1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CƠ CẤU ĐẦU TƯ THEO NGÀNH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1996

30 507 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư theo ngành trên địa bàn hà nội giai đoạn 1996
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 1996
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 90,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của chính quyền, quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo vững chắc an ninh - quốc phòng.Trong đầu tư, đã xác định mục tiêu phát triển mạn

Trang 1

THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CƠ CẤU ĐẦU TƯ THEO NGÀNH TRÊN ĐỊA BÀN

HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1996-2000

2.1 Những đặc điểm kinh tế - xã hội cơ bản của Thủ đô Hà nội khi bước vào thời kỳ kế hoạch 5 năm 1996-2000 và những chủ trương chính sách trong đầu tư của Thành phố.

2.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội:

Năm năm 1991-1995 là thời kỳ mà kinh tế - xã hội Thủ đô đạt được những thành tựu đầy ấn tượng Hầu hết các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm đều đạt và vượt mức đề ra GDP tăng bình quân 12,52%/ năm, GDP bình quân đầu người tăng gần 10% /năm; giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 19,07%/ năm, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 4,82%/ năm; tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ tăng 4 lần; tổng kim ngạch xuất khẩu của địa phương tăng bình quân 14,6%/ năm

Trên cơ sở những thành quả đã đạt được của kế hoạch 5 năm và của cả thời kỳ đổi mới bắt đầu từ năm 1986, Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà nội lần thứ 12 đã đề ra phương hướng, mục tiêu cho kế hoạch 5 năm 1996-2000 như sau :

Mục tiêu tổng quát của thời kỳ 1996-2000

1 Đẩy nhanh hơn nữa nhịp độ tăng trưởng kinh tế với cơ cấu kinh tế phù hợp và hiệu quả kinh tế ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thủ đô và đất nước.

2 Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, tăng cường vai trò quản lý của các cấp chính quyền đối với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.

3 Tiếp tục hoàn chỉnh quy hoạch và quản lý xây dựng theo quy hoạch, cải tạo và xây dựng mới kết cấu hạ tầng, quản lý tốt đô thị, giữ gìn Thủ đô sạch đẹp.

4 Cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và văn hoá, môi trường sống của nhân dân, tăng hộ giầu, giảm hẳn hộ nghèo, chăm lo đời sống các đối tượng chính sách xã hội Kiên trì cuộc đấu tranh có hiệu quả chống tham nhũng và các tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống trật tự kỷ cương, văn minh, thanh lịch, gia đình văn hoá, xây dựng con người mới.

Trang 2

5 Tiếp tục giữ vững ổn định chính trị Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của chính quyền, quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo vững chắc an ninh - quốc phòng.

Trong đầu tư, đã xác định mục tiêu phát triển mạnh với 3 khâu đột phá

và trọng điểm đầu tư lớn: Xây dựng các khu công nghiệp tập trung, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du lịch và thương mại.

Thực hiện những chủ trương và định hướng trên, 5 năm qua Thành phố

- Tập trung đầu tư cho các chương trình, dự án trọng tâm, trọng điểm;

kế hoạch 5 năm 1996-2000 xác định các khâu đột phá và trọng điểm đầu tư gồm:

Tập trung đầu tư các khu công nghiệp tập trung; chú trọng các ngành công nghiệp chủ lực như cơ khí, điện tử, dệt da may, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp xây dựng; xây dựng kết cấu hạ tầng ( giao thông, vận tải, cấp thoát nước ); xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du lịch; xây dựng một số siêu thị.

- Tăng cường xã hội hoá đầu tư phát triển ở một số lĩnh vực như y tế, giáo dục, vệ sinh môi trường, xây dựng đường làng ngõ xóm theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm.

- Kết hợp nhiều nguồn vốn đầu tư cho mỗi dự án và lồng ghép các dự án đầu tư nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư từ nhiều nguồn.

- Ưu tiên tập trung vốn cho các công trình sớm hoàn thành đưa vào sử dụng.

- Chú trọng thu hút mọi nguồn vốn cho đầu tư phát triển, cả vốn trong nước và vốn đầu tư nước ngoài.

