Theo luật các tổ chức tín dụng được Quốc Hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12-12-1997 thì “ Tổ chức tín dụng là một tổ chức hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịc
Trang 1NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I Ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng thương mại
trong nền kinh tế thị trường
1 Khái niệm ngân hàng thương mại (NHTM)
Khi nghiên cứu về ngân hàng thương mại các nhà kinh tế học có nhiều quan điểm khác nhau về ngân hàng thương mại Người thì cho rằng “ ngân hàng thương mại là tổ chức nhận tiền gửi để cho vay ” Người khác lại nhận định rằng “ngân hàng thương mại là trung gian tài chính có giấy phép của chính phủ để vay tiền và mởi tài khoản tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi có thể dùng séc” Sở dĩ có tình trạng trên là do hoạt động của ngân hàng thương mại rất đa dạng, các thao tác trong từng nghiệp vụ lại phức tạp và vấn đề này luôn biến động theo sự thay đổi chung của nền kinh tế Ở nước ta ngân hàng đầu tiên được thành lập đó là ngân hàng Đông Dương của Pháp vào giữa thế kỉ XIX để phục vụ cho giới thương gia Pháp trên thị trường Việt Nam Sau đó có thêm các ngân hàng nước ngoài của Trung Quốc , Anh
Đến năm 1990 pháp lệnh ngân hàng Nhà nước ta ra đời đã chính thức phân chia hệ thống ngân hàng thành hai cấp là ngân hàng Trung Ương và ngân hàng thương mại
Từ đó khái niệm ngân hàng thương mại hoạt động đa năng trên nhiều lĩnh vực đã ra đời.
Theo luật các tổ chức tín dụng được Quốc Hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12-12-1997 thì “ Tổ chức tín dụng là một tổ chức hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cho vay cung ứng các dịch vụ thanh toán chi trả hộ ” mà ngân hàng là một loại hình tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Như vậy
“ Ngân hàng chính là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi, cho vay, thực
Trang 2hiện các dịch vụ chi trả hộ, cung ứng các phương tiện thanh toán cùng các hoạt động kinh doanh khác” Mục tiêu hoạt động kinh doanh của ngân hàng là lợi nhuận với đối tượng kinh doanh là tiền tệ.
2 Các hoạt động của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại hoạt động rất đa dạng trên nhiều lĩnh vực nhưng hoạt động của ngân hàng tập trung chủ yếu vào nhiệm vụ nhận tiền gửi và cho vay Đó là hai mặt của hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu tạm thời thiếu hụt vốn của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế hoặc các cá nhân trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng hàng ngày Trong quá trình phát triển mặc dù hoạt động sản xuất kinh doanh có thay đổi
do có sự thay đổi về môi trưoừng kinh tế hoặc phương pháp hoạt động, có thể ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng thương mại nhưng hoạt động tín dụng vẫn luôn là hoạt động cơ bản Hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ hoạt động của ngân hàng thương mại và là hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng.
Trong xu thế hiện nay, các ngân hàng thương mại hoạt động theo loại hình ngân hàng đa năng thì hoạt động của nó bao gồm :
2.1 Hoạt động huy động vốn
Đây là nghiệp vụ khởi đầu tạo điều kiện cho hoạt động của ngân hàng Huy động các nguồn vốn khác nhau trong xã hộ để hoạt động là lẽ sống quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại
Hoạt động nhận tiền gửi là hoạt động nguyên thuỷ của ngân hàng Nhận tiền gửi của khách hàng vẫn là nguồn đầu vào chủ yếu Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quy mô tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng như : chính sách lãi suất, phương thức trả lãi của ngân hàng, tình hình kinh tế xã hội trong từng thời kì, tình hình thu nhập và chi tiêu ngân sách, phong tục tập quán thói quen từng vùng, lòng tin dân chúng đối với ngân hàng và Chính Phủ , địa điểm ngân hàng, các dịch vụ ngân hàng cung cấp Ngân hàng cần phải nắm vững các yếu
tố đó để có thể điều chỉnh lượng vốn huy động sao cho phù hợp với nhu cầu vốn của mình Hoạt động huy động vốn được thể hiện dưới các hình thức sau :
Trang 3• Nếu phân theo thời hạn
+ Tiền gửi không kì hạn : Bao gồm các loại tiền gửi thanh toán , tiền gửi tiết kiệm không kì hạn của các tổ chức kinh tế và dân cư Đó là khoản tiền gửi
mà người gửi có thể rút bất cứ lúc nào
+ Tiền gửi có kì hạn : Đây là loại tiền gửi mà có sự thoã thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng Như vậy về nguyên tắc khách hàng gửi tiền chỉ được rút tiền khi đến hạn đã thoã thuận Lãi suất của loại tiền gửi này thường cao hơn so với tiền gửi không kì hạn.
