Từ những số liệu và nhận định trên, với dân số tập trung ở nông thôn là lớn, mặt khác nơi đây lại có nhiều làng nghề thủ công nghiệp truyền thống, thêm vào đó là trình độ dân trí khá, đi
Trang 1THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ
TÂY
I CÁC ĐIỀU KIỆN TƯ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH
TẾ VÀ TTCN HÀ TÂY
1 Điều kiện tự nhiên Hà Tây
Cũng như các lĩnh vực sản xuất khác, TTCN Hà Tây cũng chựu ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên Các yếu tố này bao gồm : Vị trí địa lý, tài nguyên khoáng sản và nhiều nhân tố khác
1.1 Về vị trí địa lý
Hà Tây có toạ độ địa lý 20,31 o -21,17 o vĩ bắc và 105,17 -106 o kinh đông bao quanh thành phố Hà Nội về phía tây Nam Vơí bốn cửa ngõ vào thủ đô qua các quốc lộ 1; 6 ; 32, và hệ thống đường thuỷ Diện tích chung 2192 km 2 phía đông giáp Hà Nội, Hải Hưng, phía tây giáp với Hoà Bình, phía Bắc giáp với Vĩnh Phúc và phía Nam giáp với Hà Nam
Hà Tây nằm cạnh khu tam giác kinh tế Hà Nội -Hải Phòng-Quãng Ninh, hạt nhân kinh tế miềm bắc, nằm trên khu chuyển tiếp từ tây bắc và trung du miền núi phía bắc, với đồng bằng Sông Hồng qua một mạng lưới giao thông đường thuỷ, đường bộ, đường sắt và các bến cảng tương đối phát triển
Với những vị trí tạo cho Hà Tây những thuận lợi:
-Có thành phố Hà Nội và các tỉnh phụ cận là thị trường tiêu thụ lớn các sản phẩm của Hà Tây (Hàng tiêu dùng thủ công mỹ nghệ, du lịch và nghĩ nghơi )
-Hà Tây là địa bàn mở rông của thủ đô Hà Nội qua xây dựng thành phố
vệ tinh, là mạng lưới gia công cho các xí gnhiệp vừa và nhỏTTCN ở thành thị
và nông thôn phục vụ cho các xí nghiệp lớn ở Hà Nội
-Mặt khác Hà Tây với vị trí địa lý của mình sẽ thuận lợi cho giao lưu, trao đổi lưu thông hàng hoá với các tỉnh trung du miền núi phía bắc, các tỉnh đồng bằng sông Hồng và các tỉnh phía Nam Đây là điều kiện cung cấp tốt đầu vào đầu ra cho TTCN Hà Tây phát triển
Trang 21.2 Tài nguyên khoáng sản
Với nền công nghiệp chưa phát triển, song tài nguyên phân bố đều ở các huyện trong tỉnh Điều đó thuận lợi rất lớn cho phát triển công nghiệp nói chung và TTCN nói riêng.cụ thể là ngành vât liệu xây dựng
Cụ thể các loại khoáng sản : Đá vôi (Mỹ Đức,Chương Mỹ),Granit ốp lat(Chương mỹ), Đất sét(Chương mỹ,Sơn Tây,Thạch Thất, Quốc Oai), Đồng (BaVì),Vàng gốc và sa khoáng sản (Quốc Oai,Chương Mỹ), Nước khoáng (Ba Vì), Cao lanh (Ba Vì, Quốc Oai)
Nguồn tài nguyên rừng là thế mạnh của tỉnh, với 2/3 diện tích toàn tỉnh
là đồi núi, với nhiều loại gỗ quý hiếm: như lim , sến, tấu và ngoài ra còn nhiều loại như tre, nứa, thuận lợi cho phát triển các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Vì vậy việc phát triển TTCN ở Hà Tây cho phép phát huy và tận dụng tốt nguồn tài nguyên khoáng sản sẳn có.
2 Điều kiện kinh tế xã hội
2.1 Tài nguyên con người
Dân số Hà Tây năm 1999 là 2.393.000 người, tốc độ tăng trưởng là 2%/năm, mật độ bình quân là 1083 người/km 2 Hà Tây là tỉnh đông dân thứ 7 trong cả nước, sau Tp Hồ Chí Minh, Thanh Hoá, Nghệ An, Hải Hưng, Hà Nam,
Hà Bắc, với 93% dân số ở nông thôn, chỉ 7% dân số ở thành thị Lao động 1,1 triệu người, trong đó có 80% lao động nông nghiệp, tốc độ tăng lao động hàng năm là 2%, 1/3 số xã có làng nghề TTCN với 117000 lao động có Tay nghề Lao động nông nghiệp có trình độ văn hoá khá ( 21% có trình độ cấp III, 62% cấp II, và 14% cấp I).
