1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HOÀN KIẾM

24 310 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Tín Dụng Trung Dài Hạn Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Hoàn Kiếm
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tín Dụng
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 67,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Hoàn Kiếm đã liên tục phát triển trong những năm qua.. Năm 2002, NHNo & PTNT Hoàn Kiếm được coi là một trong những chi nhánh có nguồn vốn huy động l

Trang 1

THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG

NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HOÀN KIẾM

2.1 VÀI NÉT VỀ NHNO & PTNT HOÀN KIẾM.

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển NHNo&PTNT Hoàn Kiếm .

Hoàn Kiếm là một quận trung tâm của thủ đô Hà Nội, bao gồm 18 phường với hơn 27 vạn dân sinh sống trên diện tích hơn 45 km 2 Đây là một trong những khu trung tâm thương mại lớn nhất ở nước ta với hai chợ lớn là Đồng Xuân và Hàng Da cùng với nhiều siêu thị, cửa hàng bách hoá, nhà hàng khách sạn lớn và hơn 6000 hộ kinh doanh Trên địa bàn quận, cùng với sự phát triển

đa dạng của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh còn có nhiều doanh nghiệp nhà nước, các tổng công ty lớn, văn phòng các bộ ngành càng làm phong phú hơn đối tượng phục vụ của Ngân hàng Các yếu tố trên đã đưa Hoàn Kiếm trở thành một địa chỉ thu hút nhiều nhà đầu tư đến kinh doanh và đưa quận trở thành một trong những trung tâm kinh tế – chính trị – văn hoá lớn nhất trong cả nước

NHNo & PTNT Hoàn Kiếm là một chi nhánh Ngân hàng cấp quận, trực thuộc NHNo & PTNT Việt Nam, được thành lập do nhu cầu mở rộng mạng lưới hoạt động của NHNo & PTNT Việt Nam vào tháng 5 năm 1995 theo quyết định

số 285/QĐ của thống đốc NHNN, có trụ sở tại 19 Cửa Đông - Hoàn Kiếm – Hà Nội NHNo & PTNT Hoàn Kiếm là một đơn vị hạch toán độc lập, thực hiện đầy

đủ các chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, dịch vụ Ngân hàng Qua tám năm hoạt động và đổi mới Ngân hàng đã gặp không ít những khó khăn, thậm chí vấp váp trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế cùng với sự cạnh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng lớn mạnh trong và ngoài nước trên địa bàn như Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, Sacom Bank, City Bank, Bank of American, ANZ Bank… nhưng Ngân hàng vẫn không ngừng trưởng thành và lớn mạnh, phát triển nhanh cả về qui mô, nội

Trang 2

dung và chất lượng hoạt động Điều đó được thể hiện trên một số mặt cụ thể sau:

- Xây dựng và hoàn thiện bộ máy tổ chức, phát triển nghiệp vụ kinh doanh kinh doanh Ngày đầu mới thành lập, NHNo & PTNT Hoàn Kiếm chỉ có 15 cán

bộ chuyên viên Đến nay đội ngũ cán bộ của Ngân hàng đã lên tới 53 người, trong đó 95% cán bộ nhân viên có trình độ đại học và trên đại học, hầu hết các cán bộ nhân viên đều có thể sử dụng thành thạo máy vi tính và ngoại ngữ Cơ cấu tổ chức phòng ban gồm phòng giám đốc, phó giám đốc, phòng kinh doanh, phòng giao dịch và phòng kế toán Do là một chi nhánh cấp quận nên NHNo & PTNT quận Hoàn Kiếm cũng chỉ có một vài chi nhánh nhỏ đặt tại một số địa điểm quan trọng trên địa bàn nhằm mở rộng thu hút cung cấp các dịch vụ cho khách hàng nâng cao chất lượng hiệu quả kinh doanh.

- Cơ sở vật chất kỹ thuật của NHNo & PTNT Hoàn Kiếm được cải thiện và nâng cao một cách đáng kể, Ngân hàng đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để trang

bị cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ thông tin mới đáp ứng nhanh chóng các thông tin cũng như giao dịch hàng ngày trong phạm vi toàn quốc và trên thế giới Hệ thống thông tin được nối mạng cập nhật, nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế ngày càng phát triển

