1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN

53 1,6K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Và Quản Lý Danh Mục Đầu Tư Chứng Khoán Lý Thuyết Và Thực Tiễn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Chứng Khoán
Thể loại Luận Văn
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 159,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo phương pháp này, tốt nhất là đầu tư vào các danh mục có thành phần trái phiếu tương tự như các chỉ số trên thịtrường nhằm thu được kết quả tương tự như của chỉ số đó.. Các bước tiến

Trang 1

XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG

KHOÁN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN

I XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

1.Quản lý danh mục đầu tư trái phiếu

1.1 Chiến lược thụ động

Quản lý thụ động là chiến lược mua và nắm giữ trái phiếu cho đến khiđáo hạn mà không cần quan tâm đến các biến động lãi suất Đối với chiến lượcnày, về cơ bản không có sự phải phân tích dự báo tình hình biến động lãi suất,song người đầu tư vẫn cần có sự phân tích để đa dạng hoá danh mục đầu tưnhằm giảm thiểu rủi ro và xác định số lượng trái phiếu cần đưa vào danh mụcphù hợp với độ lớn của danh mục đầu tư Theo phương pháp này, tốt nhất là đầu

tư vào các danh mục có thành phần trái phiếu tương tự như các chỉ số trên thịtrường nhằm thu được kết quả tương tự như của chỉ số đó

Các bước tiến hành khi thực hiện chiến lược đầu tư thụ động

Lựa chọn chỉ số trái phiếu

Trên thị trường có nhiều loại chỉ số trái phiếu với các mức rủi ro khácnhau, do vậy trước hết người quản lý danh mục đầu tư thụ động cũng cần phảixem xét 2 yếu tố để quyết định nên đầu tư theo danh mục loại nào

Thứ nhất là xác định mức độ rủi ro thanh toán mà người đầu tư có thểchấp nhận Nếu chọn danh mục dựa trên chỉ số gồm toàn trái phiếu công ty thì

sẽ gặp nhiều rủi ro tín nhiệm hơn chỉ số trái phiếu chính phủ Nếu mức rủi ro

đó là quá cao không thể chấp nhận được thì tốt nhất không nên dựa vào chỉ số

đó để lập danh mục

Thứ hai là phải tuân theo mục tiêu của người đầu tư đề ra Chẳng hạn, lợisuất đầu tư của các chỉ số có thể khá đồng đều, song độ biến thiên của chúng lạikhác nhau mỗi khi có biến động lãi suất Do vậy, nếu mục tiêu của người đầu tư

là chọn những danh mục có độ biến thiên lợi suất thấp thì cần phải đầu tư dựatheo các chỉ số có thời gian đáo hạn bình quân (duration) rất ngắn

Trang 2

Ví dụ một số loại chỉ số trái phiếu trên thị trường chứng khoán Mỹ: chỉ

số thị trường tổng thể: Merrill Lynch Domestic Market Index (5000); chỉ số thịtrường chuyên ngành: Gov Bond Index, Yankee Bond Index,…

Phương pháp đầu tư

Một khi người quản lý danh mục đã quyết định được nên đầu tư dựa theochỉ số nào thì bước tiếp theo là phải xây dựng danh mục đầu tư theo phiên bảncủa chỉ số đó Để thực hiện công việc này, người quản lý có thể thực hiện một

số phương pháp sau:

Phương pháp thứ nhất, mua tất cả các trái phiếu có trong chỉ số chuẩn dựkiến đã chọn với tỷ trọng đầu tư vào mỗi trái phiếu bằng tỷ trọng trái phiếu đóchiếm trong chỉ số chuẩn Tuy nhiên, làm như vậy thì đòi hỏi phải có số vốn rấtlớn và trong trường hợp phí giao dịch tính theo món thì sẽ phải chịu phí giaodịch rất lớn

Phương pháp thứ hai, chỉ mua chọn lọc một số lượng nhất định các tráiphiếu trong chỉ số Theo cách này thì vốn ít vẫn có thể thực hiện được với phígiao dịch thấp nhưng có một hạn chế là mức đa dạng hoá không cao và danhmục không hoàn toàn tuân theo chỉ số chuẩn Do vậy phương pháp này có thể sẽcho ra kết quả không hoàn toàn giống với kết quả của chỉ số chuẩn

Tuy nhiên, trên thực tế thì nhiều các quỹ đầu tư chuyên nghiệp và cá nhânkhông thể có số vốn đủ lớn để mua tất cả các loại trái phiếu có trong danh mụcchuẩn

Do vậy phương pháp thường dùng là mua chọn lọc Để bảo đảm thựchiện chiến lược này sao cho hạn chế được rủi ro hệ thống một cách tối đa, nhàquản lý danh mục có thể tiến hành một số phương pháp sau:

a/ Phương pháp chia nhỏ: Là phương pháp phân chia chỉ số theo các

nhóm nhỏ đại diện cho những đặc tính khác nhau của chỉ số Cách chia thườngtheo các đặc tính sau:

- Thời gian đáo hạn bình quân;

- Lãi suất coupon;

Trang 3

- Thời gian đáo hạn;

- Lĩnh vực, ngành nghề (trái phiếu Chính phủ, công ty hay trái phiếu cóbảo đảm );

- Mức độ tín nhiệm;

- Đặc điểm trái phiếu (trái phiếu có thể mua lại trước hạn, trái phiếu cólãi suất thả nổi )

b/ Phương pháp tối ưu hoá

Nhà quản lý danh mục phải xây dựng một danh mục vừa phải khớp vớicác nhóm chia nhỏ như trên, vừa phải tuân theo một số điều kiện và đồng thờiphải tối ưu một số mục tiêu đề ra

Điều kiện đặt ra là hạn chế đầu tư vốn vào một loại trái phiếu hoặc mộtnhóm các trái phiếu hay rộng hơn là một lĩnh vực ngành nghề Các mục tiêu đặt

ra có thể là tối đa hoá lợi suất đầu tư của từng danh mục riêng lẻ hoặc tối đa hoá

độ lồi hay tối đa hoá lợi suất đầu tư của toàn bộ danh mục đầu tư v.v

Đây là phương pháp rất phức tạp, chỉ có các nhà quản lý đầu tư chuyênnghiệp mới có thể thực hiện được

