ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN NGÔ VĂN GIỚI XÂY DỰNG BỘ CHỈ THỊ ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI MỘT SỐ KHU TÁI ĐỊNH CƯ TẬP TRUNG Ở SƠN LA
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGÔ VĂN GIỚI
XÂY DỰNG BỘ CHỈ THỊ ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI MỘT SỐ KHU
TÁI ĐỊNH CƯ TẬP TRUNG Ở SƠN LA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội – 2013
Trang 2SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI MỘT SỐ KHU
Chuyên ngành: Môi trường đất và nước
Mã số: 62850205 LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Nguyễn Xuân Cự
2 PGS.TS Lương Thị Hồng Vân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này tôi đã nhận được sự giúp tận tình của PGS.TS Nguyễn Xuân Cự, PGS.TS Lương Thị Hồng Vân Thày, Cô đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo rất tận tình cho tôi, đã cho tôi những định hướng nghiên cứu, kiến thức chuyên môn và hơn hết là truyền cho tôi lòng đam mê khoa học và tinh thần tự giác trong học tập nghiên cứu Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu này với Thày và Cô
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các Thày, Cô trong Khoa Môi trường, Bộ môn Thổ nhưỡng & Môi trường đất Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội đã cho tôi những góp ý chân thành và bổ ích để giúp tôi hoàn thành tốt luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ và nhân viên tại Sở Tài nguyên Môi trường Sơn La, Chi cục môi trường tỉnh Sơn La, phòng Tài nguyên Môi trường các huyện Mường La, Mai Sơn và Mộc Châu, các địa phương nơi tôi đến làm việc đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt công việc của mình
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, cơ quan công tác, bạn bè và đồng nghiệp của tôi những người đã luôn đứng cạnh tôi, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cả về vật chất lẫn tinh thần để học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về tất cả sự giúp đỡ quý báu này
NCS: Ngô Văn Giới
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận án là hoàn toàn trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Các trích dẫn sử dụng trong luận án đã ghi rõ tên tài liệu tham khảo và tác giả của tài liệu đó
Tác giả luận án
Ngô Văn Giới
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở tỉnh Sơn La 4
1.1.1 Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên 4
1.1.2 Thực trạng tài nguyên thiên nhiên 5
1.1.3 Một số đặc điểm kinh tế và xã hội 11
1.2 Công tác di dân TĐC ở Việt Nam 13
1.2.1 Đặc điểm chung về tái định cư ở Việt Nam 13
1.2.2 Một số khái niệm thường gặp trong công tác TĐC 14
1.2.3 Các văn bản pháp luật và chính sách liên quan đến di dân và tái định cư của Việt Nam 16
1.3 Quản lý chất lượng tài nguyên đất cho nền nông nghiệp bền vững 17
1.3.1 Khái niệm và thuộc thính cơ bản của chất lượng đất 17
1.3.2 Chất lượng đất và chỉ thị chất lượng đất 19
1.3.3 Một số vấn đề về tính bền vững của một nền nông nghiệp 20
1.3.4 Quản lý tài nguyên đất cho phát triển nông nghiệp bền vững 23
1.4 Chỉ thị đánh giá chất lượng đất và tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam 25
1.4.1 Khái niệm và chức năng của chỉ thị 25
1.4.2 Nghiên cứu xây dựng chỉ thị đánh giá chất lượng đất và tính bền vững sử dụng đất trên thế giới 27
1.4.3 Nghiên cứu chỉ thị đánh giá suy thoái đất với năng suất cây trồng 31
1.4.4 Nghiên cứu xây dựng chỉ thị đánh giá chất lượng đất và tính bền vững sử dụng đất tại Việt Nam 32
Trang 61.5 Chất lượng đất và những yếu tố gây suy thoái đất ở vùng núi phía Bắc Việt
Nam 35
1.5.1 Chất lượng đất vùng núi phía Bắc Việt Nam 35
1.5.2 Những yếu tố gây suy thoái đất ở vùng núi phía Bắc Việt Nam 36
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu 39
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 39
2.1.2 Nội dung nghiên cứu 41
2.2 Phương pháp nghiên cứu 42
2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 42
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực địa 43
2.2.3 Phương pháp bố trí các ô quan trắc đồng ruộng 43
2.2.4 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 45
2.2.5 Phương pháp xây dựng và kiến tạo chỉ thị 46
2.2.6 Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu 51
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Hiện trạng sử dụng và những yếu tố gây suy thoái đất nông nghiệp ở Sơn La52 3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp ở Sơn La 52
3.1.2 Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Mường La, Mai Sơn và Mộc Châu 54
3.1.3 Những yếu tố gây suy thoái đất nông nghiệp ở Sơn La 61
3.2 Thực trạng một số khu TĐC nghiên cứu 62
3.2.1 Thực trạng khu TĐC Mường Bú, huyện Mường La 62
3.2.2 Thực trạng khu TĐC Hát Lót, huyện Mai Sơn 64
3.2.3 Thực trạng khu tái định Tân Lập, huyện Mộc Châu 65
3.3 Chất lượng đất tại các khu TĐC nghiên cứu 68
3.3.1 Chất lượng đất tại khu TĐC Mường Bú, huyện Mường La 68
3.3.2 Chất lượng đất tại khu TĐC Hát Lót huyện Mai Sơn 76
Trang 73.3.3 Chất lượng đất tại khu tái định cư Tân Lập huyện Mộc Châu 84
3.3.4 Dư lượng hóa chất BVTV trong đất tại các khu TĐC nghiên cứu 92
3.3.5 Biến động chất lượng đất tại các khu TĐC với mẫu đối chứng 93
3.3.6 Chỉ thị sinh học cho chất lượng đất tại các khu TĐC nghiên cứu 99
3.4 Xây dựng chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp tại một số khu TĐC tập trung ở Sơn La 105
3.4.1 Nguyên tắc và phương pháp tiếp cận xây dựng bộ chỉ thị 105
3.4.2 Đề xuất bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp 107 3.4.3 Áp dụng bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp tại các khu TĐC tập trung ở Sơn La 118
3.5 Một số giải pháp sử dụng bền vững đất nông nghiệp ở các khu TĐC 128
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 130
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 134
TÀI LIỆU THAM KHẢO 135
PHỤ LỤC 146
Trang 8
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ASI Agricultural land use Sustainbility Indicators: Bộ chỉ thị
đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp
2 BQLDA Ban quản lý dự án
7 GDP Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm nội địa
8 IBSRAM International Board for Soil Research and Management:
Hội quản lý và nghiên cứu đất quốc tế
9 IUCN International Union for Conservation of Nature: Hiệp
hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế
10 LQI Land Quality Indicator: Chỉ thị chất lượng đất
13 NRCS Natural Resources Conservation Service: Trung tâm
nghiên cứu đất quốc tế
14 OECD Organisation for Economic Co-operation and
Development: Tổ chức hợp tác kinh tế phát triển
21 UBND Ủy ban nhân dân
22 UNEP United Nations Environment Programme: Chương trình
môi trường Liên hiệp quốc
23 UNDP United Nations Development Programme: Chương trình
phát triển Liên hiệp quốc
24 USDA United States Department of Agriculture: Bộ nông
nghiệp Mỹ
25 VSV Vi sinh vật
26 WB World Bank: Ngân hàng thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại và diện tích các nhóm đất, loại đất tại tỉnh Sơn La 7
Bảng 1.2 Dự báo tăng dân số và lao động tự nhiên của tỉnh Sơn La 12
Bảng 1.3 Thời gian của một số quá trình thay đổi trong đất 18
Bảng 1.4 Chỉ thị chất lượng đất qua đặc tính lý, hóa, sinh học của đất 29
Bảng 1.5 Bộ chỉ thị đánh giá chất lượng đất 30
Bảng 1.6 Chỉ thị lý, hóa, sinh cho chất lượng đất và sự kết hợp với các quá trình trong đất 31
Bảng 1.7 Lược trích bộ chỉ thị PTBV và Chỉ số đánh giá tính bền vững về Tài nguyên Môi trường ở Việt Nam (ESIVN) 34
Bảng 2.1 Ký hiệu các ô theo dõi năng suất tại các điểm TĐC 44
Bảng 2.2 Các tiêu chuẩn để lựa chọn bộ chỉ thị 47
Bảng 2.3 Thang đánh giá mức bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp 51
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Sơn La năm 2009 52
Bảng 3.2 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Mường La 55 Bảng 3.3 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Mai Sơn 57
Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả phân tích các thông số vật lý trong đất tại khu TĐC Mường Bú 68
Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả phân tích các thông số hóa học trong đất tại khu TĐC Mường Bú 69
Bảng 3.6 Tổng hợp kết quả phân tích các thông số vật lý trong đất tại khu TĐC Hát Lót, huyện Mai Sơn 76
Bảng 3.7 Tổng hợp kết quả phân tích các thông số hóa học trong đất tại khu TĐC Hát Lót 78
Bảng 3.8 Tổng hợp kết quả phân tích các thông số vật lý của đất tại khu TĐC Tân Lập 84
Bảng 3.9 Tổng hợp kết quả phân tích các thông số hóa học trong đất tại khu TĐC Tân Lập 85
Bảng 3.10 Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất tại các khu TĐC 92
Trang 10Bảng 3.11 Tổng hợp một số tính chất hóa lý của đất tại rừng xã Mường Bú 93 Bảng 3.12 Kết quả khảo nghiệm năng suất ngô tại các điểm TĐC ở Mường Bú100 Bảng 3.13 Kết quả khảo nghiệm năng suất mía tại các điểm TĐC ở Hát Lót 101 Bảng 3.14 Kết quả khảo nghiệm năng suất chè tại khu TĐC Tân Lập 103 Bảng 3.15 Chỉ thị sinh học bằng thực vật hoang dại đánh giá chất lượng đất tại các
khu TĐC nghiên cứu 104 Bảng 3.16 Bộ chỉ thị đánh giá chất lượng đất cho các khu TĐC nghiên cứu 110 Bảng 3.17 Thông tin cơ bản của bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông
nghiệp tại các khu TĐC tập trung ở Sơn La (ASI) 112 Bảng 3.18 Bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp tại khu TĐC