- Hiện nay, nước ta có khoảng 6000 doanh nghiệp Nhà nước và trên 21000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh tế Những năm gần đây, mặc dù đã nhập nhiều thiết bị, máy móc dây chuyền công nghệ của nước ngoài nhưng đa số TSCĐ của các doanh nghiệp này vẫn còn lạc hậu không đồng bộ, cần phải thay thế Nhu cầu và rất lớn trong đó phần lớn phải nhờ vào tín dụng Ngân hàng Theo việc nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, năm 1995 có 65% số doanh nghiệp được vay vốn Ngân hàng trong đó 2/3 là vốn ngắn hạn Cho đến nay tuy số doanh nghiệp được vay vốn Ngân hàng tăng lên song tỷ lệ cho vay trung - dài hạn trên tổng doanh số cho vay không những chưa được tăng lên mà còn có xu hướng giảm đi Hiện nay, tỷ lệ

Trang 3

cho vay trung - dài hạn trên tổng dư nợ của các NHTM Việt Nam trung bình là 10%, một tỷ lệ rất thấp và ở các NHTM Cổ phần còn thấp hơn nữa.

Thực trạng đó do các nguyên nhân sau:

- Hình thức huy động và cho vay trung - dài hạn ở nước ta còn nghèo nàn, chưa hấp dẫn thể hiện ở chỗ: các Ngân hàng mới chỉ cấp tính dụng theo cách thức rất truyền thống là đợi khách hàng đến xin vay và sau khi thẩm định đạt yêu cầu thì phát vốn, các loại hình như tín dụng thuê mua và đồng tài trợ là rất ít.

- Các Ngân hàng chưa có một đội ngũ cán bộ tín dụng có đầy đủ trình độ để thẩm định dự án đầu tư nhanh chóng, chính xác Thẩm định dự án đầu tư là khâu quan trọng của quá trình cho vay trung - dài hạn, nó quyết định việc có nên cho vay hay không và hiệu quả của khoản cho vay Do đó, việc thẩm định đòi hỏi nhiệt tình công tác, trình độ chuyên môn và sự am hiểu xã hội sâu sắc.

- Tình trạng ''thừa thì thừa mà thiếu vẫn thiếu'' Nhiều doanh nghiệp chưa

có những dự án có tầm chiến lược để phát triển sản xuất kinh doanh hoặc những doanh nghiệp mới thành lập, sản phẩm có sức cạnh tranh kém, khó tiêu thụ Những khó khăn đó làm hạn chế rất nhiều khả năng hấp thụ vốn của Ngân hàng, kể cả vốn trung - dài hạn Các Ngân hàng không phải không có vốn nhưng cần tìm khách hàng đủ tiêu chuẩn để cho vay.

Nhìn chung hoạt động cho vay trung - dài hạn hiện nay rất hạn chế, chưa

có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách cần thiết Vì vậy trong thời gian tới, những cơ quan hữu quan cần phải có những biện pháp hiệu quả

để cải thiện tình trạng này.

2.1.2 Các hoạt động kinh doanh cơ bản của NHNo&PTNT Hoàn Kiếm.

Hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Hoàn Kiếm đã liên tục phát triển trong những năm qua Điều này thể hiện rõ thông qua các chỉ tiêu về hoạt động: huy động vốn, cho vay và lợi nhuận.

Trang 4

2.1.2.1 Hoạt động huy động vốn

Khi xét đến hiệu quả huy động vốn của một Ngân hàng cần phải nhìn nhận trên công tác tín dụng Tuy nhiên, để đảm bảo nguồn vốn cung cấp cho hoạt động tín dụng, các Ngân hàng phải thu hút được các nguồn vốn lớn với lãi suất thấp Việc khai thác các nguồn vốn tiềm tàng trong xã hội là mục tiêu hàng đầu được đặt ra Chiến lược huy động vốn là hoạt động quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong kinh doanh tiền tệ, nó mang tính thường xuyên và liên tục Năm 2002, NHNo & PTNT Hoàn Kiếm được coi là một trong những chi nhánh

có nguồn vốn huy động lớn nhất trong số các chi nhánh của hệ thống NHNo & PTNT Thành phố Hà nội Ngân hàng cũng là chi nhánh có số huy động vốn VND lớn nhất và vốn huy động bằng ngoại tệ đứng thứ 3 (chỉ sau Ngân hàng ngoại thương Hà nội và NHTM cổ phần quốc doanh) và có vốn huy động tiết kiệm lớn nhất trong số các chi nhánh này.

Bảng 1: Nguồn vốn huy động của NHNo & PTNT Hoàn Kiếm.