Từ những số liệu và nhận định trên, với dân số tập trung ở nông thôn là lớn, mặt khác nơi đây lại có nhiều làng nghề thủ công nghiệp truyền thống, thêm vào đó là trình độ dân trí khá, điều đó cho thấy để tránh tình trạng di cư
tự do gây sức ép cho khu vực thành phố, đô thị về mặt lao động, mặt khác giải quyết tốt vấn đề lao động và nguồn lực tại chỗ, thì vấn đề phát triển TTCN là hết sức cần thiết cho tỉnh Hà Tây.
Trang 32.2 Tài nguyên cảnh quan Di tích Lịch sử
Theo thống kê của Bộ Văn Hoá - Thông Tin , Hà Tây là tỉnh có số lượng
di tích đứng thứ ba cả nước, sau (Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh).Với gần 300 di tích Điều quan trọng hơn là nhiều di tích quý giá gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc, trong đó nổi bật là hệ thống chùa chiền và đền thờ cổ với nhiều lễ hội, làng việt cổ, các làng nghề truyền thống
Sự hiện diện của vùng núi, đặc biệt là núi Ba Vì và dãi đá vôi có nhiều hang động đẹp, với rừng nguyên sinh, khí hậu mát mẽ và có đồng bào dân tộc
ít người với văn hoá dân tộc truyền thống Hiện tại Hà Tây đã hình thành ba cụm di tích ( Cụm chùa Hương, Cụm Ao Vua -Ba Vì suối Hai-Đồng Mô-Ngải Sơn, Cụm Sơn Tây, Thạch Thất, Quốc Oai), tạo ra những trung tâm du lịch lớn có tầm cở quốc gia và quốc tế.
Hiện tại hàng năm Hà Tây thu hút một số lượng lớn du lịch khách từ trong và ngoài nước đỗ về, từ những yếu tố đó tạo cho Hà Tây những thế mạnh về phát triển du lịch , trên cơ sở đó đây cũng là thị trường lớn tiêu thụ các sản phẩm truyền thống, các sản phẩm TTCN và đó cũng là cơ hội để khôi phục và phát triển làng nghề cũng như bản sắc văn hoá dân tộc, tạo điều kiện giải quyết tốt nhất vấn đề lao động thành thị và nông thôn
2.3 Về tốc độ tăng trưởng kinh tế.
* GDP và nhịp độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1991 - 1999
Đơn vị: Tỷ đồng Năm
4109, 6
4405, 0 4654
Trang 4năm thấp nhất và thấp hơn năm1990 là 7,9 tỷ đồng, chính vì vậy tốc độ giảm
so với năm 1990 là (-1,31%) trong giai đoạn 1991 - 1995 (theo giá cố định 1989) nhìn chung các năm từ 1992 - 1995 thì tốc độ phát triển đều tăng, riêng
1992 có tốc độ cao nhất 20,31% và trung bình trung giai đoạn này là 9,8%.
Bước sang giai đoạn (1996 - 1999) tính theo giá cố định 1994, tốc độ tăng trưởng hàng năm đều tăng (năm sau so năm trước), xu hướng về tốc độ phát triển (%) của tổng sản phẩm quốc dân Hà Tây trong giai đoạn 1996 -
1999 giảm xuống.
Điều đó cho thấy có sự ảnh hưởng của điều kiện chủ quan và khách quan Về khách quan có thể thấy giai đoạn này nền kinh tế tỉnh Hà Tây chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, về thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm tỉnh nhà, và điều kiện tự nhiên gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất kinh doanh thời gian qua.
Về chủ quan, có thể thấy do sự tác động từ cơ chế chính sách tới vấn
đề đầu tư sản xuất kinh doanh và trình độ quản lý khi nền kinh tế mở rộng ( cụ thể như quá trình đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép còn chậm, chưa
có chính sách cụ thể cho vay vốn đối với khu vực kinh tế còn kém phát triển )
Chính vì thế giai đoạn 1996 - 1999 tốc độ phát triển đạt 7,18% thấp hơn giai đoạn 1991 - 1995 là 2,62%.
Với tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam qua các năm (1991 - 1999)
Trang 5Mặc dù vậy so với cả nước thì Hà Tây lại thấp hơn cả nước về các mặt như GDP bình quân đầu người, tỷ lệ huy động ngân sách và cân bằng ngân sách
Cụ thể GDP bình quân đầu người 1991 là 149 USD năm 1992 là 172 USD/ 230 USD của cả nước, năm 1994 trong khi cả nước đã vượt trên 300 USD/ người Tỷ lệ huy động ngân sách từ GDP năm 1992 là 7%, 1993 là 6% trong khi đó Chi ngân sách so với thu thiếu hụt lần lượt 73 tỷ năm 1992 và 106,6 tỷ năm 1993 Bước sang năm 1999 thu là 577 tỷ đồng trong khi chi là 603,0 tỷ thiếu hụt 26 tỷ.