tập trung ở Sơn La 114 Bảng 3.19 Kết quả đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp tại khu TĐC
Mường Bú, huyện Mường La 118 Bảng 3.20 Kết quả đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp tại khu
TĐC Hát Lót, huyện Mai Sơn 121 Bảng 3.21 Kết quả đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp tại khu
TĐC Tân Lập, huyện Mộc Châu 124
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Diễn biến các yếu tố khí tượng đặc trưng tại Sơn La ( 2005-2010) 5
Hình 1.2 Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Sơn La năm 2009 6
Hình 1.3 Tỷ lệ giữa các nhóm dân tộc tại Sơn La 12
Hình 1.4 Thông tin và tháp chỉ thị (SCOPE, 1995 and WRI, 1995) 26
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí các khu vực nghiên cứu 40
Hình 2.2 Mô hình PSR 49
Hình 3.1 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tại Sơn La năm 2009 53
Hình 3.2 Cơ cấu sử dụng đất trồng cây hàng năm tại Sơn La năm 2009 54
Hình 3.3 Biến động giá trị pHKCl qua các năm nghiên cứu 71
Hình 3.4 Sự biến động hàm lượng Ndt trong đất qua các năm nghiên cứu tại Mường Bú 72
Hình 3.5 Sự biến động Pdt trong đất tại khu TĐC Mường Bú qua các năm nghiên cứu 73
Hình 3.6 Sự biến động hàm lượng Kdt trong đất tại khu TĐC Mường Bú qua các năm quan trắc 74
Hình 3.7 Biến động hàm lượng OM trong đất tại khu TĐC Mường Bú 75
Hình 3.8 Biến động hàm lượng CEC trong đất tại khu TĐC Mường Bú 75
Hình 3.9 Biến động giá trị pHKCl trong đất tại khu TĐC Hát Lót 79
Hình 3.10 Biến động hàm lượng Ndt trong đất tại khu TĐC Hát Lót 80
Hình 3.11 Biến động hàm lượng Pdt trong đất tại khu TĐC Hát Lót 81
Hình 3.12 Biến động hàm lượng Kdt trong đất tại khu TĐC Hát Lót 82
Hình 3.13 Biến động hàm lượng OM trong đất tại khu TĐC Hát Lót 82
Hình 3.14 Biến động dung tích hấp thu CEC trong đất tại khu TĐC Hát Lót 83
Hình 3.15 Biến động giá trị pHKCl trong đất tại khu TĐC Tân Lập 87
Hình 3.16 Biến động hàm lượng Ndt trong đất tại khu TĐC Tân Lập 88
Hình 3.17 Biến động hàm lượng Pdt trong đất tại khu TĐC Tân Lập 89
Hình 3.18 Biến động hàm lượng Kdt trong đất tại khu TĐC Tân Lập 89
Hình 3.19 Biến động hàm lượng OM trong đất tại khu TĐC Tân Lập 90
Trang 12Hình 3.20 Biến động hàm lượng CEC trong đất tại khu TĐC Tân Lập 91 Hình 3.21 Biến động pHKCl theo các năm ở các khu TĐC so với mẫu đối chứng 95 Hình 3.22 Biến động Ndt theo các năm ở các khu TĐC so với mẫu đối chứng 96 Hình 3.23 Biến động Pdt theo các năm ở các khu TĐC so với mẫu đối chứng 96 Hình 3.24 Biến động Kdt theo các năm ở các khu TĐC so với mẫu đối chứng 97 Hình 3.25 Biến động OM theo các năm ở các khu TĐC so với mẫu đối chứng 97 Hình 3.26 Biến động CEC theo các năm ở các khu TĐC so với mẫu đối chứng 98 Hình 3.27 Vai trò của sử dụng đất nông nghiệp bền vững tại các khu TĐC 106 Hình 3.28 Mối quan hệ thứ bậc của chất lượng đất với chất lượng môi trường và
nông nghiệp bền vững 108 Hình 3.29 Quan hệ giữa chỉ thị chất lượng đất và tính bền vững trong sử dụng đất
nông nghiệp 111 Hình 3.30 Mức bền vững sử dụng đất nông nghiệp của các khu TĐC nghiên cứu
127
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta hiện nay công tác di dân tái định cư (TĐC) là khá phổ biến để phục
vụ cho các dự án phát triển kinh tế của đất nước, đặc biệt là các công trình thủy điện Thực tế cho thấy nhiều khu TĐC đã không đáp ứng được các nhu cầu của người dân, đời sống của cộng đồng không ổn định [1, 10, 11] Do điều kiện tự nhiên của các khu TĐC không hoàn toàn phù hợp dẫn đến tài nguyên bị khai thác, quá khả năng của tự nhiên Những hành động này tất yếu sẽ dẫn tới đói nghèo và sự không bền vững tại các khu TĐC ở nước ta Việc thiết lập nhiều khu TĐC tất yếu sẽ gây sức ép tới môi trường sống của cộng đồng, đặc biệt là môi trường đất
Đất là một trong những nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng với cộng đồng TĐC nói riêng và cộng đồng miền núi nói chung Việc nghiên cứu định lượng sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết Trên thế giới chỉ thị đánh giá đất đã được các tổ chức FAO, USDA, NRCS, WB, UNEP, UNDP quan tâm từ rất sớm Các nghiên cứu đã đưa ra một số khung đánh giá đất, các chỉ thị tối thiểu
sử dụng để đánh giá đất, các yêu cầu khi lựa chọn chỉ thị đánh giá đất, các bước thiết lập và xây dựng chỉ thị đánh giá đất Các lĩnh vực cần quan tâm khi đánh giá
hệ thống nông nghiệp bền vững Các nghiên cứu đã chỉ ra được những chỉ thị cần thiết để đánh giá đất và mối quan hệ của chúng với các chức năng của đất hay lý do lựa chọn và cách xác định chúng Các nghiên cứu của Sombroek, 1997; Schomaker, 1997; J Dumanski và Pieri, 1997; Dorul, Parkin, 1994; Majid Rashidi et al, 2010; Arshad và Coen, 1992; Doran và Parkin, 1994; Gregorich et al, 1994; Larson and Pierce, 1994; Carter et al, 1997; Karlen et al, 1997; Martin et al., 1998 rất có ý nghĩa trong việc quản lý và sử dụng đất, tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ mới đề cập đến những vấn đề chung trong đánh giá đất áp dụng cho tất cả các loại đất và các quốc gia Nhìn chung các nghiên cứu đã thực hiện mới chỉ dừng lại ở việc lựa chọn ra các chỉ thị đánh giá chất lượng đất hay đánh giá hệ thống canh tác bền vững Hơn thế nữa, một hệ thống canh tác bền vững phải dựa trên cơ sở một hệ thống sử dụng đất dốc bền vững Vì vậy, việc nghiên cứu và phát triển các chỉ thị đánh giá đất được xem là có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Trang 14Phát triển bền vững (PTBV) là vấn đề đang được thế giới quan tâm Đặc biệt là
từ sau Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về Môi trường và phát triển tại Rio de Janeiro (Rio 92) Nhiều quốc gia đã có những cách tiếp cận riêng trong việc xây dựng bộ chỉ thị PTBV trên cơ sở thực tiễn và những điều kiện cụ thể của quốc của mình [3]
Ở Việt Nam, vấn đề PTBV cũng đã được quan tâm từ những năm 1980 Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Khoa học Công nghệ Môi trường, Cục Môi trường đã xây dựng các chỉ thị cho sự PTBV Tuy nhiên, các chỉ thị này mới dừng lại ở các mục tiêu và tiêu chí chung để tiến tới bền vững ở quy mô quốc gia Các chỉ thị này không lượng hoá chi tiết mức bền vững cho từng cộng đồng hoặc địa phương cụ thể được
Sơn La là một tỉnh miền núi, nơi tập trung đa số đồng bào dân tộc thiểu số,
có trình độ văn hoá không cao và kỹ thuật canh tác còn lạc hậu nhưng hiện tại lại đang được triển khai các dự án thủy điện lớn Đây là nguyên nhân dẫn đến số lượng người phải di dân TĐC trong thời gian vừa qua là rất lớn Nếu chỉ tính dự án Thủy điện Sơn La đã có tới 12.479 hộ, tương ứng với số dân là 62.394 người phải di chuyển tới nơi ở mới [4] Do còn nhiều tồn tại trong quá trình bố trí mặt bằng và chính sách di dân TĐC nên hầu hết các khu TĐC ở Sơn La đều xuất hiện các vấn đề thiếu bền vững trong đời sống và sự phát triển các khu TĐC, đặc biệt là các khu TĐC tập trung Trong đó vấn đề nổi cộm và phổ biến nhất là sử dụng tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên đất nói riêng [38] Quá trình thoái hóa đất diễn
ra nhanh chóng do sức ép và vấn đề sử dụng không hợp lý Việc đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp cho một số khu TĐC ở Sơn La để chỉ ra được những tồn tại trong khai thác và sử dụng đất Những yếu tố đang làm suy thoái tài nguyên đất và gây mất ổn định cho cuộc sống của cộng đồng TĐC ở Sơn La Việc tìm ra những yếu tố cơ bản có ý nghĩa quyết định đến sự PTBV nói chung và vấn đề sử dụng đất nói riêng, đặc biệt là ở những vùng đất dốc ở nước ta
Với những lý do trên đề tài ”Xây dựng bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp tại một số khu TĐC tập trung ở Sơn La” được thực hiện
nhằm góp phần hạn chế các tiêu cực, bảo vệ tài nguyên cho sự PTBV các vùng
TĐC ở Sơn La nói riêng và trong cả nước nói chung
2 Mục đích của đề tài
- Xây dựng bộ chỉ thị lượng hóa tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp ở các khu TĐC ở Sơn La
Trang 15- Áp dụng bộ chỉ thị để đánh giá tính bền vững trong việc sử dụng đất nông nghiệp một số khu TĐC tập trung ở Sơn La
- Đề xuất các giải pháp để tăng tính bền vững sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Ý nghĩa về thực tiễn:
Xây dựng bộ chỉ thị để đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp tại ba khu TĐC tập trung ở Sơn La là Mường Bú, Hát Lót và Tân Lập
Góp phần định hướng, thúc đẩy và tìm ra các giải pháp cho cộng đồng TĐC phát triển theo hướng bền vững Đặc biệt là trong quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên đất
Làm cơ sở tham khảo cho việc ra quyết định và điều chỉnh chính sách TĐC cho phù hợp với điều kiện thực tế
4 Những đóng góp mới của đề tài
- Đóng góp vào lý luận và thực tiễn xây dựng bộ chỉ thị đánh giá chất lượng đất
ở nước ta nói chung và ở các vùng nông thôn miền núi nói riêng
- Lần đầu tiên xây dựng bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta và áp dụng để đánh giá cho các khu TĐC tại Sơn La
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở tỉnh Sơn La
1.1.1 Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên
a/ Phạm vi lãnh thổ
Sơn La có 11 đơn vị hành chính (1 thị xã, 10 huyện), có chung đường biên giới Việt – Lào dài trên 250 km, đường địa giới giáp các tỉnh khác dài 628 km, có tọa độ địa lý: Từ 200 39' đến 220 02' Vĩ độ Bắc và từ 1030 11' đến 1050 02' Kinh độ Đông
Phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai, Yên Bái; Phía Đông giáp tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình; Phía Tây giáp tỉnh Điện Biên, Lai châu; Phía Nam giáp tỉnh Thanh hóa và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
b/ Địa hình
Địa hình Sơn La rất phức tạp, bị chia cắt mạnh, có độ dốc lớn Độ cao trung bình là 600 – 700m so với mực nước biển Tỉnh có 3 hệ thống núi chính: Hệ thống núi tả ngạn sông Đà, hệ thống núi hữu ngạn sông Mã và hệ thống núi xen giữa sông
Đà và sông Mã Hầu hết các dãy núi và sông trong tỉnh đều thấp dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Trên 97% diện tích tự nhiên thuộc lưu vực sông Đà, sông
Mã Xen kẽ giữa những dãy núi là những thung lũng lòng chảo Diện tích đất canh tác thường nhỏ hẹp, có độ dốc lớn Tỉnh có hai cao nguyên là Mộc Châu và Nà Sản Sơn La tương đối bằng phẳng, thuận tiện cho phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm và chăn nuôi đại gia súc
c/ Thời tiết – khí hậu
Sơn La nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có tính chất lục địa, chịu ảnh hưởng của địa hình Mùa đông lạnh và khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9 Theo số liệu thông kê năm 2009 thì nhiệt độ trung bình năm là 21,90C, số giờ nắng trung bình năm là 184,0 giờ Lượng mưa trung bình/năm là 83,5 mm Trong đó 80% lượng mưa tập trung vào các tháng 6, 7, 8, 9 Vùng dọc sông Đà có lượng mưa cao hơn
Độ ẩm không khí bình quân năm là 78,1% [8] Diễn biến các yếu tố khí tượng tại Sơn La giai đoạn 2005-2010 được thể hiện tại hình 1.1 Gió thịnh hành theo 2 hướng là gió mùa Đông – Bắc từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau và gió Tây – Nam từ tháng 3 đến tháng 9 Đặc biệt từ tháng 3 đến tháng 5 còn chịu ảnh hưởng của gió nóng Sơn La không bị ảnh hưởng của bão nhưng thỉnh thoảng vẫn
có lốc cục bộ Vào tháng 12 và tháng 1, có một số khu vực trong tỉnh bị ảnh hưởng của vài đợt sương muối
Trang 17300 S(h), R(mm)
Nhiệt độ
Độ ẩm không khí Lượng mưa
Tuy nhiên, phần lớn sông, suối trên địa bàn tỉnh đều có trắc diện hẹp, độ dốc lớn nên về mùa mưa thường xảy ra lũ, gây sạt lở Mặt khác mực nước của hầu hết các sông, suối đều thấp hơn nhiều so với đất canh tác, về mùa khô sông suối thường cạn kiệt gây thiếu nước cho sản xuất và đời sống Sông, suối ở Sơn La có tiềm năng thủy điện đứng đầu cả nước Việc khai thác tiềm năng đó có ý nghĩa kinh tế - xã hội
to lớn không chỉ đối với tỉnh mà còn mang tầm cỡ Quốc gia
Nước ngầm trên địa bàn tỉnh hiện tại chưa được điều tra, khảo sát đầy đủ, song nhìn chung nước ngầm của Sơn La phân bố không đều, trữ lượng ít, mực nước thấp, khó khai thác [45]
1.1.2 Thực trạng tài nguyên thiên nhiên
1.1.2.1 Tài nguyên nước mặt
Mật độ sông suối tương đối lớn (1,7 km/km2), trong đó có hai hệ thống sông lớn chảy qua địa bàn tỉnh là sông Đà và sông Mã, lượng bùn cát trong sông thuộc loại lớn nhất Việt Nam
Mạng sông thưa ở vùng đá vôi thuộc huyện Mộc Châu, mạng sông dày hơn ở các huyện Mường La, Phù Yên, Bắc Yên, Quỳnh Nhai Dòng chảy mặt hình thành tại Sơn La không lớn (Mo < 1,5l/s.km2) Dòng chảy mặt từ các tỉnh ngoài vào Sơn
La rất phong phú (M0 = 500 - 800l/s.km2)
Trang 18Tài nguyên nước mặt phụ thuộc vào tài nguyên nước từ Trung Quốc, tài nguyên nước từ các tỉnh đầu nguồn như Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái ngoài ra còn phụ thuộc vào sự điều hành các công trình thuỷ điện lớn trong lưu vực sông Đà như Huổi Quảng, Bản Chát, Lai Châu, Hoà Bình
Nhìn chung trên địa bàn tỉnh Sơn La việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt là chủ yếu Chất lượng và trữ lượng nước mặt tương đối tốt Tài nguyên nước phụ thuộc chặt chẽ vào lượng mưa Trên địa bàn tỉnh Sơn La lượng mưa tương đối lớn, dao động trong khoảng 1.200 - 2.800 mm/năm Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đều, vùng mưa ít là Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn, Thuận Châu, Sơn La, Sông Mã Mưa nhiều ở các vùng Mường La, Phù Yên, Bắc Yên, Quỳnh Nhai Hệ thống sông, suối thường bị cạn trong mùa khô và có nhiều suối cụt chảy vào các hang hốc Karst ngầm Ở vùng núi cao, nước xuất lộ với mật độ không dày, lưu lượng nhỏ và nhiều điểm lộ về mùa khô không xuất hiện
1.1.2.2 Tài nguyên nước ngầm
Tài nguyên nước ngầm của Sơn La hạn chế, chủ yếu tập trung trong 2 tầng: nước lỗ hổng và nước khe nứt vùng núi đá vôi Trữ lượng của nước dưới đất phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện địa lý, điều kiện tự nhiên của khu vực Nhìn chung việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước ngầm trên địa bàn tỉnh Sơn La chưa phổ biến
1.1.2.3 Tài nguyên đất
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1.417.444 ha, trong đó đất đang được sử dụng 871.449 ha (chiếm khoảng 61,5% đất tự nhiên của tỉnh) Tính tới hết năm 2009, đất chưa sử dụng còn 545.995 ha, chiếm 38,5% diện tích tự nhiên (Hình 1.2)
39%
Nhóm đất nông nghiệpNhóm đất phi nông nghiệpNhóm đất chưa sử dụng
Hình 1.2 Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Sơn La năm 2009
Trang 19Trong nhóm đất chưa sử dụng chủ yếu là đất đồi núi không có rừng cần phải được khai thác để trồng rừng phòng hộ, rừng kinh tế, trồng cây công nghiệp dài ngày, kết hợp trồng ngô, khoai sắn tạo thêm lương thực Mặc dù có diện tích tự nhiên khá lớn so với các tỉnh trong cả nước nhưng diện tích đất bằng sử dụng cho sản xuất nông nghiệp còn rất hạn chế Do vậy, ngoài việc triệt để khai thác các đất bằng, Sơn La cũng cần phải sử dụng một phần đất dốc cho sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó cũng cần một diện tích đáng kể cho phát triển cây công nghiệp dài
ngày như cà phê, chè, cây ăn quả
Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/100.000 của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp cho tỉnh Sơn La (2006) thì đất Sơn La gồm 7 nhóm với 24 loại, kết quả này được thể hiện tại bảng 1.1
Bảng 1.1 Phân loại và diện tích các nhóm đất, loại đất tại tỉnh Sơn La
5 Đất nâu thẫm trên sản phẩm đá bọt và đá bazan Ru 1.226,1
7 Đất đen trên sản phẩm bồi tụ cacbonat Rdv 1.744,5
8 Đất nâu tím trên đá sa phiến thạch mầu tím Fe 22.963,0
9 Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính Fk 77.490,1
11 Đất nâu vàng trên đá macma bazơ và trung tính Fu 61.647,6
12 Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất Fs 376.186,7
Trang 2013 Đất vàng đỏ trên đá macma axit Fa 66.993,9
16 Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước Fl 8.511,0
17 Đất mùn nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính Hk 20.429,0
chiếm tới 85%, chỉ gần 7% đất có độ dốc <150 Hầu hết các loại đất ở Sơn La có độ dày tầng đất từ trung bình đến khá: đất có tầng dày trên 100 cm chiếm 33,5%; tầng dày 50 - 70 cm chiếm 36,1% và dưới 50 cm chiếm 30,4%), thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, tỷ lệ mùn và các chất dinh dưỡng từ trung bình đến khá, độ chua không lớn nhưng lại nghèo bazơ trao đổi và các chất dễ tiêu Trừ các đất trên 2 cao nguyên Mộc Châu và Sơn La - Nà Sản là tương đối bằng phẳng, có độ phì khá,
Trang 21tầng đất dày còn lại đa phần đất đai của tỉnh nằm trên độ dốc lớn, lớp phủ thực vật nghèo kiệt nên cần chú trọng các biện pháp bảo vệ đất, hạn chế rửa trôi, xói mòn làm nghèo dinh dưỡng đất
Theo kết quả tổng hợp từ bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Sơn La, tài nguyên đất của các huyện Mường La, Mai Sơn và Mộc Châu gồm các nhóm chính cụ thể như sau:
Tại huyện Mường La đất gồm 3 nhóm đất chính là:
- Đất đỏ vàng (Feralit): bao gồm hầu hết ở vùng đồi núi, có màu vàng đỏ, đỏ nâu chứa nhiều Fe, Al có phản ứng chua Với nhóm đất này thích hợp cho việc trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày
- Đất phù sa sông suối: Phân bố chủ yếu ven các suối Nậm Mu, Nậm Chiến, Nậm Trai, Nậm Pàn, Nậm Pia, Nậm Păm Nhóm đất này rất thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu và các loại cây ăn quả
- Đất dốc tụ: Phân bố chủ yếu ở các bãi bằng phẳng, nhóm đất này thích hợp cho trồng cây ăn quả, cây ngô, lúa nương và cây công nghiệp
Hầu hết các loại đất trên địa bàn huyện có độ dày tầng đất từ trung bình đến khá, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng Các chất dinh dưỡng như đạm, lân, Kali, Canxi, Magiê trong đất có hàm lượng thấp không đủ cung cấp cho quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng Do đa phần đất đai nằm trên độ dốc lớn, độ che phủ của thảm thực vật thấp nên cần chú trọng các biện pháp bảo vệ đất, hạn chế rửa trôi, xói mòn làm nghèo dinh dưỡng đất [46]
Tại huyện Mai Sơn có 3 nhóm và loại đất chính:
- Nhóm đất đỏ vàng: 138.364 ha, chiếm 96,88% tổng diện tích đất tự nhiên
- Nhóm đất tích vôi: 957 ha, chiếm 0,67% tổng diện tích đất tự nhiên
- Loại đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa: 1.642 ha, chiếm 1,15% tổng diện tích đất tự nhiên
Phần lớn đất đai trên địa bàn toàn huyện có độ dốc lớn, có tới 60% diện tích đất có độ dốc trên 250, và gần 10% có độ dốc dưới 150 Bên cạnh đó huyện có một phần diện tích thuộc khu vực cao nguyên Nà Sản là nơi phân bố các loại đất có độ phì cao, tầng đất dầy mang lại ưu thế để phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá có quy
mô tập trung Hầu hết các loại đất ở Mai Sơn có độ dày tầng đất từ trung bình đến khá (đất có tầng dầy >100 cm chiếm gần 34%; từ 50 - 100 cm chiếm trên 36%; dưới
50 cm chiếm gần 30%) Thành phần cơ giới từ trung bình đến thịt nặng, tỷ lệ mùn và các chất dinh dưỡng từ trung bình đến khá, độ chua không cao lắm, nghèo bazơ trao đổi, đất thiếu lân, kali và các chất dễ tiêu [48]
