4 tỉnh là Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam Tốc độtrồng rừng hàng năm khoảng 20.000 ha/năm Các nghiên cứu đã được tiếnhành cho đối tượng này khá đầy đủ như khả năng cố định đạm (cây hấp thụ

Trang 20

153,8 kg nitơ/ha) và kỹ thuật trồng rừng thâm canh đã được chấp nhận thaycho phương pháp quảng canh vốn có (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003)[21].

Ở Papua New Guinea từ năm 1950, có khoảng 60.000 ha rừng trồngcác loài keo, trong đó Keo tai tượng chiếm khoảng 15-16 % Sinh trưởngchiều cao của Keo tai tượng trên các lập địa tốt đạt 5 m/năm trong 2,5 nămđầu (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [21]

Ở Indonesia, việc trồng Keo tai tượng với mục đích thương mại đãđược triển khai từ đầu những năm 1980, đến năm 1990 đã có xấp xỉ 38.000

ha rừng trồng Keo tai tượng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy và gỗ xẻ(Werren, M., 1991) [94]

Đến hết năm 2013, cây Keo tai tượng được gây trồng và phát triểnnhiều ở Indonesia (300.000 - 500.000 ha), Malaysia (250.000ha), Việt Nam(600.000ha) (Lydie-Stella Koutika và David M Richardson, 2019) [73].Ngoài ra Keo tai tượng còn được trồng tại các nước Bangladesh, Ấn Độ, Lào,Sri Lanka, Congo, Bờ biển ngà, Kenya, Zimbabwe, Brazin, Costa Rica, Cuba,

Mỹ và một số nơi khác trên thế giới (http://www.cabicompendium.org, 2006)[99]

1.2.2 Những nghiên cứu về tỉa thưa rừng trồng

Tỉa thưa là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng có ảnh hưởng

rõ rệt đến cấu trúc, sinh trưởng, phát triển, sản lượng, chất lượng và cơ cấu sảnphẩm rừng trồng Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về biện pháp

kỹ thuật chặt nuôi dưỡng rừng và tỉa rừng trồng, đã đạt được những kết quảnhất định, góp phần thúc đẩy sinh trưởng cho những cây có phẩm chất tốt nhất

mà không gây ảnh hưởng lớn đến cấu trúc rừng (Wenger K.F.1984; RollinsonT.J.D,1988) [93, 85]; tỉa thưa nhằm thay đổi không gian sinh dưỡng của câygiúp sinh trưởng của những cây để lại tốt hơn (Lars Rytter, 1994; Medhurst vàcộng sự, 2002; Suzane và cộng sự, 2003; Harri Makinen và Antti Isomäki,

Trang 21

2004a; Beadle C, 2006; Forrester và cộng sự, 2013) [69, 77, 89, 59, 41, 54].Mặt khác, tùy vào loài và thời gian tỉa thưa mà lâm phần có những phản ứngkhác nhau sau khi tỉa thưa (Medhurst J.L và cộng sự, 2002; Vu Dinh Huong vàcộng sự, 2016) [77, 92]

Chặt nuôi dưỡng rừng

Theo Wenger K.F (1984) [93], “chặt nuôi dưỡng là biện pháp chính đểnuôi dưỡng rừng bằng cách chặt bớt đi một số cây rừng nhằm tạo điều kiệncho những cây có phẩm chất tốt được giữ lại sinh trưởng, nuôi dưỡng hìnhthân, tạo tán, tăng lượng sinh trưởng, cải thiện chất lượng gỗ và nâng caochức năng khác của rừng” Chặt nuôi dưỡng phải đạt được các mục đích: (i)Mật độ lâm phần giảm xuống cải thiện điều kiện sinh trưởng của cây rừng;(ii) Xúc tiến sinh trưởng cây rừng, rút ngắn thời gian; (iii) Loại bỏ được chấtlượng gỗ xấu, nâng cao chất lượng lâm phần; (iv) Lợi dụng sớm nâng caođược tổng lượng gỗ; (v) Cải thiện vệ sinh lâm phần tăng được sức đề khángcủa lâm phần; và (vi) Xây dựng kết cấu lâm phần thích hợp, phát huy hiệunăng đa dạng của rừng (Shen Guofang, 2001) [88]

Chặt nuôi dưỡng rừng thường chia làm 2 loại: (1) Chặt thấu quang: chủyếu là tỉa thưa loại bỏ cây nơi có mật độ dày, để lại cây tốt, loại cây xấu; chặtthấu quang bao gồm cả nhiệm vụ chặt thấu quang và chặt loại trừ; (2) Chặtsinh trưởng: Sau khi chặt thấu quang, cây rừng bước vào giai đoạn rừng mọcnhanh cần tiến hành chặt sinh trưởng để cây rừng mau chóng đạt thành thục

Ở Mỹ chặt nuôi dưỡng gồm 5 loại: (1) Chặt loại trừ, chặt những câychèn ép, không dùng, thứ yếu; (2) Chặt tự do, chặt bỏ những cây gỗ tầng trên;(3) Chặt tỉa thưa, giống như chặt tỉa thưa và chặt sinh trưởng; (4) Chặt chỉnh

lý, chặt các cây thứ yếu, hình dáng và sinh trưởng kém; (5) Chặt gỗ thải, chặtcác cây bị hại Tuy nhiên, áp dụng chặt nuôi dưỡng cho chặt chuyển hoá rừngcần phải quan tâm đến điều kiện thực tế của lâm phần nghĩa là chặt chuyểnhoá là chặt nuôi dưỡng nhưng cần phải bài chặt cả những cây có đủ không

Trang 22

gian dinh dưỡng nhưng không có khả năng sinh trưởng thành cây gỗ lớn đồngthời chặt chọn ở những khoảng phân bố cụm [dẫn theo Phùng Ngọc Lan vàHoàng Kim Ngũ, 2005) [17].