1.2 Quản lý bán chủ động

Trên thực tế thường ít khi các nhà quản lý danh mục đầu tư theo hướngthụ động đơn thuần như phương pháp nêu trên đây mà thường là hướng danhmục đầu tư thụ động theo một số mục tiêu nhất định Phương pháp quản lý thụđộng đơn thuần chỉ có tác dụng đa dạng hoá danh mục, giúp giảm thiểu phần rủi

ro không hệ thống của danh mục và đạt được kết quả tương tự mức bình quâncủa thị trường mà không có tác dụng phòng tránh rủi ro hệ thống Để danh mụcđạt được các mục tiêu đề ra và phòng tránh được cả rủi ro hệ thống, các nhàquản lý danh mục một mặt thiết lập danh mục theo phương pháp thụ động, mộtmặt quản lý danh mục mang tính chủ động Phương pháp này được gọi là quản

lý bán chủ động

1.2.1 Các loại rủi ro đầu tư trái phiếu

Trang 4

Đối với trái phiếu cũng tồn tại 2 loại rủi ro là rủi ro phi hệ thống và rủi ro

hệ thống Rủi ro phi hệ thống là rủi ro của từng công ty riêng lẻ phát hành tráiphiếu như rủi ro thanh toán, rủi ro kinh doanh Đơn vị phát hành có mức tínnhiệm càng thấp thì độ rủi ro càng cao Tuy nhiên, đây là loại rủi ro có thể hạnchế hoặc loại bỏ hoàn toàn thông qua đa dạng hoá

Rủi ro hệ thống là rủi ro do thị trường gây ra, như rủi ro biến động lãisuất, lạm phát hoặc thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô Không thể xoá bỏ rủi ronày bằng đa dạng hoá được, do vậy nhà quản lý danh mục cần phải có các biệnpháp quản lý danh mục nhằm giảm thiểu được loại rủi ro này Đây chính lànhiệm vụ quan trọng của nhà quản lý danh mục đầu tư

Rủi ro hệ thống được chia làm hai loại, rủi ro giá và rủi ro tái đầu tư Rủi

ro này phát sinh do kỳ đầu tư không trùng với thời gian đáo hạn của trái phiếuđầu tư trong điều kiện lãi suất thị trường biến động Khi kỳ đầu tư ngắn hơn thờigian đáo hạn trái phiếu thì sẽ phát sinh rủi ro giá và ngược lại, trong trường hợp

kỳ đầu tư dài hơn thời gian đáo hạn trái phiếu thì rủi ro tái đầu tư phát sinh.Thậm chí cả trong trường hợp kỳ đầu tư bằng thời gian đáo hạn trái phiếu thìcác rủi ro trên vẫn tiềm ẩn trong quá trình đầu tư vì trên thực tế sẽ có rất nhiều

lý do khiến cho nhà đầu tư buộc phải thay đổi chiến lược đầu tư của mình nhưbán trái phiếu trước khi đáo hạn hoặc kéo dài kỳ hạn đầu tư của mình so với dựkiến ban đầu Hơn nữa, kể cả trường hợp kỳ đầu tư trùng với thời gian đáo hạntrái phiếu (loại trái phiếu có coupon) thì rủi ro tái đầu tư vẫn tồn tại do cáckhoản lãi nhận được phải tái đầu tư Vì vậy, rủi ro đầu tư luôn tiềm ẩn mọi nơi,mọi lúc Đó là lý do khiến người đầu tư phải quan tâm đến việc quản lý rủi rocủa danh mục đầu tư và đòi hỏi nhà quản lý danh mục đầu tư luôn luôn phảithực hiện chiến lược phòng tránh rủi ro cho danh mục của mình

1.2.2 Một số phương pháp quản lý bán chủ động

Trung hòa rủi ro (Immunization)

Nguyên tắc loại bỏ rủi ro

Trang 5

Trung hoà rủi ro lãi suất là phương pháp phổ biến trong chiến lược loại

bỏ rủi ro cho danh mục đầu tư Đó là biện pháp xây dựng một danh mục tráiphiếu sao cho khi lãi suất biến động thì rủi ro về giá và rủi ro tái đầu tư gâynhững tác động bằng nhau và ngược chiều nhau, do đó chúng triệt tiêu nhau và

vì vậy danh mục đầu tư không bị ảnh hưởng

Để phòng tránh rủi ro lãi suất, một biện pháp trung hoà rủi ro thườngđược sử dụng là đầu tư vào trái phiếu có thời gian đáo hạn bình quân (viết tắt làTGĐHBQ) bằng kỳ đầu tư (với điều kiện lãi suất các loại kỳ hạn như nhau vàlãi suất biến động song song tại mọi thời điểm) Một trong những phương pháp

có thể sử dụng là đầu tư vào trái phiếu không trả lãi có thời gian đáo hạn bằng

kỳ đầu tư (vì TGĐHBQ của loại trái phiếu này bằng chính thời gian đáo hạn củanó) Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào cũng sẵn có loại trái phiếukhông lãi phù hợp với ý muốn của nhà đầu tư, do vậy nhà đầu tư có thể lựachọn loại trái phiếu có lãi nhưng đảm bảo điều kiện TGĐHBQ của trái phiếu đóbằng kỳ đầu tư dự kiến

Cách thức loại bỏ rủi ro

Loại bỏ rủi ro cho từng danh mục đầu tư

Để loại bỏ rủi ro cho một danh mục đầu tư, phải xây dựng một danh mụcđầu tư sao cho TGĐHBQ của cả danh mục bằng kỳ đầu tư dự kiến TGĐHBQcủa cả danh mục được xác định bằng TGĐHBQ gia quyền của tất cả các tráiphiếu trong danh mục Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản chỉ dừng ở đó Trongsuốt giai đoạn đầu tư, TGĐHBQ của danh mục sẽ biến đổi khác với kỳ đầu tưnên người quản lý danh mục đầu tư phải thường xuyên cơ cấu lại danh mục saocho TGĐHBQ của danh mục đó luôn khớp với kỳ đầu tư

Thông thường, các nhà quản lý chuyên nghiệp có thể điều chỉnh lại danhmục theo định kỳ (chẳng hạn hàng tháng hay hàng quý) và tiến hành cơ cấu lạimỗi khi có biến động lãi suất

Loại bỏ rủi ro cho toàn bộ tổng tài sản quản lý:

Nguyên tắc chung trong việc quản lý tổng tài sản

Trang 6

Các định chế tài chính như ngân hàng, quỹ đầu tư tương hỗ, quỹ hưu trí,quỹ bảo hiểm vv là những tổ chức đầu tư trái phiếu rất lớn

Mục tiêu chính của các định chế này: là đầu tư trái phiếu để thu được mộtkhoản lời nhất định trên tổng tài sản đầu tư và tạo ra các dòng tiền lãi ổn địnhđáp ứng cho các nghĩa vụ trả nợ đã được ấn định; và bảo toàn, gia tăng nguồnvốn sở hữu

Trung hoà rủi ro là biện pháp hữu hiệu để cân đối sự biến động giá trịcủa cả tài sản lẫn nghĩa vụ nợ trước sự biến động lãi suất, bảo đảm cho vốn sởhữu không bị tác động, hoặc là việc cân đối các dòng tiền thu được với nghĩa vụtrả nợ của tổ chức đó

Vốn sở hữu (hay tài sản ròng) của một định chế tài chính phải luôn đượcbảo toàn Việc đánh giá xác định tình hình biến động nguồn vốn này được thểhiện như sau:

Va = Vl + NW, do vậy NW = Va - Vl

Trong đó Va và Vl là giá trị quy về hiện tại của các dòng tiền tương lai củatài sản và nghĩa vụ nợ tương ứng Như vậy tổ chức tài chính này sẽ trở thànhmất khả năng thanh toán khi giá trị tài sản ròng (NW) bị âm, tức là khi Va < Vl Chính vì vậy nhà quản lý tổ chức tài chính cần phải liên tục đánh giá tài sản và

có biện pháp phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra làm giảm giá trị tài sản ròng hoặcgây ra tình trạng mất khả năng thanh toán của tổ chức mình

Có hai cách trung hoà rủi ro, đó là khớp TGĐHBQ (và độ lồi) của tài sảnvới nghĩa vụ nợ (còn gọi là khớp kỳ đầu tư) hoặc cách thứ hai là khớp cácdòng tiền với nhau Thông thường, việc khớp TGĐHBQ để bảo toàn tài sảnròng được thực hiện trong trường hợp không xác định được chính xác các dòngtiền phải trả tại các thời điểm khác nhau trong tương lai Tuy nhiên, cách này cómột hạn chế là luôn phải theo dõi và cơ cấu lại danh mục đầu tư, và chi phí tốnkém Trong trường hợp nếu xác định được các dòng tiền phải chi trả tại khoảngthời gian nhất định trong tương lai thì người ta dùng phương pháp khớp cácdòng tiền sẽ đỡ tốn kém hơn

Trang 7

1.3 Chiến lược đầu tư chủ động

Chiến lược chủ động là phương pháp nhà quản lý danh mục sử dụng khảnăng dự đoán và thủ thuật đầu tư của mình để xây dựng các danh mục đầu tưđạt mức sinh lời cao hơn mức sinh lời chung của thị trường

Các yếu tố chủ yếu mà nhà quản lý danh mục phải theo dõi và dự đoán là:

- Thay đổi mặt bằng lãi suất;

- Thay đổi cơ cấu kỳ hạn lãi suất (hay đường cong lãi suất);

- Thay đổi mức chênh lệch lãi suất giữa các loại trái phiếu khác nhau

Một số phương pháp chủ yếu được áp dụng:

Chiến lược hoán đổi (hay còn gọi là lựa chọn chứng khoán riêng lẻ)

Nguyên tắc thực hiện chiến lược này là:

- Đánh giá hai loại trái phiếu tương đương chất lượng và thời gian đáohạn, chuyển từ loại có coupon thấp sang loại có coupon cao với giá lại khôngcao hơn nhiều để hy vọng thu được lợi suất cao hơn Phương pháp này gọi làhoán đổi lợi suất đơn thuần;

- Khai thác các định giá sai tạm thời của thị trường về trị giá chứngkhoán Chẳng hạn, có hai loại trái phiếu tương đương về chất lượng (độ rủi ro),lĩnh vực hoạt động, coupon và thời gian đáo hạn, nhưng lãi suất đáo hạn lạikhác nhau (tức giá khác nhau) thì người ta sẽ thay thế trái phiếu có lợi suất thấp(giá cao) để đổi lấy trái phiếu lợi suất cao (giá thấp) Đây là phương pháp hoánđổi thay thế;

- Dự đoán mức độ tín nhiệm của một công ty có xu hướng tăng lên, tứclợi suất đầu tư vào trái phiếu do công ty này phát hành sẽ giảm (giá trái sẽ phiếutăng), do vậy ngay từ bây giờ phải mua loại trái phiếu này và bán loại tươngđương không có triển vọng

Tuy nhiên, các chiến lược hoán đổi trên đây có một số rủi ro mà nhà quản

lý danh mục cần biết Đó là việc trái phiếu được hoán đổi chưa chắc đã hoàntoàn tương đồng về mặt chất lượng với trái phiếu ban đầu Hơn nữa, các loại trái

Trang 8

phiếu thường có thời gian đáo hạn và coupon tương tự chứ chưa hẳn giống nhauhoàn toàn Điều đó dẫn đến sự khác nhau về độ lồi, do vậy sự chênh lệch lợisuất trên đây có thể là sự trả giá cho độ lồi khác nhau chứ chưa hẳn là do thịtrường định giá sai

Chiến lược dự đoán lãi suất

Đây là phương pháp đơn giản nhất của chiến lược đầu tư chủ động Điểmtrọng yếu của phương pháp này là phải dự đoán được xu hướng biến động củalãi suất trong tương lai làm căn cứ xây dựng một danh mục nhạy cảm với sựbiến động đó Vì TGĐHBQ là đơn vị đo mức nhạy cảm của danh mục tới sựbiến động lãi suất nên khi người quản lý dự đoán lãi suất sẽ giảm thì cần phảixây dựng danh mục đầu tư có TGĐHBQ dài và ngược lại

Trong quá trình đầu tư, cũng bằng cách dự đoán lãi suất này, nhà quản lý

có thể thay đổi TGĐHBQ của danh mục bằng cách hoán đổi một trái phiếutrong danh mục có TGĐHBQ thấp để lấy một trái phiếu khác có TGĐHBQ caohơn để điều chỉnh TGĐHBQ của danh mục

Chiến lược dự đoán chênh lệch đường cong lãi suất

Dự đoán xu hướng lãi suất như phương pháp trên đây là vấn đề rất khókhăn, do vậy nhà quản lý thường sử dụng tài dự đoán chênh lệch đường cong lãisuất, tức dự đoán sự khác nhau trong xu hướng biến động của lãi suất hai kỳhạn khác nhau của một loại trái phiếu (hoặc hai trái phiếu tương đương vềngành nghề, chất lượng và coupon ) với hy vọng thu về khoản lợi nhuận chắcchắn Nếu tại một thời điểm nào đó lãi suất của hai loại kỳ hạn biến động bấtthường (vượt xa ngoài mức biến động bình quân thường có trong quá khứ) thìngười ta dự đoán nó sẽ đổi chiều vào một thời điểm nào đó trong tương lai, từ

đó có chiến lược đầu tư thích hợp

Tuy nhiên, một điểm cần lưu ý trong chiến lược này là nếu chỉ tập trungkhai thác yếu tố chênh lệch lãi suất không thôi thì vẫn chưa đủ Nếu dự đoáncủa nhà đầu tư về sự thay đổi của chênh lệch lãi suất là đúng thì vẫn có nguy cơ

Trang 9

thua lỗ vì nhà đầu tư chưa đề phòng trường hợp rủi ro biến động lãi suất Dovậy cần kết hợp cả phương pháp trung hoà rủi ro lãi suất.