Trang 22Trên địa bàn huyện Mộc Châu có 4 nhóm đất chính với 18 loại đất:
- Nhóm đất đỏ vàng: 53.545 ha chiếm 26,44% tổng diện tích đất tự nhiên
- Nhóm đất đen: 1.178 ha chiếm 0,58% tổng tổng diện tích đất tự nhiên
- Loại đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa: 851 ha chiếm 0,42% tổng diện tích đất
tự nhiên
- Nhóm đất mùn đỏ vàng trên núi: 100.969 ha chiếm 49,86% tổng tổng diện tích đất tự nhiên
- Đất khác 45.970 ha chiếm 22,7% tổng tổng diện tích đất tự nhiên
Hầu hết các loại đất ở Mộc Châu có độ dày tầng đất khá, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, tỷ lệ mùn và các chất dinh dưỡng từ trung bình đến khá, ít chua, nghèo bazơ trao đổi và các chất dễ tiêu
Đặc biệt trên địa bàn các xã thuộc vùng cao nguyên Mộc Châu như: Phiêng Luông, Chờ Lồng, Tân Lập, Vân Hồ có một số loại đất tốt như: Đất mùn vàng đỏ trên đá sét, đất mùn vàng đỏ trên đá vôi, rất phù hợp cho việc trồng các loại cây đặc
sản như: Chè, cây ăn quả các loại (đào, mận, lê ), rau quả ôn đới thuận lợi để hình
thành vùng sản xuất hàng hoá quy mô lớn, tập trung với cơ cấu đa dạng [47]
Tóm lại, đất Sơn La được đánh giá ở mức khá tốt, tầng đất dày, hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất khá, phù hợp với nhiều loại cây trồng Ngoại trừ một
số vùng có độ dốc lớn và phương pháp canh tác chưa hợp lý, đã có dấu hiệu suy thoái cục bộ tại một số nơi Sơn La có những tiểu vùng khí hậu thuận lợi để phát triển một nền sản xuất nông nghiệp đặc thù với những sản phẩm mang tính hàng hóa như chè, cà phê, thảo dược, cây ăn quả, cây lấy dầu và phát triển bò sữa, bò thịt chất lượng cao mà nhiều nơi khác không thể có được Tiềm năng đất đai trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh vẫn còn khá lớn Trong tổng diện tích 248.244,01 ha đất nông nghiệp mới chỉ có 8.952,54 ha ruộng 2 vụ, còn lại hầu hết là đất sản xuất 1 vụ canh tác chủ yếu dựa vào nước trời, hệ số sử dụng đất mới đạt khoảng 1,2 lần Nếu chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp sẽ nâng hệ số sử dụng đất nông nghiệp lên 1,5 – 1,7 lần khi đó giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích sẽ được nâng cao hơn
1.1.2.4 Tài nguyên rừng
Sơn La là một trong những tỉnh có diện tích rừng và đất có khả năng phát triển lâm nghiệp khá lớn (chiếm 75% diện tích tự nhiên), đất đai phù hợp với nhiều loại cây, có điều kiện xây dựng hệ thống rừng phòng hộ và tạo các vùng rừng kinh
Trang 23tế hàng hoá có giá trị cao Rừng có nhiều thực vật quý hiếm, các khu đặc dụng có giá trị nghiên cứu khoa học và phục vụ du lịch sinh thái trong tương lai
Diện tích rừng của Sơn La là 565.941 ha, gồm cả diện tích rừng trồng và rừng tự nhiên Độ che phủ rừng đạt 37,2% đã vượt so với ngưỡng tối thiểu an toàn sinh thái (33%) Sơn La có 4 khu rừng đặc dụng là: Xuân Nha (Mộc Châu) 338.069
ha, Sốp Cộp 27.886 ha; Copia (Thuận Châu) 9.000 ha; Tà Xùa (Bắc Yên) 15.000
ha
Trữ lượng sinh khối rừng của toàn tỉnh có 16,5 triệu m3
gỗ và 202,3 triệu cây tre nứa, chủ yếu là rừng tự nhiên, rừng trồng có trữ lượng gỗ 154.000 m3 và 220.000 cây tre nứa
Các loài động thực vật ở Sơn La khá phong phú theo số liệu thống kê năm
1994 thì thực vật bậc cao gồm 125 họ và 861 loài Các loài thực vật dưới nước gồm
6 ngành và 79 loài Hệ động vật trên cạn có 245 loài, 88 họ, 27 bộ động vật có xương sống từ lớp lưỡng cư trở lên Động vật nước hiện chỉ có 21 loài [39]
1.1.2.5 Tài nguyên khoáng sản
Hiện tại trên địa bàn tỉnh Sơn La có 78 điểm quặng, mỏ và điểm khoáng hóa Khoáng sản gồm 5 nhóm chính:
- Nhóm khoáng sản cháy: Than đá, than nâu, than mỡ Một số mỏ có trữ lượng tương đối lớn ở Quỳnh Nhai, Suối Bàng, Mường Lựm, Hang Mon,
Tô Pang
- Nhóm khoáng sản kim loại: Bao gồm Sắt, Đồng, Chì, Kẽm,
- Nhóm khoáng chất công nghiệp: Photphoric, Asbet, Talc, Sét, Cao lanh, Dolomit
- Khoáng sản vật liệu xây dựng: Đá vôi, Sét – xi măng, Sét- gạch, Đá vôi xây dựng và đá ốp lát
- Nhóm nước khoáng và nước nóng: hiện tại đã phát hiện 29 điểm nước khoáng và nước nóng trên địa bàn tỉnh
Hiện tại, Sơn La khai thác chủ yếu là nhóm vật liệu xây dựng và nhóm khoáng sản cháy Ngoài ra, đã có một số dự án khai thác đối với nhóm khoáng sản kim loại [45]
1.1.3 Một số đặc điểm kinh tế và xã hội
Sơn La có nhiều dân tộc sinh sống, mỗi dân tộc có những nét đặc trưng riêng
về văn hoá truyền thống của dân tộc mình
Trang 24Theo kết quả thống kê năm 2010 dân số của Tỉnh Sơn La là 1.092,7 nghìn người, mật độ trung bình là 77 người/km2 (2010) Tỷ lệ dân số các dân tộc là Dân tộc Thái 54,76%, Kinh 17,48%, Mông 12%, Mường 8,53%, Xinh Mun 1,895, Dao 1,13%, Kháng 0,1%, La Ha 0,6%, Lào 0,33%, Tày 0,09%, Hoa 0,02%, còn lại là các dân tộc khác (Hình 1.3)
Hình 1.3 Tỷ lệ dân số giữa các nhóm dân tộc tại Sơn La năm 2010
Tốc độ tăng dân số tự nhiên giai đoạn 2005-2010 lớn dần từ 1,63% (2005) tới 1,89% (2010) với mức trung bình giai đoạn này là 1,73% Số lao động ở khu vực thành thị là 150,6 nghìn người chiếm 13,9%, lao động ở khu vực nông thôn là 933,1 nghìn người chiếm tỷ lệ 86,1% tổng số lao động toàn tỉnh Hiện nay do Thủy điện Sơn La đã và đang được thi công nên số lượng lao động trên địa bàn tỉnh tăng lên đáng kể, tốc độ tăng dân số cơ học cao, điều này đồng nghĩa với sức ép về môi trường và tài nguyên cũng tăng Kết quả dự báo tăng dân số và lao động tự nhiên được thể hiện tại bảng 1.2
Bảng 1.2 Dự báo tăng dân số và lao động tự nhiên của tỉnh Sơn La
Trang 25hướng bất lợi như: Tài nguyên thiên nhiên sẽ bị khai thác, tàn phá, dẫn đến sự suy giảm tài nguyên, môi trường sống của sinh vật bị thu hẹp, quá trình đô thị hóa diễn
ra nhanh không mang tính phát triển bền vững, những vấn đề về môi trường nẩy sinh từ việc xây dựng thủy điện Sơn La…
Theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Sơn La thời kỳ 2006 – 2020, với mục tiêu phấn đấu GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt khoảng 2.200 USD/người; giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 15 - 17%/năm giai đoạn 2006 -2020, đạt từ 120 - 150 triệu USD vào năm 2020; chuyển dịch nhanh chóng cơ cấu kinh tế hiện nay sang cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp vào năm 2020 với mức tăng bình quân về công nghiệp và xây dựng: 45%, dịch vụ: 33,5%, nông, lâm nghiệp, thủy sản: 21,5%; từng bước giảm tốc độ phát triển dân số xuống còn 1,35%, nâng tuổi thọ trung bình của người dân lên khoảng
72 - 73 tuổi vào năm 2020; giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10% và hàng năm giải quyết việc làm cho khoảng 2,2 - 2,5 vạn lao động; phổ cập giáo dục và phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 50% vào năm 2020 [8]
Như vậy, có thể thấy rằng Sơn La đang có sự chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ kinh tế thuần nông tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trường Tuy vậy, ngành Nông – Lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ
lệ cao
1.2 Công tác di dân TĐC ở Việt Nam
1.2.1 Đặc điểm chung về di dân TĐC ở Việt Nam
Vấn đề di dân TĐC ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước rất quan tâm nhưng việc thực hiện công tác này vẫn còn nhiều bất cập Trong giai đoạn đầu, với cách quản lý của nền kinh tế trong thời kì bao cấp, việc giải phóng mặt bằng còn mang tính mệnh lệnh hoặc chủ yếu dựa vào tuyên truyền, vận động, các chính sách
về TĐC chưa được cụ thể Các khoản đền bù không nhiều, không đủ để tái tạo cơ sở vật chất nơi ở và nơi sản xuất Tuy vậy, vì sự nghiệp chung, người dân vẫn sẵn sàng
di chuyển chỗ ở để có mặt bằng xây dựng các công trình kinh tế, xã hội của đất nước Điển hình cho giai đoạn này là công tác di dân giải phóng mặt bằng công trình thuỷ điện Hoà Bình Đến thời kì đổi mới, một mặt do vấn đề quyền sử dụng đất có thay đổi, mặt khác để phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, công tác di dân đã có những thay đổi lớn, thậm chí được đưa lên hàng đầu các điều kiện tiên quyết cho những quyết định cấp vốn Điều này có thể thấy rõ từ công trình thuỷ điện Yali Ngày nay, với các công trình lớn, việc di dân TĐC đã thực sự nhận được
sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Ví dụ công trình thuỷ điện Sơn La, Na Hang, khu công nghiệp hoá dầu Dung Quất Các công trình này đã nhận được khối lượng
Trang 26đầu tư cho việc bồi thường thiệt hại và hỗ trợ TĐC khá lớn, đáp ứng được yêu cầu xây dựng quê hương mới cho người dân TĐC Tuy vậy, những điểm TĐC đạt yêu cầu phát triển hậu di dân TĐC còn rất ít, và nếu có thì chủ yếu là tự phát Nguyên nhân chính của tình trạng này là còn thiếu sự quan tâm đến công tác quy hoạch, đánh giá đúng thực trạng tài nguyên khu vực TĐC và chưa xây dựng được mô hình
di dân TĐC thích hợp
Dựa trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm của các dự án di dân TĐC đã được thực hiện, với quan điểm chung là nơi ở mới phải có cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ Công tác TĐC được thực hiện trên những nguyên tắc sau [10]:
- Phương án TĐC phải đảm bảo cho nhân dân phải di chuyển có cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ về các mặt nhà ở, cơ sở hạ tầng, phúc lợi công cộng, đặc biệt về điều kiện sản xuất và đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai
- Sắp xếp TĐC với khả năng cao nhất trong tỉnh, trong vùng là chính, áp dụng các phương pháp TĐC tập trung, xen ghép hoặc di dân tại chỗ Trong trường hợp có