Tỉa thưa rừng trồng

Tỉa thưa trong rừng trồng là loại bỏ những cây xấu, yếu, những cây phimục đích để điều tiết không gian dinh dưỡng, hạn chế cạnh tranh về mặtkhông gian dinh dưỡng trong rừng dựa trên cơ sở lý luận là quy luật phân hóa

và tỉa thưa tự nhiên của cây rừng trong lâm phần Vì vậy, thời điểm và cường

độ tỉa thưa thích hợp tùy thuộc vào mục đích kinh doanh rừng, đặc điểm sinhhọc từng loài cây, sức sinh trưởng của cây và khoảng cách trồng trong các lâmphần cụ thể Tỉa thưa thường được tiến hành ở rừng sau khép tán với mục tiêunhằm điều chỉnh mật độ sao cho lâm phần luôn tiệm cận với mật độ tối ưu đểthúc đẩy sinh trường đường kính, chiều cao để có thể thu được năng suất lâmphần cao nhất (Rollinson T.J.D, 1988) [85]

Nicholas I D (1988) [79] dựa vào chỉ tiêu đường kính tán làm căn cứ

để xác định mật độ cuối cùng để lại sau các lần tỉa thưa, lợi dụng tối đa sựtăng trưởng về đường kính của cây trồng trong chu kỳ kinh doanh 40 năm tạiNewzealand [82] Theo đó, trên lâm phần rừng trồng với mật độ ban đầu1.500 cây/ha, quá trình tỉa thưa được tiến hành theo các giai đoạn: tỉa thưa lần

1 ở tuổi 3 (mật độ để lại 1.000 cây/ha), tỉa thưa lần 2 ở tuổi 10 (150 cây/ha) vàtỉa thưa lần cuối ở tuổi 13 với mật độ để lại 100 cây/ha

Theo Lemmens và cộng sự (1995) [70] đối với rừng trồng keo taitượng nguyên liệu giấy, áp dụng tỉa thưa thường xuyên sau khi cây đạt 18tháng tuổi Đối với rừng trồng keo tai tượng cung cấp gỗ chất lượng cao, lầnđầu tỉa thưa khi cây đạt chiều cao 9m, tương ứng với thời điểm cây khoảng 2tuổi

1.2.3 Nghiên cứu về ảnh hương của tỉa thưa đến các sinh trương cây

Ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng rừng trồng

Trang 23

Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra, tỉa thưa giúp sinh trưởng củanhững cây để lại tốt hơn (Lars Rytter, 1994; Medhurst và cộng s, 2002;Suzane và cộng sự, 2003; Harri Makinen và Antti Isomaki, 2004) [69, 77, 89,57]; những lâm phần được tỉa thưa đường kính bình quân của lâm phầnthường lớn hơn so với những lâm phần không tỉa thưa [57 93]; tỉa thưa giúpcho tán lá có khả năng hấp thụ được nhiều Nitơ hơn so với không tỉa thưa,góp phần vào việc tích lũy dinh dưỡng gia tăng chiều cao của cây Mặt khác,tùy vào loài và thời gian tỉa thưa mà lâm phần có những phản ứng khác nhausau khi tỉa thưa; ở một số trường hợp, tỉa thưa làm giảm tổng tiết diện ngangcủa lâm phần trong một giai đoạn nhất định, đặc biệt là ngay sau khi tỉa(Lydie-Stella Koutika, David M Richardson, 2019) [73]; thậm chí tỉa thưalàm giảm tốc độ tăng trưởng chiều cao cây rừng (Beadle và cộng sự, 2004)[42].

Beadle C và cộng sự (2004) [42] đã áp dụng cường độ tỉa thưa khác

nhau (0%, 33%, 66% và 100%) đối với cây phù trợ (Pinus radiata) tới sinh trưởng cây mục đích (Acacia melanoxylon) tại Australia, sau 2 năm cho thấy,

việc tỉa thưa cây phù trợ đã ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng đường kính,tăng trưởng đạt cao nhất tại công thức tỉa thưa 100% (23 mm/năm), trong khităng trưởng trung bình đạt 14 mm/năm ở các công thức không tỉa thưa

Theo Beadle C (2006), đã đề xuất kỹ thuật tỉa cành và tỉa thưa Keo taitượng cho trồng rừng gỗ lớn ở Indonesia, với mật độ trồng ban đầu là 3 x 3m(1.111 cây/ha), áp dụng 4 lần tỉa cành và tỉa thưa, bao gồm: (i) lần 1 thực hiệnsau từ 4 - 6 tháng kể từ khi trồng, tỉa những cây đa thân chỉ để mỗi gốc 1 thân;(ii) lần 2 khi cây cao 4m, tỉa toàn bộ cành có đường kính > 1,5cm đến độ cao2,5m, đồng thời cứ 5 hàng chặt tỉa 1 hàng để lại mật độ còn 889 cây/ha; (iii)lần 3 tiến hành khi cây cao trung bình 8m, tỉa toàn bộ cành có đường kính >2,0cm và tỉa đến độ cao 3,5m, đồng thời chặt tỉa những cây hình thân xấu,mật độ còn lại 593 cây/ha; và (iv) lần 4 tiến hành khi cây cao trung bình 12m,

Trang 24

tỉa toàn bộ cành đến độ cao 4,5m, đồng thời chặt bỏ những cây có hình thânxấu, mật độ còn lại 296 cây/ha [33] Tuy nhiên, cũng có mặt hạn chế là làmgiảm một số chỉ tiêu về hình thái và chất lượng gỗ rừng trồng Đối với vùng

có nhiều gió bão, mật độ để lại thưa rất dễ bị đổ gãy do bão [41]

Như vậy, trong kinh doanh rừng trồng thuần loài đều tuổi, chặt tỉa thưathường được tiến hành ở giai đoạn sau rừng khép tán với mục tiêu nhằm điềuchỉnh mật độ sao cho lâm phần luôn tiệm cận với mật độ tối ưu để thúc đẩysinh trưởng đường kính, chiều cao để có thể thu được năng suất và chất lượng

gỗ của lâm phần tốt nhất

Ảnh hưởng của tỉa thưa đến chỉ số diện tích tán lá

Chỉ số diện tích lá (LAI) được định nghĩa là tổng diện tích mặt lá trênđơn vị diện tích mặt đất [53] Qua đây có thể đánh giá được hiệu quả sử dụngnước, dinh dưỡng và cân bằng carbon của cây Chỉ số LAI phụ thuộc vào sựphát triển của tán lá, mật độ và tình trạng sinh trưởng của cây Đối với từngloài cây, giống cây có chỉ số diện tích lá thích hợp, giúp cho chúng tạo ra năngsuất kinh tế cao Chỉ số diện tích lá thấp, cây không tận dụng hết ánh sáng vàkhoảng không nên năng suất kinh tế không cao Chỉ số diện tích lá quá cao, láche mất ánh sáng của nhau và tranh chấp không gian sống nên không có năngsuất kinh tế cao Có thể dùng LAI là một đại lượng đặc trưng để mô tả cho táncủa hệ sinh thái Thông qua đó ta có thể dự đoán sản xuất sơ cấp quang hợp,thoát hơi nước và là một công cụ tham khảo cho tăng trưởng cây trồng

