1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TÂY GIAI ĐOẠN 2001 2005

28 362 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương hướng phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tây giai đoạn 2001-2005
Chuyên ngành Kinh tế
Năm xuất bản 2001-2005
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 42,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phát triển các sản phẩm TTCN trên cơ sở gắn kết với yếu tố truyền thống của cảnh quan du lịch Làng nghề.. Thật vậy để phát triển TTCN theo hướng sản xuất hàng hoá thì :- Lựa chọn các n

Trang 1

PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH HÀ TÂY GIAI ĐOẠN 2001 2005

I NHỮNG CĂN CỨ CƠ BẢN CHO VIỆC PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TỈNH

HÀ TÂY GIAI ĐOẠN 2001-2005.

1 Quan điểm phát triển TTCN Hà Tây

1.1 Phục hồi và phát triển TTCN truyền thống

-Việc phục hồi phát triển các làng nghề truyền thống không chỉ có

ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn về mặt văn hoá xã hội Vì khi

bán sản phẩm truyền thống không chỉ có ý nghĩa là bán " giá trị sử dụng" mà còn bán " giá trị văn hoá nghệ thuật " nằm trong sản phẩm đó vì thế tính chất truyền thống, phong cách riêng của địa phương, tính độc đáo và hình thức sản phẩm, thậm chí cả địa danh làm ra giá trị sản phẩm đều làm tăng giá trị sản phẩm Mặt khác làng nghề truyền thống còn là điểm du lịch kỳ thú cho khách nước ngoài Quan điểm cơ bản là phải đánh giá đúng vai trò của Làng nghề trong điều kiện công nghiệp hoá -hiện đại hoá

Kỹ thuật trực tiếp làm tăng giá trị kinh tế, Văn hoá và xã hội vừa trực tiếp làm tăng giá trị kinh tế vừa là cơ sở điều kiện phát triển lâu dài của làng nghề

Phải giữ gìn giá trị văn hoá của làng nghề, bảo vệ và tu bổ cảnh quan của làng nghề, tôn tạo các di tích của làng nghề, phục hồi các lễ hội và phong tục tập quán của làng nghề là điều kiện cần thiết tạo cho việc giữ dìn bản sắc văn hoá dân tộc và phát triển các làng nghề trong hiện tại và tương lai.

Xây dựng các làng nghề thành điểm du lịch và gắn kết với các điểm du lịch trong việc cung cấp sản phẩm và giới thiệu văn hoá huỵện, tỉnh, để tạo ra giá

trị kinh tế cho huyệnvà tỉnh

-Kết hợp yếu tố truyền thống với các yếu tố hiện đại.

Truyền thống được hình thành và phát triển nhiều đời tạo thành phong cách riêng cho sản phẩm Chính truyền thống là yếu tố quyết định để chiếm lĩnh thị trường Song sản phẩm phải luôn được cải thiện, cải tiến, phù hợp với cuộc sống mới trong điều kiện khoa học kỹ thuật văn hoá xã hội cao hơn (Chẳng hạn sản phẩm điêu khắc trạm trổ, dệt may cần kết hợp công nghệ hiện đại và

Trang 2

truyền thống, để tạo ra số lượng và những sản phẩm bền đẹp, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng ).

-Kết hợp phát triển nghề truyền thống với phát triển toàn diện nông thôn.

Nếu như cuộc sống không đảm bảo, phải bỏ nghề thì truyền thống cũng không còn Cuộc sống có nâng cao và phát triển toàn diện thì người thợ mới có

đủ điều kiện, khả năng hứng thú lao động sáng tạo trong nghề nghiệp Mặt khác khi cuộc sống được cải thiện, song truyền thống chưa hẳn đã được phát huy, điều đó phải có sự trợ giúp của cơ quan chức năng, các tổ chức quần chúng và toàn thể quần chúng nhân dân

Phát triển nông thôn là sự phát triển toàn diện từ môi trường sống, cơ

sở hạ tầng, quan điểm xã hội, trình độ dân trí trong đó đặc biệt coi trọng việc đào tạo và nâng cao trình độ nghề nghiệp