• Nếu phân chia theo mục đích bao gồm :
+ Tiền gửi giao dịch : Đây là khoản tiền do khách hàng gửi vào ngân hàng
và họ có quyền yêu cầu ngân hàng thanh toán và chi trả cho họ bất cứ lúc nào Người gửi có thể nhận được khoản lãi hoặc không tuỳ thuộc vào qui định của ngân hàng nhưng mục đích chính của người gửi là phục vụ mục tiêu thanh toán giao dịch chứ không phải là mục tiêu hưởng lãi.
+ Tiền gửi phi giao dịch : Bao gồm tiền gửi có kì hạn của tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm của dân cư Mục tiêu chính của khách hàng là hưởng lãi, do vậy ngân hàng phải trả một khoản khá cao cho loại tiền gửi này
+ Vay từ tổ chức tín dụng khác
Sau khi đã sử dụng hết vốn mà vẫn chưa đáp ứng dược nhu cầu vay vốn của khách hàng hoặc đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi trả của khách hàng Các ngân hàng thương mại có thể đi vay ở ngân hàng Trung Ương và ngân hàng thương mại khác bằng cách kí hợp đồng vay vốn có tài sản đẩm bảo, chiết khấu các giấy tờ có giá cho ngân hàng thương mại, vay dưới hình thức tiền gửi
có kì hạn Ngoài ra ngân hàng còn có thể vay các tổ chức ngoài nước Vốn đi vay chiếm một tỷ trọng có thể chấp nhận được trong kết cấu nguồn vốn nhưng
nó rất cần thiết và quan trọng để đảm bảo ngân hàng kinh doanh một cách bình thường
+ Các hình thức huy động khác.
Trang 4Ngoài hai hình thức huy động chính là huy động tiền gửi, vay vốn từ các tổ chức tín dụng khác, ngân hàng còn huy động bằng hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi , phát hành trái phiếu hoặc huy động các nguồn vốn trong thanh toán, vốn phát sinh từ các hoạt động dịch vụ khác Như vậy, để hoạt động huy động vốn có kết quả cao thì ngân hàng cần có các chính sách hợp lí như : mức lãi suất,đa dạng hóa các hình thức huy động kết hợp với các chính sách marketing để thu hút khách hàng.
2.2 Hoạt động sử dụng vốn.
Khi đã có được đầu vào thì các ngân hàng phải tìm được đầu ra cho những đồng vốn huy động được Hầu hết nguồn vốn của ngân hàng được sử dụng vào các hoạt động sau :
2.2.1 Hoạt động ngân quỹ.
Đây là hoạt động nhằm đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên của ngân hàng cho khách hàng Ngân hàng phải thường xuyên xác định số tiền mặt đang nằm trong két, số tiền giữ lại tại NHTƯ và các ngân hàng thương mại khác và tiền đang trong quá trình thu Đây là các tài sản không sinh lời hoặc sinh lời rấ thấp nhưng các ngân hàng thương mại buộc phải giữ lại vì hai
2.2.2 Hoạt động đầu tư.
Trang 5Đầu tư vào chứng khoán là loại hình phổ biến nhất trong hoạt động đầu
tư của ngân hàng thương mại tại các nước phát triển.Ở nước ta thị trường chứng khoán mới ra đời nên hàng hoá còn nghèo nàn, thị trường vận động chưa đúng quy luật do đó chưa thu hút được sự chú ý của các thành viên trong nền kinh tế trong đó có ngân hàng.
2.2.3 Hoạt động tín dụng
Hầu hết nguồn vốn mà ngân hàng huy động dược sẽ đưa vào hoạt động tín dụng Đây là hoạt động kinh doanh chính tạo ra lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng thương mại vì chỉ có lãi suất cho vay mới ù đắp nổi các chi phí khác của ngân hàng Thông thường hoạt động tín dụng bao gồm :
• Hoạt động cho vay:
Đây là một trong những hoạt động đầu ra và là hoạt động quan trọng nhất quyết định đến sự thành bại của ngân hàng Chỉ khi nào ngân hàng điều hành tốt hoạt động này thì hoạt động chung của ngân hàng mới đem lại hiệu quả cao vì đây chính là hoạt động sinh lời chủ yếu Là hoạt động đem lại nguồn thu nhập chính cho ngân hàng nên cho vay cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất Để tránh điều đó quản lí tiền vay được tiến hành rất chặt chẽ, đặc biệt là đối với các món vay lớn, thời hạn dài.
Căn cứ vào các hình thức phân loại khác nhau ta có các hình thức cho vay khác nhau
+ Căn cứ vào thời hạn cho vay.
- Cho vay không kì hạn : Đây là loại hình cho vay mà khách hàng có thể trả tiền bất kì thời gian nào họ có tiền mà không bị ràng buộc bởi thời gian.