Tỉa thưa tác động đến sinh trưởng của cây, qua đó ảnh hưởng đến chỉ số

LAI Nghiên cứu trên loài Acacia tortilis, chỉ số LAI ảnh hưởng bởi chế độ

dinh dưỡng và thời gian trong năm ( Abdalla Elfeel and Refaat Abohassan,2016)[34] Ở những nơi trồng dày, cây phát triển tốt, chỉ số diện tích lá có thểlên đến 400-500% Tỉa thưa không làm thay đổi góc phân cành, số lượngcành và mối quan hệ giữa kích thước cành và diện tích lá (Medhurst J.L.,Pinkard E.A , Beadle C.L and Worledge D, 2002)[77] Tuy nhiên, ở các thí

Trang 25

nghiệm tỉa thưa thường có cành lớn hơn và diện tích tán lá cũng lớn hơn so

với không tỉa Đối với Thông Pinus strobus, tỉa thưa làm giảm chỉ số LAI

nhưng không tỷ lệ thuận với cường độ tỉa thưa vì diện tích tán lá ở những nơitỉa thưa sẽ tăng nhanh theo thời gian so với không tỉa (Christopher H.Guiterman, Robert S Seymour, Aaron R Weiskittel, 2012)[46] Tùy thuộccường độ tỉa thưa, cây có thể lấy lại chỉ số LAI trong thời gian ngắn Ở một sốloài cây lá kim, chỉ số LAI bị ảnh hưởng bởi cường độ tỉa thưa Trung bình,tỉa thưa 33% làm giảm <50% LAI, trong khi tỉa thưa 50% làm giảm > 50%LAI Chỉ số LAI giữa các tầng tán thay đổi theo thời điểm, phương pháp vàcường độ tỉa thưa Ở các mật độ khác nhau, chỉ số LAI ở tầng tán dưới tăngkhi tiết diện ngang giảm, tuy nhiên LAI tổng cộng không bị ảnh hưởng bởitiết diện ngang, hiệu quả tăng trưởng hay dòng chảy nhựa trong thân cây Tán

lá nói chung và tán là Keo tai tượng nói riêng có thể làm giảm bức xạ mặt trời

do đó giảm hiện tượng quang hoá của các tầng bên dưới và bảo vệ các cơquan quang hợp khỏi ánh sáng mạnh Với việc giảm bức xạ mặt trời, các cơquan trong thân cây có khả năng đồng hóa nhiều carbon hơn và tích lũy nhiều

sinh khối hơn dưới mặt đất

*Ảnh hưởng tỉa thưa đến cường độ quang hợp

Sau khi tỉa thưa chế độ ánh sáng của những cây được giữ lại là yếu tốthay đổi rõ ràng và đáng kể nhất (Tang và cộng sự, 2006) )[90] Khả năngquang hợp của lá được tăng cường là do ánh sáng được gia tăng ở các tầng tán(Ginn và cộng sự, 1991, dẫn theo West P W., 2006)[95] Hiệu quả quang hợpngay sau tỉa thưa tăng mạnh sau đó giảm dần khi cây khép tán (Gravatt vàcộng sự, 1997, dẫn theo West P W., 2006)[95]

Khả năng quang hợp (Amax) tăng được quan sát thấy sau khi tỉa thưa chủyếu là sự thay đổi về khả năng quang hợp của lá thành thục ở tầng tán dưới vàgiữa Những sự gia tăng này, kết hợp với sự cải thiện trong môi trường vi môánh sáng, có thể là mấu chốt trong thúc đẩy tăng trưởng của cây sau khi tỉa

Trang 26

thưa Sau khi cây khép tán, chỉ số Amax chỉ ảnh hưởng rất ít đến sự tăng trưởng(Mc Murtrie và cộng sự, 1989)[75], tuy nhiên cây đã có một tỷ lệ cao lá thànhthục quen với điều kiện bão hòa ánh sáng, do đó vẫn có một tác dụng rõ rệttrên sự phát triển cây.

1.2.4 Nghiên cứu về ảnh hương của tỉa thưa đến năng suất, chất lượng gỗ

và hiệu quả kinh tế rừng trồng

Tỉa thưa rừng góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả rừng trồngtheo các mục đích kinh doanh rừng Các công trình nghiên cứu đều cho rằng,tỉa thưa giúp nâng cao năng suất và trữ lượng lâm phần so với không áp dụngtỉa thưa cải thiện chất lượng thân cây để lại (Beadle C, 2006; Nicholas, I.D.and Gifford, H., 1995; Zuhaidi, N.M and A Mohd, 1997) [41], [80], [98].Zuhaidi, N.M và A Mohd (1997) cho biết, tổng trữ lượng đạt cao nhất khi ápdụng tỉa thưa các lâm phần Keo tai tượng 12 tuổi ở Malaysia, đạt 211,77 m3

và thấp nhất, ở các lâm phần không áp dụng tỉa thưa, đạt 199,55 m3 [80]

Phần lớn các nghiên cứu đều cho rằng, áp dụng các biện pháp tỉa thưagóp phần nâng cao năng suất và trữ lượng của lâm phần Tuy nhiên, cũng cónhững nghiên cứu cho thấy, tỉa thưa làm giảm năng suất và trữ lượng lâmphần Ahmad Z.Yahya, (1993) cho rằng, tăng trưởng của tổng tiết diện ngang

và trữ lượng phụ thuộc vào số lượng cây để lại sau khi áp dụng tỉa thưa ở cáccường độ khác nhau, sau 3 năm theo dõi trữ lượng đạt cao nhất khi không ápdụng tỉa thưa (đối chứng), đạt 130,59 m3 và thấp nhất ở công thức tỉa thưa50% ở tuổi 4 (110,56m3) [35]

1.3 Ở Việt Nam

1.3.1 Nghiên cứu về tỉa thưa rừng trồng

Chặt nuôi dưỡng rừng ở Việt Nam mới chỉ tập trung nghiên cứu để ứngdụng cho chặt nuôi dưỡng ở rừng trồng thuần loài đều tuổi Các kết quả đạtđược bước đầu đóng góp đáng kể cho việc từng bước xây dựng hệ thống cácbiện pháp kỹ thuật lâm sinh trong nuôi dưỡng rừng trồng ở Việt Nam Một số

Trang 27

kỹ thuật đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn sản xuất hoặc đã được ban hànhchính thức thông qua các tiêu chuẩn ngành (TCN), hoặc mới đây là nhữngTiêu chuẩn quốc gia (TCVN) trong hệ thống các biện pháp xử lý lâm sinh ởViệt Nam Các tiêu chuẩn ngành trong chặt tỉa thưa rừng Thông nhựa (04TCN 143:2006), rừng Thông đuôi ngựa (04TCN 143:2006), rừng Thông ba lá(04TCN 126:2006), rừng Sa mộc, rừng Mỡ (QTN87), rừng Quế (04TCN127:2006), rừng Keo lá tràm (QPN 19-96), rừng Keo tai tượng (QPN 9-89),rừng Bạch đàn đỏ Mới đây là các TCVN: Rừng gỗ lớn chuyển hóa từ rừngtrồng gỗ nhỏ cho rừng Keo lai (TCVN 11567 -1:2016), rừng Keo tai tượng(TCVN 11567 -2:2016);