Nguyên tắc chung của chiến lược này: khi dự đoán mức chênh lệch sẽgiảm thì mua trái phiếu dài hạn và bán trái phiếu ngắn hạn và ngược lại Cần lựachọn số lượng trái phiếu sao cho khớp giá trị của hai loại trái phiếu mua và bán

để tránh rủi ro lãi suất (khung lãi suất thay đổi)

Chiến lược dự đoán mức biến động lãi suất hay còn gọi chiến lược đường cong lãi suất

Nếu như trong chiến lược dự đoán sự thay đổi lãi suất trên đây nhà quản

lý danh mục phải dự đoán xu hướng lãi suất (tăng hay giảm) thì ở phương phápnày không cần dự đoán về xu hướng lãi suất mà chỉ cần dự đoán về mức biếnđộng của lãi suất, tức lãi suất sẽ biến động nhiều hay ít (nhưng là biến độngsong song)

Ví dụ, một nhà quản lý dự đoán rằng trong thời gian tới lãi suất sẽ biếnđộng mạnh do nền kinh tế không ổn định Sự biến động mạnh như vậy có thểdẫn đến lãi suất tăng rất cao hoặc giảm xuống rất thấp Trong trường hợp này,phải lựa chọn danh mục đầu tư sao cho khai thác được lợi thế của tình hình này

Nguyên tắc chung của chiến lược này là: Nếu nhà quản lý dự đoán lãi

suất sẽ biến động mạnh thì chọn đầu tư vào danh mục có độ lồi cao hơn, nếu dựđoán lãi suất ổn định thì chọn danh mục có độ lồi thấp

2 Quản lý danh mục đầu tư rủi ro (cổ phiếu)

Danh mục đầu tư rủi ro là danh mục chứa đựng tất cả các loại chứngkhoán rủi ro (kể cả cổ phiếu và trái phiếu) Tuy nhiên, để đơn giản hoá về mặt

lý thuyết, khi đề cập đến danh mục rủi ro người ta thường nói đến danh mục cổphiếu Không giống như quản lý danh mục trái phiếu đơn thuần, ở đây chỉ cóhai chiến lược quản lý chủ động và thụ động mà không có chiến lược kết hợpgiữa thụ động và chủ động Tuy rằng trên thực tế tồn tại một dạng kết hợp nhưvậy, song thực chất nó vẫn mang nội dung của quản lý chủ động vì mục đíchcủa chiến lược này là tìm ra những lĩnh vực hoặc chứng khoán bị đánh giá thấp

Trang 10

2.1 Chiến lược quản lý thụ động

Cũng như đối với danh mục trái phiếu, đây là chiến lược mua cổ phiếudựa theo một chỉ số chuẩn nào đó và nắm giữ lâu dài khoản đầu tư Tuy nhiên,điều này không có nghĩa chỉ đơn thuần mua và nắm giữ cổ phiếu lâu dài mà đôikhi danh mục cũng cần được cơ cấu lại khi phải tái đầu tư các khoản cổ tứcnhận về và do có một số cổ phiếu bị hợp nhất hoặc trượt khỏi danh sách trongchỉ số chuẩn Song nhìn chung, mục đích của chiến lược này không phải để tạo

ra danh mục “vượt trội” chỉ số chuẩn (chỉ số mục tiêu), mà tạo ra danh mục cổphiếu có số lượng và chủng loại cổ phiếu gần giống với chỉ số chuẩn nhằm thuđược mức lợi suất đầu tư tương đương với lợi suất của chỉ số đó Hiệu quả củadanh mục này được đánh giá dựa trên khả năng của nhà quản lý danh mục trongviệc tuân theo chỉ số chuẩn, tức là khả năng giảm thiểu những sai lệch so với chỉ

số chuẩn Ví dụ một số loại chỉ số phổ biến nhất được áp dụng ở thị trường Mỹ

là S&P 500, 400 và 200; Wilshine 5000; Russell 2000…

Về mặt kỹ thuật, có 3 phương pháp chính xây dựng danh mục cổ phiếuthụ động như sau:

- Lặp lại hoàn toàn một chỉ số nào đó: theo phương pháp này, tất cả các

loại cổ phiếu nằm trong chỉ số được mua vào theo một tỷ lệ bằng tỷ trọng vốn

mà cổ phiếu đó chiếm giữ trong chỉ số này Phương pháp này giúp nhà quản lýchắc chắn thu được kết quả đầu tư gần giống với kết quả của chỉ số, nhưng cóhai nhược điểm:

+ Vì phải mua nhiều cổ phiếu nên phải chi nhiều phí giao dịch (trongtrường hợp phí giao dịch tính theo món), dẫn đến lợi suất đầu tư có thể giảm vìchi phí quá nhiều;

+ Trong quá trình nắm giữ danh mục đầu tư, nhà quản lý sẽ được nhận cổtức từ việc sở hữu cổ phiếu Tuy nhiên, mỗi công ty có một chiến lược chi trả

cổ tức vào các thời điểm khác nhau nên luồng cổ tức nhận về rải rác dẫn đếnviệc tái đầu tư cổ tức bị phân tán, do vậy có thể bị lỡ những cơ hội đầu tư tốt vàphí giao dịch cao

Trang 11

-Phương pháp chọn nhóm mẫu: với phương pháp này, nhà quản lý chỉ

cần chọn một nhóm các chứng khoán đại diện cho chỉ số chuẩn theo tỷ lệ tươngứng với tỷ trọng vốn của từng cổ phiếu đó trong chỉ số chuẩn Phương pháp này

có ưu điểm giảm chi phí giao dịch vì số lượng chứng khoán mua vào ít, nhưngkhông bảo đảm chắc chắn lợi suất đầu tư đạt được sẽ tương đương với lợi suấtthu nhập của chỉ số chuẩn

- Phương pháp lập trình bậc 2: phương pháp này khá phức tạp, thường

chỉ có các nhà đầu tư chuyên nghiệp áp dụng Trong phương pháp này, cácthông tin quá khứ về tình hình biến động giá cổ phiếu và mối tương quan giữacác loại giá cổ phiếu khác nhau được đưa vào chương trình máy tính để chọnlọc và xác định thành phần của danh mục sao cho giảm thiểu chênh lệch lợi suấtcủa danh mục so với chỉ số chuẩn Tuy nhiên, phương pháp này cũng nảy sinhvấn đề là khi các dữ liệu đầu vào (thông tin quá khứ về giá cả và mối tươngquan giữa chúng) có sự thay đổi thường xuyên thì lợi suất danh mục sẽ cóchênh lệch lớn so với chỉ số

Thực tế, có nhiều lý do khiến nhiều Quỹ không đầu tư theo phương pháp lặplại hoàn toàn chỉ số Thứ nhất, khối lượng tiền đầu tư không lớn lắm nên không

đủ để mua rải theo các chỉ số Thứ hai, vì mua nhiều nên chi phí giao dịch cao.Còn phương pháp lập trình bậc hai lại rất phức tạp, cho nên phương án chọnmẫu thường được áp dụng nhiều

2.2 Chiến lược quản lý chủ động

Mục tiêu của chiến lược này là nhằm thu được lợi suất đầu tư cao hơn lợisuất của danh mục thụ động chuẩn hoặc thu được mức lợi nhuận trên trungbình ứng với một mức rủi ro nhất định

Quy trình quản lý danh mục đầu tư chủ động như sau:

