1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

26 306 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dịch Vụ Ngân Hàng Thương Mại Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại bài viết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 36,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ Trong Tư bản luận, Các Mác đã đánh giá cao vai trò "bà đỡ" của Ngân hàng như sau: "Ngân hàng ra đời với vai trò tài chính trung gian đã tập

Trang 1

DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ

Trong Tư bản luận, Các Mác đã đánh giá cao vai trò "bà đỡ" của Ngân hàng như sau: "Ngân hàng ra đời với vai trò tài chính trung gian đã tập trung những khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế đem đến cho các nhà doanh nghiệp và công chúng vay Do đó khi một Ngân hàng cho khách hàng của mình vay, bằng cách đó tạo nên sức mua cho họ thì không làm giảm sức mua của bất kỳ ai Đó chính là nét nổi bật nhất trong vai trò của Ngân hàng tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ 1 Theo pháp lệnh Ngân hàng ngày 23-5-1990 thì "Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiếu khấu và làm phương tiện thanh toán”.

* Với chức năng trung gian tài chính, Ngân hàng thương mại thực sự

là "cầu nối" giữa người có tiền muốn cho vay hoặc muốn gửi ở Ngân hàng với người thiếu vốn cần vay.

Thông qua chức năng trung gian tài chính Ngân hàng thương mại (NHTM)thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, đồng thời thực hiện các dịch

vụ tiện ích cho xã hội Nhờ có NHTM mà tiền tiết kiệm của cá nhân, đoàn thể, tổ chức được huy động vào quá trình vận động của nền kinh tế Tiền

Trang 2

tệ huy động được, thông qua các hoạt động của hệ thống NHTM nó trở thành "chất bôi trơn" cho bộ máy kinh tế hoạt động Việc mở tài khoản, cung cấp và quản lý các phương tiện thanh toán làm cho NHTM trở thành một trung gian thanh toán của nền kinh tế.

* Chức năng trung gian thanh toán cho phép NHTM tạo ra bút tệ mở rộng quy mô tín dụng đối với nền kinh tế vừa tiết giảm được lượng tiền mặt, vừa đáp ứng được những biến động thường xuyên của nền kinh tế Chu chuyển tiền tệ ngày nay chủ yếu thông qua hệ thống NHTM nên chức năng trung gian thanh toán được hoàn thiện thì vai trò của NHTM sẽ được nâng cao hơn, với tư cách là người thủ quỹ cho xã hội.

* Một vai trò quan trọng mới của NHTM đó là khi thực hiện chức năng tạo "bút tệ" hay tiền ghi sổ trong nền kinh tế: NHTM làm trung gian giữa cung và cầu về vốn tiền tệ, nó huy động tập trung những nơi có nguồn tiền tạm thời thừa hay tiết kiệm để điều hoà sang những nơi thiếu đang có nhu cầu về vốn với mục đích đem lại lợi ích cho các bên đó là người gửi tiền, Ngân hàng và người vay Ngoài việc thu hút tiền gửi và cho vay NHTM còn tạo tiền khi phát tín dụng Bút tệ hay tiền ghi sổ chỉ tạo ra khi phát tín dụng và thông qua tài khoản tại Ngân hàng Lạm phát tín dụng hay thắt chặt tín dụng cũng đều gây ra suy thoái cho nền kinh tế Với chức năng trung gian trong việc thực hiện chính sách kinh tế quốc gia thì NHTM là các chủ thể đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia.

- Để gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, tín dụng NHTM góp phần thu hút vốn nước ngoài để mở rộng đầu tư phát triển kinh tế đất nước

- Tín dụng NHTM nhằm mở rộng sản xuất, phát triển ngành nghề, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thực hiện các mục tiêu chính sách xã hội của Nhà nước.

1 Các Mác - Tư Bản - Tập 3 phần 2 trang 28 - NXB Sự thật H N à ội - 1987

Trang 3

* Vai trò của NHTM còn được thể hiện thông qua các dịch vụ đó là: Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi doanh nghiệp vừa là người mua, vừa là người bán, họ mua nguyên vật liệu, sức lao động, máy móc, thiết

bị, nhà xưởng công nghệ để tiến hành sản xuất kinh doanh và bán các sản phẩm được tạo ra sau quá trình sản xuất đó nhằm thu lợi nhuận Vì vậy trong quan hệ kinh doanh tất yếu các doanh nghiệp phải thực hiện thanh toán với nhau về các khoản mua bán hàng hoá dịch vụ, các cá nhân cũng vậy, họ cũng phải thực hiện chi trả hay thanh toán cho các nhu cầu của mình, nên NHTM với việc sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt đã làm giảm chi phí lưu thông tiền mặt, tăng nhanh khối lượng chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế, góp phần tiết kiệm chi phí xã hội.