Song có được sự phát triển kinh tế với tốc độ cao qua các thời kỳ, là nhờ có đường lối đổi mới của Đảng (cụ thể qua Đại hội Đảng lần VIII) nói chung và sự lãnh đao chỉ đạo của tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân tỉnh nói riêng ,đã
có những nghị quyết, chủ trương sát đúng với thực trạng của địa phương lãnh đạo nhân dân trong tỉnh khắc phục khó khăn, lao động sáng tạo nhờ đó
-đã phát huy được nội lực của tỉnh nhà và cụ thể -đã đạt được những thành quả quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội.
Thêm vào đó là sự lao động cần cù sáng tạo của nhân dân, ý thức tự lực vươn lên, có nhận thức đúng về sự đổi mới, năng động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, đã đóng góp một phần quan trọng cho sự phát triển chung của Hà Tây và cả nước.
Tuy vậy trong giai đoạn qua, đặc biệt 1995 - 1999 tốc độ phát triển kinh tế tuy có tăng, song có xu hướng giảm xuống cùng với xu thế chung của cả nước và khu vực cho thấy Hà Tây là tỉnh cũng chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, thêm vào đó là hệ thống hạ tầng xuống cấp chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, vấn đề vốn, thiết bị lạc hậu về công nghệ trong các cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và tình trạng thâm hụt ngân sách còn tồn tại Chính vì vậy đây sẽ là trở ngại lớn đối với phát triển kinh tế tỉnh Hà Tây trong những năm tới, và đòi hỏi các cơ quan chức năng, các ngành các cấp cần có đối sách trong giải quyết tồn tại này để đưa nền kinh
tế Hà tây phát triển.
2.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tính từ năm 1991 đến nay, cơ cấu kinh tế ngành Hà Tây đã có sự chuyển dịch theo hướng nâng cao tỷ trọng công nghiệp và du lịch - dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, nhưng giá trị sản lượng nông nghiệp vẫn tăng lên Tổng sản phẩm
Trang 6nông nghiệp của tỉnh năm 1995 so với năm 1991 tăng 48,81%, bình quân mỗi năm tăng 6,7%, năm 1998 so với năm 1996 tăng 6,68%, bình quân tăng 5%.
Cơ cấu kinh tế ngành ở Hà Tây(1991-1999).
Nguồn: Niên giám Thống kê - Hà Tây
Sự chuyển dịch cơ cấu được thực hiện trên cơ sở có sự tăng trưởng khá đều của cả ba nhóm ngành, đặc biệt là công nghiệp và du lịch - dịch vụ.
Tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế ở Hà Tây(1991-1999).
Trang 7và tốc độ tăng khá nên tỷ trọng đã tăng từ 22,48% lên 29,57% từ 1991 đến
1999 nên đã đứng hàng thứ hai về tỷ trọng và trên du lịch dịch vụ.
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành được thực hiện gắn liền với sự phát triển của ngành theo hướng đa dạng hóa, dần hình thành các ngành trọng điểm, mũi nhọn, các ngành định hướng xuất khẩu đang được khôi phục và phát triển.
Tóm lại, cơ cấu kinh tế của Hà Tây trong những năm qua đã có sự chuyển dịch đúng hướng và tích cực, góp phần cấu trúc lại nền kinh tế dầu đi vào ổn định, tăng trưởng cao, đời sống nhân dân được cải thiện.
Có được những kết quả chuyển dịch như trên là do cơ quan chủ quản và chính quyền tỉnh đã thực hiện nhất quán các chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỉnh đã bước đầu định hướng tạo môi trường cho sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế thông qua các chiến lược phát triển kinh tế xã hội năm 2001
-2010 các kế hoạch phát triển, đổi mới và hoàn thiện các chính sách kinh tế Yếu tố thị trường cũng bắt đầu định hướng các doanh nghiệp sản xuất cái
gì, sản xuất cho ai, và sản xuất như thế nào Giá cả về cơ bản đang hình thành trên thị trường thông qua quan hệ cung cầu và phản ánh mức độ khan hiếm của hàng hóa dịch vụ.
3 Lợi thế, hạn chế và thách thức đối với phát triển kinh tế và TTCN Hà Tây.
3.1 Lợi thế.
- Hà Tây có lợi thế về vị trí địa lý , với tam giác kinh tế (Hà Nội - Hải Phòng -
Hạ Long ) vừa là thị trường tiêu thụ của Hà Tây vừa là nhân tố tác động đến sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Hà Tây, mặt khác cũng tạo điều kiện cho Hà Tây tiếp thu nhanh công nghệ mới và thông tin kinh tế trong nước và thế giới.