2.1.2 Các điều kiện tự nhiên-Xã hội tác động đến phát triển kinh tế Thủ đô

Trang 3

2.1.2.1 Vị trí địa lý - chính trị: Thủ đô Hà nội nằm ở trung tâm đồng bằng

Bắc bộ Với vị trí địa lý và địa thế tự nhiên của mình, Hà nội đã sớm có một vai trò đặc biệt trong sự hình thành và phát triển của dân tộc Việt nam Nhiều triều đại đã chọn các đế đô nằm bao quanh Hà nội trong vòng bán kính 20-30

km Từ năm 1010 Hà nội đã được Lý Công Uẩn chọn làm Thủ đô của cả nước Đảng và Nhà nước đã xác định:

Hà nội là Thủ đô của nước Cộng hoà XHCN Việt nam NQ

15 của Bộ chính trị và Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội khẳng định: Thủ đô Hà nội

là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước

Nhờ vị trí là trung tâm của vùng Bắc bộ và là Thủ đô của cả nước, Hà nội có khả năng to lớn để thu hút các nguồn lực của cả nước, của bên ngoài cho sự phát triển của mình Đồng thời sự phát triển của Hà nội có vai trò to lớn thúc đẩy sự phát triển của cả vùng, cũng như cả nước.

2.1.2.2 Trình độ dân trí và lao động: Lực lượng lao động của Hà nội khá dồi dào, số người trong độ tuổi lao động chiếm xấp xỉ 58-60 % dân số, trong đó số người có khả năng lao động chiếm 76 % nguồn lao động

Với đội ngũ hiện có trên 14000 cán bộ trên đại học, 20,6 vạn người có trình độ đại học và cao đẳng, 11 vạn người có trình độ trung cấp Hà nội là địa phương có chất lượng lao động khá nhất trong cả nước, có nhiều nghề tinh sảo ở đỉnh cao của đất nước.Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 30% ( tỷ lệ chung

cả nước 9,77% ).

Hà nội hiện có 43 trường đại học, cao đẳng quốc lập và dân lập (chiếm 60% cả nước), 34 trường trung học chuyên nghiệp, 41 trường dậy nghề,112 viện nghiên cứu chuyên ngành ( 86% cả nước ) Đây là một lợi thế rất lớn của

Hà Nội so với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước Nếu có chính sách khai thác và phối hợp tốt thì lực lượng cán bộ khoa học này sẽ có đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế của cả vùng và đất nước.

Hà nội là nơi tập trung các cơ quan ngoại giao đoàn, các đại sứ quán, các tổ chức quốc tế Đây là ưu thế để tăng thêm trí tuệ cho công tác tư vấn trong việc hoạch định các chính sách phát triển Tại Hà nội tập trung tất cả các

cơ quan đầu não, phần lớn các Viện nghiên cứu, các trường đại học với đông đảo đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm.

Trang 4

2.1.2.3 Hạ tầng kỹ thuật: Hà nội là một đầu mối giao thông quan trọng, từ

Hà nội có thể đi mọi miền đất nước bằng một hệ thống giao thông thuận tiện

Về hàng không Hà nội có sân bay Quốc tế Nội Bài (thuộc huyện Sóc sơn, cách trung tâm Hà nội khoảng 40 km), sân bay Gia lâm và sân bay Bạch mai.

Hà nội còn là đầu mối giao thông đường sắt trong nước và đường sắt liên vận quốc tế sang Trung quốc rồi đi Châu Âu Đường bộ và đường thuỷ của Hà Nội cũng rất thuận lợi cho giao lưu buôn bán giữa các tỉnh, các vùng, các nước và giao lưu với quốc tế

Cùng với hệ thống giao thông, so với các địa phương trong vùng thì Hà

Nội có hệ thống thông tin liên lạc và hệ thống cấp điện phát triển nhất Tổng số

máy điện thoại của Hà Nội hiện đạt khoảng 340.000 máy, mật độ đạt khoảng

15 máy/100 dân Có 61 trung tâm chuyển mạch, 74 tổng đài thoả mãn liên lạc trong nước và nước ngoài từ Hà Nội đi và nơi khác đến Các dịch vụ nhắn tin, điện thoại di động, truyền dữ liệu, internet, điện thoại dùng thẻ được phát triển.

2.2 Thực trạng cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế của Hà Nội.

2.2.1.Thực trạng vốn đầu tư xã hội và cơ cấu nguồn vốn đầu tư của Thủ đô giai đoạn 1996-2000

Trong 5 năm qua, vốn đầu tư xã hội của Hà nội đạt khoảng 66.358 tỷ đồng Trong đó vốn đầu tư trong nước là 39.008 tỷ đồng; vốn đầu tư nước ngoài là 27.350 tỷ đồng.