Với việc luôn đổi mới và ứng dụng công nghệ cao trong thanh toán, các NHTM có thể cung cấp cho hàng triệu khách hàng các dịch vụ hiệu quả và rẻ nhất có thể được.

Các NHTM bằng việc thực hiện môi giới đại lý cho cá nhân, các tổ chức kinh tế trên thị trường chứng khoán, hay thực hiện các dịch vụ về thông tin, tư vấn cho khách hàng và các dịch vụ khác Với trình độ chuyên môn của mình hoạt động như là chất "bôi trơn" dẫn vốn từ kênh tiết kiệm đến kênh đầu tư trên thị trường tài chính hay giúp cho các khách hàng của mình trong việc quản lý tài sản tài chính một cách có lợi nhất Việc làm này đảm bảo cho thị trường tài chính hoạt động trôi chảy, nhịp nhàng và hữu hiệu, góp phần cải thiện đời sống kinh tế của mỗi cá nhân trong xã hội, đẩy nhanh sự phát triển của nền kinh tế trong nước.

1.2-/ VAI TRÒ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG.

Trong môi trường cạnh tranh, các sản phẩm dịch vụ đa dạng với chất lượng cao và chi phí thấp là một ưu thế quan trọng mang lại hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh của mỗi Ngân hàng Vì vậy vai trò của dịch

Trang 4

vụ trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thể hiện ở một số mặt chính sau đây:

a Đáp ứng nhu cầu của khách hàng và nền kinh tế:

Dịch vụ thanh toán làm tăng khả năng luân chuyển vốn trong nền kinh

tế, đáp ứng nhu cầu về chuyển tiền cũng như chi trả của khách hàng một cách thuận lợi nhanh chóng và chính xác, tiết kiệm chi phí lưu thông.

Dịch vụ tài chính và tư vấn, dịch vụ bảo quản ký gửi đáp ứng các nhu cầu riêng của khách hàng.

b Tăng lợi nhuận và phân tán rủi ro:

Một trong những mục tiêu quan trọng của bất cứ một Ngân hàng Thương mại nào đó là lợi nhuận Nếu theo nghiệp vụ truyền thống và cổ điển của Ngân hàng thì lợi nhuận có được chủ yếu là từ nghiệp vụ tín dụng nhưng đây cũng là lĩnh vực gặp nhiều rủi ro nhất bởi mọi biến động trên thị trường đều liên quan đến tiền tệ Có thể kể đến các loại rủi ro Ngân hàng thường gặp là:

- Rủi ro lãi suất.

- Rủi ro tỉ giá.

- Rủi ro hệ thống.

- Rủi ro chính sách.

- Rủi ro môi trường.

Với việc kinh doanh nhiều lĩnh vực, đa dịch vụ là một phương sách hiệu quả nhất để phân tán rủi ro trong kinh doanh, giữ vững sự ổn định của Ngân hàng, lợi nhuận thu được từ các dịch vụ khác nhau sẽ bổ sung cho nhau khi thị trường biến động giúp cho Ngân hàng ổn định được mức doanh lợi.

c Thúc đẩy các nghiệp vụ khác phát triển:

Giữa các nghiệp vụ của NHTM đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau tạo thành một thể thống nhất Huy động vốn tạo nguồn cho việc thực hiện nghiệp vụ tín dụng và phát triển dịch vụ, nhưng

Trang 5

ngược lại thì nghiệp vụ tín dụng và dịch vụ thực hiện tốt cũng tạo điều kiện

để thu hút khách hàng đồng thời thu hút được những nguồn tiền nhàn rỗi của họ

Ngày nay việc thực hiện các dịch vụ Ngân hàng có một vai trò quan trọng nhằm thu hút khách hàng, tạo điều kiện có thể làm tốt các nghiệp

vụ khác của Ngân hàng Khách hàng không những có nhu cầu vay vốn hay nhu cầu gửi tiền để lấylãi mà họ còn muốn được hưởng những tiện ích từ các dịch vụ do Ngân hàng đó đem lại Trong điều kiện kinh tế thị trường, việc thực hiện những dịch vụ Ngân hàng đảm bảo chất lượng cao và sự phong phú đa dạng của nó đang là vấn đề rất quan trọng để các Ngân hàng khai thác khách hàng.

