trên thế giới có xu hướng tăng lên chậm hoặc không tăng, nhiều nước đang phát triển rất chú trọng chiến lược xuất khẩu các nông sản không truyền thống như rau quả.. 2.2 Sản xuất cây ăn q
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY ĂN QUẢ
I Vị trí và vai trò của cây ăn quả
1 Vị trí cây ăn quả trong kinh tế nông nghiệp hiện nay
Lịch sử loài người cho thấy rằng: ngay từ thửa xa xưa, trái cây đã là một trong các nguồn thức ăn sẵn có trong tự nhiên của con người nguyên thuỷ Giá trị dinh dưỡng và sinh tố của các loại quả đã khiến chúng được con người sử dụng ngày càng nhiều trong cuộc sống hàng ngàn năm nay.Theo tài liệu của FAO sản lượng quả các loại toàn thế giới thời kỳ 1989-1991 là 352 triệu tấn/năm, đến năm 2000 đã tăng lên đạt 429,4 triệu tấn/năm ( tăng 22% ) Trong khi đó mức tăng tương ứng của lúa gạo là 10,8%, khoai tây 10,6%, chỉ có rau (29,8%) là tăng nhanh hơn quả các loại Năm 2000 sản lượng bình quân đầu người trên thế giới là 73kg, có những nước bình quân này rất cao như Ý 273 kg, Thổ Nhĩ Kỳ 200 kg, Pháp 174 kg Năm 2000 tốc độ tiêu thụ quả các loại tăng lên rõ rệt, trong khi các loại nông sản chủ yếu khác đều giảm đi (bảng 1):
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng hàng năm của các nông sản chính
trên thế giới năm 2000
Nhóm
nông sản
Bình quân 1978-1988
%
Bình quân 1988-2000
%
Bình quân 1878-1988
%
Bình quân 1988-2000
% Lương thực thực phẩm
Ngũ cốc
Đậu đỗ
Sản phẩm chăn nuôi
Chất béo và dầu ăn
Đường
Đồ uống nhiệt đới
Quả các loại
1,9 1,8 2,5 2,2 3,6 1,6 2,9
2,1
1,7 1,8 1,7 1,6 2,9 1,6 1,8
2,6
2,1 2,1 2,5 2,2 3,8 2,1 2,7
2
1,6 1,6 1,6 1,6 2,7 1,5 2,1
2,4
Do giá trị dinh dưỡng và hương vị phong phú, mà các loại hoa quả và rau quả nói chung là loại thức ăn không thể thiếu được trong đời sống con người và mức tiêu thụ ngày càng tăng
Trang 2Rau quả ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Như ở Nhật bản trong 4 thập kỷ qua tỷ trọng rau quả trong tổng giá trị nông sản
đã tăng lên như sau: 15% (1960), 25% (1970), 26% (1980), 34% (1990) Trong khi đó, lúa gạo từ 47% (1960) giảm xuống còn 28% (1990)
Trước tình hình các nông sản xuất khẩu truyền thống (ngũ cốc, sản phẩm chăn nuôi, đường, đồ uống nhiệt đới ) trên thế giới có xu hướng tăng lên chậm hoặc không tăng, nhiều nước đang phát triển rất chú trọng chiến lược xuất khẩu các nông sản không truyền thống như rau quả Ví dụ: Trị giá rau quả xuất khẩu giai đoạn 1983-1985 của Trung Quốc đạt 552 triệu USD, tăng 8,6 lần giai đoạn 1961-1963 So sánh tương tự Thái Lan đạt 295 triệu USD (tăng 49,1 lần), Đài loan đạt 544 triệu USD ( tăng 14,3 lần)
Rau quả đã chiếm vị trí đáng kể trong cơ cấu nông sản xuất khẩu ở nhiều nước trên thế giới Theo FAO tỷ trọng rau quả trong tổng giá trị nông sản xuất khẩu năm 1996 ở một số nước như sau: Trung Quốc 23,8%; Thái Lan 18,1%; Hàn Quốc 14,4%
Theo số liệu thống kê trong những năm gần đây (1996-2000), diện tích cây
ăn quả cả nước tăng lên nhanh và liên tục, từ 260,9 ngàn ha (1996) đã tăng lên đạt 438,3 ngàn ha (2000)