Các nghiên cứu về chặt nuôi dưỡng rừng trồng ở Việt Nam tập trungvào biện pháp như cải thiện không gian sinh dưỡng (Giang Văn Thắng, 1995;Kiều Thanh Tịnh, 2002) [23, 28]; tỉa thưa mật độ lâm phần hiện có cho cáclâm phần rừng trồng keo tai tượng (Đặng Văn Thuyết, 2010) [26]; Keo lai(Trần Văn Con và cộng sự, 2010; Phạm Thế Dũng, 2012; Bùi Thanh Hằng,2005; Nguyễn Thanh Minh, 2005; Nguyễn Huy Sơn, 2012; Đặng Văn Thuyết,2012) [9], [10], [16], [18], [22], 27]; Keo lá tràm (Bùi Việt Hải, 1998) [14];loài Mỡ và Sa mộc (Nguyễn Hữu Thiện, 2011) [25] ; hỗn giao Thông đuôingựa với Keo lá tràm (Nguyễn Toàn Thắng và Trần Văn Con, 2006) [24]

Trần Văn Con và cộng sự (2010) đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuậtchuyển hóa rừng sản xuất gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn cho Keo lai vàKeo tai tượng với 2 lần tỉa thưa Tùy vào cấp lập địa, thời điểm tỉa thưa lần 1

có thể ở tuổi 4 - 5 với mật độ để lại 800 - 850 cây/ha và lần 2 ở tuổi 8 - 9 với

số cây để lại 450 - 500 cây/ha Khai thác chính ở tuổi 12 - 15, trong đólượng gỗ đạt tiêu chuẩn gỗ lớn (dự kiến) khoảng 80% [9]

Nguyễn Huy Sơn (2012) cho rằng, tỉa thưa rừng trồng Keo là biện pháp

kỹ thuật lâm sinh hoàn toàn có tính khả thi nhằm chuyển hóa rừng trồng gỗ

Trang 28

nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn - gỗ xẻ và sớm đáp ứng nhu cầu sản xuất hiệnnay Biện pháp kỹ thuật tỉa thưa áp dụng chủ yếu là chặt tỉa tầng dưới, để lạinhững cây từ trung bình trở lên, thân thẳng và chiều cao dưới cành lớn, khảnăng sinh trưởng tốt, số cây phân bố đều trên diện tích đã định [22].

Theo TCVN 11567-2: 2016 quy định yêu cầu kỹ thuật cho rừng Keo taitượng gỗ lớn chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ, với mật độ hiện tại ≥ 1.100cây/ha, sau 4 - 6 năm (tuổi rừng bắt đầu chuyển hóa) ở cấp đất I và sau 5 - 7năm ở cấp đất II [3] Áp dụng tỉa thưa 1 lần, với cường độ tỉa thưa là 50% sốcây, mật độ để lại 550 cây/ha ở cấp đất I và 600 cây/ha ở cấp đất II Áp dụngtỉa thưa 2 lần, với cường độ tối đa là 40% số cây, mật độ còn lại sau tỉa thưalần 1 là 750 cây/ha ở cấp đất I và 800 cây/ha ở cấp đất II; cường độ tỉa thưalần 2 tối đa 35% số cây còn lại, mật độ để lại 500 cây/ha (cấp đất I) và 550cây/ha (cấp đất II) Áp dụng tỉa cành cho các cây mục đích, thời điểm tỉa cànhtrước khi tiến hành tỉa thưa lần đầu (vào mùa khô), chiều cao tỉa cành khôngquá 50% chiều cao vút ngọn của cây Dùng kéo cắt cành chuyên dụng hoặccưa cắt cành sát thân cây, tránh gây xước thân cây

Biện pháp kỹ thuật tỉa thưa rừng trồng nói chung bao gồm: (i) Tỉa thưanhững cây cong queo, sâu bệnh, bị chèn ép, cụt ngọn không đáp ứng đượcmực đích kinh doanh và một số cây sinh trưởng bình thường nhưng mật độ đểlại quá dày; giữ lại cây khỏe mạnh, có tán lá cân đối, thân thẳng, tròn đều; (ii)Cường độ tỉa thưa theo 4 mức khác nhau: mức độ thấp là khoảng cách giữacác cây chừa nhỏ hơn 1/3 đường kính tán cây ở tuổi khai thác chính; mức độtrung bình là khoảng cách iữa các cây chừa từ 1/3 đến dưới 1/2 đường kínhtán cây ở tuổi khai thác chính; mức độ cao là khoảng cách giữa các cây chừa

từ 1/2 đến gần bằng đường kính tán cây ở tuổi khai thác chính; mức độ rất cao

là khoảng cách giữa các cây chừa bằng hoặc lớn hơn đường kính tán cây ởtuổi khai thác chính; (iii) Số lần tỉa thưa từ 01 lần đến 03 lần; kỳ dãn cách từ

Trang 29

03 đến 06 năm phụ thuộc vào loài cây, điều kiện lập địa, tuổi cây và cường độchặt tỉa thưa; tiến hành tỉa thưa lần sau khi rừng đã khép tán sau lần tỉa thưatrước liền kề; (iv) Thời điểm tỉa thưa: vào mùa khô hoặc những tháng ít mưa(trước hoặc sau mùa sinh trưởng); (v) Kỹ thuật chặt tỉa thưa: chiều cao gốcchặt không quá 2/3 đường kính gốc cây chặt, chọn hướng cây đổ để khôngảnh hưởng tới cây giữ lại; không chặt quá 03 cây liền nhau và đảm bảo câygiữ lại phân bố đều trong rừng; (vi) Tỉa cành: tỉa cành cho cây mục đích, cắtcác thân phụ và cành quá lớn, nằm ở phía dưới tán (những cành già, nằm ởdưới 1/3 chiều cao cây); cắt sát với thân cây, tránh làm xước vỏ thân cây (TT29/2018/TT-BNNPTNT, ngày 16/11/2018) [8] 1.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng và năng suất rừng trồng