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2000 - 2002)

Hướng theo mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế thị trường, NHNo & PTNT Hoàn Kiếm đã chủ động tập trung khai thác các nguồn vốn trong xã hội nhằm tăng nguồn vốn hoạt động, đặc biệt nguồn vốn có thời hạn dài, ổn định, tăng khả năng cạnh tranh và phục

vụ cho hoạt động đầu tư phát triển.

Trang 5

Qua số liệu của bảng trên, ta thấy tình hình huy động vốn của NHNo & PTNT Hoàn Kiếm liên tục tăng qua các năm, đặc biệt là nguồn tiền gửi tiết kiệm của dân cư có mức khá cao, năm 2000 đạt 245 tỷ, chiếm 80% tỷ trọng tổng nguồn vốn huy động, năm 2001 đạt 312 tỷ, chiếm tỷ trọng 70%, năm

2002, đạt 361 tỷ, tỷ trọng 77% Tỷ trọng thì nguồn vốn huy động từ dân cư có

xu hướng giảm xuống nhưng quy mô của nguồn vốn này vẫn có xu hướng tăng lên và chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng nguồn vốn Nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế cũng chiếm tỷ trọng tương đối cao trong bảng tổng kết nhưng tỷ trọng có sự biến động lớn, nguồn vốn huy động từ hình thức phát hành giấy tờ có giá tuy có sự tăng trưởng nhưng chiếm tỷ trọng nhỏ, do đó Ngân hàng cần có biện pháp để tăng cường nguồn vốn huy động này nhằm tăng tính ổn định.

Qua bảng trên ta thấy, nguồn huy động vốn quan trọng nhất của NHNo & PTNT Hoàn Kiếm là tiền gửi của dân cư và nguồn vốn huy động của các tổ chức kinh tế Nguồn vốn huy động của NHNo & PTNT Hoàn Kiếm thoả mãn nhu cầu vay vốn của nền kinh tế bằng cả nội tệ và ngoại tệ

2.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn

Song song với hoạt động huy động vốn, công tác tín dụng là công tác quan trọng nhất, có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng Đây cũng là công tác dễ phát sinh rủi ro nhất do môi trường pháp lý chưa đồng bộ, môi trường kinh tế chưa ổn định Mục tiêu kinh doanh mà NHNo & PTNT Hoàn Kiếm đã đặt ra từ nhiều năm nay là "Kinh tế phát triển an toàn - Tôn trọng pháp luật - Lợi nhuận hợp lý" Để đạt được mục tiêu này, NHNo & PTNT Hoàn Kiếm đã tích cực thực hiện nhiều biện pháp.

Để đảm bảo an toàn vốn vay, NHNo & PTNT Hoàn Kiếm cũng rất nghiêm túc trong thực hiện những thể lệ chế độ, quy trình nghiệp vụ tín dụng, bảo đảm 100% các món vay đều được kiểm tra trước, trong khi giải ngân hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro vốn sử dụng sai mục đích Mặc dù rất thận trọng trước khi ra quyết định cho vay, Ngân hàng cũng hết sức tạo điều kiện cho các doanh

Trang 6

nghiệp có nhu cầu về vốn Ngân hàng thực sự đã giúp đỡ các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhà nước, duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh, luôn luôn quan tâm đầu tư trung - dài hạn tạo môi trường giúp đỡ các doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị, hiện đại và nâng cao chất lượng sản phẩm Nhằm rút ngắn thời gian cho vay mà vẫn đảm bảo hiệu quả tín dụng, NHNo & PTNT Hoàn Kiếm đã tiến hành phân loại khách hàng chọn lựa các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có tín nhiệm trong việc vay và trả nợ, tạo ra một đội ngũ khách hàng tin cậy và mang tính chiến lược lâu dài: Công ty giầy da Hà Nội, Công ty thực phẩm Hà Nội, công ty xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng, công ty vận tải thuỷ I, công ty TM đá quý Thần Châu, công ty TNHH Khang Thịnh, công ty cổ phần Bắc Kinh, …

Hoạt động tín dụng năm 2002 đã có những đóng góp và thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế thủ đô, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng

Bảng 2: Dư nợ tín dụng của NHNo & PTNT Hoàn Kiếm

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2000 - 2002)

Theo bảng trên ta có thể nhận xét.

Trang 7

NHNo & PTNT Hoàn Kiếm rất nỗ lực trong việc mở rộng cho vay: doanh

số cho vay liên tục tăng theo từng năm Nhưng bên cạnh đó cũng tồn tại một nhược điểm: số dư nợ cũng tăng lên theo doanh số cho cần có những biện pháp hiệu quả để khắc phục tình trạng này.