Tốc độ tăng vốn đầu tư xã hội bình quân hàng năm đạt 0,68%/năm So với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của thời kỳ này là 10,6%/năm thì vốn đầu tư xã hội của Hà nội tăng rất thấp.

Nguyên nhân của tình trạng vốn đầu tư của Hà nội tăng thấp so với mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là do trong giai đoạn này vốn đầu

tư nước ngoài chiếm một tỉ lệ cao trong tổng vốn đầu tư có sự giảm sút mạnh vào những năm cuối Vốn đầu tư xã hội tăng thấp và rất không ổn định, nhất là

sự giảm sút mạnh của vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nguyên nhân quan trọng làm hạn chế tăng trưởng và phát triển kinh tế Thủ đô giai đoạn 1996-2000, hạn chế sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Biểu 3: Quy mô và tốc độ tăng vốn đầu tư xã hội của Hà Nội

Trang 5

thời kỳ kế hoạch 5 năm 1996-2000

I Đầu tư trong nước 6043,9 6612,2 6095 8450 11807 39008,1

1 Vốn đầu tư của nhà nước 1438,9 1827,2 1875 2173 2892 10206,1

2 Vốn doanh nghiệp NN đầu tư 2300 2325 1960 3286 4720 14591

3 Vốn ĐT của kinh tế ngoài NN 1990 2088 1860 2341 3465 11744

A Các doanh nghiệp ngoài nhà nước 1142 1235 960 1241 2315 6893

I Đầu tư trong nước 9,40 -7,82 38,64 39,73 18,22

b Vốn tín dụng đầu tư Nhà Nước 55,71 11,20 -8,21 18,42 17,13

3 Vốn ĐT của kinh tế ngoài NN 4,92 -10,92 25,86 48,01 14,87

4 Vốn dân góp xây đường làng ngõ xóm 33,33 -25,00 46,67 -18,18 4,66

II Vốn đầu tư nước ngoài 26,47 -18,05 -62,00 -42,87 -31,13

Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội và Sở Kế hoạch & Đầu tư Hà Nội.

Đồ thị 1: Tổng vốn đầu tư xã hội của Hà Nội giai đoạn 1996-2000

Trang 6

Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội

Vốn đầu tư nước ngoài sau khi đạt đỉnh cao là 8824 tỷ đồng vào năm

1997 đã giảm mạnh và liên tục còn 7231 tỷ đồng năm 1998, còn 2748 tỷ đồng năm 1999 và còn 1570 tỷ đồng năm 2000, làm cho cả giai đoạn 5 năm 1996-

2000 vốn đầu tư nước ngoài giảm bình quân 31,13%/năm

Vốn nước ngoài giảm là do vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh trong 3 năm 1998-2000 Năm 1998 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giảm 20,58% so với năm 1997, năm 1999 giảm 65,69% so với năm 1998, năm

2000 giảm 42,87% so với năm 1999.Vốn viện trợ chính thức (ODA) tuy không

ổn định, song vẫn duy trì tốc độ tăng bình quân cả giai đoạn là 10,48%/năm

Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng giảm mạnh vốn đầu tư nước ngoài

có nhiều, song theo tôi ảnh hưởng mạnh nhất và trực tiếp nhất là do:

Thứ nhất, sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực

làm cho nền kinh tế của chính các nước trong khu vực gặp nhiều khó khăn,chính phủ một số nước đã thi hành chính sách hạn chế đầu tư ra nước ngoài để tập trung vốn cho phát triển kinh tế trong nước; một số nhà đầu tư nước ngoài do khó khăn của nền kinh tế trong nước đã không còn đủ khả năng thực hiện đúng tiến độ các dự án đầu tư đã được cấp phép và không mở rộng được hoạt động đầu tư.

Thứ hai, do cạnh tranh trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài ngày càng

gay gắt giữa các nước, giữa các địa phương trong nước đã làm cho Hà Nội ngày càng mất dần thế mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài so với giai đoạn đầu ( do môi trường đầu tư nước ngoài của các nước được cải thiện nhanh hơn, nhất là các thủ tục hành chính được đơn giản hoá; do cơ sở hạ tầng: giao thông, điện, thông tin liên lạc của các địa phương đã được nâng lên đạt mức khá cùng với giá thuê đất thấp hơn đã hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài).