 Xác định mục tiêu của khách hàng đặt ra: khách hàng đầu tư có thể

đưa ra các yêu cầu cụ thể cho khoản đầu tư của mình, chẳng hạn đặt ra mục tiêuchỉ đầu tư vào loại cổ phiếu công ty nhỏ; với hệ số P/E thấp và ứng với một

Trang 12

mức rủi ro nào đó, chẳng hạn cao hơn, bằng hoặc thấp hơn mức rủi ro của danhmục thị trường

 Lập ra một danh mục chuẩn (hay còn gọi danh mục "thông thường") để

làm căn cứ so sánh cho danh mục chủ động trên đây Chẳng hạn, ứng với cácyêu cầu trên đây thì danh mục chuẩn bao gồm tất cả các loại cổ phiếu của công

ty nhỏ (như trên thị trường Mỹ thì đó là những công ty có vốn tính theo giá thịtrường dưới $500 triệu), với hệ số P/E thấp (dưới 80% hệ số P/E của các công

ty thuộc chỉ số S&P), với tỷ trọng vốn đều nhau

 Xây dựng một chiến lược và kết cấu danh mục đầu tư tối ưu thoả mãnnhu cầu người đầu tư theo quy trình sau:

a/ Thực hiện phân tích những ngành và công ty riêng lẻ thoả mãn mục

tiêu đặt ra, (ví dụ những công ty nhỏ thuộc ngành viễn thông), để tìm ra những

cơ hội đầu tư tốt nhất

Về mặt kỹ thuật, để thực hiện việc lựa chọn cổ phiếu, người ta có thể ápdụng một số biện pháp như lập danh sách theo chỉ tiêu hoặc đánh giá theo địnhlượng

Phương pháp lập danh sách đơn thuần là việc liệt kê tất cả các chỉ tiêucần được thoả mãn (kể cả chỉ tiêu do người đầu tư đặt ra và chỉ tiêu phân tích)

và đưa vào máy tính để lập nên danh sách những cổ phiếu thoả mãn các chỉ tiêu

đó Các chỉ tiêu đặt ra có thể là chỉ tiêu về vốn; hệ số P/E; ngành nghề; hệ sốthu nhập trên vốn cổ đông (ROE); tỷ lệ chia cổ tức, cổ tức ổn định hay tăngtrưởng

Phương pháp định lượng được thực hiện theo nhiều cách Thứ nhất, nhàquản lý xác định độ nhạy cảm của giá (hay thu nhập) của cổ phiếu tới các yếu tốkinh tế như tỷ giá ngoại hối, lạm phát, lãi suất hoặc mức chi tiêu của côngchúng để làm căn cứ đầu tư Nhà quản lý danh mục có thể dựa trên các thông tin

đó cùng với sự phân tích và nhận định về diễn biến tình hình kinh tế để đưa racác quyết định phù hợp

Trang 13

Chẳng hạn, trong điều kiện kinh tế suy thoái, anh ta có thể mua những cổphiếu có độ nhạy cảm ít nhất tới các điều kiện thuận lợi của nền kinh tế, haynói cách khác đó là những cổ phiếu của công ty có thu nhập thay đổi ngượcchiều với xu hướng chung của nền kinh tế Cách thứ hai được gọi là “phươngpháp mua vào-bán khống”, theo đó cổ phiếu được phân chia theo nhóm Những

cổ phiếu ở nhóm trên cùng thì được mua vào, ở những nhóm cuối thì được bánkhống (sold short) Danh mục lập theo phương pháp này có thể sẽ không bị tácđộng của thị trường nói chung vì giá trị chứng khoán mua vào tương đương vớigiá trị chứng khoán bán khống Với phương pháp này, người ta hy vọng các cổphiếu thuộc nhóm “mua vào” sẽ tăng giá và các cổ phiếu thuộc nhóm “bánkhống” sẽ bị giảm giá hoặc khả năng xấu hơn là cả hai nhóm cùng tăng hoặccùng giảm giá nhưng nhóm “mua vào” cho kết quả tốt hơn nhóm “bán khống”,

vì vậy kết quả cuối cùng của danh mục vẫn tốt

b/Tính toán xác định số lượng cổ phiếu trong danh mục sao cho đạt mức

đa dạng hoá cao nhất trong phạm vi giới hạn của khoản tiền đầu tư

c/ Sau khi xác định số lượng và chủng loại cổ phiếu cần mua, bước tiếptheo là phân bổ khoản đầu tư Số tiền đầu tư được phân bổ theo nguyên tắc:những ngành nghề có xu hướng phát triển tốt thì được phân bổ một tỷ trọng lớnhơn, trong đó cần tập trung vào những cổ phiếu có tiềm năng hoặc cổ phiếu tạmthời bị định giá thấp

Tuy nhiên, đối với những nhà quản lý danh mục chuyên nghiệp thì có thểthực hiện phân bổ tiền vào các loại chứng khoán theo nguyên tắc tìm danh mụctối ưu của mô hình Markowitz Phương pháp này được thực hiện thông quaphương pháp lập trình máy tính bậc hai Trước hết, đưa các dữ liệu về các loại

cổ phiếu lựa chọn được ở các bước trên đây vào máy tính để lập ra một tập hợpcác danh mục hiệu quả (nằm trên đường cong hiệu quả) Tiếp theo, căn cứ theomục tiêu của người đầu tư để xác định danh mục tối ưu ứng với mục tiêu đó

 Theo dõi, đánh giá các biến động của cổ phiếu trong danh mục và táicấu trúc danh mục:

Trang 14

Có 3 lý do chính để tái cấu trúc danh mục đầu tư Thứ nhất, các nhà quản

lý dựa vào dự đoán tình hình kinh tế vĩ mô và các thay đổi tình hình hoạt độngdoanh nghiệp để đánh giá sự biến động giá tương quan giữa các loại cổ phiếuthuộc các lĩnh vực ngành nghề khác nhau hoặc cùng một lĩnh vực để rút bớt vốn

từ loại cổ phiếu có nguy cơ sụt giá chuyển sang cổ phiếu khác có tiềm nănghơn Thứ hai, các nhà quản lý thấy cần phải chuyển cổ phiếu từ lĩnh vực nàysang lĩnh vực khác nhằm đa dạng hoá và phòng ngừa rủi ro vì loại cổ phiếuđang nắm giữ ban đầu có nguy cơ tăng mức rủi ro Thứ ba, trong quá trình đầu

tư, nhà quản lý phát hiện ra một hoặc một số chứng khoán khác đang tạm thời

bị định giá thấp hơn giá trị thực của nó, do vậy phải mua các cổ phiếu này đểthay thế cho một số cổ phiếu tương đương (cùng lĩnh vực, cùng độ rủi ro vv )hiện có trong danh mục, hoặc ngược lại nếu thấy cổ phiếu trong danh mục bịđịnh giá cao thì có thể bán đi thay thế bằng loại tương đương khác không bịđịnh giá cao