-Phát triển làng nghề truyền thống phải có sự hỗ trợ của các cơ quan Nhà nước, Trung ương và địa phương

Làng nghề truyền thống không chỉ của riêng những người dân làng nghề truyền thống đó mà còn là một bộ phận phong phú và sâu sắc truyền thống văn hoá dân tộc ( Không chỉ Hà Tây mà cả nước ) Vì vậy việc giữ gìn và phát triển làng nghề là nhiệm vụ chung của toàn xã hội Trong điều kiện khó khăn về kinh tế, vốn đầu tư, dân trí, văn hoá người dân làng nghề không đủ sức tự mình giữ gìn và phát triển truyền thống của làng nghề được Do vậy cần

có sự hỗ trợ của Nhà nước, như chính sách khuyến khích khôi phục, phục hồi phát triển làng nghề về kinh tế, thông tin, tiếp thị, xuất nhập khẩu

1.2 Phát triển TTCN trên cơ sở tận dụng lợi thế du lịch Hà Tây

Hà Tây là đất trăm nghề nên việc phát triển TTCN là một lợi thế Mặt khác nơi đây còn có một tiềm năng lớn về du lịch, là tỉnh đứng thứ ba trong cả nước sau Hà Nội và TP Hồ Chí Minh về số lượng di tích lịch sử , với mật độ 14

di tích/ 100 km2 , với nhiều Đền, Chùa cổ kính cùng các lễ hội truyền thống và nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng ( Suối Hai, Ao Vua, Đồng Mô, Ngải Sơn, Chùa Hương ) có tầm cỡ quốc gia và quốc tế Tuy vậy muốn khai thác được

Trang 3

tiềm năng này đưa kinh tế du lịch trở thành ngành công nghiệp không khói , trước hết cần phát triển TTCN với phát triển du lịch cụ thể :

- Coi du lịch là thị trường tiêu thụ các sản phẩm TTCN.

- Phát triển các sản phẩm TTCN trên cơ sở gắn kết với yếu tố truyền thống của cảnh quan du lịch Làng nghề.

- Kết hợp làng nghề TTCN với du lịch là biện pháp để phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

1.3 Phát triển TTCN theo hướng sản xuất hàng hoá

Trong lịch sử phát triển của mình loài người đã trải qua các hình thức

phát triển từ thấp đến cao , kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc đến kinh tế hàng hoá Sự ra đời của kinh tế hàng hoá đánh dấu bước tiến có ý nghĩa vô cùng to lớn trong quá trình phát triển loài người.

Trong nền kinh tế hàng hoá , các quan hệ kinh tế đều được biểu hiện thông qua quan hệ hàng hoá , tiền tệ và đều được thực hiện trên thị trường Trong sản xuất hàng hoá , dịch vụ được tạo ra nói chung nhằm mục đích trao đổi , mục đích mua bán trên thị trường Sản xuất hàng hoá có vai trò hết sức

to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội mỗi quốc gia , nó góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất vật chất nói chung và ngành nghề TTCN nói riêng

Vai trò của kinh tế hàng hoá được thể hiện trước hết ở chỗ , nó tạo động lực và buộc mỗi người không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh bằng cách giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm , sao cho hao phí lao động cá biệt phù hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết để tạo ra một đơn

vị sản phẩm , chỉ có như vậy người sản xuất nói chung và sản xuất TTCN nói riêng mới có thể thực hiện được tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng nhờ đó TTCN mới có hiệu quả Mặt khác cũng xuất phát từ sản xuất hàng hoá tạo ra

sự phân công lao động hợp lý hình thành các ngành nghề, các cơ sở , các vùng sản xuất Một trong những biểu hiện quan trọng nhất của quá trình phân công lao động xã hội là quá trình chuyên môn hoá tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng , số lượng phù hợp với thị hiếu trên cơ sở khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là các lợi thé so sánh của từng vùng ( Đối với Hà Tây là lơi thế về du lịch ).