- Cho vay ngắn hạnbao gồm:
Cho vay ngắn hạn thông thường : Là loại cho vay có thời hạn ít hơn một năm như :
Chiết khấu thương phiếuvà các giấy tờ có giá : Đây là nghiệp vụ ít rủi ro và không làm đóng băng vốn của ngân hàng Thời hạn cho vay ngắn, điều này nâng cao tính thanh khoản trong quản lí tài sản có của ngân hàng Đây chính
là tiền đề để người mua thực hiện được hoạt động kinh doanh của mình và có
Trang 6khả năng để thanh toán nợ cho ngân hàng Đồng thời, tất cả những người kí tên trên thương phiếu đều chịu trách nhiệm liên đới theo qui định của pháp luật Như vậy , trách nhiệm thanh toán nợ cho ngân hàng gồm nhiều chủ thể khác nhau Hơn nữa , với nghiệp vụ chiết khấu, ngân hàng thương mại có thể tái chiết khấu ở NHTƯ khi gặp khó khăn về vốn để cũng cố, tăng cường năng lực thanh toán cũng như mở rộng qui mô tín dụng.
Nghiệp vụ chiết khấu mang lại lợi ích cho ngân hàng tuy nhiên vẫn có rủi ro xảy ra Vì vậy, trước khi chiết khấu ngân hàng phải nghiên cứu kĩ khách hàng đến xin chiết khấu, xem xét các thương phiếu, mối liên hệ giữa những người liên quan đến thương phiếu.
Cho vay cầm cố : Đây là hình thức cho vay trả góp từng phần và vật thế chấp của người đi vay đối với ngân hàng.Thông thường vật thế chấp là bất động sản như nhà cửa, đất đai Các ngân hàng giám định cẩn thận về tình hình tài sản và chủ quyền của ó trước khi quyết định cho vay để mua, cũng như rất quan tâm đến tính ổn định và mức cao hay thấp của thu nhập của người xin vay nhằm hạn chế rủi ro không trr được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn.
- Cho vay trung dài hạn : Là loại hình tín dụng có kì hạn trên 12 tháng đến 5 năm đối với cho vay trung hạn và trên 5 năm đến hết thời hạn khấu hao tài sản ccố định đối với cho vay dài hạn.
+ Căn cứ vào thành phần kinh tế
- Cho vay đối với kinh tế quốc doanh
- Cho vay đối với kinh tế ngoài quốc doanh
+ Căn cứ vào mục đích cho vay
- Cho vay phát triển sản xuất kinh doanh
- Cho vay tiêu dùng
- Cho vay thanh toán công nợ
+ Căn cứ vào tính chất bảo đảm bao gồm:
- Cho vay có bảo đảm
- Cho vay không có bảo đảm
+ Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
Trang 7- Cho vay bằng tiền
- Cho vay bằng tài sản
• Hoạt động cho thuê tài chính
Là hoạt động tín dụng trung, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng và khách hàng thuê Trong đó nói rõ bên cho thuê sẽ mua tài sản và cho bên khách hàng thuê và trong thời hạn thuê khách hàng phải trả tiền thuê theo thoã thuận Khi kết thúc thời hạn thuê khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều khoản trong hợp đồng Trong thời hạn thuê các bên không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng.
2.3 Hoạt động trung gian
Đây là hoạt động mà ngân hàng thực hiện theo yêu cầu của khách hàng, thông qua đó ngân hàng tăng thêm thu nhập và nâng cao uy tín cho ngân hàng.
Hoạt động trung gian của ngân hàng bao gồm :
2.3.1 Dịch vụ thanh toán hộ.
Theo yêu cầu của khách hàng, ngân hàng sẽ cung cấp cho khách hàng các phương tiện thanh toán như séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thư tín dụng nhằm thực hiện thanh toán cho khách hàng, tức là nhận hộ tiền cho người bán, trả hộ tiền cho người mua thông qua hình thức kế toán trên chứng từ.
2.3.2 Dịch vụ mua bán hộ chứng khoán.
Do có uy tín nên ngân hàng thường tham gia bảo lãnh phát hành chứng khoán cho các Công ty cổ phần muốn huy động vốn, tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách hàng Do thị trường chứng khoán Việt Nam mới đi vào hoạt động nên thị trường chưa sôi nổi Các hoạt động bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chủ yếu là do công ty chứng khoán đảm nhiệm mà không có sự tham gia của các ngân hàng trong lĩnh vực đó.
2.3.3 Dịch vụ mua bán ngoại tệ.
Ngân hàng thương mại tham gia trên thị trường ngoại hối để đáp ứng nhu cầu chi trả thanh toán ngoại tệ của khách hàng.
Trang 8Ngoài ra ngân hàng còn có các dịch vụ như bảo quản tài sản quỹ, cho thuê két sắt Ở nước ta hiện nay hoạt động trung gian vẫn chưa phát triển mạnh vì nền kinh tế còn phát triển chậm.