Về giá trị sản xuất cây ăn quả 5 năm qua cũng tăng liên tục, song tốc độ tăng chưa tương xứng với mức tăng về diện tích trồng, vì cây ăn quả phải trải qua thời kỳ chăm sóc (2-4 năm) mới bắt đầu có quả và năng suất sẽ tăng lên dần Do vậy, tỷ trọng cây ăn quả trong cơ cấu giá trị sản xuất trồng trọt trong 5 năm qua không tăng, bình quân là 8,3% ( bảng2 ) Tính ra năm 2000 cây ăn quả mới chiếm 7,9% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cả nước
Bảng 2: Vị trí cây ăn quả trong cơ cấu giá trị sản xuất trồng trọt cả nước
Loại cây 1996 % 1997% 1998% 1999% 2000% Bình quân%
Trang 3Tổng số
Trong đó:
Cây lương thực
Rau đậu
Cây công nghiệp
Cây ăn quả
100
65,9 6,4 16,7
8,8
100
63,6 7,5 28,3
8,4
100
64,1 7,3 18,4
8,2
100
62,5 7,3 19,5
8,2
100
63,9 7,2 19,1
7,9
100
64 7,1 18,1
8,3
Nguồn: Theo số liệu thống kê nông- lâm -thuỷ sản Việt Nam 1990-2000
2 Vai trò của sản xuất cây ăn quả
Cây ăn quả là loại cây có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao Trong những năm gần đây, cây ăn quả góp phần tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông nghiệp, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải tạo môi trường sinh thái nhất là các tỉnh trung du miền núi Trong xu thế phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, khi mà vấn đề lương thực cơ bản đã được giải quyết, đời sống nông dân được cải thiện thì nhu cầu về tiêu thụ
Sản phẩm quả ngày càng cao cả về số lượng lẫn chất lượng Có thể nói rằng cây ăn quả có vai trò hết sức to lớn đối với con người Cụ thể là:
2.1 Quả dùng cho bữa ăn hàng ngày
Các loại quả là nguồn dinh dưỡng quý giá của con người ở mọi lứa tuổi và ngành nghề khác nhau Trong quả có loại đường dể tiêu, các axit hữu cơ, prôtêin, lipit, chất khoáng, pectin, tananh, các hợp chất thơm và các chất khác
có nhiều loại vitamin khácc như A, B1, B2, B6,C,PP Đặc biệt là vitamin C rất cần thiết cho cơ thể con người, vitamin A cần thiết cho trẻ em Trong khẩu phần
ăn của con người không những cần đầy đủ calo mà cần có vitamin, muối khoáng, các axit hữu cơ và các hoạt chất khác để các họt động sinh lý được tiến hành bình thường Nhu cầu về calo dựa vào việc cung cấp đạm, mỡ, hydrat cacbon từ động vật và thực vật, còn vitamin và các hoạt chất khác thì chủ yếu dựa vào quả và rau
Biểu 3: Sản lượng tính theo đầu người / năm ở các nước trong khu vực Châu
Á- Thái Bình Dương ( từ năm 1985 -1987 )
Trang 4STT Nước
Sản lượng theo đầu người (Kg/năm)
STT Nước
Sảnlượng theo đầu người ( Kg/ năm)
Theo tài liệu điều tra của GS TS Trần Thế Tục và cộng sự năm (1993) lượng tiêu thụ quả tươi ở Hà Nội bình quân là 30/kg/người
Theo các công trình nghiên cứu khoa học, để con người hoạt động bình thường thì hàng năm phải cung cấp khoảng 100kg quả/ người/ năm( các loại hoa quả như nho, táo chuối, xoài, cam, mơ, mận, chanh ) Đó là những chỉ tiêu
cơ bản để định kế hoạch cây ăn quả ở mỗi nước ( xem biểu 1)
2.2 Sản xuất cây ăn quả cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến-xuất khẩu
Vai trò cung cấp nguyên liệu cho công nghệ chế biến và xuất khẩu đã tác động tới sự phát triển của công nghiệp, tạo nguồn ngoại tệ mạnh cho sự phát triển kinh tế nhất là những nước chưa phát triển, đặc biệt là Việt Nam