* Về cơ cấu cho vay theo thành phần kinh tế.

Tỷ trọng dư nợ của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh giảm nhanh.

Năm 2000 chiếm 55%

Năm 2001 chiếm 42%

Năm 2002 chiếm 26%

Và doanh số cho vay của khu vực này có xu hướng giảm đi, tuy vậy doanh

số thu nợ giảm không đáng kể (2002 so với 2000) Điều này cho ta thấy: Ngân hàng thu hẹp cho vay ngoài quốc doanh song vẫn đảm bảo các khoản đã cho vay ra đều thu được nợ, tỷ trọng vốn vay của khu vực ngoài quốc doanh liên tục giảm qua các năm Đó là vì trước năm 1996: nước ta thực hiện mở cửa nền kinh tế ban hành những chính sách có tác dụng thúc đẩy các thành phần kinh

tế khác phát triển Điều đó làm cho khối kinh tế ngoài quốc doanh phát triển mạnh nhu cầu vốn cho kinh tế ngoài quốc doanh tăng Nhưng ngay lập tức, những khoản cho vay này tạo ra tỷ lệ nợ quá hạn cao Thêm nữa, trong vài năm gần đây, kiểu làm ăn thiếu tin cậy này khiến cho Ngân hàng không muốn

mở rộng cho vay đối với họ nữa Mặc dù tư tưởng chỉ đạo của nhà nước là "mở rộng cho vay không phân biệt thành phần kinh tế" nhưng để đảm bảo an toàn, Ngân hàng buộc phải rút vốn về và tỷ trọng dư nợ đối với khu vực này là rất thấp.

Thực trạng trên đồng nghĩa với việc mở rộng cho vay đối với kinh tế quốc doanh cả về số tương đối và tuyệt đối Trong các năm 2000 đến 2002 doanh số cho vay khu vực quốc doanh liên tục tăng Sự gia tăng đó do các nhân tố sau:

- Các doanh nghiệp quốc doanh ngày càng phát triển do mở rộng tính độc lập thích nghi với cơ chế kinh tế mới.

Trang 8

- Các doanh nghiệp nhà nước thường nhận được các nguồn vốn ưu đãi từ ngân quỹ, có điều kiện cải tiến quy trình công nghệ, tạo nên ưu thế cạnh tranh nên có điều kiện vay vốn Ngân hàng để mở rộng sản xuất.

- Doanh nghiệp nhà nước không cần thế chấp khi vay mà điều kiện về tài sản thế chấp luôn là thách thức với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong việc tiếp cận vốn Ngân hàng.

- Nghị quyết TW Đảng khẳng định nền kinh tế phải lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo đã định hướng hoạt động cho vay của Ngân hàng.

* Loại hình nghiệp vụ.

Tại NHNo & PTNT Hoàn Kiếm, nghiệp vụ tín dụng ngày càng được mở rộng với nhiều loại hình khác nhau: cho vay trung - dài hạn bằng lãi suất ưu đãi từ nguồn vốn vay nước ngoài giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới trang thiết bị công nghệ, cho vay với lãi suất ưu đãi khuyến khích cơ sở ngoài quốc doanh tạo việc làm cho người lao động, cho vay sinh viên, cho vay lãi suất thấp khuyến khích các đơn vị sản xuất hàng xuất khẩu Nguồn tín dụng của Ngân hàng đã thực sự góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, tạo môi trường giúp các cơ sở phát huy năng lực cạnh tranh, đứng vững và ngày càng phát triển.

2.1.2.3 Hoạt động trung gian

Về kinh tế đối ngoại.

Trước thời kỳ đổi mới đây là nghiệp vụ độc quyền của hệ thống Ngân hàng ngoại thương nên trong lĩnh vực này Ngân hàng ngoại thương vẫn có ưu thế tuyệt đối Tuy vậy NHNo & PTNT Hoàn Kiếm vẫn rất chú trọng đến loại hình kinh doanh này Điều đó thể hiện ở việc chi nhánh đã nâng tổ thanh toán quốc tế thành phòng kinh doanh đối ngoại, tham gia mua bán ngoại tệ, mở L/C, thanh toán kiều hối, chiết khấu chứng từ, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh chất lượng sản phẩm Những hoạt động này tuy mới chỉ chiếm phần nhỏ trong hoạt

Trang 9

động của Ngân hàng nhưng đã góp phần đang dạng hoá các hoạt động và tăng thêm hiệu quả kinh doanh cho NHNo & PTNT Hoàn Kiếm.