Có thể nói, các hoạt động của ngân hàng đều rất quan trọng và liên quan chặt chẽ với nhau Hoạt động huy động vốn là tiền đề tạo nguồn vốn tích luỹ cho hoạt động sử dụng vốn Ngược lại hoạt động sử dụng vốn thực hiện có hiệu quả mới thúc đẩy hoạt động hoạt động huy động vốn phát triển Hoạt động tín dụng và đầu tư đem lại thu nhập chính cho ngân hàng còn các hoạt động khác nâng cao uy tín và thu hút thêm khách hàng tạo điều kiện mở rộng hoạt động thu hút tiền gửi và kinh doanh của ngân hàng thương mại Tuy nhiên, nghiệp
vụ tín dụng vẫn là quan trọng nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
3 Vai trò của ngân hàng thương mại.
Vai trò của ngân hàng thương mại được thẻ hiện ở hai khía cạnh :
3.1 Vai trò thực thi chính sách tiền tệ.
Ta biết rằng hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại gắn liền với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, các tổ chức và các chủ thể kinh tế Trong quá trình hoạt động đó, ngân hàng thương mại thực hiện vai trò tham gia điều tiết kinh tế vi mô đối với nền kinh tế thông qua các chức năng của mình, biểu hiện các mối quan hệ giữa ngân hàng thương mại với các tổ chức kinh tế, cá nhân về mặt tín dụng, tiền mặt, thanh toán đảm bảo hoạt động của ngân hàng và nền kinh tế được bình thường.
Bằng chính sách và những biện pháp tín dụng ngân hàng thương mại đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung kịp thời cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực sản xuất, lưu thông và dịch vụ Ngân hàng thương mại có thể gia tăng hoặc thu hẹp khối lượng tín dụng và từng doanh nghiệp, hoặc có thể thực hiện quan hệ tín dụng đối với doanh nghiệp trong từng trường hợp cần thiết Tất cả những vấn đề đó đều liên quan, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Như vậy, việc sử dụngvốn vay ngân hàng vừa giúp cho doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu vốn bị thiếu hụt trong kinh
Trang 9doanh, vừa ý thức cho doanh nghiệp về trách nhiệm của mình trong quá trình
sử dụng vốn Từ đó giúp cho doanh nghiệp có những lựa chọn, những quyết dịnh của mình trong việc sử dụng vốn vay ngân hàng mở rộng hoặc thu hẹp qui mô kinh doanh hiện có
Vai trò điều tiết kinh tế vi mô của ngân hàng thương mại được thể hiện qua việc tiếp nhận, thu hút khối lượng tiền mặt từ nền kinh tế vào NHTM cũng như cung ứng tiền mặt theo nhu cầu của khách hàng Quá trình thu nhận và cung ứng khối lượng tiền mặt trong nền kinh tế đã tạo ra quan hệ lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ trong khu vực Khối lượng tiền mặt trong nền kinh tế đi qua quỹ nghiệp vụ NHTM là những công cụ tác động trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế ảnh hưởng đến đời sống của các tầng lớp dân cư.
Cùng với các nghiệp vụ kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng và tiền tệ, NHTM còn thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác trong nền kinh tế Đây là dịch
vụ trung gian tạo cho ngân hàng thương mại những nguồn lợi đáng kể góp phần tăng thêm các khoản thu nhập cho ngân hàng, đồng thời cũng tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển toàn diện và thoã mãn các yêu cầu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế
Như vậy, với vai trò thực thi chính sách tiền tệ, điều tiết kinh tế vi mô ngân hàng đã xâm nhập vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cá nhân, các lĩnh vực khác của nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán.
3.2 Góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô thông qua chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô thuộc về NHTƯ NHTƯ thực hiện chức năng này thông qua việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội và chính sách tiền tệ.
Chính sách tiền tệ là loại công cụ chính sách can thiệp bằng kinh tế, dựa trên bản thân cơ chế thị trường và các quy luật vận động của nó Nhưng NHTƯ không trực tiếp giao dịch với công chúng, do đó phải dựa vào thông tin phản
Trang 10hồi từ các định chế tài chính trung gianđể soạn thảo chính sách tiền tệ Như vậy, rõ ràng là nếu không có hệ thống NHTM hoàn chỉnh , không có thông tin phản hồi do NHTM cung cấp thì việc hoạch định chiến lượcvà soạn thảo chính sách tiền tệ của NHTƯ sẽ không hoàn hảo Chính sách tiền tệ được thiết kế và khởi động từ NHTƯ lan ra đến mợi ngóc ngách của nền kinh tế thông qua hoạt động dây chuyền của NHTM và các tổ chức tài chính trong nước Như vậy, nếu không có sự chấp hành của hệ thống NHTM thi ý đồ chính sách tiền tệ của NHTƯ không thực hiện được
Do phân chia hệ thống ngân hàng thành hai cấp nên có hai loại tiền Tiền trung ương là loại tiền do NHTƯ độc quyền phát hành, tiền ngân hàng là loại tiền do NHTM tạo ra qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế Nó được mở rộng gấp nhiều lần thông qua hệ số tạo tiền Như vậy, bằng việc tạo tiền gắn liền chặt chẽ với công cụ quản lí vĩ mô của NHTƯ trong khi thực hiện hoạt động kinh doanh của mình NHTM đã thể hiện vai trò trong việc góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô của NHTƯ
II Tín dụng trung, dài hạn của NHTM trong nền kinh tế thị trường.