di dân ngoài vùng, ngoài tỉnh phải thực hiện trên cơ sở tự nguyện của dân
- Di dân TĐC tới nơi ở mới trên cơ sở sắp xếp lại sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng, bố trí dân cư để hai cộng đồng dân cư cũ và dân cư mới đoàn kết cùng nhau phát triển, giữ gìn, bảo tồn được bản sắc văn hoá cộng đồng các dân tộc
- Tạo thêm việc làm thông qua phát triển sản xuất ở cả 3 lĩnh vực: nông lâm nghiệp, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Sơn La
- Công tác định cư phải được phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, các đoàn thể quần chúng với phương châm tỉnh chỉ đạo và thực hiện, trung ương giúp
đỡ
1.2.2 Một số khái niệm thường gặp trong công tác TĐC
- Tái định cư: Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì TĐC là mọi ảnh hưởng, tác động
tới tài sản và tới cuộc sống của những người bị mất tài sản hoặc nguồn thu nhập do
dự án phát triển gây ra, bất kể họ có phải di chuyển hay không Dưới góc độ chính sách, TĐC cần được hiểu là cả quá trình từ đền bù cho các tài sản bị thiệt hại đến các biện pháp hỗ trợ cho việc tái tạo lại các tài sản bị mất hoặc hỗ trợ di chuyển trong trường hợp hộ dân cư phải di chuyển và cuối cùng là toàn bộ các chương trình, biện pháp nhằm giúp những người bị ảnh hưởng khôi phục lại cuộc sống và nguồn thu nhập của họ [11]
Như vậy TĐC đã bao hàm cả việc đền bù cho các thiệt hại do dự án phát triển gây ra Tuy nhiên, ở Việt Nam, chính sách TĐC mới dừng lại chủ yếu ở việc đền bù cho các thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất nên nếu gọi là chính sách TĐC thì
Trang 27chưa đúng, nhưng nếu chỉ gọi là chính sách đền bù thì cũng chưa thật đầy đủ với đúng ý nghĩa của nó Trên thực tế, chính sách đền bù hiện hành của Việt Nam đã đi
xa hơn trong việc đền bù và đang tiến dần tới một chính sách TĐC hoàn chỉnh
- Các hình thức TĐC
Cho đến nay, việc di dân TĐC của các công trình thuỷ điện lớn thường được thực hiện theo 4 hình thức là di vén, di dân xen ghép, di dân tập trung và di dân tuỳ chọn
+ Hình thức di vén: là hình thức di dân tại chỗ, đôi khi mang tính tự phát
của người dân vùng ngập lụt, theo mực nước dâng mà họ tự di chuyển dần lên nơi cao hơn Hình thức di vén không phải di chuyển đi xa, đồng thời có thể tận dụng vùng bán ngập nước để sản xuất nông nghiệp bằng tập đoàn cây ngắn ngày, hay các hoạt động đánh bắt thuỷ sản, dịch vụ du lịch, giao thông, lưu thông hàng hoá Hình thức di dân này có những hạn chế là dân cư sống phân tán, không ổn định, đi lại khó khăn, thiếu mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng
+ Hình thức di dân xen ghép: là hình thức di dân từ nơi ở cũ đến sống
chung với người dân ở những địa phương khác Hình thức này tạo sự đoàn kết giữa người dân di cư và người dân địa phương do có mối quan hệ họ hàng huyết thống,
có sinh hoạt phong tục tập quán giống nhau Nhược điểm của hình thức này là người dân địa phương phải chia sẻ một phần diện tích canh tác vốn đã hạn chế, mặt khác người dân di cư đến mặc nhiên được thừa hưởng các công trình phúc lợi xã hội như đường giao thông, trạm xá, trường học và các cơ sở hạ tầng khác Trong khi đó người dân địa phương không được hưởng quyền lợi gì từ sự đền bù Sự chênh lệnh
về mức ưu đãi giữa hai nhóm người này sẽ làm nảy sinh mâu thuẫn giữa người ở cũ
và người mới đến, nhất là nếu họ không cùng sắc tộc
+ Hình thức di dân tập trung: là hình thức di chuyển toàn bộ dân đến nơi ở
mới hầu như chưa có cơ sở hạ tầng và chưa có người dân ở đó, hoặc nếu có thì cũng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ Hình thức này có ưu điểm là hoàn toàn chủ động trong việc quy hoạch điểm dân cư phù hợp với nguyện vọng của người dân và yêu cầu xây dựng các khu kinh tế kiểu mới Nhưng hình thức này có khó khăn là đầu tư lớn cho công tác khảo sát điều kiện tự nhiên, quỹ đất, nước, đánh giá sức chứa của lãnh thổ và xây dựng bản quy hoạch Một khó khăn nữa là việc định hướng cơ cấu kinh tế mới,
về lựa chọn cây trồng, vật nuôi vì phần lớn người dân di cư phải thay đổi tập quán sản xuất và sinh kế do các khu TĐC hầu như có điều kiện hoàn toàn khác so với nơi
ở ban đầu
+ Hình thức di dân tuỳ chọn: là hình thức mà các hộ phải di chuyển được
nhận một khoản tiền đền bù nhất định, họ được tự do lựa chọn nơi đến TĐC cũng
Trang 28như tự lo liệu về các điều kiện ăn ở Hình thức này ít được khuyến khích với cộng
đồng người dân tộc vùng sâu, vùng xa do hiệu quả đạt được rất thấp
1.2.3 Các văn bản pháp luật và chính sách liên quan đến di dân TĐC của Việt
Nam
Nếu như trước năm 1992 khi đất đai chưa được giao cho các hộ gia đình sử
dụng ổn định và lâu dài nên trong nhiều trường hợp, khi cần Nhà nước chỉ thu hồi
lại mà không nhất thiết phải đền bù hoặc chỉ đền bù cho chính quyền địa phương
hay cho tập thể đang sử dụng đất Các tài sản bị thiệt hại cũng không quy định mức
đền bù, mà chủ yếu đền bù theo thoả thuận Hiến pháp 1992 và Luật Đất đai 1993
đã đặt cơ sở pháp lý cho chính sách đền bù (tái định cư) hiện hành được cụ thể hoá
bằng Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ và sau đó là Nghị định
22/1998 NĐ-CP ngày 24/4/1998 về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử
dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
Nghị định 151/TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 14/4/1959 “Quy định
về thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất” là văn bản pháp quy đầu tiên liên quan
đến việc đền bù và TĐC bắt buộc ở Việt Nam, quy định những nguyên tắc cơ bản
trong việc trưng dụng ruộng đất của nhân dân cho việc xây dựng những công trình
do Nhà nước quản lý, cách thức xác định và mức đền bù Tuy nhiên, Nghị định còn
chưa quy định mức đền bù cụ thể mà dựa chủ yếu vào sự thoả thuận giữa các bên
Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 quy định một số điểm tạm thời về
bồi thường nhà, đất đai, cây cối lưu niên, các hoa màu cho nhân dân ở những vùng
xây dựng kinh tế trên nguyên tắc đền bù đảm bảo thoả đáng quyền lợi kinh tế của
hợp tác xã và của nhân dân
Quyết định số 186/HĐBT về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng
khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác ban hành ngày 31/5/1990 Căn cứ để
tính mức đền bù thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng theo quyết định này là
diện tích, chất lượng và vị trí đều quy định giá tối đa và tối thiểu
Nghị định 22/1998 NĐ-CP thay thế Nghị định 90/CP về việc đền bù thiệt hại
khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng đã được ban hành ngày 24/04/1998 Cho tới nay, đây là
văn bản quan trọng nhất thể hiện chính sách TĐC của Chính phủ Ngoài hàng loạt
các điều bổ sung một cách chi tiết Nghị định này còn quy định cụ thể về chính sách
hỗ trợ, lập khu TĐC và hỗ trợ khôi phục cuộc sống
Ngoài chính sách chung với các khu TĐC lớn còn có những quy định cụ thể
áp dụng cho từng vùng miền Ví dụ như công tác di dân TĐC công trình thủy điện
Sơn La từ năm 2001 đến 2005 đã có 2 Nghị quyết, 1 thông báo, 13 Quyết định,
Trang 29nhiều hướng dẫn và công văn khác có liên quan do Chính phủ ban hành Số lượng văn bản pháp lý này một phần phản ánh tầm quan trọng của công trình mang tầm cỡ quốc gia này
Có thể nói, chính sách TĐC ở Việt Nam ngày càng được quan tâm và hoàn thiện Mức đền bù thiệt hại ngày càng sát với thực tiễn, một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ sung nhằm giúp cho các hộ bị di chuyển có nơi ở mới và ổn định được đời sống sản xuất Tuy nhiên, các chính sách TĐC hiện hành còn nhiều hạn chế, đặc biệt là mới chủ yếu tập trung vào việc đền bù thiệt hại về đất và các tài sản gắn liền với đất, do các điều kiện đặc thù của từng dự án cùng với quá trình triển khai thực hiện còn nhiều bất cập là nguyên nhân dẫn đến cuộc sống của cộng đồng TĐC sau TĐC bị sa sút và gặp rất nhiều khó khăn Nhiều chính sách về công tác di dân TĐC chưa đi vào cuộc sống Các khu TĐC thường không bền vững dễ bị phá vỡ
1.3 Quản lý chất lượng tài nguyên đất cho nền nông nghiệp bền vững
1.3.1 Khái niệm và thuộc tính cơ bản của chất lượng đất
Trong sản xuất nông nghiệp, chất lượng đất luôn là yếu tố được coi trọng hàng đầu Bởi vậy, khái niệm về chất lượng đất trong sản xuất nông nghiệp cũng không phải là khái niệm hoàn toàn mới nhưng vẫn còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau Một số nhà khoa học cho rằng rất khó định nghĩa chính xác và định lượng chất lượng đất, trong khi một số khác lại cho rằng đây cũng chỉ là một khái niệm cơ bản để mô tả thực trạng, vai trò và chức năng của đất trong hệ sinh thái nông nghiệp
và tự nhiên Thực tế cho thấy các vấn đề về chất lượng đất đã và đang được ứng
dụng rộng rãi không chỉ đối với nông nghiệp mà còn trong môi trường
Chất lượng đất được khái quát gồm các đặc tính cơ bản của đất cho mục đích
sử dụng nhất định Tuy nhiên, việc xác định các đặc tính này không đơn giản vì chúng là kết quả của nhiều nhân tố tác động như quản lý sử dụng đất, các yếu tố môi trường, và các yếu tố về kinh tế xã hội Larson và Pierce (1991) [79] cho rằng chất lượng có thể xác định được bởi vì con người đã nhận thức được sự đa dạng của đất trên khía cạnh về chất lượng, quan trọng hơn là chất lượng đó luôn bị thay đổi trong quá trình sử dụng Doran và Parkin (1994) [62] cũng cho rằng để có sự phù hợp trong quản lý và duy trì sức sản xuất lâu dài của đất cần có sự hiểu biết rộng về vai trò của đất cũng như các thuộc tính của chúng trong hệ sinh thái nông nghiệp