Trang 4

Thật vậy để phát triển TTCN theo hướng sản xuất hàng hoá thì :

- Lựa chọn các ngành nghề , ưu tiên phù hợp với lợi thế của từng địa phương, từng vùng.

- Phải hình thành các vùng chuyên môn hoá sản xuất tại nông thônlàm

vệ tinh cho các xí nghiệp ở thành thị Quy hoạch , phân vùng trong việc bố trí các cụm , điểm sản xuất TTCN tạo thuận lợi cho việc phân bổ nguồn lực và chuyên môn hoá sản xuất , từ đó tạo ra những sản phẩm có giá tri kinh tế cao.

- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển sản xuất TTCN theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước

2 Mục tiêu phát triển kinh tế Hà Tây 2001-2005.

Xuất phát từ mục tiêu chung của cả nước về GDP bình quân đầu người năm 2001là 380USD và đến năm 2010 đạt 1000USD Xuất phát từ những mục tiêu khác về tăng trưởng và phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Do vậy Hà Tây phải có nghĩa vụ đóng góp vào thực hiện mục tiêu đó

Căn cứ vào thực trạng và những kết quả đạt được trong giai đoạn

1991-1999 cũng như căn cứ tiềm năng về phát triển kinh tế của tỉnh, mục tiêu chung về phát triển kinh tế như sau :

-Phấn đấu đạt mục tiêu GDP bình quân đầu người 360 USD vào năm

2001 và năm 2005 đạt 700 USD bằng mức bình quân chung của cả nước

-Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng

tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP để đến năm 2001-2005 cơ cấu kinh

Trang 5

-Từng bước cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân về văn hoá, giáo dục đào tạo, y tế xã hội Đến năm 2001 không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn 5-6% Xây dựng nông thôn mới theo hướng sản xuất hàng hoávà từng bước "làng nghề hoá" bằng phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn Để đạt được mục tiêu đó CN-TTCN phải có hướng đi cụ thể, khẳng định vai trò to lớn trong giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các vấn đề xã hội

Mục tiêu về chuuyển dịch cơ cấu kinh tế Hà Tây 2001-2005

- Công nghiệp Hà Tây xác định nhiệm vụ phục vụ nông nghiệp và công nghiệp hoá nông thôn là trọng tâm.

3 Mục tiêu phát triển TTCN Hà Tây giai đoạn 2001-2005.

Để tăng cường đóng góp của công nghiệp vào GDP nói chung, vai trò của TTCN hết sức quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và giải quyết và giải quyết việc làm cũng như vấn đề xã hội, tận dụng tối đa nguồn lực phân tán rải rác trong dân cũng như lợi thế về tài nguyên con người, cảnh quan di tích lịch sử Như vậy mục tiêu phát triển TTCN trong giai đoạn tới là :

Trang 6

-Về thu hút lao động giai đoạn 2001-2005 thu hút lao động trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là 250.000 lao động, giai đoạn 20015-2010 là 400.000 lao động , tăng cường số hộ và hình thức sản xuất kinh doanh TTCN khác trên địa bàn.

- Về giá trị sản lượng cần tăng cường và mở rộng sản xuất ở các doanh nghiệp và các hộ gia đình với mục tiêu tăng trưởng 12% giai đoạn 2001 và 13- 13,5% giai đoạn 2001-2005 thì mục tiêu giá trị sản lượng TTCN như sau:

Giai đoạn: 2001 : 1.500 tỷ đồng

2001-2005: 2.000 tỷ đồng

- Tăng cường đóng góp ngân sách của TTCN Hà Tây, bằng việc tăng cường quản lý Nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp và các hộ gia đình trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và ở các làng nghề truyền thống Để năm 2001 có đóng góp là 15 tỷ đồng, năm 2001-2005 là 25 tỷ đồng.

- Tăng thu nhập cho người dân, đặc biệt khu vực nông thôn bằng cách

mở rộng các ngành nghề và khuyến khích các loại hình doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, giai đoạn 2001-2005 tập trung vào phát triển TTCN trong nông nghiệp và phát triển mạnh các loại hình dịch vụ ở nông thôn.