-Hà Tây là tỉnh có quy mô GDP chiếm tỷ lệ cao trong GDP cả nước, cụ thể giai đoạn 1993 chiếm 2,12 % và đến năm 1998, 1999 là 2,3% và 2,43% GDP cả nước.
- Tài nguyên du lịch và tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là khoáng sản vật liệu xây dựng là hai nguồn lực lớn có thể trở thành những ngành kinh tế mũi nhọn và thế mạnh về công nghiệp chế biến nông sản sẽ tác động mạnh đến quá
Trang 8trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế.
- Đặc điểm địa mạo, tài nguyên khí hậu, đất, nước cho phép phát triển một nền nông lâm nghiệp, thủy sản đa dạng và thâm canh, sinh thái và bền vững làm cơ sở cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Có hệ thống cơ sở hạ tầng đa dạng, đặc biệt là hệ thống giao thông đường bộ, liên tỉnh, liên huyện và xã Điều đó tạo thuận lợi cho Hà Tây trong trao đổi và giao lưu buôn bán hàng hóa.
- Có thị trường xuất khẩu tại chỗ với kim ngạch đáng kể qua du lịch Có nhiều làng nghề, thủ công mỹ nghệ phát triển và công nghiệp tập trung, nhiều đối tác tới liên doanh đặc biệt trong những năm gần đây, có thị trường Hà Nội tiêu thụ nhiều loại sản phẩm.
- Có nguồn nhân lực dồi dào, có văn hóa, có nhiều nghề truyền thống, bước đầu làm quen với sản xuất hàng hóa và có năng lực tiếp thu được công nghệ mới, những ngành nghề có hàm lượng chất xám cao (như điện tử, tin học).
3.2 Hạn chế.
- Cơ sở hạ tầng quá xuông cấp do nhiều năm sát nhập tỉnh, 90% doanh nghiệp Nhà nước, trung ương và địa phương trình độ kỹ thuật trung bình và lạc hậu, 40% thiết bị già cỗi, năng suất và hiệu quả thấp.
- Đất chật, người đông, tốc độ tăng dân số còn cao gây sức ép lớn về việc làm và thu nhập cũng như các vấn đề xã hội.
- Với GDP bình quân đầu người còn thấp, là tỉnh chưa cân bằng ngân sách, vì vậy Hà Tây là tỉnh đang thiếu vốn nghiêm trọng.
- Con người Hà Tây, tuy có những lợi thế nêu trên, song mặt hạn chế là thiếu kiến thức quản lý cũng như kinh nghiệm quản lý, nhất là trong quản lý công nghiệp, du lịch.
- Du lịch được dự báo trở thành ngành kinh tế mũi nhọn với nhiều danh lam thắng cảnh (thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) song cho tới nay vẫn chưa phát huy được tối đa lựi thế của mình, do điều kiện co sở hạ tầng yếu kém cũng như quá trình quản lý
- Có lợi thế phát triển tiểu thủ công nghiệp làng nghề, là một đóng góp lớn cho vấn đề xóa đói giảm nghèo khu vực nông thôn và tăng tưởng kinh tế, song
Trang 9hiện tại vẫn nhiều vướng mắc từ phía thị trường, cơ chế quản lý
so với bình quân cả nước.
- Gần thủ đô Hà Nội vừa là cơ hội tạo ra những lợi thế song đây cũng vừa
là thách thức Sản phẩm của Hà Tây xâm nhập được thị trường Hà Nội phải có sức cạnh tranh lớn và nghệ thuật tiếp thị giỏi Sức cạnh tranh lớn được biểu hiện ở chất lượng cao, giá thành hạ
- Du lịch là thế mạnh của Hà Tây, song muốn thu hút được khách quốc tế nghĩ lại qua đêm để kinh doanh khách sạn (vì kinh doanh khách sạn đưa lại lợi nhuận cao trong kinh tế du lịch) thì phải có hình thức, nội dung du lịch hấp dẫn
và kiến trúc khách sạn ở Hà Tây phải khác với Hà Nội (VD: kiểu biệt thự, nhà sàn, khách sạn mini gắn với cảnh quan môi trường sinh thái sạch đẹp), mặt khác vấn đề quy hoạch các cụm, khu du lịch là điều kiện cần thiết để phát triển lợi thế ngành này.
II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP (TTCN) TRÊN ĐỊA BÀN HÀ TÂY.