3 Quản lý danh mục đầu tư hỗn hợp

Danh mục đầu tư hỗn hợp được xây dựng trên cơ sở kết hợp danh mụcchứng khoán rủi ro với danh mục chứng khoán phi rủi ro (tín phiếu kho bạc).Nguyên lý của danh mục đầu tư được xây dựng trên nguyên lý mô hình CAPM

Về cơ bản, phương pháp quản lý danh mục tổng thể được dựa trên n guyên tắcquản lý danh mục cổ phiếu, do vậy chúng cũng được chia làm hai phương phápnhư quản lý danh mục cổ phiếu, đó là phương pháp thụ động và phương phápchủ động

3.1 Phương pháp thụ động

Có thể áp dụng các phương pháp như đã nêu trong phần quản lý danhmục cổ phiếu thụ động Ngoài ra, để bảo đảm độ chính xác cao người ta thườnglập danh mục có mức đa dạng hoá tối đa và độ rủi ro tương đương rủi ro danhmục thị trường

Quy trình quản lý danh mục đầu tư thụ động:

- Trước hết, cần thiết lập danh mục cổ phiếu thụ động theo nguyên tắc:

Trang 15

+ Rủi ro của danh mục này tương đương với rủi ro danh mục thị trường,tức là s= 1.

+ Đa dạng hoá tối đa danh mục này: xác định số lượng cổ phiếu cần mua(dựa trên khối lượng đầu tư, chi phí giao dịch và yêu cầu của khách hàng) Đadạng hoá được tiến hành theo cách đơn giản là lựa chọn cổ phiếu của các ngànhnghề, lĩnh vực khác nhau chứ không cần phân tích cổ phiếu

- Xác định mục tiêu rủi ro của toàn bộ danh mục để có chiến lược đầu tư:nếu mục tiêu rủi ro khách hàng yêu cầu là p = 1 thì đầu tư toàn bộ tiền vào danhmục cổ phiếu; nếu mục tiêu p < 1 thì đầu tư một phần tiền vào danh mục cổphiếu, một phần vào tín phiếu; nếu mục tiêu p > 1 thì vay thêm tiền để đầu tưtoàn bộ vào danh mục cổ phiếu

3.2 Phương pháp chủ động

Quy trình chung của chiến lược quản lý danh mục hỗn hợp chủ độngcũng lặp lại những bước như trong quy trình quản lý danh mục rủi ro (cổ phiếu)chủ động Tuy nhiên, trong các thao tác cụ thể cũng có một số điểm khác về mặt

kỹ thuật

Đối với bước “ xây dựng một chiến lược và kết cấu danh mục đầu tư tối

ưu thoả mãn nhu cầu người đầu tư”, nguyên tắc xây dựng danh mục hỗn hợpchủ động được dựa trên nguyên lý mô hình CAPM nhưng có thể tiến hành theomột số cách, tuỳ theo khả năng chuyên nghiệp và trình độ ứng dụng kỹ thuậtcông nghệ của các nhà quản lý danh mục Người ta có thể dùng phương phápthủ công hoặc phương pháp áp dụng công nghệ phần mềm tìn học như đã miêu

tả ở các phần trước

Đối với bước theo dõi đánh giá các biên động của cổ phiếu trong danhmục và tái cấu trúc danh mục khi cần thiết, về cơ bản , phần này giống như phầnquản lý danh mục cổ phiếu Tuy nhiên ở đây phạm vi hoán đổi rộng hơn, ngườiquản lý có thể hoán chuyển từ chứng khoán rủi ro sang chứng khoán phi rủi ro

Trang 16

hoặc ngược lại, tuỳ theo diễn biến cụ thể ( chẳng hạn từ cổ phiếu sang tín phiếukhi thấy tình hình lạm phát cao).

II ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Thị trường chứng khoán Việt Nam tuy còn non trẻ nhưng cũng đã kinhqua nhiều sóng gió, thăng trầm Sáu năm hình thành và phát triển, bắt đầu từ sàngiao dịch chỉ có vỏn vẹn bốn cổ phiếu niêm yết cho đến nay, với trên ba chụcmặt hàng trong các lĩnh vực khác nhau và lượng nhà đầu tư tham gia thị trườngtăng đến chóng mặt đã đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam bước sang giaiđoạn mới Đó là giai đoạn “bùng nổ”, phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn chấtlượng, thể hiện qua chỉ số VnIndex đã vượt qua ngưỡng 600 điểm và khối lượnggiao dịch lớn, đều đặn hàng trăm tỷ một ngày

Thị trường chứng khoán Việt Nam đầu năm 2006 đặc biệt khởi sắc vớicác kỳ giao dịch vô cùng sôi động, vượt ra ngoài cả kỳ vọng của giới đầu tư.Những đợt tăng giá liên tục bùng phát ở nhiều cổ phiếu đã xoáy thị trường vàocơn lốc tăng giá mạnh mẽ Số lượng người đầu tư mới tìm đến thị trường chứngkhoán và đi kèm theo đó là lượng tiền mới đổ vào thị trường đã ngày càng tăngmạnh Một số chuyên gia phân tích cũng như giới đầu tư đều nhận định thịtrường chứng khoán Việt Nam sẽ còn tăng trưởng và cất cánh trong thời gian tớikhi mà thị trường bất động sản và thị trường ô tô vẫn đang đóng băng và chưa

có dấu hiệu phục hồi; đặc biệt trong bối cảnh hiện nay nền kinh tế Việt Namđang trên đà tăng trưởng tốt và lộ trình ra nhập WTO đang đến gần

Cùng với xu hướng chung của thị trường niêm yết, giao dịch tại Trungtâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HaSTC) vẫn tiếp tục sôi động và gia tăng.Chỉ số HaSTC cũng đã vượt ngưỡng 200 điểm

Bối cảnh này là một cơ hội rất lớn nhưng cũng là thử thách không nhỏ đốivới các nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp niêm yết Trong khuôn khổ phầnnày của chuyên đề, tôi sẽ chỉ trình bày, phân tích về hoạt động quản lý danhmục đầu tư thực tế đối với mảng tài sản rủi ro-cổ phiếu niêm yết trên HoSTC

Trang 17

1 Đánh giá chung về các loại cổ phiếu niêm yết trong giai đoạn gần đây

Hiện nay, tính đến thời điểm cuối tháng 4 năm 2006, trên thị trường tậptrung –HoSTC đã có cả thảy 36 loại hàng hóa khác nhau (cổ phiếu phổ thông vàchứng chỉ quỹ đầu tư) Đó là:

Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (AGF)

Công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa (BBC)

Công ty cổ phần bông Bạch Tuyết (BBT)

Công ty cổ phần bao bì Bỉm Sơn (BPC)

Công ty cổ phần bê tông 620-Châu Thới (BT6)

Công ty cổ phần vật liệu xây dựng Bình Triệu (BTC)

Công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long (CAN)

Công ty cổ phần Hóa An (DHA)

Công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng (DPC)

Công ty cổ phần sản xuất kinh doanh XNK Bình Thạnh (GIL)

Công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển (GMD)