Các quan niệm đầu tiên về chất lượng đất được dựa vào mối quan hệ giữa các tính chất đất với sức sản xuất của đất Vào cuối những năm của thập kỷ 80, Hội Khoa học đất Mỹ cho rằng chất lượng đất được quyết định chủ yếu bới các thuộc tính cơ bản mang tính kế thừa của đất như đá mẹ, quá trình phong hóa, các yếu tố thời tiết khí hậu Gregoric (1994) khẳng định chất lượng đất là sự phù hợp của đất
Trang 30cho mục đích sử dụng nhất định Chất lượng đất còn là khả năng đáp ứng các nhu cầu sinh trưởng phát triển của cây trồng mà không làm thoái hóa đất hoặc không gây tổn hại tới môi trường (Acton và Gregoric, 1995)
Có hai thuộc tính cơ bản của chất lượng đất là thuộc tính về bản chất và thuộc tính về động thái Thuộc tính về bản chất còn được gọi là thuộc tính kế thừa
do chúng chịu ảnh hưởng của các yếu tố hình thành đất như đá mẹ, địa hình, khí hậu, thời gian, sinh vật Sự khác biệt giữa các loại đất chủ yếu do thuộc tính bản chất gây nên Đây là thuộc tính khá bền vững và ít thay đổi trong khoảng thời gian ngắn Tuy nhiên, thuộc tính bản chất cũng có thể bị thay đổi dưới tác động của con người và môi trường Ví dụ do canh tác không hợp lý trên đất dốc đã làm tăng xói mòn đất; kết quả làm thay đổi một số tính chất của đất như thành phần cơ giới của tầng đất mặt hoặc làm thay đổi độ dày tầng canh tác Thuộc tính thứ hai là thuộc tính động thái thể hiện sự dễ thay đổi về chất lượng đất theo thời gian sử dụng Trong nông nghiệp, thuộc tính động thái phản ánh kết quả của việc sử dụng và quản
lý đất [80]
Các đánh giá về thay đổi chất lượng đất trong quá trình canh tác thường dựa trên sự đánh giá thuộc tính động thái Bảng 1.3 thể hiện khung thời gian cho một số quá trình biến đổi trong đất, trong đó các quá trình thay đổi ngắn hạn thường được coi là thuộc tính động thái
Bảng 1.3 Thời gian của một số quá trình thay đổi trong đất
Dài hạn
(10 2 -10 3 năm)
Trung hạn (1-10 2 năm)
Ngắn hạn (vài giây – 1 năm)
Phân hủy hữu cơ bền vững Hình thành khoáng sét Bay hơi, thẩm thấu
Podzol hóa Phân hủy khoáng sét Rửa trôi các chất dễ tiêu Glây hóa Biến đổi khoáng sét Trao đổi ion
Kết von hóa Xói mòn Phân hủy các chất qua VSV
Mặn hóa Chai cứng tầng canh tác
Nguồn: Carter và cộng sự, 1997 [58]
Duy trì chất lượng đất được coi là chìa khóa cho hệ sinh thái nông nghiệp bền vững Sản xuất nông nghiệp chỉ bền vững khi duy trì được chất lượng đất Nhưng tại nhiều nước đang phát triển do sự chi phối về giá cả của sản phẩm nông nghiệp
và sự bất hợp lý của giá các vật tư sản xuất đã thúc đẩy nhiều nông dân phải lựa chọn giải pháp tình thế lấy ngắn nuôi dài, và lãng quên những nhân tố cần thiết cho sản xuất bền vững Carter (1997) [58] cho rằng mấu chốt chính của sản xuất nông
Trang 31nghiệp bền vững là duy trì và cải thiện hiệu quả sản xuất của từng trang trại; đồng thời tránh những ảnh hưởng xấu tới nguồn tài nguyên tự nhiên; cần tối đa hóa lợi nhuận xã hội có nguồn gốc từ nông nghiệp; tăng cường tính mềm dẻo trong cơ cấu sản xuất để hạn chế được các rủi ro do yếu tố thời tiết và thị trường
1.3.2 Chất lượng đất và chỉ thị chất lượng đất
Đất (Soil) là một tổng thể bao gồm nhiều hợp phần như rắn, lỏng, khí Trong
đó luôn có sự tác động qua lại giữa các hợp phần này với nhau và với các yếu tố môi trường (Pettapiece và Acton 1995) Các nghiên cứu của Dawin và Anderson đã chứng minh rằng chất lượng đất có ảnh hưởng sâu sắc tới chất lượng tổng thể của
hệ sinh thái đất và ngược lại Do vậy, việc đánh giá đất không thể tách rời giữa chất lượng đất với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cụ thể
Chất lượng đất được xem là khả năng của đất để thực hiện các chức năng cơ bản của đất đối với con người cũng như môi trường Theo lý thuyết thì chất lượng đất không chỉ giới hạn cho đất nông nghiệp, tuy nhiên việc đánh giá chất lượng đất hiện nay chỉ tập trung vào các loại đất sử dụng để trồng trọt Trên thực tế, chất lượng đất không thể được đo đạc trực tiếp Do vậy, chất lượng đất thường được đánh giá thông qua các chỉ thị thể hiện tính chất của đất và cây trồng Chúng thường được chia thành 3 nhóm: Các tính chất đặc trưng cho tính chất sinh học đất (thành phần và số lượng các vi sinh vật đất, giun đất…), tính chất hóa học đất (Chất hữu
cơ, pH, CEC, các chất dinh dưỡng trong đất, các kim loại nặng…), các tính chất lý học đất (dung trọng, tỷ trọng, độ xốp…)
Việc đánh giá chất lượng đất có ý nghĩa rất quan trọng giúp người sử dụng có
sự hiểu biết đầy đủ về hiện trạng đất, sự biến đổi chất lượng đất theo thời gian, không gian và phương thức sử dụng Trên cơ sở đó có những biện pháp sử dụng hợp lý đất cho nền nông nghiệp bền vững
Việc lựa chọn các chỉ thị để đánh giá chất lượng đất là vấn đề khó và phức tạp Vấn đề cơ bản là phải tìm ra những chỉ thị chủ yếu, có vai trò quyết định đến chất lượng đất trong những điều kiện cụ thể Về nguyên tắc chỉ thị được lựa chọn phải đặc trưng và ở mức tối thiểu Nhiều tác giả đã đề xuất các chỉ thị chất lượng đất phải được dựa trên mức độ áp dụng khoa học kỹ thuật, công tác quản lý sử dụng đất, các biến động về nguồn nhân lực, năng suất cây trồng, sự biến đổi sử dụng đất
và các tính chất đất…
Cần phân biệt khái niệm chất lượng đất (soil quality) và sức khỏe đất (soil health) trong đánh giá đất Khái niệm sức khỏe đất được sử dụng khi đất được nhìn nhận như là một hệ thống sống trong hệ sinh thái môi trường Đất có sức khỏe tốt là
Trang 32đất có khả năng phục hồi tốt sau khi bị ảnh hưởng từ các hoạt động bên ngoài (Carter và cộng sự, 1997, dẫn theo Đặng Văn Minh [21]) Mặc dù khái niệm chất lượng đất và sức khỏe đất rất gần nhau về nhiều phương diện, nhưng hai khái niệm này không hoàn toàn đồng nghĩa Ví dụ, đất có thành phần cơ giới chủ yếu là cát ở vùng bán sa mạc được coi là đất có chất lượng rất nghèo cho trồng trọt, nhưng chưa chắc đã là đất có sức khỏe kém trong môi trường tự nhiên vốn có tại vùng đó [21]
1.3.3 Một số vấn đề về tính bền vững của nền nông nghiệp
Trong giai đoạn hiện nay, sản xuất nông nghiệp có mối liên hệ quốc tế và đã trở thành một hợp phần trong phát triển kinh tế hàng hóa với hệ thống dây chuyền của sự cung cấp, đầu tư, chế biến, buôn bán và trao đổi tài chính Nền sản xuất nông nghiệp cũng bước sang một giai đoạn mới của nền nông nghiệp công nghiệp hóa có năng suất và hiệu quả cao hơn hẳn Trong nền nông nghiệp đầu tư cao, người nông dân đã tìm mọi cách khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên và các khả năng
có thể nhằm nâng cao lợi nhuận của quá trình sản xuất Điều này cũng luôn gắn liền với các rủi ro trong sản xuất, làm mất tính ổn định cho hệ sinh thái nông nghiệp Chính vì vậy mà nền nông nghiệp công nghiệp hóa tuy mới xuất hiện và phát triển
từ khoảng giữa thế kỷ XX nhưng nó đã nhanh chóng bộc lộ những dấu hiệu của một
sự phát triển không bền vững (Christensen, 1994; Ludwig, 1995; Pineiro, 1989, dẫn theo Nguyễn Xuân Cự [9])
Thâm canh nông nghiệp có ý nghĩa rất lớn làm tăng sản lượng lương thực thế giới nhưng đồng thời cũng gây ra nhiều vấn đề môi trường như ô nhiễm và thoái hóa đất, nước và cây trồng Việc sử dụng nhiều nhiên liệu hóa thạch và các khí phát thải từ các hoạt động nông nghiệp cũng đã góp phần gây tác động xấu đến khí hậu toàn cầu (Petter và Rolf, 1999) dẫn theo [9])
Mục tiêu trung tâm của nền nông nghiệp bền vững là bảo đảm lâu dài lương thực cho một dân số ngày càng tăng trên toàn cầu Nông nghiệp bền vững phải phù hợp với sự phát triển của từng địa phương, từng vùng trên cơ sở tăng cường sự sản xuất trên diện tích đất hiện đang đượng sử dụng, tránh việc mở rộng đất đai ở các vùng biên không hoàn toàn thích hợp cho nông nghiệp (Sabine, 1997) [93]
Theo khái niệm của Hội đồng cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm tư vấn nghiên cứu nông nghiệp quốc tế CGIAR, 1989 [66] thì một nền nông nghiệp bền vững phải bao gồm sự quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên nông nghiệp để thỏa mãn sự thay đổi các nhu cầu cần thiết của loài người trong khi vẫn duy trì hoặc làm tăng cường nguồn tài nguyên thiên nhiên cơ bản, tránh sự hủy hoại môi trường Một nền nông nghiệp chỉ bền vững khi các sản phẩm lấy đi từ đất phải không được vượt quá các
Trang 33vật chất hoàn trả cho đất Như vậy, phát triển nông nghiệp bền vững yêu cầu cả về mặt kỹ thuật và sự thay đổi các tập quán, thói quen, các chính sách, tín ngưỡng, khoa học và thương mại Mỗi người dân, mỗi gia đình và cộng đồng phải cùng hành động để tăng cường nguồn tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở quản lý hiệu quả chúng, không khai thác quá mức cho phép (Ludwig, 1995, dẫn theo [9])
Trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản phát triển bền vững là quá trình bảo tồn và không làm thoái hóa các nguồn tài nguyên đất, nguồn nước, nguồn gen động thực vật bằng các biện pháp thích hợp về kỹ thuật, kinh tế và được xã hội chấp nhận (FAO, 1994) [68] Phát triển nông nghiệp bền vững trong trường hợp của những người sản xuất nhỏ thì ngoài các nguyên lý chung còn cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức bản địa với việc phân tích và nghiên cứu áp dụng các hệ thống canh tác Đây là những cơ sở để xác định nhu cầu cần thiết nhất để đẩy mạnh sản xuất trên cơ sở gắn kết những kinh nghiệm thực tiễn với các tiến bộ của khoa học kỹ thuật