-Giai đoạn 2001-2005 thực hiện việc nhân cấy nghề và mở rộng làng nghề ở tất cả 14/14 huyện, thị xã trong tỉnh

- Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm sang Nga, EU, Mỹ và thị trường châu Á (Nhật, Hồng Kông, Đài Loan )

- Về xuất khẩu giai đoạn 2001-2005 vẫn tập trung vào mặt hàng thủ công mỹ nghệ và may mặc, cần tăng cả về số lượng chất lượng và mẫu mã.

Mục tiêu phát triển TTCN Hà Tây giai đoạn 2001-2005

Năm Chỉ tiêu

001

20 05

- Giá trị SL t

ỷ đồng 1.500 2.000

1 2%

13,5%

200.0

Trang 7

- Thị trường XK Asea

n , Nics

Nga, EU, Mỹ

và Châu á

II PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TTCN TỈNH HÀ TÂY GIAI ĐOẠN 2001-2005.

1 Phương hướng quy hoạch chung TTCN Hà Tây

Quy hoạch là một vấn đề bao trùm cần xúc tiến ngay để nhanh chóng đưa tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp vào quỹ đạo sản xuất

TTCN là một bộ phận hữu cơ của công nghiệp nói chung Mặt khác, khi quy hoạch tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp phải gắn với quy hoạch ngành nghề, phải kết hợp chặt với quy hoạch địa phương, vùng lảnh thổ Từ đó nhằm tận dụng nguồn lao động tại chổ, khai thác tài nguyên và truyền thống của mỗi vùng, từng bước xây dựng các vùng sản xuất, các cơ sở sản xuất truyền thống

1.1.Quy hoạch phát triển tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp theo ngành

nghề

Câu hỏi đặt ra là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai ? đây là vấn đề cần đặt

ra, như chương II đã nghiên cứu, trên thực tế đã có một số sản phẩm bị mất do chính sách của nhà nước (Ví dụ nghề pháo ), một số sản phẩm bị mai một do không chú ý đến phát triển, do thị trường thiếu hụt, hình thức cung cấp, sở thích cũng như nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng Trong khi các sản phẩm bị mai một lại có lợi thế về phát triển như nguyên liệu cung cấp, tay nghề người thợ Vì vậy trong gia đoạn tới (2001-2005) cần chú ý một số sản phẩm ngành nghề hướng vào thị trường trong nước và nước ngoài giải quyết việc làm cho người lao động như:

- Chế biến nông sản thực phẩm, sản phẩm ăn uống

- Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, mây tre đan, chạm trổ, khảm trai

- Dệt may, dệt lụa tơ tằm

-Sản xuất vật liệu xây dựng phục vụ cho nhu cầu xây dựng trong tỉnh và cung cấp cho thị trường lớn Hà Nội

Trang 8

1.2 Quy hoạch TTCN theo địa phương vùng lãnh thổ.

Quy hoạch TTCN theo vùng lãnh thổ là quy hoạch việc phát triển các cơ

sở sản xuất trên một vùng nhất định, có liên quan đến điều kiện tự nhiên về đất đai, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, và điều kiện xã hội Quy hoạch theo vùng lãnh thổ tạo điều kiện cho phép chọn địa điểm xây dựng từng cơ sở có căn cứ xắc đáng Chính vì vậy việc quy hoạch vùng lãnh thổ cần xác định

-Xây dựng các xí nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, cần bố trí gần hoặc trong vùng có nguyên liệu

-Các xí nghiệp phải bố trí vào các khu và cụm công nghiệp theo định hướng ngành nghề.