Vào đầu những năm 60, ngành công nghiệp chế biến rau quả của Việt Nam
đã được hình thành và phát triển Nó phát triển mạnh vào những năm 70 với nhiều chủng loại sản phẩm như: rau quả hộp, rau quả sấy, bán thành phẩm của quả (puple) Trước những năm 75, song song với việc phát triển các nhà máy ở phía Bắc, việc sản xuất phục vụ và các mặt hàng chế biến ngày cành phong phú,
đa dạng:
* Mặt hàng sấy có: chuối sấy ,vải sấy, long nhãn
* Mặt hàng nước giải khát:
Trang 5-Nước quả tự nhiên ( nguyên chất): là sản phẩm mà thành phẩm chủ yếu là dịch quả, trong đó có một phần thịt quả hoặc không chứa dịch quả Nước quả tự nhiên có hàm lượng dinh dưỡng cao, cảm quan hấp dẫn do có màu sắc của sản phẩm rất gần với hương vị màu sấc của nguyên liệu
-Necta quả: còn gọi là nước quả đục, nước quả ngiền với thịt quả Necta quả khác với nước quả tự nhiên ở chỗ chứa nhiều thịt quả và ở dạng sệ, chế biến bằng cách chà mịn các loại quả khó ép lấy dịch như: chuối, xoài, đu đủ, mẵng cầu Do chứa thành phần quả; là chủ yếu nên Necta quả cũng có giá trị dinh dưỡng cao- tương tự như nước quả tự nhiên
-Nước quả cô đặc: là nước quả ép, lọc trong rồi được cô đặc tới hàm lượng chất khô 60-70% Có thể coi nước quả cô đặc là một dạng bán chế phẩm để chế biến nước giải khát, rượu vang quả, rượu mùi, kem Để nước quả cô đặc có mùi
vị và giá trị dinh dưỡng cao người ta ứng dụng những công nghệ cô đặc tiên tiến Phổ biến hơn cả là công nghệ cho nước quả bốc hơi ở độ chân không cao ( trên 500mm thuỷ ngân) để nhiệt độ được hạ thấp 50-600C Cũng có thể áp dụng công nghệ làm lạnh đông: dịch quả được làm đông tới nhiệt độ -5 đến -100C Khi ấy phần nước trong dung dịch đóng băng trước và được tách khỏi dịch quả bằng cách li tâm Dịch quả được làm đặc từng bước và sản phẩm cuối cùng đạt độ khô 60-70%
-Xirô quả: Là nước quả được pha thêm nhiều đường (thường dùng đường kính trắng) để độ đường trong Xirô đạt 60-70% Cần phân biệt Xiro quả với nước quả cô đặc, 2 sản phẩm này cùng chứa dịch quả, có cùng hàm lượng đường cao nhưng nước quả cô đặc không bổ sung đường còn Xiro quả đường
bổ sung đường với số lượng lớn
-Squash quả:Tương tự như Xiro quả nhưng chứa nhiều thịt quả hơn và ở dạng đặc sánh hơn
-Nước quả lên men: được chế biến bằng cách cho nước quả lên men rượu Sau thời gian lên men từ 24-36 giờ, độ rượu trong sản phẩm đạt tới 4 -5% V .Sau đó sản phẩm được triệt trùng, đóng vào bao bì kín và tiêu thụ nhanh Nước
Trang 6quả lên men có hương vị đặc biệt do nấm men tạo ra, lại chứa nhiều CO2 nên có tác dụng tiêu hoá tốt
-Bột quả giải khát: Bao gồm dạng cao cấp là dạng bột quả hoà tan và dạng cấp thấp hơn là dạng bột quả không hoà tan Bột quả hoà tan được chế biến từ nước quả, qua quá trình sấy đặc vừa sấy khô thành dạng bột , có thêm một số phụ gia thực phẩm để tăng thêm màu sắc hương vị và độ hoà tan cho sản phẩm Bột quả giải khát không hoà tan thì được chế biến từ quả nghiền mịn ( cả thịt lẫn với phần xơ ) rồi sấy khô bằng máy sấp phun hoặc máy sấy kiểu trục cán để sản phẩm đạt độ khô rất cao, thuỷ phân chỉ còn 2-5% Sau đó, sản phẩm được gia màu, gia hương tương tự như bột quả giải khát hoà tan