1 Mạng lưới phát triển TTCN khu vực nông thôn tỉnh Hà Tây.
Khi nghiên cứu sự hình thành, hoạt động mạng lưới TTCN nông thôn Hà Tây ta có thể thấy nó tồn tại hai hình thức đó là TTCN chuyên nghiệp và TTCN trong nông nghiệp, TTCN chuyên nghiệp tức là các cơ sở sản xuất chỉ tập trung vào sản xuất TTCN, còn hình thức thứ hai là vừa sản xuất TTCN vừa sản xuất nông nghiệp, ở đây có sự đan xen sắp xếp dựa trên tính mùa vụ của sản xuất nông nghiệp.
Trang 101.1 Tiểu thủ công nghiệp chuyên nghiệp.
Xét trên địa bàn nông thôn Hà Tây thì tỷ lệ TTCN chuyên nghiệp còn chiếm một tỷ lệ nhỏ Hình thức sản xuất phổ biến ở đây là tổ sản xuất, cá thể và hình thức tư nhân, trong đó chủ yếu là hai hình thức tổ sản xuất và cá thể Tỷ lệ TTCN không đều nhau đối với tất cả các mặt hàng Tỷ lệ này cao đối với ngành chế biến gỗ, ngành mây tre giang, thuê len, dệt len, ngành sản xuất giấy và ngành chế tạo công cụ Những ngành chiếm tỷ lệ thấp trong các ngành chế biến, sản phẩm từ nứa lá, ngành gốm sứ và ngành chế biến nông sản Do chính sách ruộng đất phân chia bình quân đầu người như hiện nay nên chỉ có một tỷ
lệ nhỏ lao động trong nông thôn tách rời khỏi ngành nông nghiệp còn phần lớn vẫn trong tình trạng bán nông nghiệp.
Mặc dù tỷ lệ lao động chiếm một tỷ lệ nhỏ nhưng giá trị GDP khu vực này tạo ra không phải là không đáng kể, nhất là trong những ngành TTCN được coi
là ngành nghề chính của người lao động.
Chỉ tiêu về tỉ lệ lao động và giá trị TTCN.
CHỈ TIÊU TTCN chuyên nghiệp TTCN trong NN
(Nguồn: Sở công nghiệp Hà Tây).
1.2 Tiểu thủ công nghiệp trong nông nghiệp.
Cũng như khu vực nông thôn cả nước trên địa bàn nông thôn Hà Tây hình thức sản xuất kết hợp giữa TTCN với nông nghiệp tồn tại phổ biến Hầu như không có một làng quê nào trong tỉnh là không tồn tại những ngành nghề phụ, trong đó TTCN chiếm một phần lớn trong số làng nghề Trong tỉnh có khoảng
1460 thôn (làng), thì có 560 làng thuần nông chiếm 38%, 900 làng có nghề và làng nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phát triển chiếm 62% Ngoài ra ngoài TTCN còn tồn tại bộ phận nhỏ lĩnh vực khác của thương mại dịch vụ, trồng cây ăn quả, chăn nuôi
Trang 11Cũng như khu vực chuyên nghiệp khu vực TTCN nằm trong nông nghiệp cũng tồn tại nhiều lĩnh vực tổ chức sản xuất Nhưng phổ biến nhất và hiệu quả nhất vẫn là hình thức sản xuất hộ gia đình Bên cạnh hình thức đó còn tồn tại các hình thức hợp tác xã sản xuất hộ cá thể hợp tác xã sản xuất, các hình thức này đang dần dần được thể hiện tinh ưu việt của nó Khác với TTCN chuyên nghiệp TTCN nằm trong nông nghiệp không phải là ngành chính tạo ra giá trị sản phẩm nuôi sống người lao động TTCN ở đây được coi là nghề phụ cung cấp một lượng nhỏ giá trị góp phần nâng cao đời sống người lao động.
Nó cho phép việc tận dụng tối đa khoảng thời gian nhàn rỗi (ngoài giờ lao động chính trong ngành nông nghiệp hay khoảng thời gian chống mang tính mùa vụ trong năm" Như vậy hình thức lao động TTCN không chuyên này tập trung ở các ngành sản xuất quy mô nhỏ còn lại trong các ngành sản xuất các mặt hàng đòi hỏi trình độ kỹ thuật cũng như trình độ tinh sảo thì hình thức này không tồn tại phổ biến.
2 Thực trạng phát triển tiểu thủ công nghiệp ở các làng nghề
số hộ lao động giá trị sản lượng kinh tế chung của làng Các huyện có nhiều làng nghề TTCN dịch vụ phát triển là huyện Phú Xuyên Thường Tín 26, Thanh Oai 15 làng Hoài Đức 7 làng, Phúc Thọ 7 làng, Thạch Thất 6 làng, Chương Mỹ 5 làng, Ứ ng Hòa 4 làng, Quốc Oai 3 làng còn các huyện Mỹ Đức, Đan Phượng, Thị
xã Hà Đông có từ 1 đến 2 làng.