Tỉa thưa rừng trồng là một trong những biện pháp kỹ thuật liên hoàn cótác dụng hỗ trợ cùng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác làm tăng khả năngsinh trưởng cũng như hiệu quả của rừng trồng (Nguyễn Huy Sơn, 2012) [22].Trong thời gian gần đây đã có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề này cho cácloài cây rừng trồng khác nhau, có thể kể đến các tác giả như: Cây Keo tai tượng(Đặng Văn Thuyết, 2010; Trần Lâm Đồng, 2018; Võ Đại Hải, 2018)[26], [13],[15]; Keo lai (Phạm Thế Dũng, 2012; Võ Đại Hải, 2018; Nguyễn Thanh Minh

và Nguyễn Huy Sơn, 2013[; Beadle cộng sự, 2013) [10], 15], 19], 43], cụ thểnhư sau:

Giang Văn Thắng (1995) khi nghiên cứu ảnh hưởng của chỉ tiêu diệntích sinh trưởng tới tăng trưởng và năng suất rừng trồng Keo tại tượng tạimiền Đông Nam bộ, cho biết diện tích sinh trưởng thích hợp là 8 m2/cây,tương ứng với 1.250 cây/ha Với mật độ này, Keo tai tượng sẽ cho tăngtrưởng và trữ lượng tốt nhất [23]

Đặng Văn Thuyết (2010) sau 2 năm áp dụng tỉa thưa chuyển hóa rừngcung cấp gỗ nhỏ thành gỗ lớn cho rừng keo tai tượng 3 tuổi ở Quảng Ninh với

Trang 30

mật độ trồng ban đầu 2.500 cây/ha cho thấy, tỉa thưa để lại mật độ 1.000 cây/hacho sinh trưởng đường kính cao nhất [26] Cũng theo Đặng Văn Thuyết (2012)cho biết, sau 4 năm tỉa thưa rừng keo lai 5 tuổi ở Quảng Trị, trữ lượng rừng ởmật độ giữ lại 1.000 - 1.200 cây/ha cao hơn so với mật độ để lại 600 cây/hahoặc 800 cây/ha nhưng đường kính ở giai đoạn này chỉ phù hợp với gỗ nhỏ[27].

Phạm Thế Dũng, (2012) cho rằng, mật độ để lại khoảng 600 cây/ha cótổng tiết diện ngang thân cây lớn gần bằng so với đối chứng (không tỉa) đốivới cây Keo lai ở Bình Phước, nhưng tăng trưởng đường kính lại cao hơnkhoảng 3,5cm so với đối chứng Ở Tân Phú (Đồng Nai) và Tây Sơn (BìnhĐình) thì khả năng sinh trưởng đường kính vượt từ 4,5% đến 22,6% và chiềucao vượt từ 0,6 - 16,1% so với không tỉa [10]

Phạm Thế Dũng và cộng sự (2012) khi nghiên cứu về tỉa thưa rừng keolai ở Việt Nam cho biết, nếu để lại mật độ lớn hơn 1000 cây/ha sẽ không thể

có sản phẩm là gỗ xẻ Bởi vì với mật độ 1000 cây/ha thì đường kính chỉkhoảng 13,8cm, nếu cần có đường kính lớn thì số cây phải giảm [10] Nhưvậy, tỷ lệ gỗ xẻ sẽ tăng theo mức độ tỉa thưa và giá trị rừng trồng sẽ cao hơn

so với không tỉa để làm nguyên liệu giấy

Nguyễn Thanh Minh và cộng sự (2013) cho rằng, sau 4 năm trồng rừngKeo lai ở Đông Nam bộ đã có sự cạnh tranh khá mạnh về không gian sinhdưỡng, nên cần phải tỉa thưa vào đầu năm thứ 5, mật độ khi trồng là 1.660cây/ha, năm thứ 5 còn sống khoảng 1.350 cây/ha, tỉa thưa để lại từ 750 - 900cây/ha là phù hợp; nếu tỉa thưa còn từ 450 - 700 cây/ha thì sau 9,5 năm có tới50% trữ lượng gỗ có đường kính ≥ 18cm, nhưng trữ lượng gỗ lại thấp nhất sovới các mật độ lớn hơn [19]

Beadle C và cộng sự (2013) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của tỉa thưađối với rừng keo lai 2,5 tuổi tại Đồng Hới (Quảng Bình), sau 2 năm theo dõi

Trang 31

cho thấy tỉa thưa đã ảnh hưởng rõ rệt đến các chỉ tiêu sinh trưởng của rừngkeo lai [43] Đường kính trung bình đạt 14,5cm (đối chứng - không tỉa thưa),đạt 15,9cm khi áp dụng tỉa thưa để lại mật độ 600 cây/ha; đạt 16,3cm khi ápdụng tỉa thưa để lại mật độ 450 cây/ha; đạt 17,1cm khi áp dụng tỉa thưa để lạimật độ 300 cây/ha Chiều cao cây tương ứng lần lượt đạt 17,3m (đối chứng),17,5m (600 cây/ha), 17,2m (450 cây/ha) và 16,6m (300 cây/ha) Sau 2 năm tỉathưa, lượng gỗ xẻ đạt tương ứng 22,5 m3/ha (600 cây/ha), 20,6 m3/ha (450cây/ha), 22,9 m3/ha (300 cây/ha) và thấp nhất đạt 10,4 m3/ha (khi áp dụng tỉathưa để lại mật độ 871 cây/ha).

Võ Đại Hải (2018) cho biết, biện pháp kỹ thuật tỉa đơn thân và tỉa cànhkeo tai tượng ở Bình Định, keo lá tràm ở Quảng Trị cho sinh trưởng và năngsuất rừng cao hơn rõ rệt so với không áp dụng tỉa [15] Keo tai tượng có ápdụng tỉa thưa ở tuổi 5-6 có sinh trưởng bình quân đạt D = 15,3 cm, Hvn =15,7 m, trữ lượng 127,6 m3/ha; lượng tăng trưởng bình quân chung về đườngkính đạt 2,66 cm/năm, chiều cao 2,73 m/năm, năng suất 21,3 m3/ha/năm.Trong khi ở các lâm phần rừng không tỉa thưa trung bình đạt 15,7 m3/ha/năm.Tương tự, ở Yên Bái, tỉa thân và tỉa cành chưa có sự sai khác sau 36 thángtheo dõi Keo tai tượng tỉa thưa ở 3 tuổi tại Quảng Nam để lại 1.000 cây/ha cóảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng đường kính và làm tăng đánh kể tỷ lệ gỗlớn, nhưng sau 3 năm năng suất rừng sau tỉa thưa vẫn chưa khác biệt so vớirừng không tỉa thưa