1 Khái niệm
Tín dụng được định nghĩa là một quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả và có lãi Qua định nghĩa ta có thể thấy rằng : trong quan hệ tín dụng người cho vay chỉ nhường quyền sử dụng cho người đi vay, sau một thời gian nhất định theo thoã thuận, người đi vay sẽ hoàn trả lại cho người cho vay Sự hoàn trả này không chỉ là sự bảo tồn về mặt giá trị mà vốn tín dụng còn được tăng thêm dưới hình thức lợi tức.Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn về vốn giữa ngân hàng với các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và các tổ chức tín dụng khác theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi.
Tín dụng trung, dài hạn là một bộ phận của tín dụng ngân hàng được phân theo thời hạn Tín dụng trung, dài hạn là những khoản cho vay có thời hạn trên một năm và thời gian cho vay không quá thời gian khấu hao của tài sản hình thành từ vốn vay Tuỳ theo từng quốc gia mà quy định cụ thể về thời hạn của tín dụng trung, dài hạn sẽ khác nhau Ở Việt Nam một khoản cho vay
Trang 11có thời hạn từ 1 dến 5 năm được coi là trung hạn và khoản vay được coi là dài hạn nếu có thời gian từ 5 năm trở lên.
Tín dụng trung hạn thường được người vay sử dụng dể mua sắm tài sản
cố định, cải tiến đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc xây dựng các công trình mới nhưng có qui mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh Còn tín dụng dài hạn thường để đầu tư vào việc nhập khẩu dây chuyền sản xuất hiện đại, xây dựng các công trình có qui mô lớn, thời gian hoạt động dài.
Hiện nay tín dụng trung, dài hạn không chỉ đơn thuần là việc phát tiền vay với thời hạn trên 1 năm mà nó còn được thể hiện dưới nhiều hình thức Cụ thể như sau :
+ Cho vay theo kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản của doanh nghiệp Đây là loại cho vay được thực hiện theo phương pháp cho vay thông thường dựa trên
cơ sở nhu cầu vốn của từng công trình, hạng mục công trình được xác định trong kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản của mỗi doanh nghiệp
+ Cho vay theo dự án là một phương pháp cho vay dựa trên một văn bản hoàn chỉnh về vay vốn và trả nợ được nghiên cứu soạn thảo xét duyệt, kí kết giữa người đi vay và ngân hàng, đồng thời dựa trên những căn cứ khoa học kĩ thuật phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của Nhà nước.
+ Tín dụng tuần hoàn : là phương thức cho vay dựa vào chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó được coi là tín dụng trung, dài hạn khi thời hạn của hợp đồng kéo dài từ 1 đến vài năm và người vay rút tiền ra khi cần và được trả nợ khi có nguồn trong thời gian hợp đồng có hiệu lực Tín dụng tuần hoàn có thể chuyển thành tín dụng trung, dài hạn theo hợp đồng kí kết nếu người vay thấy cần thiết vì tình trạng tài chính không sẳn sàng để thực hiện tín dụng tuần hoàn.
+Tín dụng thuê mua : là hình thức cho vay tín dụng trung, dài hạn bằng tài sản thông qua một hợp đồng tín dụng thuê mua Sau một thời gian thuê nhất định tuỳ theo thoã thuận của hợp đồng, người đi thuê có thể mua lại tài sản đó.
2 Đặc điểm của tín dụng trung, dài hạn
Trang 122 Hoạt động tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng thường có các đặc điểm sau:
3 Rủi ro lớn
Nền kinh tế luôn chứa đựng những biến động lớn không thể lường trước được Những biến động đó có thể là tích cực hay tiêu cực Chính vì vậy các khoản tiền cho vay tín dụng trung, dài hạn luôn có độ rủi ro cao hơn khoản cho vay ngắn hạn tương ứng.
Lãi suất cao
Lãi suất cho vay trung , dài hạn bao giờ cũng cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn như thế nó mới bù đắp nổi những rủi ro cao có thể xảy ra.
3 Mục đích, đối tượng, điều kiện cho vay tín dụng trung, dài hạn
Cho vay tín dụng trung, dài hạn là loại hình tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm đối với cho vay trung hạn và cho vay trên 5 năm đến hết thời gian khấu hao tài sản đối với cho vay dài hạn Tín dụng trung, dài hạn có vai trò rất lớn trong việc đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển các dự án kinh doanh của các doanh nghiệp Đây là nguồn động lực tiềm năng đối với chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế theo địng hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
- Mục đích của tín dụng trung, dài hạn là để đầu tư mở rộng sản xuất mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới dây chuyền công nghệ tức
là những dự án chưa thể sinh lời trong thời gian ngắn, trong khi mục đích của vay ngắn hạn là phục vụ chi tiêu, mua nguyên vật liệu, trả lương, bổ sung vốn lưu động điều đó có nghĩa là để đáp ứng nhu cầu thanh toán ngắn hạn Ngoài ra tín dụng trung, dài hạn giúp các doanh nghiệp tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật, nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm.