d Tăng khả năng cạnh tranh của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường

Đứng trên giác độ lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng có thể thấy sự tồn tại của Ngân hàng gắn chặt với các chủ thể sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hoá Sự tồn tại của NHTM được đảm bảo bởi sự kết hợp hữu cơ giữa hai mặt hoạt động: dịch vụ và kinh doanh tiền tệ Mặt khác trong môi trường cạnh tranh thì từ đầu các Ngân hàng đã đề cao chất lượng hoạt động dịch vụ như một đối sách lợi hại để giữa phần thắng trong cạnh tranh Bên cạnh việc cạnh tranh bằng lãi suất, các Ngân hàng phải biết cạnh tranh bằng biện pháp phi giá (chất lượng dịch vụ và công nghệ Ngân hàng) Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì các giải pháp đó càng trở nên tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của một Ngân hàng hiện đại.

1.3-/ MỘT SỐ DỊCH VỤ CỦA NHTM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

1.3.1 Khái niệm dịch vụ Ngân hàng

Theo từ điển toàn thư tiếng Anh trên mạng Internet thì dịch vụ nói chung đó là:

Trang 6

- Một hành động có ích; giúp đỡ, trợ giúp: cung cấp cho ai một dịch vụ

- Thường dùng, services Việc thực hiện bất kỳ một công việc hoặc phần việc nào cho một người khác; hoạt động có tính chuyên môn hoặc có ích lợi Theo David Cox trong tác phẩm “Nghiệp vụ Ngân hàng hiện đại”: dịch vụ Ngân hàng được hiểu theo nghĩa “Trong khi một số Ngân hàng chuyên đáp ứng các nhu cầu của nhóm khách hàng đặc biệt như các công

ty hoặc người tiết kiệm nhỏ thì các Ngân hàng thanh toán bù trừ lại cung cấp một loạt các dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu về tài chính của tất

cả các loại khách hàng từ những tư nhân nhỏ nhất đến các công ty lớn nhất Các dịch vụ này được phân loại ra các nhóm chính sau:

- Tiền gửi và tiền tiết kiệm.

- Cho vay ứng trước.

1.3.2 Một số dịch vụ ngân hàng.

1.3.2.1 Dịch vụ nhận tiền gửi:

a, Nghiệp vụ mở tài khoản:

Trong toàn bộ các công cụ của Ngân hàng thương mại, tài khoản Ngân hàng là công cụ có vị trí quan trọng vào bậc nhất Phần lớn các nghiệp vụ do

Trang 7

NHTM thực hiện thay cho khách hàng đều được ghi vào tài khoản của khách hàng.

Sau khi mở tài khoản tại Ngân hàng, khách hàng chuyển giao cho Ngân hàng việc tiến hành về mặt kỹ thuật các nghiệp vụ chi trả của mình, công việc mà trước kia thuộc nhiệm vụ của kế toán khách hàng thì bây giờ do Ngân hàng thực hiện Thông qua tài khoản Ngân hàng, Ngân hàng cung cấp cho khách hàng một loạt các dịch vụ tạo khả năng to lớn để khách hàng thực hiện được các nghiệp vụ có giá trị to lớn cùng khắp địa phương một cách nhanh chóng chính xác, bảo đảm an toàn mà bản thân khách hàng nếu tự đứng ra thực hiện sẽ rất tốn kém và khó khăn.

Đối với Ngân hàng, tài khoản là một công cụ diệu kỳ thực hiện cơ chế tạo tiền, làm tăng sức mạnh của Ngân hàng gấp nhiều lần.

Về phương diện pháp lý cũng như theo thông lệ, tài khoản được định nghĩa là "một bảng kê có mang tên, họ, địa chỉ của khách hàng và có số thứ tự Trong đó Ngân hàng tuần tự ghi chép tất cả các nghiệp vụ của Ngân hàng thực hiện giúp cho khách hàng chủ tài khoản" trên đó lưu trữ bảo quản các "dấu vết" của các nghiệp vụ và cho tổng kết tình hình kết số tiền gửi của khách hàng.