Ở Bình Định, tăng trưởng của Keo lai ở các mô hình tỉa thân, tỉa cànhđều cao hơn so với không áp dụng tỉa Ở tuổi 1-2 lượng tăng trưởng bình quânđường kính đạt 2,94cm/năm khi tỉa, so với rừng không tỉa thưa là 1,9cm/năm

Ở tuổi 3-4 lượng tăng trưởng đường kính của rừng tỉa thưa là 2,35cm/năm, sovới 1,7cm/năm so với rừng không áp dụng tỉa thưa (Võ Đại Hải, 2018)[15]

Trần Lâm Đồng (2018) cho biết, tại Yên Bái sau 3 năm tỉa thưa rừngKeo tai tượng ở tuổi 4, 5 sinh trưởng đường kính, chiều cao có sai khác rõ rệt

Trang 32

giữa các công thức tỉa thưa khác nhau [12] Tỉa thưa để lại mật độ 750 cây/hacho sinh trưởng đường kính và chiều cao lớn nhất đạt 19,6cm và 18,0 khi kếthợp bón phân và đạt 18,1cm và 18,3m khi không kết hợp bón phân Tỷ lệ gỗ

có đường kính > 15cm cũng đạt cao nhất (tương ứng là 38,8% và 39,2%, sovới đối chứng (không tỉa thưa) là 21,7% và 22,7%)

Tương tự, tại Nghệ An sau 2 năm tỉa thưa rừng Keo tai tượng ở tuổi 4,sinh trưởng đường kính và chiều cao có sai khác rõ rệt giữa các công thức tỉathưa khác nhau, trong đó, tỉa thưa để lại mật độ 750 cây/ha cho sinh trưởngđường kính và chiều cao lớn nhất, đạt tương ứng 16,5cm và 17,3m (không kếthợp bón phân) và đạt 17,5cm và 18,5m (kết hợp bón phân) Tỷ lệ gỗ có đườngkính > 15cm đạt cao nhất khi áp dụng tỉa thưa để lại mật độ 750 cây/ha, tươngứng 28,1% và 30,3% so với đối ứng (17,3% và 14,6%)

Như vậy, các nghiên cứu đều cho rằng biện pháp kỹ thuật tỉa thưa làyếu tố kỹ thuật quan trọng trong việc chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sangcung cấp gỗ lớn Các kết quả đều cho thấy, sinh trưởng đường kính của cây đểlại đều cao hơn rõ rệt so với không áp dụng tỉa thưa Việc áp dụng các biệnpháp kỹ thuật này ngoài việc nâng cao hiệu quả kinh tế còn cũng góp phầngiảm ô nhiễm môi trường, giảm xói mòn đất do rừng được kéo dài chu kỳkinh doanh nên hạn chế các tác động lên đất do trồng lại rừng

1.3.3 Nghiên cứu về ảnh hương của tỉa thưa đến chất lượng gỗ và hiệu quả kinh tế rừng trồng

Trang 33

trong khi hong phơi, vì thế việc sử dụng gỗ 7 năm tuổi trở xuống để sản xuất

gỗ xẻ làm đồ mộc không hiệu quả

Võ Đại Hải (2018) cho rằng, biện pháp tỉa cành cho tổng số mắt gỗ keotai tượng tại Quảng Trị dao động từ 6 - 18 mắt, thấp hơn so với công thứckhông tỉa cành (dao động từ 17 - 23 mắt) [15] Ở vị trí 0 - 2m (là đoạn gỗthường được áp dụng các biện pháp tỉa cành) cho thấy, biện pháp tỉa cành chođường kính mắt nhỏ hơn so với không tỉa Như vậy, việc áp dụng biện pháptỉa thân, tỉa cành có triển vọng làm tăng chất lượng gỗ thông qua tác dụng làmgiảm số lượng và kích thước mắt gỗ

Hiệu quả kinh tế

Nguyễn Hữu Thiện (2011) cho biết, hiệu quả kinh tế của mô hìnhchuyển hóa kinh doanh gỗ lớn của cả Mỡ và Sa mộc đều cao hơn so với môhình kinh doanh gỗ nhỏ, chỉ tiêu NPV của mô hình Mỡ đạt 52,987 triệu đồng,tăng gấp 4,43 lần so với mô hình kinh doanh gỗ nhỏ; tương tự mô hình Samộc tăng gấp 4,74 lần Giá trị BCR của Mỡ đạt 5,49 lần, tăng 2,6 lần so vớikinh doanh gỗ nhỏ; đối với sa mộc đạt 5,82 lần, tăng 2,74 lần so với gỗ nhỏ[25]

Tại Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Ba Tơ (Quảng Ngãi),rừng trồng cung cấp gỗ lớn dù tỉa thưa hay không tỉa thưa đều cho thu nhập vàlợi nhuận cao hơn hẳn so với trồng rừng cung cấp gỗ nhỏ Các chỉ số NPV,BCR, IRR của các mô hình trồng rừng gỗ lớn cũng cao hơn so với gỗ nhỏ Nếutrồng rừng gỗ nhỏ chu kỳ 7 năm chỉ cho lợi nhuận khoảng 53 triệu đồng/ha, vớiNPV = 12.778 nghìn đồng/ha; BCR = 1,42; thì chỉ cần để sau 2 năm, lợi nhuậnđạt được khoảng 130 triệu/ha, với NPV = 34.805 nghìn đồng/ha; BCR = 2,11.Nếu để sau 5 năm nữa sẽ đạt lợi nhuận khoảng 314 triệu đồng/ha, với NPV =69.692 nghìn đồng/ha và BCR = 3,16 (Đặng Thịnh Triều và cộng sự, 2014)[31]

Trang 34

Theo Vụ Phát triển sản xuất lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT, 2018) chobiết, các mô hình chuyển hóa rừng keo tai tượng tại Bắc Giang, Quảng Ninh

sử dụng các biện pháp lâm sinh tác động như nuôi dưỡng, tỉa thưa (mật độcòn lại 600 cây/ha), trữ lượng đạt 115m3/ha tương đương rừng trồng thôngthường Các mô hình này mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn: giá bán gỗ caohơn gấp 2 lần và cho thu hoạch từ sản phẩm tỉa thưa [7] Các mô hình đều chothấy, việc kéo dài tuổi khai thác rừng trồng sẽ làm tăng giá trị kinh tế

Rừng trồng thương mại của Dự án FSDP tại Quảng Nam với 2 loài câytrồng Keo lai và Keo tai tượng được trồng tập trung ở 2 cấp đất II và cấp đấtIII (chiếm 80%) Rừng trồng trên 2 cấp đất còn lại (cấp I và cấp IV) chiếm tỷ

lệ thấp Trữ lượng ước tính của rừng Keo lai giảm dần theo từng cấp đất vàtheo tuổi của chu kỳ kinh doanh Cấp đất I cho sản lượng cao nhất (316m3/ha