- Đối tượng của tín dụng trung, dài hạn là các chi phí cấu thành trong tổng mức đầu tư xây dựng mới, mở rộng, cải tạo, khôi phục ,đổi mới kĩ thuật, ứng dụng khoa học và công nghệ nó bao gồm : giá trị vật tư, máy móc, thiết bị , công nghệ chuyển giao sáng chế và phát minh, chi phí nhân công, giá thuê và
Trang 13chuyển nhượng đất đai, giá thuê các tài sản khác trong khuôn khổ luật định, chi phí mua bảo hiểm tài sản thuộc dự án đầu tư , chi phí khác.
- Điều kiện cho vay trung ,dài hạn.
Bên cho vay phải có tư cách pháp nhân hoặc cá nhân có đủ năng lực hành vi
và năng lực pháp luật, hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ theo đúng ngành nghề ghi trong giấy phép kinh doanh và quy định của pháp luật Việt Nam.
Sản xuất kinh doanh phải có lãi, có như thế các doanh nghiệp mới có đủ khả năng trả lãi cho ngân hàng và thu lợi nhuận.
Dự án đầu tư trung, dài hạn phải có tính khả thi và các điều kiện kèm theo đối với những dự án bắt buộc như : xây dựng cơ bản phải có giấy xác nhận quyền sử dụng đất có thiết kế xây dựng cơ bản được cơ quan Nhà nước phê duyệt, đối với những ngành nghề ảnh hưởng đến đời sống xã hội phải có giấy phép của cơ quan quản lí môi trường.
Phải có vốn tự có đầu tư cho dự án theo mức cụ thể do giám đốc tổ chức tín dụng qui định theo các đối tượng của dự án
Phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bão lãnh của người thứ ba theo quy chế thế chấp, cầm cố bảo lãnh của thống đốc ngân hàng Nhà nước.
Phải mua bảo hiểm cho tài sản hình thành bằng vốn vay tại một Công ty bảo hiểm được phép hoạt động hợp pháp ở Việt Nam, nếu tài sản dó quy định phải mua bảo hiểm và cam kết số tiền được bồi thường khi gặp rủi ro sẽ dùng trả
nợ cho tổ chức tín dụng Các trường hợp không phải mua bảo hiểm do giám đốc tổ chức tín dụng qui định.
Tổ chức hạch toán, kế toán và quản lí tài chính theo đúng pháp luật kế toán, thống kê và điều lệ của tổ chức tín dụng.
Chấp nhận điều lệ quản lí đầu tư xây dựng của Nhà nước, quy định của thể lệ cho vay trung , dài hạn.
Đối với bên vay là pháp nhân, ngoài những điều kiện qu định trên còn phải có thời gian hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoạc giấy phép thành lập phù hợp với thời gian cho vay trung, dài hạn.
Trang 144 Nguyên tắc của tín dụng trung, dài hạn.
Tín dụng đúng nghĩa như Các Mác đã chỉ ra xưa nay, khoa học kinh tế dưới nhiều phương thức sản xuất khác nhau đã cùng đúc kết, xác lập thành một số nguyên tắc:
- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích có hiệu quả
- Vốn vay phải được bảo đảm bằng vật tư hàng hoá tương đương.
- Vốn vay phải đượchoàn trả cả gốc và lãi đúng kì hạn cam kết.
- Quan hệ tín dụng được thực hiện trên cơ sở thoã thuận giữa bên cho vay và bên vay theo chế độ hợp đồng kinh tế trong khuôn khổ pháp luật và thể lệ tín dụng trung, dài hạn.
Rõ ràng 3 nguyên tắc tín dụng đầu hình thành như một quy luật phát triển nội tại của tín dụng, là “ điều luật” bất khả xâm phạm, tước bỏ, tách rời trong quan hệ tín dụng Thực tế cho thấy, một khi cả 3 nguyên tắc hoặc một trong 3 nguyên tắc bị coi nhẹ, hoặc quá nhấn mạnh nguyên tắc này, tuỳ tiện với nguyên tắc kia, thì sớm muộn đều dẫn đến phá vỡ quan hệ tín dụng, tín dụng
sẽ tiêu tan dần vai trò, tác dụng của nó, nó sẽ là vật cản kìm hãm hoặc đẩy lùi
sự phát triển của nền kinh tế
+ Mức cho vay đối với một dự án đầu tư của bên vay bằng tổng mức vốn đầu
tư của dự án trừ đi vốn tự có đầu tư cho dự án của bên vay ( mức vốn tự có tối thiểu bắt buộc theo qui định của giám đốc tổ chức tín dụng) nhưng tối đa không quá 70% giá trị tài sản thế chấp, cầm cố, bão lãnh.
Ví dụ tại NHCT Việt Nam qui định mức vốn tự có của chủ đầu tư tham gia dự
án :
Vốn tự có tối thiểu 40% giá tri công trình đối với cho vay, xây dựng mới.
Vốn tự có tối thiểu 30% cho các đối tượng mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ.