Một số ngân hàng cho rằng không có lợi trong việc mở tài khoản cho các khách hàng chỉ để một số tiền khiêm tốn và tài khoản ít hoạt động Do

đó ngân hàng thường bắt buộc khách hàng phải gửi một số tiền nhất định cho lần đầu mới mở sổ hoặc lấy một khoản hoa hồng tương đối cao

để tránh mở các tài khoản mà Ngân hàng cho là không cần thiết Áp dụng một chính sách như vậy mà không phân biệt có thể đưa đến tình trạng cằn cỗi về khách hàng Nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng sẽ rất khó khăn cho sau này trong việc chinh phục lại các khách hàng mà ta đã để rơi mất Nhiều ngân hàng và ngay cả những tổ chức tín dụng đã áp dụng nguyên tắc tiếp đón một cách tự do thoải mái các đơn vị xin mở tài

Trang 8

khoản, không lấy hoa hồng và cũng chỉ cần gởi một số tiền tượng trưng cho lần gửi đầu mà thôi.

b, Nhận tiền gửi (ký thác)

NHTM được hiểu như là một xí nghiệp là "tổ chức kinh doanh tiền tệ

mà hoạt động chủ yếu thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp

vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán" (Điều I khoản 1, pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính).

Đối với người gửi tiền, ý nghĩa "ký thác" không hoàn toàn như danh

từ đã sử dụng Thông thường ở các nước thì khách hàng xin mở tài khoản là có ý để hưởng các lợi ích của các phương tiện mà Ngân hàng có thể cung cấp cho họ "Ký thác" ở đây là các số tiền được gửi vào để sử dụng cho các nghiệp vụ trong tương lai hoặc do các nghiệp vụ phát sinh

từ trước còn lại Khách hàng cũng thường gửi tiền để lấy lãi như các số tiền gửi vào sổ tiết kiệm hay vào các tài khoản định kỳ Trường hợp này thì khách hàng không còn quyền sử dụng các dịch vụ của Ngân hàng như dùng séc để thanh toán chẳng hạn Do đó người gửi tiền cảm thấy việc Ngân hàng tuỳ nghi sử dụng các số tiền ký thác là chính đáng.

Đối với Ngân hàng, các loại ký thác tạo thành nguồn vốn cung cấp cho các nghiệp vụ sinh lợi nhất trong các hoạt động của Ngân hàng, các khách hàng và doanh nhân thông qua việc mở tài khoản để được Ngân hàng cung ứng các dịch vụ về ngân quỹ, thu chi tài vụ một cách nhanh chóng và an toàn Những nghiệp vụ này nếu tự khách hàng đứng ra đảm nhiệm sẽ tốn nhiều công sức và thời gian.

Đối với khách hàng thuộc các tầng lớp dân cư, việc mở tài khoản và

ký gửi tiền tại Ngân hàng ngoài việc được Ngân hàng cung cấp một tập séc (chi phiếu) để thuận tiện trong việc chi trả còn được Ngân hàng cung ứng các loại dịch vụ đa dạng về tài chính có sinh lời.

Trang 9

1.3.2.2 Dịch vụ thanh toán.

Với sự ra đời của Ngân hàng, những chi trả về hàng hoá và dịch vụ của khách hàng được thực hiện qua Ngân hàng với nhiều hình thức thanh toán đơn giản, thích hợp và kỹ thuật ngày càng tiên tiến, Ngân hàng làm trung gian thanh toán hộ các khoản giao dịch theo yêu cầu của hai bên mua bán, cho doanh nghiệp vay vốn nếu thiếu vốn thanh toán, do

đó tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, tăng nhanh vòng quay vốn Các doanh nghiệp thấy được tác dụng to lớn của việc quan hệ giao dịch với ngân hàng, do đó khối lượng thanh toán qua Ngân hàng ngày càng tăng, quy mô thanh toán trực tiếp ngày càng bị thu hẹp và Ngân hàng đã trở thành trung gian thanh toán của Ngân hàng ngày càng được khẳng định vững chắc Ngày nay với sự bùng nổ của cách mạng khoa học kỹ thuật - công nghệ, Ngân hàng luôn ứng dụng kịp thời các thành tựu kỹ thuật hiện đại vào lĩnh vực thanh toán, nhằm mục tiêu phục vụ tốt nhất cho khách hàng, đảm bảo thanh toán nhanh, tiết kiệm, tiện lợi, văn minh Với việc tin học hoá lĩnh vực thanh toán đã làm cho quy mô thanh toán được mở rộng hơn bao giờ hết, phạm vi thanh toán không dừng lại

ở các doanh nghiệp mà đã bao trùm lĩnh vực thanh toán trong dân cư, theo đó các công cụ thanh toán hiện đại lần lượt xuất hiện và ngày càng hoàn thiện với các hình thức ngày càng phong phú bao gồm:

a, Hình thức thanh toán bằng séc.