Công ty cổ phần giấy Hải Phòng (HAP)

Công ty cổ phần xây lắp bưu điện Hà Nội (HAS)

Công ty cổ phần vận tải Hà Tiên (HTV)

Công ty cổ phần chế biến thực phẩm Kinh Đô (KDC)

Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Khánh Hội (KHA)

Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Long An (LAF)

Công ty cổ phần hàng hải Hà Nội (MHC)

Công ty cổ phần gạch ngói Nhị Hiệp (NHC)

Công ty cổ phần chế biển thực phẩm Kinh Đô miền Bắc (NKD)

Công ty cổ phần cơ khía xăng dầu (PMS)

Công ty cổ phần văn hóa Phương Nam (PNC)

Công ty cổ phần cơ điện lạnh (REE)

Công ty cổ phần cáp và vật liệu viễn thông (SAM)

Trang 18

Công ty cổ phần hợp tác kinh tế và xuất nhập khẩu (SAV)

Công ty cổ phần nhiên liệu Sài Gòn (SFC)

Công ty cổ phần khách sạn Sài Gòn (SGH)

Công ty cổ phần giống cây trồng miền Nam (SSC)

Công ty cổ phần Transimex-SaiGon (TMS)

Công ty cổ phần thương mại xuất nhập khẩu Thiên Nam (TNA)

Công ty cổ phần nước giải khát Sài Gòn (TRI)

Công ty cổ phần thủy sản số 4 (TS4)

Công ty cổ phần dây và cáp điện Taya (TYA)

Công ty cổ phần VinaMilk (VNM)

Chứng chỉ quỹ đầu tư Việt Nam (VFMVF1)

Công ty cổ phần viễn thông VTC (VTC)

Trước tình hình khan hiếm hàng như hiện nay, và hiện đang có 102 doanhnghiệp xin cấp phép niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch, trong nửa cuối năm

2006 này, thị trường sẽ còn được mở rộng hơn nữa, cả về chiều rộng cũng nhưchiều sâu

Trong các loại cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư đang niêm yết này, cónhững cổ phiếu luôn nằm trong top “nóng”, liên tục tăng giá và chính là tácnhân châm ngòi nổ, dẫn đầu cho cơn lốc tăng giá mạnh mẽ của thị trường trong

kỳ vừa qua Có thể kể đến như: REE, SAM, DHA, VTC, TYA… Các đợt pháthành thêm, chi trả cổ tức cho năm trước đã là các luồn thông tin tốt (good news)ảnh hưởng trực tiếp đến cơn sốt tăng giá và những cuộc rượt đuổi ngoạn mục

mà dường như chưa có điểm dừng Bên cạnh đó, rất nhiều các cổ phiếu khácgiao dịch khá chững hoặc có tăng nhưng không tăng mạnh cũng bùng phát trong

kỳ vừa qua như SAV, PMS, BPC, TRI,….Nhóm các cổ phiếu vốn được xem là

“blue chip” như VNM, REE, SAM, GMD… kỳ vừa qua đã chuyển sang giaiđoạn cân bằng

Trang 19

Cùng với sự giao dịch sôi động của thị trường, người đầu tư nước ngoàicũng gia tăng khối lượng giao dịch, do ảnh hưởng của quyết định tăng lượng cổphần có thể nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài tại VN.

Nhìn chung, trong thời gian gần đây, các cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêmyết đều có xu hướng tưng giá theo xu hướng chung của toàn thị trường Tuynhiên với tốc độ tăng nhanh như hiện nay, bản thân các cổ phiếu và chứng chỉquỹ luôn tiềm ẩn những rủi ro rất lớn, có thể “ngã ngựa” bất cứ lúc nào Vì vậy,tuy mục tiêu của việc quản lý có thể khác nhau nhưng điều kiện cần của các nhàquản lý danh mục đầu tư chuyên nghiệp là phải lựa chọn được các cổ phiếu haychứng chỉ quỹ “tốt một cách tương đối” vào danh sách lựa chọn hàng hóa chodanh mục của mình Điều này được cụ thể hóa bằng việc các cổ phiếu haychứng chỉ quỹ đó phải hội tụ được nhiều tiêu chí tốt như EPS cao, PE thấp, tiềmnăng tăng trưởng cao, được giới đầu tư “tin tưởng” trên thị trường,…

Trong chuyên đề này, tôi sẽ lựa chọn vào danh sách các cổ phiếu, chứngchỉ quỹ đã có thời gian được niêm yết trên sàn đủ dài để có thể phân tích, đó là:nhóm 1 gồm AGF, REE, SAM, GMD, SAV, nhóm 2 gồm VF1, PNC, LAF,BT6, BBC

2 Về hoạt động quản lý danh mục đầu tư của công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt (BVSC)

BVSC là công ty chứng khoán đầu tiên ở Việt Nam, là người đi tiênphong trong lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ này tại thời điểm 6 năm về trước Sáunăm tồn tại và khẳng định chỗ đứng của mình, BVSC đã, đang và sẽ tiếp tục nỗlực khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường, đáp ứng lại niềm tin củahàng nghìn nhà đầu tư đã gửi trọn cho công ty Theo thông tin mới nhất, BVSCcùng SSI đã được tạp chí đầu tư chứng khoán cùng nhiều website chuyên vềchứng khoán tại Việt Nam bình chọn là 2 công ty chứng khoán tốt nhất ViệtNam Trong quý 1 năm 2006, doanh thu báo cáo của công ty không những đãvượt kế hoạch mà còn vượt qua cả doanh thu của toàn năm 2005 Tại công ty,các hoạt động nghiệp vụ đều được hoạt động triệt để cung cấp cho khách hàng

Trang 20

những dịch vụ gia tăng tốt nhất Một trong những hoạt động nghiệp ấy chính làhoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, do Phòng Nghiệp vụ 2 đảmnhiệm.

Trang 21

2.1 Kế hoạch hoạt động của Danh mục (Từ 26/09/2005 đến 30/09/2005)

Số dư của các chứng khoán trong Danh mục tại ngày 23/09/2005 như sau:

chøng kho¸n Sè d Gi¸ vèn tb gi¸ trÞ vèn Gi¸ gd gi¸ trÞ Tû träng VFMVF1 30,000 9,141 274,221,000 9,600 288,000,000 1.33% sam 36,000 37,139 1,336,990,259 40,400 1,454,400,000 6.72% GMD 5 48,348 241,741 51,500 257,500 0.001% AGF 8,310 32,404 269,280,880 34,800 289,188,000 1.34% CP1_0202 10,000 102,096 1,020,960,000 102,096 1,020,960,000 4.72% tiÒn mÆt 18,593,113,952 18,593,113,952 85.90% tæng céng 21,494,807,832 21,645,919,452 100.00%