Vốn tự có tối thiểu 15% giá trị công trình đối với cho vay cải tiến kĩ thuật mở rộng sản xuất
Ngân hàng yêu cầu chủ đầu tư phải có vốn tự có tham gia dự án để tăng cường trách nhiệm, ràng buộc của chủ đầu tư đối với dự án và phân tán rủi ro
Trang 15đối với ngân hàng cho vay Mặt khác, vốn tự có thể hiện năng lực của chủ đầu
tư và khả năng chủ độngtc đối với dự án Vốn tự có của chủ đầu tư vào dự án
có tỷ lệ càng cao càng tốt Tổng dư nợ vốn lưu động trung, dài hạn đối với một khách hàng không vượt quá mức 30% tổng dư nợ của tổ chức tín dụng đó + Thời hạn cho vay đợc tính toán trên nhiều yếu tố, nhưng thời hạn tối đa không quá 5 năm dối với cho vay trung hạn, không quá thời hạn khấu hao tài sản cố định thuộc đối tượng đầu tư đối với cho vay dài hạn Các yếu tố được xác định là: chu kì sản xuất kinh doanh, khả năng hoàn trả vốn của dự án đầu
tư, khả năng thu nhập của bên vay và tính chất nguồn vốn của ngân hàng cho vay, mức khấu hao tài sản cố định.
Thời hạn cho vay được tính từ ngày bên vay bắt đầu nhận tiền vay đến khi trả hết nợ cho bên cho vay, được hai bên kí kết trên hợp đồng vay vốn.
+ Lãi suất cho vay.
Việc áp dụng mức lãi suất cho vay như thế nào là vấn đề các NHTM luôn quan tâm Về phương diện ngân hàng, cơ sở để xem xét và áp dụng mức lãi suất đối với một khách hàng thường căn cứ vào các yếu tố Thứ nhất, lãi suất phải bao gồm tất cả chi phí huy động vốn Thứ hai, đủ bù đắp cho việc thực hiện khoản vay Thứ ba, trang trải được các yếu tố rủi ro từ khoản vay Cuối cùng, là phần thặng dư để đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng Lãi suất cho vay trung dài hạn bằng đồng nội tệ đối với khách hàng có thể được biễu diễn theo công thức :
RV = RC + DKH + DTV + DTG
Trong đó : RV Lãi suất cho vay riêng lẻ
RC Lãi suất cho vay cơ bản DTV Tỉ lệ điều chỉnh rủi ro số tiền vay DKH Tỉ lệ điều chỉnh rủi ro về khách hàng DTG Tỉ lệ điều chỉnh rủi ro thời hạn vay Theo nguyên tắc chung, cùng với một số tiền và khách hàng vay thì lãi suất cho vay trung, dài hạn cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn vì tính thanh
Trang 16khoản cao và khả năng rủi ro cao hơn các khoản vay ngắn hạn Do vậy, thông thường khoản vay có thời hạn càng dài thì lãi suất cũng có xu hướng càng cao.
Ngoài ra, lãi cho vay không vượt quá mức lãi suất trần của thống đốc ngân hàng quy định.
Tóm lại, mức lãi suất phải bảo đảm quyền lợi của người vay và ngân hàng, mức lãi suất được khách hàng chấp nhận và có thể cạnh tranh được với NHTM khác.
5 Vai trò của tín dụng trung, dài hạn trong nền kinh tế thị trường.
Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ có kinh nghiệm trong việc nắm bắt thị trường và thẩm dịh dự án đầu tư Do vậy, ngân hàng tài trợ vốn đầu tư trung, dài hạn cho các doanh nghiệp vừa bảo đảm lợi ích cho các doanh nghiệp vì ngân hàng cho vay có thể giúp các dự án đầu tư và quan hệ thanh toán với khách hàng Trong thời gian này, ngân hàng đã phát huy hết khả năng và năng lực của mình, khác hẳn với ngân hàng ở chế độ cũ do Nhà nước định đoạt.
Vai trò của tín dụng trung, dài hạn được thể hiện ở những nội dung sau :
5.1 Tín dụng trung, dài hạn đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều sâu, thúc đẩy sự chuyển dịch kinh tế theo hướng công nhiệp hoá - hiện đại hoá Đây là vai trò to lớn nhất của tín dụng trung, dài hạn Nền kinh tế càng phát triển, hàng hoá được sản xuất càng nhiều thì nhu cầu của con người không ngừng nâng cao Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải nắm bắt và tìm mọi khả năng thoã mãn những nhu cầu đó Điều đó cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới nâng cao chất lượng sản phẩm và muốn vậy thì doanh nghiệp cần có vốn Nguồn vốn ngắn hạn chỉ đáp ứng nhu cầu vốn tạm thời trong doanh nghiệp chứ không thể giúp doanh nghiệp trong việc mua sắm dây chuyền sản xuất hiện đại, đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng vì để làm được điều đó doanh nghiệp cần nhiều vốn và việc thu hồi vốn đàu tư phải kéo dài trong nhiều năm Do đó hiển nhiên là doanh nghiệp rất cần vốn trung , dài hạn.