Phân bố làng nghề sản xuất TTCN - dịch vụ 1999 thuộc huyện thị xã
tỉnh Hà Tây.
Số hộ Tên huyện
thị xã
Số làng nghề
Tổng số Hộ
Chia ra
Trang 12Thuần nông
Kiêm SX TTCN
38.839 58,1
3.631 5,4
5.797 8,7
(Nguồn: Sở Công nghiệp Hà Tây)
Các nghề chính : Cỏ tế , giang đan, chế biến Thực phẩm , bật bông, dệt
tơ, lưới, khảm trai, mộc , Vật liệu xây dựng , thêu, đồ gỗ , rèn, bún ,
Nhìn vào bảng ta có thể thấy số lượng làng nghề ở Hà Tây tính đến 1999
là 106 làng nghề, có số lượng vào loại lớn trong cả nước, với tổng số hộ (66.834) tham gia sản xuất TTCN, với số lượng làng chuyên sản xuất TTCN Hà Tây chiếm 5,4%, cho thấy tỷ lệ này là rất ít so với số hộ kiêm sản xuất TTCN (với 58,1%), thuần nông chiếm 27,8% Qua đó cho thấy làng nghề phát triển rộng khắp ở các huyện và số hộ tham gia vào sản xuất TTCN và dịch vụ chiếm tổng số lượng hơn
số hộ thuần nông trên địa phận Hà Tây Hầu như số hộ gia đình sản xuất kinh doanh TTCN nhiều nhất ở các làng nghề có nhiều nghề, như Phú Xuyên (8.669 hộ), Thường Tín (10.521 hộ), Hoài Đức (12.986 hộ)
Song nhìn chung quy mô làng nghề Hà Tây phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán, không phân bố đều, quy mô công nghệ sản xuất mỗi loại sản phẩm khác nhau, có loại sản phẩm giản đơn, có loại tinh xảo mang tính cổ truyền, truyền thống riêng của mỗi nghề, mỗi làng qua từng giai đoạn khác nhau.
2.2 Về số hộ và lao động tham gia sản xuất TTCN trong làng nghề.
- Về số hộ:
Trang 13Năm 1991 đến năm 1994 thì số làng nghề là 88 và từ năm 1995 - 1997 thì số làng nghề là 85, cho thấy sự giảm xuống của làng nghề Hà Tây trong giai đoạn gần đây, mặc dù vậy đến năm 1998 - 1999 số làng nghề được hồi phục tăng lên 106 làng nghề, với số hộ tham gia sản xuất TTCN cũng tăng lên.
60.18 3
59.92 9
59.71 0
51.58 0
58.00 0
66.00 0
66.83 4
Nguồn: Sở Công nghiệp Hà Tây Năm 1991 số hộ của 85 làng nghề là 51.580 hộ, trong đó hộ làm nghề
CN - TTCN 33.002 hộ chiếm 64%, hộ làm dịch vụ 4.043 hộ chiếm 7,8%, hộ làm nông nghiệp thuần nông 14.535 hộ chiếm 28,2%.
Đến năm 1999 số hộ của 106 làng nghề là 66.834 hộ tăng 29,6%, trong đó: hộ làm nghề CN - TCN 42.470 hộ chiếm 63,5% (tăng 9.468 hộ), hộ làm dịch vụ 5.797 hộ chiếm 8,7% hộ làm nông nghiệp thuần tuý 18.567 hộ chiếm 27,8%.
- Về số lao động.
Tổng số lao động tham gia sản xuất trong các làng nghề năm1996 là 119.012 người, trong đó: lao động CN - TCN 76.463 người chiếm 64,2% lao động dịch vụ 8.912 người chiếm 7,5%, lao động thuần nông 33.637 người chiếm 28,3%.
Đến năm 1999 số lao động của 106 làng nghề lên tới 152.036 người tăng 33.024 người so với 1996, trong đó: lao động CN - TCN: 98.570 người chiếm 64,8% (tăng 22.107 người) lao động là dịch vụ 12.244 người chiếm 8,1%, lao động nông nghiệp thuần nông 41.222 người chiếm 27,1%.
Ở đây số lao động tham gia nhiều nhất vẫn tập trung ở số huyện có nhiều nghề như Phú Xuyên tổng số lao động 23.046 người, Thường Tín 21.610 người, Hoài Đức 30.562 người, Thanh Oai 13.175 người, mặc dù vậy một số huyện này vẫn có số lao động thuần nông chiếm tỷ lệ lớn so với nhiều huyện khác.