Nasir (1999) [86] đưa ra 5 nhóm yếu tố chính có ý nghĩa quyết định đến tính bền vững của các hệ thống nông nghiệp, bao gồm: Các chính sách quản lý; Những vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội; Các nguồn năng lượng đầu tư, phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật và kỹ thuật canh tác; Những bất cập và tác động của các yếu tố khí hậu; Nhu cầu và quản lý nguồn tài nguyên đất và nước
Khi nghiên cứu về tính bền vững của hệ thống nông nghiệp có thể theo 3 cách tiếp cận khác nhau là tiếp cận kinh tế, tiếp cận sinh thái và tiếp cận văn hóa xã hội (Hatem, 1990 dẫn theo [36])
Trên thực tế rất khó có khả năng thiết lập được sự bền vững ngang bằng giữa các hợp phần kinh tế, xã hội và sinh thái Ví dụ như nền nông nghiệp nhiệt đới thường phải đương đầu với những thách thức lớn nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực chất lượng tốt cho một dân số rất đông Điều này đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên cơ sở áp dụng các biện pháp canh tác truyền thống kết hợp với các kỹ thuật canh tác nông nghiệp tiên tiến, tăng cường sự đa dạng cây trồng và các phương thức sử dụng đất phù hợp (Jurgen Pohlen, Jorg Borgman và Helmut Eiszner, 1997 dẫn theo [9])
Theo Jodha, 1990 [78] hệ thống nông nghiệp được xem là bền vững khi nó duy trì được một mức độ nhất định nào đó các chức năng của mình (ví dụ như sản lượng cây trồng) qua thời gian; và nếu cần thiết có thể tăng năng suất mà không làm ảnh hưởng đến các chức năng sinh thái cơ bản của hệ thống Vận dụng các chỉ thị của một hệ thống nông nghiệp bền vững trong điều kiện Việt Nam, Đào Thế Tuấn, 1995
Trang 34[36] cho rằng có thể chỉ cần dựa vào sự theo dõi tăng trưởng từ trước đến nay để đánh giá
Theo quan điểm của Dumanski (2000)[65] thì nền tảng của một nền nông
nghiệp bền vững là duy trì tiềm năng sản xuất sinh học, đặc biệt là duy trì chất lượng đất, nước và tính đa dạng sinh học Nền nông nghiệp bền vững phải đảm bảo được 3 yêu cầu: Quản lý đất bền vững; Công nghệ được cải tiến; Hiệu quả kinh tế phải được nâng cao Trong đó quản lý đất bền vững được đặt lên hàng đầu Như vậy, nông nghiệp giữ vai trò động lực cho phát triển kinh tế của hầu hết các nước đang phát triển Một nền nông nghiệp bền vững là rất cần thiết để tạo ra những lợi ích lâu dài, góp phần vào PTBV và xoá đói giảm nghèo
Theo B Mollison và Remy Mia Slay (1999) [56] thì phát triển nông nghiệp bền vững làviệc thiết kế những hệ thống cư trú lâu bền của con người Triết lý của nông nghiệp bền vững là hợp tác với thiên nhiên, tuân theo các quy luật tự nhiên, không đi ngược, chống lại các quy luật của tự nhiên Nông nghiệp bền vững không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái có sẵn trong tự nhiên mà còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đã bị suy thoái Mục đích của nông nghiệp bền vững là tạo ra một hệ sinh thái bền vững, có tiềm lực kinh tế, thỏa mãn nhu cầu của con người mà không bóc lột tài nguyên, khônghủyhoại môi trường sống Nguyên tắc xây dựng nông nghiệp bền vững là phải áp dụng các khoa học kỹ thuật khác nhau tùy vào điều kiện khí hậu từng vùng, miền và điều kiện kinh tế của từng địa phương xây dựng những hệ sinh thái nông nghiệpphù hợp Việc áp dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại hay việc sử dụng các hóa chất làm phân bón cần phải tính toán cẩn thận, việc áp dụng cần thức hiện theo4nguyên tắc kết hợp với việc sử dụng phân hữu cơ một cách hiệu quả.
Có thể nói rằng con người đã nhận biết được sự cần thiết của phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp và đã có nhiều cố gắng để nhận dạng cũng như thực hiện chúng Tuy nhiên, cho tới nay tính bền vững vẫn rất khó có thể đánh giá một cánh rõ ràng và cũng rất khó có thể đạt được trong thời gian ngắn Tại hội nghị lần thứ 3 của Ủy ban về phát triển bền vững của Liên hiệp quốc, tháng 4/1995, đã nhận định rằng: Mặc dù đã có một số tiến bộ nhưng vẫn còn là quá nhỏ bé và với những tiến bộ rất chậm chạp trên con đường tiến tới một nền nông nghiệp và phát triển nông thôn một cách bền vững (UNECOSOC, 1995 dẫn theo [9])
Hiện nay, có nhiều cách đánh giá độ bền vững của một hệ thống sản xuất nông nghiệp dựa vào các chỉ thị khác nhau FAO, 1997 [70] rất quan tâm đến các chỉ thị
Trang 35cho chất lượng đất (LQIs) Tại hội nghị về chất lượng đất và sử dụng chúng cho sự phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững (Rome, 1997) đã khuyến cáo một số yếu
tố cần quan trắc trong đánh giá biến đổi chất lượng đất bao gồm: thay đổi các điều kiện tài nguyên đất; thay đổi diện tích của các loại hình sử dụng đất; thay đổi kỹ thuật canh tác và quản lý đất đai; thay đổi năng suất do thâm canh; các chất dinh dưỡng trong đất; các vấn đề về phát triển nông thôn và mật độ dân cư; quản lý rừng; nguồn tài nguyên nước và nuôi trồng thủy sản (Benites và Tschirley, 1997) [55] Theo Dumanski và Pieri, 1997 [64] trạng thái đất được thể hiện thông qua các yếu tố chỉ thị cho chất lượng đất có thể biến đổi theo chiều hướng tốt nếu quản lý và
sử dụng đúng và ngược lại Những chỉ thị cho tác động của con người lên đất thể hiện thông qua các biện pháp quản lý, sử dụng đất và chăm sóc cây trồng
Đã có nhiều nhà nghiên cứu cố gắng xác định các chỉ thị cho phát triển bền vững và các biện pháp quản lý chúng trong thực tế Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa
có khái niệm nào hoàn chỉnh vì các chỉ thị của sự bền vững có thể biến đổi theo chiều hướng khác nhau (FAO, 1995) [69] Chính vì vậy Benites, Shaxson và Vieira,
1997 [77] đã đưa ra khái niệm chỉ thị biến đổi thay cho chỉ thị bền vững hay chỉ thị chất lượng đất Các chỉ thị biến đổi được áp dụng để hướng dẫn quản lý và sử dụng đất cũng như nguồn tài nguyên nước và phân bón Để đánh giá chiều hướng và tốc
độ biến đổi cần phải so sánh với các giá trị nền được xác định từ lúc bắt đầu quan trắc Từ đó xác định sự biến đổi của các chỉ thị này và những nguyên nhân cũng như tác động của sự biến đổi đó
Việc lựa chọn các yếu tố chỉ thị chính cần được xác định ở mức tối thiểu Để tiếp cận quản lý tốt nguồn tài nguyên đất, cần tập trung vào các nhóm nhân tố sau: (1) Tốc độ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, (2) Thay đổi diện tích sử dụng đất, (3) Thay đổi trong quản lý trang trại, (4) Biến đổi năng suất cây trồng, (5) Thay đổi về nguồn nhân lực
1.3.4 Quản lý tài nguyên đất cho phát triển nông nghiệp bền vững
Quản lý tài nguyên đất theo nghĩa rộng là các hoạt động sử dụng đất hiện tại của con người, kể cả việc qui hoạch sử dụng đất nói chung Nó là sự thống nhất giữa người sử dụng đất trực tiếp, pháp luật, quản lý hành chính, tưới tiêu và cây trồng (FAO, 1995) [69] Trong tự nhiên, các quá trình thoái hóa và phục hồi độ phì nhiêu của đất luôn xẩy ra đồng thời Chất lượng đất sẽ là ổn định ở một thời điểm nào đó khi có sự cân bằng giữa 2 quá trình này, còn khi một quá trình nào đó chiếm
ưu thế hơn sẽ quyết định chiều hướng biến đổi của chất lượng đất
Trang 36Theo nghiên cứu của nhóm công tác về khung đánh giá quản lý đất dốc bền vững (Nairobi, Kenya,1991) đã đưa ra định nghĩa [67] “Quản lý bền vững đất đai bao gồm tổ hợp các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên
lý kinh tế, xã hội với các quan tâm về môi trường để đồng thời duy trì hoặc nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất), giảm rủi ro trong sản xuất (an toàn), bảo vệ tiềm năng và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước (bảo vệ) và được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận) Tính bền vững và tính thích hợp có quan hệ với nhau, tính bền vững có thể được coi là tính thích hợp
Nếu coi nền tảng của sản xuất nông nghiệp là vấn đề sử dụng đất thì tính bền vững của hệ thống nông nghiệp cũng được xác định thông qua một hệ thống sử dụng đất bền vững Hệ thống sử dụng đất là sự tương tác giữa môi trường vật lý và sinh học thông qua quá trình sử dụng tài nguyên như đầu vào của các quá trình sản xuất; và qua sự thoái hóa nguồn tài nguyên do kết quả của các sản phẩm thu hoạch
từ nông nghiệp Sự tương tác với môi trường kinh tế, xã hội thông qua sự đầu tư cho sản xuất, qua sự tiêu thụ và mua bán sản phẩm Chính vì vậy mà các quyết định đầu
tư trong sản xuất cũng sẽ có ảnh hưởng tới sự vận hành của cả hệ thống
Một hệ thống sử dụng đất bền vững phải bảo đảm cả khía cạnh vật lý, sinh học
và kinh tế xã hội để sản xuất ra nhiều hơn mức đầu tư, đồng thời vẫn duy trì được
sự ổn định bền vững về môi trường sinh thái
Tính bền vững của đất không chỉ ở tính ổn định về năng suất cây trồng mà còn
là khả năng tự phục hồi của đất, chống lại các quá trình thoái hóa Theo FAO (1997) [70], các chỉ tiêu chuẩn cho mức độ thoái hóa đất có liên quan đến khả năng phục hồi đất được chia ra như sau:
- Thoái hóa nhẹ: Ít nhiều giảm năng suất cây trồng nhưng vẫn thích hợp với canh tác địa phương Có khả năng phục hồi độ phì của đất bằng cách thay đổi hệ thống quản lý Nhìn chung các chức năng sinh học của đất không bị ảnh hưởng
- Thoái hóa trung bình: Năng suất cây trồng bị giảm mạnh nhưng vẫn còn khả năng thích hợp với hệ thống canh tác của địa phương Đòi hỏi phải có
sự cải tạo lớn để khôi phục độ phì đất Các chức năng sinh học ban đầu của đất bị phá hủy từng phần
- Thoái hóa mạnh: Không thể cải tạo ở phạm vi trang trại và đòi hỏi nhiều công nghệ và kỹ thuật cho việc phục hồi đất Các chức năng sinh học ban đầu bị phá hủy mạnh