Thứ ba, việc chậm giải ngân các dự án ODA so với hiệp định chủ yếu do

những khó khăn về giải phóng mặt bằng đã hạn chế nhiều đến việc huy động nguồn vốn này cho đầu tư phát triển của Thủ đô trên cả hai phương diện là thực hiện các dự án đã ký kết và kêu gọi những dự án mới.

Trang 7

Đồ thị 2: Vốn đầu tư nước ngoài vào Hà nội giai đoạn 2000

1996-Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội

Ngược lại với đầu tư nước ngoài, 5 năm qua vốn đầu tư trong nước của

Hà Nội tăng mạnh từ 6.043,9 tỷ đồng năm 1996 lên 11.807 tỷ đồng năm 2000, đạt tốc độ tăng bình quân 18,22%/năm

Trong đó, tăng cao nhất là vốn dân tự xây nhà bình quân tăng 35,12%/năm, tiếp theo là vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước với mức tăng bình quân 19,69%/năm, vốn đầu tư của nhà nước cũng được tăng mạnh với mức tăng bình quân 19,07%/năm, vốn của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng bình quân 14,87%/năm.

Đồ thị 3: Vốn đầu tư trong nước của Hà Nội giai đoạn 1996-2000

Trang 8

Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội

Tỷ trọng vốn đầu tư xã hội của Hà nội so với GDP giảm liên tục từ 75,3% năm 1996 xuống còn 45,2% năm năm 2000 song vẫn chiếm một tỷ lệ cao Nếu so với Thành phố Hồ Chí Minh thì trong giai đoạn 1996-1999, tỷ lệ đầu tư/GDP của Hà nội thường cao hơn từ 1,5-1,9 lần; còn nếu so với cả nước thì tỷ lệ này thường cao hơn khoảng hơn 2 lần.

Trang 9

Biểu 4: Tỷ lệ đầu tư phát triển /GDP của Hà Nội so với

35 24 19 18 34 28 23 41 29 25 20 20 23

34 28 27 22 30 30 30 42 24 28 20 17 20

39 30 32 24 30 37 38 35 24 41 17 16 22 Nguồn: IMF, 1998, Hiệu quả đầu tư tại Thành phố Hồ Chí Minh (2000)

Đáng chú ý là tỷ trọng vốn đầu tư trong nước so với GDP của Hà Nội đã tăng từ 35% năm 1996 lên 39,9% vào năm 2000, góp phần quan trọng khắc phục những khó khăn do đầu tư nước ngoài giảm, chặn đà giảm sút tăng

Trang 10

trưởng kinh tế Thủ đô Tuy nhiên, bình quân 5 năm qua tỷ trọng vốn đầu tư trong nước của Hà Nội so với GDP chỉ đạt 32,9%, thấp hơn năm 1996 tới 2,1% Điều này cho thấy, tiềm năng vốn của Thành phố còn nhiều chưa được huy động tối ưu cho đầu tư phát triển trong những năm qua.

Biểu 6: Tỷ trọng vốn đầu tư xã hội và vốn đầu tư trong nước so với

GDP của Hà Nội giai đoạn 1996 -2000

200 0

BQ 96-2000

Tổng đầu tư xã hội/GDP 75,3 75,2 55,3 41,4 45,2 56,0

Đầu tư trong nước/GDP 35,0 32,2 25,3 31,3 39,9 32,9

Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội

Nhân tố quan trọng thúc đẩy đầu tư trong nước tăng nhanh là nhờ cơ chế quản lý mới, các thành phần kinh tế đã có thêm cơ hội, điều kiện vừa hợp tác, vừa cạnh tranh cùng đầu tư phát triển Khu vực Nhà nước được sắp xếp lại, kinh tế gia đình, cá thể, tiểu thủ công nghiệp không còn chịu sức ép về luật

lệ và tâm lý e ngại như trước đây đã từng bước phát triển và tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội.

Thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản Nhà nước đã hình thành và phát triển Các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần được khuyến khích phát triển

Đầu tư trong nước tăng nhanh còn do Nhà Nước đã tăng cường động viên tài chính nhằm đảm bảo nguồn vốn cho đầu tư phát triển Vốn đầu tư của Nhà nước ( bao gồm vốn ngân sách đầu tư và vốn tín dụng nhà nước) đã tăng

từ 1438,9 tỷ đồng năm 1996 tăng lên 2892 tỷ đồng năm 2000.