Đối với thị xã : Tận dụng tối đa cơ sở hiện có, đầu tư chiều sâu nâng

cao năng xuất và chất lượng, đồng thời xây dựng các cụm điểm công nghiệp Đối với thị xã Hà Đông xây dựng các cụm điểm công nghiệp La Khê, Van Phúc, Cầu Bưởu và phát triển TTCN dệt truyền thống Đối với thị xã Sơn Tây cần phát triển TTCN may, chế biến bánh kẹo, đồ uống, sữa chữa, sản xuất vật liệu xây dựng tại các xã Đường lâm, Trung Hưng, Thanh mỹ ; chế biến lâm sản gổ xẽ,

giường tủ ở các Xã Xuân Sơn, Sơn Đồng

Đối với các huyện: Cần xây dựng vùng nguyên liệu cung cấp cho các xí

nghiệp chế biến ở thị xã và vùng lân cận, duy trì và phát triển các ngành nghề thủ công mỹ nghệ trên các làng nghề, nhân rộng và phát triển các làng nghề mới, sản xuất nhiều mặt hàng kết hợp với thiết bị công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh tăng nhanh sản lượng và chất lượng

-Huyện Ba Vì đây là huyện có diện tích lớn nhất tỉnh, có điều kiện phát triển các vùng nguyên liệu, mặt khác cần đẩy nhanh sản xuất các mặt hàng phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, đặc biệt là tận dụng thị trường du lịch

mà nơi đây có thế mạnh và đẩy nhanh phát triển sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch

*Cần đẩy mạnh sản xuất các ngành nghề :

+Chế biến nông sản :Tại các xã Tàng Đàng, Vật lai, Minh Quang, Tản Linh, Vân Sơn (xay xát chế biến tinh bột sắn, dong riềng, chăn nuôi bò sữa )

+Trồng dâu nuôi tằm :Các xã Thuần Mỹ, Sơn Đà,Tòng Bạt.

+Sản xuất vật liệu xây dựng: Các xã khánh Thượng, Cẩm Lĩnh, Tiền Phong(Sản xuất gạch nung, ngói vôi,đá xâydựng ) cần phát triển vùng nguyên

Trang 9

liệu để cung cấp cho các cơ sở sản xuất công nghiệp lớn như vùng trồng chè, mía dứa

-Huyện Hoài Đức hiện có 7 làng nghề và công ty TNHH công nghiệp của huyện là thế mạnh công nghiệp ngoài quốc doanh (95%), vì vậy trong giai đoạn tới cần xây dựng các vùng nguyên liệu cung cấp cho TTCN chế biến và phát triển TTCN dệt may.

+Chế biến nông sản :Thị trấn Hoài Đức, xã Minh Khai,Cát Quế, Đức giang chế biến tinh bột, nha, thức ăn gia súc

+Dệt may, da: Các xã La phù, Dương Nội, An thượng

+Thủ công mỹ nghệ : Thị trấn Trôi, các xã Sơn Đồng sãn xuất tượng gỗ, điêu khắc sơn mài

-Huyện THường Tín, PHú Xuyên là huỵện có TTCN phát triển với 26 làng nghề, tập trung sản xuất hàng tiêu dùng, mặt hàng truyền thống của huyện như: Sơn mài mỹ nghệ, mây tre đan, tơ lụa, giầy da Trong thời gian tới hướng sản xuất các mặt hàng như sau:

+Chế biến nông sản thực phẩm : Hướng tập trung chế biến gạo, các loại thức ăn gia súc phục vụ cho thị trường Hà Nội và trong tỉnh cũng như các tỉnh lân cận.

+Thủ công mỹ nghệ :Phát triển khảm, sơn mài, mây tre giang, guột tế, mộc cao cấp

+May mặc, giầy da: Phát triển các cơ sở làm Giầy da, tìm đói tác để sản xuất quy mô lớn

-Các huyện khác (Chương Mỹ, Phúc thọ, Thanh Oai, ứng Hoà, Thạch Thất ) lại tập trung nâng cao chất lượng và số lượng sản phẩm hiện có, trên

cơ sở tận dụng tối đa nguồn lực điạ phương vào phát triển TTCN và cũng tập trung vào một số mặt hàng sau: Sản xuất vật liệu xây dựng ; Chế biến nông sản

; chế biến lâm sản ; hàng dệt, thủ công mỹ nghệ

2 Phương hướng phát triển một số ngành TTCN chủ chốt.

2.1 Ngành vật liệu xây dựng (góm, sứ, thủy tinh).

Trong những năm qua, ngành này có tốc độ tăng trưởng rất nhanh 20,8%/năm Trong giai đoạn tới cần duy trì tốc độ phát triển này, và đưa tỷ trọng lên 30% vào giai đoạn 2001-2005.