-Nước quả giải khát : Thành phần chủ yếu là dịch quả, chiếm 10-50% ( tuỳ theo dạng nguyên liệu và dạng sản phẩm) cộng với đường axit thực phẩm, chất màu thực phẩm và hương liệu Sản phẩm có thể được nạp CO2 hoặc không nạp CO2
Hiện nay công ty rau quả Việt Nam đang lập dự án xây dựng mới các cơ sở chế biến rau quả tại các trọng điểm trước mắt là các xí nghiệp NCN Đồng Giao Trong các dự án nói trên sản phẩm nước quả giải khát luôn được coi là một trong những sản phẩm chủ yếu của các cơ sở chế biến rau quả
Công nghiệp chế biến rượu vang: mới phát triển trong những năm gần đây
và chủ yếu là ở các tỉnh miền Bắc như Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên Sản lượng rượu vang năm 1993 khoảng 10 triệu lít, nguyên liệu quả cần dùng khoảng 25 nghìn tấn Các loại quả được sử dụng như nho, dứa, chuối, mận và những loại quả khác
Công nghệ chế biến rượu vang đang có triển vọng phát triển do nhu cầu tiêu dùng của thị trường dang ngày một tăng lên Hiện nay có khoảng 17 nhà máy chế biến quả xuất khẩu.Trong đó tông công ty quản lý 12 nhà máy và 5 nhà máy địa phương quản lý ( Sơn La, Sơn Tây, Hữu Giang, Linh Xuân, Tiền Giang) với tông công xuất 50.000 tấn /năm về đồ hộp và 25.000 tấn/năm về rau quả đông lạnh Hầu hết các thiết bị đều nhập từ các nước XHCN ( cũ) như Nga,
Trang 7Đức, Bungari, Balan, Hungari và đã sử dụng 20-30 năm nay nên thiết bị và công nghệ đã lạc hậu Những năm cao điểm, các nhà máy trên đã sản suất được 19.000 tấn quả đóng hộp ( 1987) và 20.000 tấn dứa đông lạnh(1984)
Từ sau 1990, khi bị mất thị trường truyền thống, quả được xuất sang thị trường Châu Á và Tây Âu , song mới ở dạng thăm dò, giới thiệu Do vậy hiện nay các nhà máy mới chỉ sử dụng 40-50% công suất và hiệu quả kinh tế đưa lại còn thấp Ngoài hệ thông các nhà máy chế biến nêu trên,vài năm gần đây hệ thống lò sấy thủ công chế biến long nhãn xuất khẩu sang Trung Quốc cũng được phát triển ở vùng nhãn đồng bằng Sông Cửu Long và các tỉnh có nhiều nhãn ở đồng bằng sông Hồng như Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam
Theo số liệu điều tra thì cả nước có khoảng 140 lò sấy, trong đó đồng bằng sông Cửu Long có 115 lò đồng bằng Sông Hồng có 25 lò, tiêu thụ khoảng 70% nhãn tươi trong vùng Khối lượng long nhãn thành phẩm khoảng
4000-5000 tấn
Chỉ từ năm 1981-1990 nghành rau quả xuất khẩu được khối lượng đáng kể
và thu được kim ngạch khá lớn Năm 1981 xuất được 42106 tấn sản phẩm thu được 11.992.000 USD ( chiếm 9,7% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản) Về xuất khẩu rau quả tươi chiếm 40-60% ( từ năm 1989-1990 chỉ còn chiếm 18-30%) kim ngạch chỉ đạo 32-36% tổng kim ngạch xuất khẩu.Trong đó nhóm gia
vị chiếm 5-15% nhưng kim ngạch xuất khẩu lại cao chiếm 25-30% Vì vậy,ta tăng sản phẩm chế biến, giảm xuất khẩu tươi (năm 1993 kim ngạch xuất khẩu còn 6,9 triệu USD)
2.3 Cây ăn quả còn có tác dụng lớn trong việc bảo vệ môi trường sinh thái với