Cùng với sự tăng lên của vốn đầu tư, cơ cấu đầu tư cũng có sự thay đổi theo hướng ngày càng đa dạng, vốn đầu tư trong nước ngày càng chiếm tỷ trọng lớn và giữ vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế Thủ đô Vốn đầu tư nước ngoài từ 53,58% năm 1996 đã giảm xuống chỉ còn 11,74% năm 2000 ( giảm tới 41,84% sau 4 năm)

Vốn trong nước tăng mạnh cả về số tuyệt đối và số tương đối, số tuyệt đối tăng từ 6.043,9 tỷ đồng năm 1996 lên 11.807 tỷ đồng năm 2000, tỷ trọng

Trang 11

trong tổng vốn đầu tư xã hội từ 46,42% năm 1996 tăng lên 88,26% năm 2000

Trong đó đáng chú ý là sự tăng lên nhanh của nguồn vốn nhà nước, từ 11,05% năm 1996 tăng lên 21,62% năm 2000, chủ yếu do vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tăng từ 9,23% lên 18,26%; cùng với vốn đầu tư của nhà nước, vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước cũng tăng mạnh ( vốn do doanh nghiệp nhà nước đầu tư từ 17,66% năm 1996 tăng lên 35,28% năm 2000, vốn

do các doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng từ 15,28% lên 25,9%) Sự giảm sút của vốn đầu tư nước ngoài là do giảm sút mạnh vốn đầu tư trực tiếp ( FDI) trong các năm 1999 và 2000, nguồn vốn này từ chỗ chiếm trên 50% vốn đầu tư

xã hội trong các năm 1996-1998 đã giảm mạnh xuống còn 20,91% năm 1999

0

100,0 0

100,0 0

100,0 0

100,0 0

100,0 0

I Đầu tư trong nước 46,42 42,84 45,74 75,46 88,26 58,78

1 Vốn đầu tư của nhà nước 11,05 11,84 14,07 19,41 21,62 15,38

a Vốn ngân sách 9,21 9,43 10,96 16,01 18,26 12,58

b Vốn tín dụng đầu tư NN 1,84 2,41 3,11 3,39 3,36 2,80

2 Vốn doanh nghiệp NN đầu tư 17,66 15,06 14,71 29,34 35,28 21,99

3 Vốn ĐT của kinh tế ngoài NN 15,28 13,53 13,96 20,91 25,90 17,70

4 Vốn dân góp xây đường làng ngõ xóm 1,15 1,30 1,13 1,96 1,35 1,36

5 Vốn dân tự xây nhà 1,27 1,11 1,88 3,57 4,11 2,32

II Vốn đầu tư nước ngoài 53,58 57,16 54,26 24,54 11,74 41,22

Nguồn: Cục Thống kê và Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội.

Sự biến đổi cơ cấu vốn đầu tư từ chỗ tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài chiếm phần hơn ( trên 50%) sang chỗ tỷ lệ vốn đầu tư trong nước chiếm phần chủ yếu (năm 2000 vốn trong nước chiếm 88,26%) và tăng với tốc độ cao trong những năm gần đây vừa thể hiện xu thế coi trọng phát huy nội lực, vừa cho thấy nền kinh tế Thủ đô đã phát triển với một thế và lực mới

Nếu môi trường đầu tư được cải thiện, trong những năm tới chúng ta có thể huy động được một lượng vốn nhiều hơn cho đầu tư phát triển của Thủ đô,

Trang 12

trong đó nguồn vốn trong nước sẽ đóng vai trò quyết định, vốn nước ngoài có vai trò quan trọng Xu thế tăng nhanh vốn đầu tư của tất cả các thành phần, các khu vực kinh tế trong nước, nhất là tăng cao trong năm 2000 cho thấy chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Thủ đô nói riêng và Việt nam nói chung trong thời kỳ đổi mới ngày càng được sự quan tâm của Nhà nước và sự hưởng ứng của nhân dân, nhất là giới doanh nhân.