Lao động tham gia sản xuất trong các làng nghề 1999.
Trang 1489.737 58,8
9.133 6,0
12.244 8,1
Nguồn: Sở Công nghiệp Hà Tây
2.3 Về giá trị sản lượng sản xuất và thu nhập đầu tư sản xuất kinh doanh (1996 - 1999).
2.3.1.Giá trị sản lượng sản xuất (theo giá hiện hành).
Năm 1996 giá trị tổng sản lượng sản xuất của 85 làng nghề CN - TCN là 716.284 triệu đồng, trong đó: sản xuất CN - TCN 448.196 triệu đồng chiếm
62,6%, kinh doanh dịch vụ 90.136 triệu đồng chiếm 12,6% nông nghiệp
lượng 9.207,150 triệu đồng/năm, 1 hộ là 14,602 triệu đồng.
Những làng nghề đạt giá trị sản lượng sản xuất CN - TCN, dịch vụ (theo giá hiện hành).
+ Từ 75.000 triệu đến 81.450 triệu đồng có hai làng: dệt La Phù, làng chế biến LTTP Minh Khai (Hoài Đức).
Trang 15+ Từ 20.000 triệu đến 36.320 triệu đồng có 3 làng: làng nghề cơ kim khí Vĩnh Lộc, xã Phùng Xá (Thạch Thất), làng nghề chế biến LTTP Dương Liễu, Cát Quế xã Cát Quết (Hoài Đức).
+ Từ 10.000 triệu đến 15.000 triệu đồng có 5 làng: làng thường làm nghề dệt thuộc xã Phùng Xá (Hoài Đức), làng nghề in vải, dịch vụ xã Dương Nội (Hoài Đức) làm mộc, dịch vụ Chàng Sơn, Hữu Bằng (Thạch Thất).
+ Từ 5.000 triệu đến gần 10.000 triệu đồng có 25 làng làng Xuân La xã Phương Dực, Đại Nghiệp xã Tân Dân, Lưu Phượng xã Phú Túc (Huyện Phú Xuyên), Canh Hoạch xã Dân Hòa, Dư Dụ Thù Thượng, Dùa Hạ, Vĩnh Tiền, xã Thanh Thúy, Kỳ Thủy xã Bích Hòa (huyện Thanh Oai), Hạ Thái xã Duyên Thái, Vạn Điểm xã Vạn Điểm, Trát Cầu xã Tiền Phong, Ninh Sở xã Ninh Sở (huyện Thường Tín), Liên Hà xã Liên Hà, Thượng Hạ xã Liên Trung (huyện Đan Phượng), làng Đông, Tây, Nam xã Phụng Thượng, Hạ Hiệp xã Liên Hiệp, Linh Chiểu xã Sen Chiểu (huyện Phúc Thọ), Sơn Đồng xã Sơn Đồng (huyện Hoài Đức), Tân Hòa xã Tân Hòa (huyện Quốc Oai).
2.3.2 Về thu nhập và vốn đầu tư mở rộng sản xuất (1996 - 1999).
Về thu nhập làng nghề.
*Thu nhập bình quân 1 lao động trong năm của làng nghề (1999).
Đơn vị: 1000 đ Chỉ tiêu Thuần
nông sản xuất Kiêm
Đến năm 1999 thu nhập bình quân 1 lao động 1 năm trong làng nghề tăng lên 3,350 triệu đồng (tăng 0,394 triệu đồng) trong đó: thu nhập từ làm TTCN kiêm sản xuất TTCN là 3,551triệu đồng/năm , chuyên sản xuất TTCN là
Trang 165,236 triệu đồng/năm, kinh doanh dịch vụ 3,155 triệu đồng/ năm, làm nông nghiệp thuần nông 1,459 triệu đồng cho thấy lao động tham gia sản xuất chuyên TTCN có thu nhập gấp ba (3,5) lần lao động làm nông nghiệp thuần.
Về vốn đầu tư mở rộng sản xuất ở làng nghề.
Năm 1996 các làng nghề đã tự đầu tư được 316 tỷ đồng để khôi phục, phát triển sản xuất, trong đó: Vốn cố định 207,6 tỷ đồng chiếm 60%, vốn lưu động 138,4 tỷ đồng chiếm 40%.
Đến năm 1999 đã tự đầu tư là 358 tỷ đồng (tăng 12 tỷ đồng, trong đó: vốn cố định là 214,8 tỷ đồng chiếm 60% (tăng 7,2 tỷ đồng), vốn lưu động 143,2
tỷ đồng chiếm 40% (tăng 4,8 triệu đồng).