Trang 10

Thời gian tới nhu cầu xây dựng nhà ở và cơ sở hạ tầng nông thông rất lớn Để tiếp tục phát triển ngành khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng cần:

- Quy hoạch các địa điểm khai thác đất, đá, cát, các khu sản xuất gạch, gốm sứ, thủy tinh, hạn chế ảnh hưởng đến môi trường và xâm phạm đất canh tác Cải tiến lò thủ công, từng bước thay thế bằng lò tuy nen, sử dụng

cơ khí trong các khâu luyện đất, dập sản phẩm, vận chuyển, Đầu tư công nghệ tiên tiến, sử dụng có hiệu quả tài nguyên khoáng sản sẵn có ở địa phương để sản xuất vật liệu xây dựng đáp ứng nhu cầu trong và ngoài tỉnh,

- Tiếp tục phát huy thế mạnh của ngành hiện có dựa trên những đặc điểm ưu đãi về tài nguyên, khoáng sản vốn là thế mạnh của tỉnh Khuyến khích phát triển các làng nghề gốm, sứ truyền thống, đổi mới sản phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.

2.2 Ngành chế biến nông sản thực phẩm.

- Phát triển ngành TTCN chế biến nông sản thực phẩm trên cơ sở phát triển nông nghiệp của tỉnh, đảm bảo mục tiêu gia tăng giá trị nông sản, thực phẩm, giảm tới mức thấp nhất hư hao sau thu hoạch Tăng cường sản xuất các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của địa phương trong nước và hướng tới xuất khẩu.

* Ngành dệt, may mặc.

Phương hướng:

- Bố trí sắp xếp lại các cơ sở sản xuất, kết hợp công nghệ truyền thống

và hiện đại trong sản xuất.

- Đổi mới các kiểu dáng và hình thức đối với hàng thêu, ren ở các làng nghề truyền thống.

* Ngành sản xuất thủ công mỹ nghệ.

Phương hướng:

- Đối với ngành thủ công mỹ nghệ cần phát huy thế mạnh của làng nghề truyền thống, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cao cấp của nhân dân và thị trường trong và ngoài nước, đặc biệt tăng cường khả năng xuất khẩu.

Trang 12

Trong thời gian tới cần phục hồi và phát triển một số làng nghề sau:

Làng nghề, thủ công nghiệp là thế mạnh của tỉnh Hà Tây nhằm phát huy các thành phần kinh tế và tận dụng nguồn tài nguyên, nghề, tay nghề của tỉnh, tăng thu nhập và và giải quyết việc làm cho lao động ( mỗi năm tăng từ 2-3 vạn lao động trên địa bàn Hà Tây ) nhất là lao dộng nông thôn Trong thời kỳ đầu phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm vị trí quan trọng, thực hiện xoá đói giảmnghèo, người dân có điều kiện tích luỹ dần để tiến tới đầu tư lớn hơn vào công nghiệp.

Vì vậy Hà Tây cần tập trung phát triển một số ngành nghề tryền thống sau ở hiện tại và tương lai để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

*Làng nghề tơ lụa Hà Đông Đây là làng nghề đã tồn tại và phát triển

suốt 1700 năm nay.

-Làng nghề dệt truyền thống Vạn Phúc (Thị xã Hà Đông ): Trước đây là hợp tác xã dệt lụa xuất khẩu Vạn Phúc thành lập từ 1959 trên cơ sở hợp nhất

11 hợp tác xã nghề dệt Từ năm 1991đã chuyển về hộ gia đình vơi lao động dệt chiếm 73% lao động, chũng loại do các hộ làm rất phong phú, điều đó là thế mạnh là lợi thế cho Vạn Phúc chuyên môn hoá sản xuất lụa cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh

- Lụa Cổ Đô (xã Cổ Đô, huyện Ba Vì) trước đây ươm tơ dệt lụa từ tơ tằm nổi tiếng, nơi đây là vùng đất thuận lợi cho việc cung cấp nguyên liẹu dệt Do vậy trong thời gian tới cần tận dụng và phát huy ngành nghề truyền thống này

Và ngoài ra cần tập tung phát triển một số nghề dệt ở Hoà Xá, nghề dệt kim ở La Phù ( Hoài Đức).