Mặc dù vậy, nếu không xét ảnh hưởng sự giảm sút của đầu tư nước ngoài làm cho cơ cấu vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong nước tăng lên thì trong 5 năm qua, tỉ lệ vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước ngày càng tăng, kinh tế ngoài nhà nước ngày càng giảm Điều đó cho thấy chủ trương khơi dậy mạnh các tiềm năng vốn trong dân, đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động đầu tư chưa được thực hiện tốt Tỉ lệ vốn đầu tư Nhà nước ( vốn ngân sách và vốn tín dụng đầu tư ) đã tăng từ 23,81% lên 24,46%; vốn doanh nghiệp nhà nước tự đầu tư tăng từ 38,05% lên 39,98%; vốn của kinh tế ngoài nhà nước( các doanh nghiệp ngoài nhà nước và vốn của các hộ cá thể) giảm từ 32,93% xuống còn 29,35%; vốn của dân đóng góp xây dựng đường làng ngõ xóm giảm từ 2,48% xuống còn 1,52%

Biểu 8 Cơ cấu vốn đầu tư trong nước của các thành phần kinh tế

1 Vốn đầu tư của nhà nước 23,81 27,63 30,76 25,72 24,49 26,16

a Vốn ngân sách 19,85 22,00 23,97 21,22 20,68 21,41

b Vốn tín dụng đầu tư NN 3,96 5,63 6,79 4,50 3,81 4,76

2 Vốn doanh nghiệp NN đầu tư 38,05 35,16 32,16 38,89 39,98 37,41

3 Vốn ĐT của kinh tế ngoài NN 32,93 31,58 30,52 27,70 29,35 30,11

a Các doanh nghiệp ngoài nhà nước 18,90 18,68 15,75 14,69 19,61 17,67

b Các hộ cá thể 12,54 12,90 14,77 13,02 9,74 12,21

4 Vốn dân góp xây đường làng ngõ xóm 2,48 3,02 2,46 2,60 1,52 2,31

5 Vốn dân tự xây nhà 2,73 2,60 4,10 4,73 4,66 3,94 Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội

2.2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hà nội giai đoạn 1996 -2000

Trang 13

2.2.2.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế

Trong 5 năm qua, sự tác động của cơ cấu đầu tư đến cơ cấu các thành phần kinh tế Thủ đô tính theo GDP là không đáng kể Khu vực kinh tế quốc doanh vẫn chiếm tỷ trọng trên 65% GDP của Thành phố, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh mặc dù được khuyến khích phát triển song tỷ trọng đóng góp trong GDP của bộ phận kinh tế này không những không tăng mà còn giảm từ 23,7% năm 1996 xuống còn 21,5% năm 2000 Riêng khu vực kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài mặc dù vốn đầu tư giảm mạnh trong hai năm gần đây, song tỉ trọng GDP của bộ phận kinh tế này vẫn tăng liên tục từ 10,2% năm 1996 lên 11% năm 1997, lên 12,6% năm 1998, lên 13% năm 1999 và lên 13,3% năm 2000.

Mặc dù vốn đầu tư nước ngoài giảm liên tiếp trong 2 năm gần đây, nhưng tỉ trọng đóng góp trong GDP vẫn tăng theo tôi đó là do: một phần do ảnh hưởng trễ của sự tác động đầu tư đến tăng trưởng kinh tế, thể hiện tác động trong dài hạn của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế; một phần do đầu tư nước ngoài sử dụng công nghệ hiện đại, tổ chức sản xuất hợp lý và quản lý khoa học nên hiệu quả đầu tư cao hơn khu vực kinh tế trong nước Tuy nhiên, vốn đầu tư nước ngoài giảm mạnh trong 2 năm gần đây cũng sẽ cho thấy một

xu thế giảm sút tỉ trọng GDP của khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài ở Hà Nội trong 2 năm tới.

Biểu 9: Tình hình chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế của Hà Nội

Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội

Trang 14

Các nghiên cứu về hệ số ICOR cho thấy nhận định trên là hợp lý Trong thời gian từ 1996-2000, hệ số ICOR chung tăng từ 4,7 lên 5,3 còn hệ số ICOR của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh từ 20,9 xuống còn 4,5.

Biểu 10: Hiệu quả đầu tư tính bằng hệ số ICOR theo khu vực kinh tế

ở Hà Nội giai đoạn 1996-2000

1996 1997 1998 1999 2000 BQ

2000

A Tổng GDP tăng thêm(tỷ đồng) 2793 3242 3549 2956 2531 15071

1 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 318 429 381 214 248 1590

2 Khu vực ngoài nhà nước 774 99 644 1014 492 3023

1 ICOR khu vực đầu tư nước ngoài 20,9 19,9 17,8 10,9 4,5 16,0

2 ICOR Khu vực ngoài nhà nước 2,6 21,1 2,9 2,3 7,0 3,9

Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội

Xu hướng biến đổi của cơ cấu đầu tư và cơ cấu thành phần kinh tế của

Hà Nội 5 năm qua cho thấy, chủ trương đa dạng hoá các thành phần kinh tế đã

đi vào cuộc sống ở Thủ đô, song tỉ trọng vốn đầu tư cũng như tỉ trọng đóng góp trong GDP của khu vực kinh tế ngoài nhà nước, của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn thấp so với tiềm năng phát triển của các khu vực này Kinh tế nhà nước vẫn chiếm một tỉ trọng cao.