Là lệnh của chủ tài khoản yêu cầu ngân hàng trích một số tiền nhất định trên tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên séc hay người cầm tờ séc đó

Séc là hình thức thanh toán lâu đời, phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới Khi sử dụng séc phải tuân theo một nguyên tắc bắt buộc là người

Trang 10

phát hành séc phải có đủ số dư trên tài khoản tiền gửi và chỉ được phát hành trong phạm vi số dư đó.

Séc là thể thức thanh toán đơn giản thuận tiện được sử dụng rộng rãi nhiều nơi trên thế giới Tuy nhiên trong thực tế đã có xuất hiện séc giả

do đó kỹ thuật thanh toán séc không ngừng được hoàn thiện

b, Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi:

Là lệnh chi của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn của Ngân hàng, yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản để trả cho người thụ hưởng có tài khoản ở cùng một ngân hàng hay khác ngân hàng.

Uỷ nhiệm chi được dùng rất phổ biến trong cả quan hệ thanh toán hàng hoá và phi hàng hoá Khi dùng hình thức này người trả tiền chủ động lập chứng từ để thanh toán cho người hưởng thông qua Ngân hàng.

c, Thanh toán bằng Uỷ nhiệm thu:

Uỷ nhiệm thu là hình thức thanh toán mà người bán sau khi giao hàng sẽ xuất trình cho Ngân hàng phục vụ mình, những chứng từ được quy định trong hợp đồng để nhờ thu hộ Căn cứ vào nội dung các chứng

từ gửi đến Ngân hàng nhờ thu mà phân làm hai loại: Nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.

Hình thức thanh toán này được sử dụng trong quan hệ thanh toán nội địa và trong thanh toán quốc tế.

d, Thanh toán bằng thư tín dụng.

Thư tín dụng là văn bản pháp lý trong đó ngân hàng nơi mở thư tín dụng cam kết trả tiền cho bên bán nếu bên bán thực hiện đúng và đầy đủ những quy định theo thư tín dụng Muốn được mở thư tín dụng người mua phải lưu ký tiền của mình vào tài khoản đảm bảo thanh toán tại

Trang 11

Ngân hàng Thư tín dụng được mở theo yêu cầu của bên mua trên cơ sở hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng hai bên đã ký kết.

Căn cứ vào thư tín dụng, bên bán giao hàng cho bên mua sau đó lập

bộ chứng từ thanh toán theo quy định trong thư tín dụng nộp vào ngân hàng Bộ chứng từ này chuyển cho Ngân hàng bên mua trả tiền và Ngân hàng sẽ thanh toán cho người được hưởng nếu thư tín dụng không có sai sót.

Hình thức này đòi hỏi bên mua phải có đủ phương tiện thanh toán nên độ an toàn và chuẩn xác cao do đó nó được dùng phổ biến trong thanh toán quốc tế.

e, Hối phiếu và lệnh phiếu:

Hối phiếu do người cung cấp phát hành và được khách có nợ (người mua) chấp nhận Lệnh phiếu là do khách có nợ phát hành công nhận mình mắc nợ người cung cấp Đến thời hạn thanh toán ghi trên phiếu, người cung cấp trao lệnh phiếu này hay hối phiếu cho Ngân hàng A của khách nợ để lấy tiền Ngân hàng A sẽ chuyển tiền vào tài khoản của người cung cấp.

g, Thẻ thanh toán:

Thẻ thanh toán điện tử bao gồm nhiều loại khác nhau, sử dụng thích ứng với các hệ thống kinh tế của từng nước trong từng thời kỳ nhất định Loại thẻ thanh toán đầu tiên là thẻ tín dụng (credit card) xuất hiện ở

Mỹ hàng thế kỷ nay Loại thẻ này ban đầu do một số khách sạn, công ty dầu lửa lớn, bách hoá, công ty du lịch giải trí phát hành Nó được dùng để vừa thanh toán, vừa cho vay trong phạm vi giới hạn thoả thuận giữa bên phát hành thẻ và bên sử dụng thẻ Tính phổ biến của thẻ tín dụng là do chúng có nhiều ưu điểm và được coi như một hình thức chi trả thuận lợi.