Trang 37Với mục tiêu của quản lý đất bền vững là hài hòa các mục tiêu sử dụng đất và tạo cơ hội để đạt được kết quả về kinh tế, xã hội và môi trường vì lợi ích không chỉ cho các thế hệ hiện nay mà còn cho các thế hệ tương lai, trong khi vẫn duy trì và nâng cao chất lượng của tài nguyên đất (Smyth và Dumanski, 1993) [98] Bên cạnh
đó, cộng đồng khoa học Thế giới, đứng đầu là Hội Khoa học đất Quốc tế, Uỷ ban về nghiên cứu đất, FAO, WB, Trung tâm Phát triển Phân bón Quốc tế, Tổ chức Rockefeler và nhiều cơ quan khác đang phối hợp với nhau để xây dựng một khung chung cho việc đánh giá quản lý đất bền vững
1.4 Chỉ thị đánh giá chất lượng đất và tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp
trên thế giới và tại Việt Nam
1.4.1 Khái niệm và chức năng của chỉ thị
Theo UNEP, chỉ thị môi trường là một tập hợp số liệu thành một thông tin tổng hợp về một khía cạnh môi trường của một quốc gia hoặc một địa phương
Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam (2005) thì chỉ thị môi trường là một hoặc tập hợp thông số để chỉ ra đặc trưng của môi trường Chỉ thị môi trường là cơ
sở để lượng hóa chất lượng môi trường, theo diễn biến chất lượng môi trường, nhiều chỉ thị môi trường hợp lại thành một bộ chỉ thị môi trường của một nước hoặc một vùng, một địa phương
Các chỉ thị có thể dựa trên các đo đạc vật lý, hóa học hay sinh học gắn liền với chất lượng tài nguyên thiên nhiên hay môi trường Chúng có thể khái quát một
số khía cạnh của môi trường, tài nguyên thiên nhiên hay hoạt động của con người
Để sử dụng trong khuôn khổ phát triển bền vững, các chỉ thị môi trường cần phải tạo mối liên quan giữa các khía cạnh môi trường với các yếu tố kinh tế xã hội Một đặc trưng then chốt của các chỉ thị môi trường là giúp nắm bắt được sự thay đổi theo thời gian Mức độ yêu cầu, khái quát thông tin có thể biểu diễn theo mức độ từ thấp đến cao như hình 1.4
• Chỉ thị (indicator) là một tham số hay số đo dùng cung cấp thông tin, mô tả tình
trạng của một hiện tượng/môi trường/khu vực Các chỉ thị truyền đạt các thông tin phức tạp trong một dạng ngắn gọn, dễ hiểu và có ý nghĩa vượt ra ngoài các giá trị
đo liên kết với chúng Các chỉ thị là các biến số hệ thống đòi hỏi thu thập dữ liệu bằng số, tốt nhất là trong các chuỗi thứ tự thời gian nhằm đưa ra chiều hướng, các chỉ thị này kết xuất từ các biến số, dữ liệu
• Chỉ số (index) là một tập hợp của các tham số hay chỉ thị được tích hợp hay nhân
với trọng số Các chỉ số ở mức độ tích hợp cao hơn, nghĩa là chúng được tính toán
Trang 38từ nhiều biến số hay dữ liệu để giải thích cho một hiện tượng nào đó Chỉ số chất lượng nước, chỉ số phát triển con người (HDI) và Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
Hình 1.4 Thông tin và tháp chỉ thị (SCOPE, WRI, 1995) [96]
• Chức năng của chỉ thị và chỉ số môi trường: Chỉ thị và chỉ số môi trường có ý
nghĩa và tác động rất lớn đối với cộng đồng cũng như các nhà lãnh đạo những người
ra quyết định Ý nghĩa của các chỉ thị môi trường được thể hiện như sau:
- Hiệu quả thông tin: Chúng giảm số lượng các đo lường và các thông số mà
cần có cho việc trình bày hiện trạng môi trường một cách bình thường
- Đơn giản hóa thông tin: Chỉ thị và chỉ số môi trường làm đơn giản hóa quá
trình giao tiếp thông tin và thông qua chúng, các kết quả đo lường được cung cấp cho người sử dụng
- Phòng ngừa: Chỉ thị và chỉ số môi trường tóm lược hiện trạng môi trường và
xã hội hiện tại nhằm cho các tín hiệu về sự thay đổi các tình trạng môi trường
- Quyết định: Chỉ thị và chỉ số môi trường đưa ra sự hướng dẫn hiệu quả để
hoạch định một môi trường bền vững trong tương lai
Xuất phát từ các vấn đề trên nhiều tác giả đã khái quát các chức năng cơ bản của chỉ thị môi trường bao gồm: (1) Tạo ra một cách nhìn tổng quan về sự tiến bộ; (2) Tập trung vào sự chú ý công chúng; (3) Làm gia tăng sự quan tâm của lãnh đạo đối với môi trường; (4) Khuyến khích sự thay đổi hành vi, định hướng hành động; (5) Khuyến khích tập trung vào sự phát triển bền vững hơn là vào tăng trưởng kinh
Dữ liệu đã xử lý (Analysed)
Mức
độ khái quát
và tổng hợp
Mức
độ
cụ thể của thông tin
Trang 39bền vững năm 1991 [67] Tiếp đó, có rất nhiều nghiên cứu về đánh giá đất và chỉ thị đánh giá đất như: Đánh giá tài nguyên đất và vai trò của các chỉ thị đất có liên quan (Sombroek, 1997 [109]), chỉ thị chất lượng đất của FAO (Bie, A Baldascini and Tschirley, 1997 [100]), ứng dụng mô hình PSR trong xây dựng chỉ thị chất lượng đất (Dumanski and Pieri, 1997 [64]), các chỉ thị đất đánh giá quản lý bền vững tài nguyên đất (Benites, Shaxson and Vieira, 1997 [77]), chỉ thị chất lượng đất (Brinkman, 1997 [92]) Nhiều nghiên cứu về chỉ thị đánh giá đất cũng được WB, UNEP, UNDP và FAO tổng hợp và xuất bản trong cuốn ”các chỉ thị chất lượng đất
và việc sử dụng chúng trong nông nghiệp bền vững và phát triển nông thôn” năm
1997 [70] Một số nghiên cứu khác có tầm ảnh hưởng rất lớn trong nghiên cứu xây dựng các chỉ thị đánh giá chất lượng đất là các nghiên cứu của USDA (1996) và USDA-NRCS (2001) [108], nghiên cứu chỉ thị lý hóa sinh cho chất lượng đất (Doran, Parkin, 1994 [62]) và một số nghiên cứu lựa chọn chỉ thị đánh giá chất lượng đất của các tác giả Arshad và Martin, 2002 [83]; Larson và Pierce, 1994 [80]; Carter et al., 1997 [58]; Karlen et al., 1998, 2003 [58,59], Các nghiên cứu này đã chỉ ra được các chỉ thị cần thiết để đánh giá đất và mối quan hệ của chúng với các chức năng của đất hay lý do lựa chọn và cách xác định chúng Theo kết quả nghiên
cứu của McRae và cộng sự (2000) thì các chỉ thị môi trường nông nghiệp có liên
quan hầu hết tới các mục tiêu và chức năng của đất Các chỉ thị có liên quan tới việc suy thoái đất tác động lên sản lượng cây trồng Ví dụ như rủi ro của xói mòn do nước, do gió, độ chặt đất, mặn hóa, mất chất dinh dưỡng và các bon hữu cơ trong đất
Chỉ thị môi trường đất nông nghiệp được xây dựng dựa trên cơ sở sự mong đợi của sản phẩm đầu ra dưới tác động từ việc quản lý, khí hậu, các yếu tố của đất và cảnh quan Theo nghiên cứu của Seybold và cộng sự (1998) [95] thì việc nghiên cứu chỉ thị đánh giá đất hay nghiên cứu chỉ thị đánh giá chất lượng đất thực chất là quá trình nghiên cứu khả năng thực hiện các chức năng của từng loại đất riêng biệt trong các giới hạn của hệ sinh thái nhân tạo hoặc tự nhiên để: Duy trì năng suất của cây trồng và vật nuôi; Duy trì hoặc cải thiện chất lượng không khí và nước; Hỗ trợ sức khỏe và nơi sống của con người
Các khả năng thực hiện các chức năng của đất biến đổi một cách tự nhiên, do
đó, chất lượng đất được đánh giá tùy theo từng loại đất Chất lượng đất được chia làm hai phần riêng rẽ nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau: chất lượng tự nhiên và chất lượng động
Các tính chất của đất như thành phần cơ giới, khoáng vật học là các tính chất nội sinh của đất, được quyết định bởi các yếu tố hình thành đất – khí hậu, địa hình,
Trang 40thực vật, đá mẹ và thời gian Các tính chất này quyết định chất lượng tự nhiên của đất Chúng giúp so sánh một loại đất này với loại đất khác và đánh giá đất cho các mục đích sử dụng riêng Ví dụ, nếu các tính chất khác là như nhau, thì đất thịt có khả năng giữ nước tốt hơn đất cát; do đó, đất thịt có chất lượng tự nhiên tốt hơn đất cát Chỉ thị chất lượng tự nhiên của đất được đề cập đến là các chỉ thị chất lượng đất LQIs (Land Quality Indicators)
Chất lượng động của đất được định nghĩa như sự thay đổi các tính chất đất do các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, việc đánh giá chất lượng đất thường là đánh giá các tác động của các hoạt động của con người đến đất [95] Chất lượng động của đất được thể hiện thông qua các chỉ thị bền vững (FAO, 1995) Cụ thể hơn Benites và Vieira (1997) đã đưa ra khái niệm về chỉ thị biến đổi (CI) thay cho chỉ thị chất lượng đất (LQI) hay chỉ thị bền vững (SI) Chỉ thị biến đổi chất lượng đất được dùng để đánh giá chiều hướng và tốc độ biến đổi chất lượng đất theo thời gian dựa trên việc so sánh với giá trị nền được xác định từ trước
Các chỉ thị chất lượng đất được lựa chọn do chúng có quan hệ với các đặc tính và chất lượng của đất Ví dụ, chất hữu cơ trong đất là một chỉ thị được sử dụng phổ biến do nó có thể cung cấp thông tin về phổ rộng các tính chất đất như dinh dưỡng đất, cấu trúc đất, độ bền của đất và khả năng giữ dưỡng chất của đất
Các chỉ thị có thể được đánh giá bởi các kỹ thuật định tính hoặc định lượng Đánh giá định tính là xác định bản chất của chỉ thị Đánh giá định lượng là các số liệu chính xác của chỉ thị đó Ví dụ với xói mòn, đánh giá định tính là quan sát các dòng chảy hoặc rãnh nhỏ trên đồng, chúng chỉ ra sự tồn tại của xói mòn Đánh giá định lượng tức là đo lường lượng xói mòn trên cánh đồng đó
Đánh giá định tính thông thường được tiến hành đơn giản và nhanh chóng Tuy nhiên, vì bản chất chủ quan của phương pháp này, các kết quả không được dùng để so sánh với bất kỳ một cấp độ nào của các tính chất đất, cũng như không thể dùng để so sánh giữa những người sử dụng khác nhau và giữa các nông trại khác nhau
Mặc dù mất nhiều thời gian hơn và đôi khi phức tạp hơn nhưng các đánh giá định lượng phù hợp hơn và dễ dàng so sánh cho các vùng đất khác nhau, đặc biệt là khi việc thực hiện đánh giá theo thời gian hoặc khi cần có sự so sánh giữa các loại đất với các cấp mục tiêu dựa trên điều tra đất hoặc các dữ liệu khác