2.2.2.2 Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

Kế hoạch 5 năm 1996 -2000 đã đề ra chỉ tiêu phấn đấu chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đến năm 2000

cơ cấu kinh tế ngành theo GDP là: Công nghiệp mở rộng 39%; Dịch vụ 57,7%; Nông nghiệp 3,3%.

Thực tiễn 5 năm qua, cơ cấu kinh tế của Hà Nội đã có sự chuyển biến theo hướng tăng tỉ trọng GDP công nghiệp từ 34,88% năm 1996 lên 38,48% năm 2000 ( thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch 0,52%), tỉ trọng GDP nông nghiệp giảm

từ 5,13% năm 1996 xuống còn 3,49% năm 2000 ( cao hơn so với chỉ tiêu kế hoạch 0,14%), tỉ trọng GDP dịch vụ từ 59,99% năm 1996 giảm xuống còn 58,03% năm 2000 ( cao hơn so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra 0,23%).

Biểu 11: Cơ cấu kinh tế ngành (theo GDP) ở Thủ đô Hà Nội

Trang 15

Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội

Xét về mặt hình thức biểu hiện thì cơ cấu kinh tế trên là cơ cấu của một nền kinh tế phát triển với tỉ trọng GDP dịch vụ và công nghiệp cao, GDP nông nghiệp chiếm một tỉ lệ không đáng kể.

Tuy nhiên, khi đi sâu vào phân tích cụ thể cơ cấu của từng ngành thì thấy rằng:

Ngành dịch vụ có tỉ trọng GDP cao, song những lĩnh vực dịch vụ "hiện đại" có tác dụng hỗ trợ các ngành kinh tế khác phát triển như: tài chính, tín dụng; hoạt động khoa học công nghệ; giáo dục, đào tạo còn chiếm tỉ trọng nhỏ, thậm trí lĩnh vực dịch vụ khoa học công nghệ còn giảm tỉ trọng từ 2,51% năm

1996 xuống còn 1,96% năm 2000; lĩnh vực vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc cũng giảm từ 15,75% năm 1996 xuống còn 11,79% năm 2000 Như vậy chuyển dịch cơ cấu cơ cấu ngành dịch vụ của Hà Nội trong giai đoạn 1996 -

2000 đã không đáp ứng được yêu cầu đi vào phát triển các lĩnh vực dịch vụ hiện đại mà một nền kinh tế phát triển đòi hỏi.

Trong công nghiệp, các ngành công nghiệp truyền thống ( có tỉ trọng lớn trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp Thành phố) như thực phẩm, đồ uống; thuốc lá, dệt; sản xuất xe có động cơ đều có tốc độ tăng trưởng chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp trên địa bàn nên tỉ trọng trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của những ngành này giảm mạnh

Ngành may mặc và da giầy có tốc độ tăng cao và đóng góp ngày càng lớn cho kinh tế Thủ đô về giá trị sản xuất công nghiệp cũng như thu hút nhiều lao động

Ngày đăng: 08/10/2013, 17:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1:         Tổng vốn đầu tư xã hội của Hà Nội giai đoạn 1996-2000 - THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CƠ CẤU  ĐẦU TƯ  THEO NGÀNH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1996
th ị 1: Tổng vốn đầu tư xã hội của Hà Nội giai đoạn 1996-2000 (Trang 5)
Đồ thị 3:      Vốn đầu tư trong nước của Hà Nội giai đoạn 1996-2000 - THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CƠ CẤU  ĐẦU TƯ  THEO NGÀNH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1996
th ị 3: Vốn đầu tư trong nước của Hà Nội giai đoạn 1996-2000 (Trang 7)
Đồ thị 2:     Vốn đầu tư nước ngoài vào Hà nội giai đoạn 1996- 1996-2000 - THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CƠ CẤU  ĐẦU TƯ  THEO NGÀNH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1996
th ị 2: Vốn đầu tư nước ngoài vào Hà nội giai đoạn 1996- 1996-2000 (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w