*Làng nghề thêu Quất Động

Làng nghề thêu Quất Động ( huyện Thường Tín ) 50% lao động làm nghề thêu Trong những năm thị trường Đông Âu và Liên Xô chưa sụp đổ thì nghề thêu ở đây làm ăn có hiệu quả, thêu các mặt hàng : áo kimônô, khăn trải bàn Trong hiện tại và tương lai thị trường EU, Nga và thị trường sang các nước khu vực châu á đang được mở rộng, đòi hỏi phải duy trì, phát triển nghề này

Trang 13

-Làng nghề sản xuất tiện gỗ ở Nhị Khê ( Thường Tín)

-Làng nghề sản xuất gỗ La thiện (xã Tân Hồng, Ba Vì)

-Chế biến dong riềng ở Cư Đà, Cự khê (Thanh Oai)

*Làng nghề may, giầy da.

-Làng nghề may Vân Từ (Phú Xuyên )

-Làng nghề giầy da Gã Hạ (Phua Xuyên)

*Làng nghề Mây tre đan.

-Làng nghề nón chuông (Thanh Oai), Minh Châu (Ba Vì )

-Làng nghề đan lồng chim Canh Hoạch (Thanh Oai)

Trang 14

-Làng nghề đan lát mây tre giang, sản xuất các sản phẩm tiêu dùng từ song mây( sa lông, ghế ), bàn ghé từ cây trúc, Ninh sở (Thường Tín )

Việc phát triển và phục hồi các ngành nghề trên cho phép tận dụng nguyên liệu rải rác phân tán trên địa phương, thu hút giải quyết lao động nông nhàn hiện nay ở nông thôn cũng như phục hồi bản sắc văn hoá dân tộc

Hà Tây và cả nước nói chung, tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng tích luỹ cho địa phương rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn là điều cần thiết phải làm trong hiện tại và tương lai đối với TTCN Hà Tây

3 Phương hướng phát triển chủ yếu đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu

dùng và hàng xuất khẩu

Để phát huy mạnh mẽ vai trò của TTCN trong việc sản xuất hàng tiêu dùng, xuất khẩu cần chú ý những phương hướng trong gia đoạn tới như sau:

3.1 Kết hợp chặt chẽ tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp với công nghiệp

quốc doanh ( Trung ương, địa phương) để hình thành một cơ cấu ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu hợp lý ở Hà Tây

Để giải quyết hai nhiệm vụ kinh tế cơ bản trong bước đi ban đầu là tăng tích luỹ cho sự nghiệp công nghiệp hoá và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, bên cạnh những ngành công nghiệp nặng chủ chốt, Hà Tây phải xây dựng một hệ thống các ngành công nghiệp nhẹ, từ đó hình thành một cơ cấu ngành sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu hợp lý ở Hà Tây, trên cơ sở kết hợp kỹ thuật hiện đại và truyền thống

Hiểu một cách đầy đủ ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng bao gồm chủ yếu các ngành công nghiệp thuộc hệ thống công nghiệp nhẹ trong đó

có cả công nghiệp địa phương, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp Như vậy cơ cấu ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng xây dựng theo một hệ thống tương đối hoàn chỉnh với nhiều ngành nghề, nhiều khu vực sản xuất, nhiều hình thức sở hữu khác nhau, với nhiều hình thức tổ chức từ trung ương đến địa phương Việc xây dựng cơ cấu ngành phải phải đạt được mục tiêu là từng bước đáp ứng được yêu cầu về các mặt ăn, ở, mặc, học tập ( Về ăn có chế biến lương thực, thực phẩm, ; về ở có ngành công nghiệp sản xuất đồ dùng trong

Ngày đăng: 08/10/2013, 19:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w