Về công tác thanh toán

Công tác thanh toán là một trong những hoạt động trọng tâm trong hoạt động của các NHTM Tại NHNo & PTNT Hoàn Kiếm, công nghệ Ngân hàng không ngừng được đổi mới và nâng cao chất lượng bằng hệ thống tin học hiện đại Do đó, mọi nghiệp vụ phát sinh trong hoạt động thanh toán đều được xử lý kịp thời, chính xác Các khoản tiền chuyển chỉ sau một thời gian ngắn là đến tay người nhận hoặc tài khoản của người thụ hưởng.

2.2 THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG - DÀI HẠN TẠI NHNO & PTNT HOÀN

KIẾM.

2.2.1 Hoạt động tín dụng trung - dài hạn tại NHNo&PTNT Hoàn Kiếm.

Thực hiện phương châm:“Ổn định - An toàn - Hiệu quả và Phát triển”,

NH No & PTNT Hoàn Kiếm tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung - dài hạn, tập trung đầu tư vào các dự án có tính khả thi, các tổng công

ty mạnh, đồng thới dành phần đầu tư thoả đáng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Bước đi phải phù hợp với môi trường kinh tế, pháp lý và chính năng lực của Ngân hàng Để thực hiện điều

đó, NHNo&PTNT Hoàn Kiếm đã và đang khẩn trương triển khai nhiều biện pháp để có những bước cuyển dịch cơ cấu tín dụng, tăng tỷ trọng cho vay trung - dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư, cải tiến đổi mới trang thiết

bị, kỹ thuật tiên tiến hiện đại giúp các doanh nghiệp đuổi kịp trình độ phát triển khoa học kỹ thuật trên thế giới Việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung - dài hạn của NHNo & PTNT Hoàn Kiếm hiện nay dựa trên những nguyên tắc sau:

Dự án vay vốn được lựa chọn phải bám sát quy hoạch phát triển khoa học

kỹ thuật của nhà nước từng địa phương, phù hợp chiến lược phát triển kinh tế Đất nước đến năm 2010, đảm bảo đầu tư đúng hướng và an toàn.

Trang 10

Hiệu quả kinh tế là cơ sở quan trọng khi xét duyệt dự án đầu tư, ưu tiên chú trọng những dự án đầu tư chiều sâu, nâng cao trình độ công nghệ và những dự án tạo công ăn việc làm, dự án phát triển ngành kinh tế mũi nhọn trọng điểm…

Tập trung khai thác tìm kiếm dự án, đặc biệt những dự án lớn để đẩy mạnh cho vay, phấn đấu nâng cao tỷ trọng dư nợ trung - dài hạn.

2.2.2 Khả năng cho vay trung - dài hạn.

2.2.2.1.Nguyên tắc và điều kiện của NHNo& PTNT Hoàn Kiếm với tín dụng trung - dài hạn Mục đích cho vay trung - dài hạn: Đầu tư cho các dự án cải tiến kỹ thuật đổi mới máy móc thiết bị, nâng cấp dây chuyền công nghệ, mở rộng sản xuất,

dự án đầu tư xây dựng cơ bản mới, dự án phục vụ đời sống phù hợp với chính sách phát triển kinh tế – xã hội và pháp luật nhà nước

- Nguyên tắc tín dụng:

+ Vốn vay được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.

+ Vốn vay được hoàn trả nợ gốc và lãi theo thoả thuận trên hợp đồng tín dụng + Đảm bảo tiền vay được thực hiện theo quy định của chính phủ, NHNN

+ Quan hệ tín dụng thể hiện trên hợp đồng tín dụng phù hợp với luật NHNN và luật các tổ chức tín dụng, pháp lệnh hợp đồng kinh tế và pháp chế thể lệ ngành.

- Điều kiện vay vốn:

+ Có tư cách pháp nhân và cá nhân có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật + Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết

+ Sản xuất kinh doanh có lãi Có dự án khả thi, hiệu quả.

+ Có vốn tự có đầu tư cho dự án.

+ Thực hiện đảm bảo tiền vaytheo quy định của chính phủ, NHNN.

+ Phải mua bảo hiểm liên quan đến đối tượng vay vốn theo quy định của pháp luật.

+ Tổ chức hạch toán, kế toán và quản lý tài chính theo đúng pháp lệnh kế toán – thống kê và điều lệ của tổ chức kinh tế.