các chức năng làm sạch môi trường, giảm tiếng ồn, làm rừng phòng hộ, làm đẹp cảnh quan
Nhiều cây giống ăn quả cho nguồn mật có chất lượng cao được nhiều người tiêu dùng ưa thích Ở vùng nhiệt đới cây ăn quả còn có tác dụng bảo vệ dất chống xói mòn, làm hàng rào cản bão ở các khu dân cư, đô thị người ta trồng cây ăn quả với mục đích cây cảnh, cây bóng mát Nhiều cây ăn quả có tán
Trang 8lá đẹp, màu sắc hấp dẫn dùng trồng trong công viên hoặc các công trình kiến trúc, các bảo tàng, bệnh viện hay các khu điều dưỡng Các vùng vải, nhãn ở Hưng Yên, Lục Ngạn vừa là nguồn sản phẩm dinh dưỡng quý vừa có độ che phủ chống xói mòn, bảo vệ đất với hiệu quả cao hơn nhiều so với các cây trồng trước đó
2.4 Sản xuất cây ăn quả góp phần tăng thu nhập
Một số cây ăn quả mặc dù có giá trị kinh tế cao như nhãn, vải, xoài, nhưng lại có thể tận dụng trồng ở đất qoanh vườn nhà, đất đồi và những đất chưa được khai thác góp phần tăng thu nhập cho nông dân
II Đặc điểm của sản xuất cây ăn quả
3.1 Đặc điểm kinh tế
Các loại cây ăn quả thường có chu kỳ sản xuất dài chỉ trồng một lần, đời sống cơ thể kéo dài và thu hoạch nhiều năm với năng suất cao, giá trị gấp 10-15 lần trồng lúa.Trong khi đó, đầu tư cho cây ăn quả không cao, ít sâu bệnh, độ rủi
ro thấp ( chủ yếu do điều kiện thời tiết mang lại hơn ) so với cây trồng khác Chính vì vậy ,cây ăn quả được đánh giá cao, giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng hiện nay ở nước ta
3.2 Đặc Điểm Kỹ Thuật
Cây ăn quả là loại cây trồng cạn, có tính chịu hạn cao, không kén đất, với khả năng này nó tận dụng được đất đai không thể trồng được cây lương thực, với kỹ thuật canh tác trên đất dốc, cây ăn quả có thể trụ lại và phát triển bình thường, sau thời kỳ kiến thiết cơ bản ( thường từ 3-4 năm) đến thời kỳ sản xuất kinh doanh, thời kì này kéo dài vài chục năm thậm chí kéo dài cả trăm năm Cho tới nay vẫn chưa xác định chắc chắn chu kì sản xuất của nó là bao nhiêu năm, điểm này rất thuận lợi cho việc sản xuất Tuy nhiên, do đặc điểm về kỹ thuật trong sản xuất dẫn đến tính thời vụ cao nếu chuyên môn hoá quá sâu.Để giảm bớt tính thời vụ trong việc phát triển ngành cây ăn quả cần lưu ý mấy vấn
đề sau:
Trang 9+ thực hiện chuyên môn hoá sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp bằng cách kết hợp cơ cấu cây ăn quả hợp lý,kết hợp cây ăn quả với các loại cây trồng
và vầt nuôi khác.Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý để sử dụng tối đa lực lượng lao động và sở dụng hợp lý các loại ạt tư kỹ thuật
+ Tạo ra các giống cây cho sản phẩm không trùng nhau trong một năm( cây trái vụ) để hạn chế tính thời vụ
III Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất cây ăn quả
1 Nhân tố tự nhiên
* Đất đai: là yếu tố sản xuất không thể thiếu được của mọi nhành sản xuất,
đặc biệt là ngành trồng trọt, trong đó có ngành rau quả Số lượng, chất lượng, vị trí của đất đai có ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành sản xuất câu ăn quả Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Châu Á, đất nước có chiều dài trên 15 vĩ