Trang 12

Thẻ điện tử có thể do các doanh nghiệp liên kết phát hành hoặc các Ngân hàng liên kết phát hành nhằm tiết giảm chi phí và tận dụng hệ thống của nhau Thẻ này được sử dụng trên cơ sở một hệ thống mạng vi tính được nối với nhau làm việc ở trình độ tự động hoá cao Bản thân mỗi tấm thẻ có sức chứa hàng trăm thậm chí hàng triệu dữ liệu thông tin và thông qua mạng vi tính thực hiện ngày hàng trăm bút toán tăng, giảm tài khoản tại các Ngân hàng tham gia vào hệ thống thanh toán thẻ, đảm bảo nhanh chóng, an toàn chính xác Khách hàng có thể mua hàng tại chỗ, mua hàng qua máy điện thoại và dùng thẻ để thanh toán Như vậy thanh toán bằng thẻ đã tiết kiệm được chi phí, công sức cho người mua - người bán, tiết giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông và tăng chu chuyển vốn cho nền kinh tế Công cụ thanh toán bằng thẻ ra đời đã làm xuất hiện máy ATM Máy ATM giúp cho khách hàng có thể giao dịch 24/24 giờ trong ngày, một khách hàng của Ngân hàng có thể rút tiền, gửi tiền, chuyển vốn

từ tài khoản này sang tài khoản khác và kiểm tra số dư của tài khoản ở Ngân hàng thông qua máy ATM.

Do sự tiện lợi, linh hoạt nên máy ATM được đặt ở tại trụ sở Ngân hàng mà còn được đặt ở các sân bay, nhà ga, điểm bán hàng, trường học, trung tâm thương mại ATM vượt ra khỏi một hệ thống Ngân hàng quan hệ với các tổ chức tài chính khác Các hệ thống này có thể mang tính chất khu vực, quốc gia hay quốc tế.

1.3.2.3 Dịch vụ bảo lãnh.

Tín dụng bảo lãnh, đây là việc Ngân hàng đứng ra đảm bảo việc thực hiện một nghĩa vụ của khách hàng tức là sự cam kết của Ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho người được bảo lãnh nếu người này không thực hiện nghĩa vụ Điều này được cụ thể hoá bằng văn bản do ngân hàng phát hành được gọi là chứng thư bảo lãnh Nghiêm khắc mà xét bảo lãnh không phải là cho vay vì người bảo lãnh không hề ứng tiền mà chỉ nhận

Trang 13

bảo đảm cho người có nợ đối với chủ nợ mà thôi Như vậy chỉ khi nào con

nợ không trả được nợ bấy giờ người bảo lãnh mới phải trả nợ hộ.

Ngoài ra trong chu chuyển kinh tế thường có những sự không khớp

về thời gian chi trả và thời gian nhận hàng, do đó cần có sự đảm bảo về chi trả hoặc cung cấp của người thứ ba - Người đó có thể là Ngân hàng

và đảm bảo của nó mang hình thức tín dụng.

Như vậy bảo lãnh là hành vi có thể gặp nhiều rủi ro do đó trước khi bảo lãnh Ngân hàng cần nghiên cứu thận trọng uy tín và năng lực tài chính của khách hàng.

Sau khi bảo lãnh, Ngân hàng sẽ được hưởng khoản phí, mức phí hiện nay vào khoảng từ 1 - 2,5% Như vậy có thể nói phí bảo lãnh là cái giá phải trả cho người bảo lãnh do việc sử dụng uy tín và khả năng tài chính của người bảo lãnh Bảo lãnh thường được thực hiện trong các trường hơp sau:

- Bảo lãnh thanh toán.

- Bảo lãnh đấu thầu.

- Bảo lãnh thuế quan.

- Bảo lãnh tiền đặt cọc.

- Bảo lãnh chất lượng và trọng lượng.

- Bảo lãnh vận đơn.

1.3.2.4 Dịch vụ chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá.

Chiết khấu chứng từ có giá là nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại

mà theo đó Ngân hàng sẽ nhận và tiến hành trả tiền trước cho những chứng từ chưa đến hạn thanh toán cho người thụ hưởng theo số tiền ghi trên chứng từ sau khi đã khấu trừ tiền lãi chiết khấu, hoa hồng và các lệ phí khác.

Ngày đăng: 09/10/2013, 01:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w