2.4 Công tác nhân cấy nghề TTCN Hà Tây.
Hàng năm công tác nhân cấy nghề TTCN trên địa bàn Hà Tây luôn được sự quantâm của các làng nghề, cấp uỷ chính quyền và các tổ chức
Trong ba năm 1996 - 1998 gần đây, mặc dù còn gặp
không ít khó khăn các huyện, thị xã trong tỉnh vẫn coi trọng việc nhân cấy nghề mới, duy trì nghề cũ của làng là trách nhiệm của các ngành, các cấp chính quyền địa phương Phòng công nghiệp các huyện Ứ ng Hòa, Chương Mỹ, Phú Xuyên, Ba Vì, Thanh Oai, Thạch Thất, Hoài Đức, Phú Tín, Mỹ Đức đã chủ động
đề xuất với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể của huyện phối hợp cùng UBND xã trên địa bàn tổ chức các lớp học nghề sản xuất công nghiệp - tiểu chủ công nghiệp như cơ khí, gò hàn, tiện, điện nông thôn, dệt, may mặc, thêu ren, khâu bóng đá, mộc dân dụng, mộc gỗ cao cấp, sơn mài, khảm trai, mỹ nghệ, điêu khắc, tiện gỗ, xương, sừng, hóa trang mỹ thuật, mây tre đan, sản xuất vật liệu
xây dựng được nhiều người tham gia học nghề Đã mở được 193 lớp với 8.500 học viên theo học thời gian thường từ 3 tháng đến 6 tháng, với số vốn
đầu tư là 2355 triệu đồng (trong ba năm 1996 - 1998) bằng nguồn vốn hỗ trợ
từ phía huyện, UBND xã, các chủ doanh nghiệp tham gia, kết hợp với cá nhân học viên tự nguyện đóng góp Các nhóm ngành tiểu thủ công nghiệp được đào tạo hay các mặt hàng được tập trung đào tạo như: (khảm trai, điêu khắc, thêu
Trang 17ren, mây tre giang, kết vải + khăn, dệt thảm len, dệt len, dệt thảm đay, dệt mặc, chẻ tăm hương, khâu bóng đá, chế biến nông sản, đồ mộc dân dụng, sửa chữa
cơ khí, giấy bao bì ươm tơ ) Trong đó nghề mây tre giang được nhiều người theo học nhất (3.408) và kinh phí đầu tư lớn nhất 505,67 triệu đồng trong ba năm 1996 - 1998, sau đó là nhóm nghề thêu ren 930 học viên với 124,6 triệu đồng đầu tư và tiếp theo là nghề dệt len Và số học viên tham gia đông nhất tập trung vào ba huyện Ứ ng Hòa, Thanh Oai, Chương Mỹ, mặc dù vậy kinh phí đầu
tư lớn nhất vẫn là Phú Xuyên 519,68 triệu đồng
Các nghề được đào tạo dưới sự chỉ dẫn của giảng viên là giáo viên của trường công nhân kỹ thuật trung học, cao đẳng, viện nghiên cứu Trung ương, trường công nghiệp thủ công mỹ nghệ Hà Tây, công nhân có tay nghề bậc cao, nghệ nhân chuyên nghề, chủ doanh nghiệp, đến trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn thực tế Các huyện Ứ ng Hòa đã mở được 41 lớp truyền nghề cho 14 xã chủ yếu thuần nông với 1862 học viên theo nghề, huyện Chương Mỹ mở được 36 lớp cho 17 xã, với 1980 học viên học nghề, huyện Phú Xuyên mở được 23 lớp cho 9
xã với 629 học viên huyện Thạch Thất mở được 27 lớp cho 5 xã với 677 học viên, huyện Thường Tín mở được 16 lớp cho 4 xã, với 774 học viên, huyện Ba
Vì mở được 13 lớp cho 5 xã, với 170 học viên, huyện Mỹ Đức mở 4 lớp cho 4 xã với 200 học viên Huyện Hoài Đức mở 3 lớp cho 3 xã với 160 học viên học nghề theo lựa chọn, huyện Thanh Oai 27 lớp với 1430 học sinh Nhất là 1999 ngành công nghiệp được UBND tỉnh Hà Tây, quan tâm hỗ trợ 1 tỷ đồng cho khuyến khích mở lớp nhân cấy nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, tuy số tiền còn
có hạn chế nhưng đã động viên và tạo điều kiện cho các địa phương trong việc
tổ chức dạy truyền nghề tại chỗ.
Số lớp đào tạo và kinh phí đào tạo nghề, nhân cấy nghề tiểu thủ công nghiệp giai đoạn (1996 - 1998).
Chỉ tiêu
Năm
Số lớp truyền nghề
Số học viên tham gia
Tổng kinh phí cho mở lớp truyền nghề (triệu đồng)