độ với mấy ngàn km giáp biển đông Đất đai nước ta rất phong phú, cả nước có
13 nhóm đất chính, trong đó nhóm đất đỏ chiếm gần 54% được phân bố ở trung
du miền núi phía Bắc Đây là nhóm đất có chất lượng tốt thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp lâu năm và đặc biệt là cây ăn quả Còn lại là tất cả các loại đất như: đất đen, đất xám, dất phù sa, đều thuận lợi cho việc phát triển cây
ăn quả
*Khí hậu: khí hậu là môi trường sống của các loại cây trồng Vì vậy, nếu khí
hậu thời tiết thuận lợi cây trồng phát triển tốt và ngược lại, nếu thời tiết không thuận lợi thì cây trồng không phát triển được hoặc kém phát triển
Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa với sự biến đổi khí hậu giữa các miền Bắc- Nam Điều đó cho phép nước ta trồng được nhiều loại hoa quả nhiệt đới, á nhiệt đới và một số rau quả gốc ôn đới, mùa vụ thu hoạch kế tiếp nhau nhiều tháng trong năm Việt Nam còn là một trong những vùng phát sinh của một số cây ăn quả như cam, quýt, vải, chuối và có nguồn gien di truyền thực vật phong phú, đa dạng về cây ăn quả, gia vị và hoa
Trang 10Bên cạnh những lợi thế sinh thái, rau quả nước ta cũng bị ảnh hưởngcủa một
số hạn chế và bất lợi của khí hậu đối với nông nghiệp như : bão lụt, thời tiết kém ổn định do gió mùa đông bắc, dẫn tới rủi ro về chất lượng
*Địa hình: Rải đều khắp từ Bắc tới Nam là địa hình từ núi cao đến đồng
bằng, sông suối và ven biển đã tạo nên những lợi thế về địa lý -sinh thái so với nhiều nước khác Các hệ thống giao thông đường bộ, đường biển và hàng không thuận tiện cho việc giao lưu hàng hóa quốc tế và khu vực
2 Nhân tố kinh tế xã hội
*Lao động: là yếu tố sản xuất, là nhân tố quyết định đến sự phát triển của
các ngành trong đó có ngành rau quả
Việt Nam là một nước nông nghiệp, hiện tại 80% dân số cả nước sống ở nông thôn và trên 70% lực lượng lao động toàn xã hội làm việc trong khu vực này Do vậy, có thể nói lực lượng lao động cuỷa nước ta rất dồi dào và có thể cung cấp đủ lao động cho sản xuất cây ăn quả
Người nông dân nước ta cần cù sáng tạo, qua nhiều thế hệ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trồng trọt, chọ giống rau đậu, cam, quýt, bưởi, hồng xoài, chôm chôm, thanh long Nông dân ở nhiều vùng rau quả thuyền thống đã thu được năng suất và lợi nhuận cao Tuy nhiên, chỉ với kinh nghiệm thì nhiều vấn
đề chưa giải quyết được, nhất là các khâu như: giống, phòng trừ sâu bệnh, xử lý sau thu hoạch.Nhìn chung, trình độ dân trí của nước ta còn thấp so với nhiều nước trên thế giới
*Cơ sở vật chất kỹ thuật: là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến việc sản
xuất cây ăn quả Hiện nay Việt Nam nhập khẩu nhiều dây chuyền sản xuất của một số nước trên thế giới do vậy nước ta đã có nhiều dây chuyền sản xuất hiện đại đưa vào sản xuất với công suất lớn, chất lượng cao Nhưng nhìn chung chúng ta vẫn còn nhiều công nghệ lạc hậu so với thé giới Vì vậy, sản lượng và chất lượng các loại sản phẩm chưa cao, khả năng cạnh tranh các loại sản phẩm nông nghiệp nước ta ( kể cả rau quả ) còn rất hạn chế