Trang 17Có nhiều cách tài trợ dài hạn cho doanh nghiệp như : phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tự tích luỹ nhưng phổ biến nhất vẫn là cách vay vốn qua các trung gian tài chính Đối với Việt Nam thì vay vốn ngân hàng có thể coi là lối thoát lớn nhất cho nhu cầu vốn doanh nghiệp bởi vì thị trường chứng khoán chưa phát triển sôi động, kinh tế nước ta đang trong quá trình đổi mới, nhu cầu vốn lớn nhưng việc cho vay lại chứa đựng nhiều rủi ro, chính vì vậy các NHTM rất ngại cho vay trung, dài hạn do đó xảy ra nghích lí : các ngân hàng thừa vốn trong khi đó các các doanh nghiệp “ khát vốn” trầm trọng Ở các ngân hàng không cung cấp vốn cho doanh nghiệp hoặc cung cấp với thời han ngắn thì doanh nghiệp không có vốn để đầu tư phát triển đổi mới công nghệ và chỉ dừng lại ở mức tái sản xuất Việc cho vay ngắn hạn chỉ có lợi cho những doanh nghiệp thuộc ngành thương mại mà đây chỉ là ngành giúp cho quá trình lưu thông hàng hoá, điều đó sẽ khiến cho nền kinh tế của đất nước không có sự tăng trưởng bền vững.
Để từ một nước nông nghiệp lạc hậu có nền sản xuất nhỏ manh mún trở thành một nước có nền kinh tế phát triển thì chúng ta không còn cách nào khác ngoài việc phải tiến hành công nhiệp hoá - hiện đại hoá Nội dung giai đoạn đầu của tiến trình công nhiệp hoá - hiện đại hoá đất nước là tập trung vốn đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật, đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ, máy móc chuyển dịch nền kinh tế, phát triển sản xuất trong nước theo cả chiều rộng và chiều sâu Như vậy, trong điều kiên thị trường chưa phát triển hoàn thiện thì hiện tại cũng như thời gian tới tín dụng trung, dài hạn của NHTM vẫn đóng vai trò quyết định trong giai đoạn đầu thực hiên công nhiệp hoá - hiện đại hoá.
5.2 Tín dụng trung, dài hạn góp phần chuyển dịch cơ bản nền kinh tế
Tín dụng trung, dài hạn thông qua huy động và cho vay theo dự án có định hướng, có vai trò rất lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nhiệp hoá - hiện đại hoá làm cho nền kinh tế tăng trưởng mạnh đạt hiệu quả cao, tạo công ăn việc làm cho người lao động, làm cho thu nhập của họ tăng lên Từ đó ngân hàng mở rộng được qui mô thị trường tín dụng cả “đầu vào”
Trang 18và “đầu ra” giảm được rủi ro trong kinh doanh để ngân hàng ngày cang phát triển tiến lên.
5.2 Tín dụng trung, dài hạn tạo điều kiện cho tín dụng ngắn hạn phát triển Thật vậy, nguồn vốn trung, dài hạn sẽ được các doanh nghiệp đầu tư vào máy móc thiết bị, xây dựng cơ bản dẫn tới sản xuất kinh doanh được kích thích phát triển Khi đó doanh nghiệp sẽ cần nhiều vốn lưu động hơn để tiến hành sản xuất kinh doanh và điều đó có nghĩa là tín dụng trung, dài hạn đã tạo điều kiện cho tín dụng ngắn hạn phát triển
5.4 Tín dụng trung, dài hạn cung ứng vốn cho các doanh nghiệp có tiềm năng
để mở rộng phát triển
Tín dụng trung, dài hạn cung ứng vốn giúp các doanh nghiệp phát triển tiềm năng mở rộng sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả kinh tế vào việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp Vì ngân hàng không cho vay đối với các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và dự án kém tính khả thi nên bắt buộc người vay phải năng động sáng tạo, nâng cao chất lượng đi đôi với hạ giá thành sản phẩm để đứng vững trong cạnh tranh Người vay sẽ phải sử dụng vốn của ngân hàng một cách tiết kiệm nhất, hiệu quả nhất để có trả nợ vay ngân hàng
và tái sản xuất mở rộng Ngoài ra tín dụng trung, dài hạn còn đóng vai trò một trong những yếu tố nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh góp phần khẳng định tính khả thi của dự án Khi ngân hàng quyết định tham gia vốn đầu tư có nghĩa là những dự án đó được ngân hàng tìm hiểu, nghiên cứu kĩ Điều này buộc các nhà đầu tư lập dự án phải hết sức thận trọng cân nhắc khi đưa ra các dữ kiện, số liệu, luận cứ để thuyết phục ngân hàng cho vay Vì vậy, ngay từ khi lập dự án tiền khả thi, ngân hàng đã đóng vai trò là một nhà tư vấn quan trọng giúp đỡ doanh nghiệp.
Khi dự án thành công sẽ tạo nên không gian đầu tư rộng lớn, có sức hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động, thúc đẩy sản xuất phát triển, làm tăng thu nhập của doanh nghiệp, làm tăng nguồn thu ngân sách thông qua thuế, làm sôi động khả năng cạnh tranh cùng phát triển trong nền kinh tế thị trường Bản thân ngân hàng có điều kiện