ở tuổi 7) và giảm dần ở cấp đất II, III và cấp IV (chỉ đạt 83,3m3/ha ở cấp đất

IV ở tuổi 7) Hiệu quả kinh tế của cây Keo lai ở cấp đất I đạt 210 triệuđồng/ha, còn ở cấp đất IV sau 5 năm chỉ đạt 15,9 triệu đồng/ha (BộNN&PTNT, 2014) [6]

Hiệu quả kinh tế đối chứng giữa mô hình trồng rừng Keo lai thuần loàichu kỳ ngắn (5-6 năm) lấy gỗ nguyên liệu bột giấy với mô hình chuyển hóarừng Keo lai thuần loài thành chu kỳ dài (10-11 năm) lấy gỗ lớn, gỗ xẻ tại xãCanh Hiển, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định cho thấy: Nếu kinh doanh chu

kỳ ngắn, chu kỳ 5 - 6 năm khai thác trắng cho thu nhập bình quân khoảng51.311.000 đồng/ha Tái đầu tư lại chu kỳ 2 phải mất 5 - 6 năm nữa và cho thunhập thêm 51.311.000 đồng/ha Như vậy, trong khoảng thời gian 10 - 12 nămcho tổng lợi nhuận bình quân là 102.662.000 đồng/ha, trong khi đó phải trừ điphần chi phí tái đầu tư ở chu kỳ 2 bằng số vốn đầu tư như số vốn đầu tư ở chu

kỳ 1 là: 22.741.000 đồng Kết quả thu nhập bình quân còn lại sau 10 - 12 năm

trồng 2 chu kỳ là: 102.622.000 - 22.741.000 = 79.881.000 đồng Nếu kinh

doanh chu kỳ dài, chu kỳ 10 - 11 năm áp dụng biện pháp khai thác chọn theo

Trang 35

hình thức tỉa thưa ở giai đoạn giữ chu kỳ sẽ cho thu nhập bình quân khoảng

165.789.000 đồng (cao hơn gấp đôi mức lợi nhuận bình quân của cả 2 chu kỳ

ngắn) Trong khi đó không phải mất chi phí tái đầu từ như ở chu kỳ ngắn (BộNN&PTNT, 2014) [7]

Trần Lâm Đồng (2018), sau 3 năm tỉa thưa tại Yên Bái và 2 năm tạiNghệ An hầu hết các công thức tỉa thưa đều cho trữ lượng thấp hơn hoặc bằng

so với công thức không tỉa, như vậy không có giá trị gia tăng nếu bán với giá

gỗ nhỏ [12] Tuy nhiên, trong sản xuất hiện nay, giá gỗ tăng theo cỡ đườngkính tùy theo mức độ phù hợp yêu cầu làm nguyên liệu gỗ dăm, gỗ bóc hay

gỗ xẻ Các công thức tỉa thưa đều cho giá trị hiện tại cao hơn so với công thứcđối chứng, ngoại trừ rừng chuyển hóa ở tuổi 3 ở Nghệ An, sự sai khác không

rõ rệt Điều này có thể là do mật độ rừng đưa vào tỉa thưa cao quá (2513 và

2750 cây/ha) nên hiệu quả của tỉa thưa không cao Tại Yên Bái, tổng giá trịđạt cao nhất khi áp dụng tỉa thưa để lại mật độ 1.000 cây/ha, đạt 193,6 triệuđồng (không kết hợp bón phân) và 184,8 triệu đồng (kết hợp bón phân), sovới không áp dụng tỉa thưa (tương ứng là 147,1 triệu đồng và 165,2 triệuđồng), trong đó, giá trị gỗ có D1.3 > 15cm đạt 130,5 triệu đồng (không kết hợpbón phân) và 118,6 triệu đồng (kết hợp bón phân), so với không áp dụng tỉathưa (tương ứng là 67,5 triệu đồng và 78,8 triệu đồng)

Việc đánh giá hiệu quả kinh tế trong việc chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏthành rừng gỗ lớn cũng đã được Đỗ Văn Bản và cộng sự (2018)[1] thực hiệncho một số vùng và ở trên các cấp đất khác nhau Từ đó tác giả kết luận, tuổithành thục kinh tế là 13 cho cả loài Keo lai và Keo tai tượng với tất cả các môhình gỗ nhỏ, gỗ lớn và trồng rừng chuyển hóa Đối với mô hình gỗ lớn có thểkéo dài đến tuổi 14

Như vậy, ở các nghiên cứu đều cho thấy, việc áp dụng các biện pháp kỹthuật tỉa thưa để chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang cung cấp gỗ lớn góp

Trang 36

phần thúc đẩy tăng trưởng đường kính của cây để lại rõ rệt, qua đó đem lạihiệu quả kinh tế cao hơn so với không chuyển hóa (không áp dụng tỉa thưa).

1.4 Thảo luận chung

Từ tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy,Keo tai tượng đóng vai trò tương đối lớn trong trồng rừng ở Việt Nam cũngnhư nhiều nước khác Chính vì thế, các nghiên cứu về Keo tai tượng đã đượccông bố rất nhiều liên quan đến tất cả các khía cạnh từ nghiên cứu cơ bản vềloài, chọn và cải thiện giống đến các kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và sử dụng

gỗ Keo tai tượng Về nghiên cứu kỹ thuật chặt tỉa thưa nuôi dưỡng rừng trồng,

ở trên thế giới thế giới các công trình nghiên cứu về trồng rừng gỗ lớn các loàiKeo, Bạch đàn đã được thực hiện khá toàn diện, đặc biệt là các biện pháp kỹthuật lâm sinh tỉa thưa rừng trồng Những nghiên cứu này đã tạo cơ sở khoahọc cho việc trồng rừng thâm canh, chuyển hóa rừng sản xuất gỗ nhỏ sangcung cấp gỗ lớn các loài keo, bạch đàn; góp phần cung cấp nguyên liệu phục

vụ chế biến ở các nước trên thế giới trong thời gian qua

Ở Việt Nam do đặc thù của phát triển sản xuất trong những năm quachúng ta chủ yếu tập trung vào phát triển các loài cây gỗ nhỏ, mọc nhanh đểđáp ứng nhu cầu gỗ nguyên liệu giấy gỗ dăm, nên các công trình nghiên cứutrong nước cũng chỉ tập trung phần lớn vào các loài Keo, Bạch đàn, Bồ đề, Samộc,… với mục tiêu cung cấp gỗ nhỏ là chính Trong thời gian gần đây, cũng

đã có nhiều nghiên cứu về trồng rừng gỗ lớn, các biện pháp kỹ thuật tỉa thưachuyển hóa rừng sản xuất gỗ nhỏ sang rừng cung cấp gỗ lớn một số loài nhưKeo, Bạch đàn Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn một số điểm hạn chế, nhưcác nghiên cứu chuyển hóa rừng sản xuất gỗ nhỏ sang cung cấp gỗ lớn thựchiện trên phạm vi hẹp, thời gian theo dõi và đánh giá chưa dài, rất ít các cácnghiên cứu về ảnh hưởng của tỉa thưa đến chỉ số diện tích lá, cường độ quanghợp cũng như chất lượng gỗ xẻ Đặc biệt ở Bắc Giang nói riêng và vùng núiphía Bắc nói chung chưa có các nghiên cứu sâu về ảnh hưởng tỉa thưa đến

Trang 37

một số chỉ số nêu trên.