Tû suÊt lîi nhuËn DM 12.11% L·i/Lç 2,337,439,280

2.1.2 Nhận định thị trường

Trong tuần qua giá cổ phiếu REE tiếp tục tăng trần liên tiếp trong haiphiên đầu tuần, khối lượng giao dịch cũng gia tăng đột biến đã kéo giao dịchtoàn thị trường đi lên; chỉ số VNI trong phiên giao dịch ngày 20/9 tăng tới 11,18điểm đạt 285,99 điểm, tổng giá trị giao dịch toàn thị trường cao kỷ lục 37,6 tỷđồng Tuy nhiên, ngay phiên giao dịch tiếp sau đó (ngày 21/9/2005) giá chứngkhoán trên thị trường đã có sự sụt giảm mạnh mặc dù khối lượng khớp lệnh vẫnđạt mức cao trên 30 tỷ đồng Kết thúc tuần qua, chỉ số VNIndex đạt 278,35điểm, tăng 10,27 điểm tương đương 3,83% so với phiên đóng cửa cuối tuần

Trang 22

trước, giá trị giao dịch bình quân mỗi phiên đạt 26,68 tỷ đồng, tăng 8,897 tỷđồng so với tuần trước

Theo nhận định của Phòng, trong tuần tới thị trường sẽ phải có động thái

tự điều chỉnh sau một thời gian tăng giá tương đối dài và mạnh mẽ Chỉ sốVNIndex có thể giảm nhưng không nhiều

2.1.3 Kế hoạch hoạt động của Danh mục từ 26/09/2005 đến 30/09/2005

vào

Giá mua tối đa

Khối lượng bán ra

Giá bán tối thiểu

Trang 23

Số dư của các chứng khoán trong Danh mục tại ngày 30/09/2005 như sau:

chøng kho¸n Sè d Gi¸ vèn tb gi¸ trÞ vèn Gi¸ gd gi¸ trÞ Tû träng ®t VFMVF1 167,100 9,652 1,612,842,000 10,000 1,671,000,000 7.70%

Trong tuần qua thị trường diễn biến hết sức sôi động và tăng giá mạnh

mẽ Kết quả này chủ yếu là phản ứng mạnh mẽ của các nhà đầu tư trướng Quyếtđịnh số 238/2005/QĐ-TTg về việc nâng tỷ lệ nắm giữ của người đầu tư nướcngoài trong các doanh nghiệp niêm yết/đăng ký giao dịch trên TTCK từ 30%lên 49% ký ngày 29/9 của Thủ tướng Chính phủ Thị trường lập tức đã có phảnứng trước thông tin trên với việc tăng giá kịch trần của 30/31 loại chứng khoántrong phiên giao dịch cuối tuần, kéo chỉ số VNI tăng vọt đến 13,38 điểm trongphiên này, đây cũng là mức tăng điểm trong phiên lớn nhất trong vòng hai nămtrở lại đây Kết thúc tuần qua, chỉ số VNIndex đạt 289,33 điểm, tăng 10,98 điểmtương đương 3,9% so với phiên đóng cửa cuối tuần trước

Tuần qua mặc dù giá chứng khoán tăng mạnh nhưng tổng khối lượnggiao dịch cổ phiếu khớp lệnh lại có phần sụt giảm so với tuần trước, giá trị giaodịch bình quân mỗi phiên đạt 17,2 tỷ đồng, giảm 9,48 tỷ đồng so với tuần trước

Theo nhận định của Phòng, trong tuần tới thị trường vấn duy trì đượctrạng thái sôi động như tuần qua, tuy nhiên sẽ phải có những động thái tự điềuchỉnh sau một thời gian tăng giá tương đối dài và mạnh mẽ Chỉ số VNIndex cóthể giảm nhưng không nhiều

Trang 24

2.2.3 Kế hoạch hoạt động của Danh mục từ 3/10/2005 đến 7/10/2005

ST

KL mua vào

Giá mua tối đa

Khối lượng bán ra

Giá bán tối thiểu

Số dư của các chứng khoán trong Danh mục tại ngày 7/10/2005 như sau:

chøng kho¸n Sè d Gi¸ vèn tb gi¸ trÞ vèn Gi¸ gd gi¸ trÞ Tû träng VFMVF1 84,000 9,407 790,152,000 10,000 840,000,000 3.80% ree 135,030 34,562 4,666,968,000 35,000 4,726,050,000 21.40% bbc 54,000 21,200 1,144,800,000 21,200 1,144,800,000 5.18% GMD 5 48,348 241,741 53,000 265,000 0.001% LAF 77,000 40,638 3,129,100,000 42,000 3,234,000,000 14.65% PNC 34,313 15,571 534,288,200 16,500 566,164,500 2.56% CP1_0202 10,000 102,096 1,020,960,000 104,105 1,041,050,000 4.71% tiÒn mÆt 10,528,359,339 10,528,359,339 47.68% tæng céng 21,814,869,280 22,080,688,839 100.00%

Tû suÊt lîi nhuËn DM 14.36% L·i/Lç 2,772,208,667

2.3.2.Nhận định thị trường

Tuần qua giao dịch trên thị trường đã đã liên tiếp sụt giảm trong hai phiênđầu tuần mà nguyên nhân có thể là do những ảnh hưởng về mặt tâm lý xoayquanh những nhận định về tác động của quyết định mở “room” đối với thịtrường trước mắt cũng như trong lâu dài - Tuy nhiên, sau hai phiên sụt giảm, thị

Trang 25

trường đã có dấu hiệu phục hồi ngay sau đó và tiếp tục chiều hướng tăng chođến cuối tuần, chủ yếu nhờ những thông tin khá tích cực từ chính các tổ chứcniêm yết Kết thúc tuần qua, chỉ số VNIndex đạt 291,3 điểm, tăng 1,97 điểmtương đương 0,7% so với phiên đóng cửa cuối tuần trước, giá trị giao dịch bìnhquân mỗi phiên đạt 20,96 tỷ đồng, tăng 3,76 tỷ đồng so với tuần trước

Theo nhận định của Phòng, trong tuần tới thị trường không có nhiều biếnđộgn lớn, chỉ số VNIndex có thể tiếp tục tăng nhưng không nhiều

2.3.3.Kế hoạch hoạt động của Danh mục từ 10/10/2005 đến 14/10/2005

vào

Giá mua tối đa

Khối lượng bán ra

Giá bán tối thiểu

Trang 26

2.4 Kế hoạch hoạt động của Danh mục (Từ 17/10/2005 đến 21/10/2005)

Số dư của các chứng khoán trong Danh mục tại ngày 14/10/2005 như sau:

chøng kho¸n Sè d Gi¸ vèn tb gi¸ trÞ vèn Gi¸ gd gi¸ trÞ Tû träng ®t VFMVF1 167,100 9,652 1,612,842,000 10,000 1,671,000,000 7.70%

tổ chức đầu tư lớn; ngay sau buổi họp báo, giá cổ phiếu REE đang ở giai đoạn

Ngày đăng: 08/10/2013, 21:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng trên cho ta danh mục tối ưu là: - XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
Bảng tr ên cho ta danh mục tối ưu là: (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w