Trang 11

+ Chấp hành điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng của nhà nước và quy định của thể lệ tín dụng trung - dài hạn.

+ Đối với bên vay là pháp nhân, ngoài những điều kiện qui định tại các điểm trên còn phải có thời gian hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập phù hợp với thời gian cho vay trung - dài hạn.

- Đối tượng cho vay: Gía trị vật tư hàng hoá, máy móc thiết bị và chi phí cấu thành trong tổng mức đầu tư của dự án.

- Mức cho vay: Bằng tổng mức đầu tư của dự án trừ đi phần vốn tự có tham gia vào dự án của bên vay, nhưng mức tối đa bằng 70% giá trị tài sản thế chấp cầm cố Thời hạn cho vay: Được xác định dựa vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, khả năng hoàn vốn của dự án đầu tư, khả năng thu nhập của bên vay và tính chất nguồn vốn.

Lãi suất cho vay:Theo thoả thuận giữa khách hàng và tổ chức tín dụng.

Thủ tục vay vốn: Bên vay phải gửi tới Ngân hàng (bên cho vay):

+ Đơn xin vay.

+ Các báo cáo tình hình tài chính ít nhất hai năm gần nhất

+ Ngoài ra còn có các giấy tờ pháp lý để chứng minh quyền sở hữu và sử dụng của tài sản thế chấp hoặc cầm cố của bên vay hoặc của người bảo lãnh Các giấy tờ, tài liệu cụ thể do tổng giám đốc tổ chức tín dụng quy định Trong thời hạn 15 ngày sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ, tài liệu hợp lệ, Ngân hàng phải thông báo bằng văn bản cho bên vay quyết định cho vay hoặc không cho vay Ngân hàng và bên vay ký kết hợp đồng tín dụng và làm thủ tục để giải ngân Ngoài ra còn nhiều quy định khác về thu nợ thu lãi, gia hạn nợ, miễn giảm lãi, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên.

2.2.2.2. Hoạt động cho vay trung - dài hạn theo thời hạn.

Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, thì nghiệp vụ tín dụng trung - dài hạn cũng ngày càng được Ngân hàng quan tâm và đầu tư Doanh số cho vay trung – dài hạn liên tục tăng lên qua các năm Điều này thể hiện sự đúng đắn

Trang 12

trong chiến lược của Ngân hàng và cũng chứng tỏ Ngân hàng đã thu hút được những dự án lớn đến với mình Điều này được thể hiện qua bảng dưới đây:

Bảng 4: Cơ cấu cho vay theo thời hạn:

Đơn vị: tỷ đồng

Chỉ tiêu 200

0

Tỷ trọng (%)

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động tín dụng năm 2000 - 2002)

Nhìn vào bảng trên ta thấy, tỷ trọng dư nợ trung - dài hạn trong năm

2000 là thấp nhưng đến năm 2001 và 2002 tỷ trọng này đã tăng lên

Cùng với việc thực hiện các biện pháp mở rộng tín dụng trung - dài hạn, tỷ trọng tín dụng trung - dài hạn trên tổng dư nợ của Ngân hàng liên tục tăng qua các năm, năm 2000 chỉ đạt 5 tỷ đồng chiếm 13%, năm 2001 đạt 12 tỷ chiếm 22%, năm 2002 đạt 43 tỷ, đạt tỷ trọng 38% Mức dư nợ tín dụng trung - dài hạn tăng cả về quy mô và tỷ trọng Đây có thể coi là một thành công của Ngân hàng trong công tác tín dụng vì nằm trong một khu vực chủ yếu là sản xuất công nghiệp và hoạt động dịch vụ, nông nghiệp gần như là không có do vậy, mở rộng và tăng cường tín dụng trung - dài hạn sẽ đem lại cho Ngân hàng rất nhiều nguồn lợi: vốn cho vay của Ngân hàng có tính ổn định hơn, lợi nhuận

Ngày đăng: 09/10/2013, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Cơ cấu cho vay theo thời hạn: - THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HOÀN KIẾM
Bảng 4 Cơ cấu cho vay theo thời hạn: (Trang 12)
Bảng 5: Tín dụng trung - dài hạn xét theo cơ cấu thành phần kinh tế. - THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HOÀN KIẾM
Bảng 5 Tín dụng trung - dài hạn xét theo cơ cấu thành phần kinh tế (Trang 13)
Bảng 6: Dư nợ trung - dài hạn theo - THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HOÀN KIẾM
Bảng 6 Dư nợ trung - dài hạn theo (Trang 14)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w