Xuất phát từ những thực tiễn nêu trên, việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số cơ sơ khoa học chuyển hóa rừng trồng keo tai tượng kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn ơ Bắc Giang” là cần thiết, có ý

nghĩa cả về khoa học và thực tiễn

Trang 38

CHƯƠNG 2

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu của luận án, một số nội dung sau đã được thựchiện:

- Nội dung 1: Đánh giá thực trạng chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ thành rừng

gỗ lớn tại Bắc Giang

- Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng rừng trồng

Keo tai tượng

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến tỷ lệ sống

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến chỉ số diện tích lá và quanghợp

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến đường kính và tiết diện ngang+ Nghiên cứu ảnh hưởng tỉa thưa đến chiều cao

+ Nghiên cứu ảnh hưởng tỉa thưa đến đường kính tán lá

+ Nghiên cứu ảnh hưởng tỉa thưa đến phân bố N/D

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến trữ lượng rừng

- Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến chất lượng gỗ xẻ rừngtrồng Keo tai tượng

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến số lượng và kích thước mắtgỗ

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến tỷ lệ gỗ lõi, gỗ dác

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến tỷ lệ sử dụng gỗ xẻ và khốilượng gỗ dăm

- Nội dung 4: Đánh giá hiệu quả kinh tế rừng Keo tai tượng sau tỉa thưa,chuyển hóa

Trang 39

+ Đánh giá hiệu quả kinh tế khi bán gỗ tại Bãi 1

+ Đánh giá hiệu quả kinh tế khi bán sản phẩm sơ chế

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Quan điểm và cách tiếp cận

Hiện nay ở Việt Nam phần lớn diện tích rừng trồng các loại Keo nóichung và rừng trồng Keo Tai tượng nói riêng đều với mục đích cung cấp gỗnhỏ Để sớm có gỗ lớn đáp ứng nhu cầu của thị trường thì việc chuyển hóacác diện tích rừng kinh doanh gỗ nhỏ sẵn có thành rừng gỗ lớn là một lựachọn hợp lý Nguyên lý để chuyển hóa đó là tạo điều kiện thuận lợi vềmôi trường để cây cá thể và toàn lâm phần sinh trưởng nhanh hơn, đặc biệt làsinh trưởng đường kính để nhanh chóng đạt tiêu chuẩn gỗ lớn Có ba cách đểgia tăng sinh trưởng đường kính cây: (i) Kéo dài thời gian sinh trưởng; (ii)Điều chỉnh không gian sinh trưởng hợp lý để cây phát triển về đường kính; và(iii) Cải thiện điều kiện dinh dưỡng cho cây thông qua bón phân

Nghiên cứu chuyển hóa rừng trồng Keo tai tượng kinh doanh gỗ nhỏthành rừng kinh doanh gỗ lớn trong luận án này được hiểu là nghiên cứu tỉathưa (điều chỉnh không gian dinh dưỡng) rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ hiện

có và kéo dài chu kỳ khai thác

Do hạn chế về thời gian nghiên cứu nên luận án đã kế thừa các diện tíchrừng Keo tai tượng (các diện tích rừng này được trồng với mục đích kinhdoanh gỗ nhỏ, chu kỳ ngắn ) hiện có của công ty TNHH hai thành viên Lâmnghiệp Yên Thế để triển khai các công thức thí nghiệm Luận án cũng chỉ giớihạn ở việc nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến năng suất và chất lượng cuảrừng Keo tai tượng cũng như tác động của tỉa thưa đến chất lượng gỗ xẻ theotiêu chí cụ thể đang áp dụng tại Công ty TNHH Hai thành viên Lâm nghiệpYên Thế Để lựa chọn mật độ để lại sau tỉa thưa, chúng tôi áp dụng một sốcông thức thí nghiệm do Vu Đinh Huong (2016)[97] nghiên cứu cho Keo laitại Đông Nam Bộ Các ô tiêu chuẩn định vị đã được thiết lập để theo dõi, thu

Trang 40

thập số liệu định kỳ trong suốt thời gian nghiên cứu Như vậy, luận án sẽ kếthợp cả nghiên cứu ứng dụng với sinh thái thực nghiệm và nghiên cứu trongphòng để giải quyết mục tiêu đề ra

2.2.2 Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

- Đặc điểm chung khu vực nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng và chất lượng gỗ xẻđược thực hiện tại Công ty TNHH Hai thành Viên Lâm Nghiệp Yên Thế trênđịa bàn 2 xã Tiến Thắng và Đồng Tiến, thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang(Hình 2.1) Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên của huyện Yên Thế nhưsau:

Yên Thế là huyện thuộc vùng núi thấp, có độ cao so với mực nước biển

từ 200 – 300m, hướng dốc chính từ Bắc đến Nam Địa hình chủ yếu là vùng

núi và đồi thấp, dạng địa hình này đất đai có độ phì khá tốt Huyện Yên Thế

nằm trong vòng cung Đông Triều với khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm:mùa Hạ nóng ẩm mưa nhiều và mùa Đông ít mưa, lạnh và khô Có lượng mưatrung bình 1.518,4 mm/năm; độ ẩm không khí trung bình 81% và nhiệt độtrung bình 23,40C Đây là những điều kiện thuận lợi cho nhiều loại cây trồngphát triển đặc biệt là các loại cây lâm nghiệp, trong đó có Keo tai tượng Bêncạnh đó, Yên Thế thuộc vùng trung du, nằm sâu trong đất liền nên ít bị ảnhhưởng của gió bão, vì vậy đây cũng là nơi thuận lợi cho việc trồng rừng cungcấp gỗ lớn

Ngày đăng: 16/06/2020, 07:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w