Ngành Hóa học cùng các ngành khoa học khác đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội, góp phần làm cho cuộc sống vật chất, tinh thần của con người ngày càng phong phú, chất lượng cuộc sống được cải thiện và nâng cao. Mặt khác, cũng chính sự phát triển ấy đã tạo ra những ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đối với môi trường và an toàn thực phẩm.Hiện nay ở Việt Nam, cùng với sự cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, chương trình giáo dục phổ thông cũng đã lồng ghép các nội dung nói trên nhằm giúp học sinh hình thành ý thức bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Mục đích là nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử dụng môi trường, thực phẩm và lao động theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai. Nhà trường là nơi đào tạo thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước, những người sẽ làm nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục sau này. Do đó, nếu học sinh có đầy đủ những nhận thức về bảo vệ môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm, thì từ khi còn đang học trên ghế nhà trường cho đến khi bước chân vào xã hội, dù cho họ có làm việc gì, ở bất cứ nơi đâu, bất kì cương vị hoạt động nào, cũng đều có trách nhiệm và những hành động thiết thực nhằm bảo vệ môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm.Tuy nhiên, việc giáo dục môi trường và an toàn thực phẩm trong trường phổ thông hiện nay còn gặp nhiều khó khăn như: học sinh chưa có hứng thú với những nội dung mang tính lý thuyết về môi trường, nhà trường chưa có đủ điều kiện cơ sở vật chất để ứng dụng nội dung giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm trong các bài giảng trên lớp, nguồn tư liệu để giáo viên sử dụng trong việc lồng ghép nội dung giáo dục môi trường, an toàn thực phẩm rất nhiều nhưng thiếu tính hệ thống…Hoá học là khoa học thực nghiệm, hoá học có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Hoá học đóng góp một phần rất quan trọng vào giải thích các hiện tượng trong thực tế, giúp cho mỗi chúng ta có ý thức hơn về bảo vệ môi trường. Trong dạy học Hoá học ở trường phổ thông, nếu chúng ta lồng ghép được những bài tập về bảo vệ môi trường có liên quan đến bài học thì sẽ làm cho tiết học trở nên sinh động hơn, gây hứng thú và sức thu hút đối với học sinh và thông qua đó tuyên truyền giáo dục môi trường cho học sinh.Trong lí luận dạy học, bài tập được coi là một phương pháp dạy học vận dụng. Nó được áp dụng phổ biến và thường xuyên ở tất cả các cấp học và các loại trường khác nhau. Bài tập được sử dụng ở tất cả các khâu của quá trình dạy học, nghiên cứu tài liệu mới, củng cố, vận dụng, kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh. Như vậy sử dụng bài tập hoá học là một phương pháp dạy học Hoá học rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học Hoá học ở các trường phổ thôngXuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC NHẰM GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”, nhằm mục đích xây dựng ý thức bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm của các em học sinh, đồng thời cung cấp nguồn tư liệu có hệ thống giúp giáo viên dễ dàng hơn trong việc lồng ghép nội dung giáo dục môi trường và an toàn thực phẩm vào giảng dạy.
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA HỌC
-?&@ -TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: BÀI TẬP HÓA HỌC PHỔ THÔNG
ĐỀ TÀI: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA
HỌC NHẰM GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM Ở TRƯỜNG
Trang 2MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
PHẦN 2: NỘI DUNG 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 Tổng quan về môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm 3
1.1.1 Vấn đề môi trường 3
1.1.2 Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm 6
1.2 Bài tập hóa học 10
1.2.1 Khái niệm về bài tập hóa học 10
1.2.2 Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học 11
1.2.3 Phân loại bài tập hóa học 12
Chương 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC NHẰM GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM Ở TRƯỜNG THPT 21
2.1 Các nội dung chương trình hóa học THPT có liên quan đến giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm 21
2.1.1 Chương trình Hóa học lớp 10 21
2.1.2 Chương trình Hóa học lớp 11 22
2.1.3 Chương trình Hóa học lớp 12 23
2.2 Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học tích hợp giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường THPT 24
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng 24
2.2.2 Quy trình xây dựng bài tập Hóa học có nội dung giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm 25
2.2.3 Một số ví dụ 26
2.2.4 Hệ thống bài tập Hóa học có nội dung giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường THPT 29
Trang 32.2.5 Sử dụng hệ thống các bài tập Hóa học có nội dung giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học Hóa học 38
PHẦN 3: KẾT LUẬN 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn TS Đặng Thị Thuận An em đã thực
hiện đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm giáo dục môi trường và
vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường trung học phổ thông”.
Để hoàn thành tiểu luận này, Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô ở khoa Hóa Học trường Đại học Sư phạm Huế đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình
đã truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập.
Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Đặng Thị Thuận An đã tận tâm, chu đáo hướng dẫn trong suốt quá trình em thực hiện tiểu luận này Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn cô.
Mặc dù đã cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do mới bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học cũng như kiến thức còn hạn chế và gặp nhiều bỡ ngỡ Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót mà bản thân chưa thấy được, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của Thầy Cô và các bạn học cùng lớp để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên thực hiệnNguyễn Hồ Ngọc Thư – Hóa 3B
Trang 6PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngành Hóa học cùng các ngành khoa học khác đã đóng góp rất lớn vào sự pháttriển kinh tế, xã hội, góp phần làm cho cuộc sống vật chất, tinh thần của con ngườingày càng phong phú, chất lượng cuộc sống được cải thiện và nâng cao Mặt khác,cũng chính sự phát triển ấy đã tạo ra những ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đối vớimôi trường và an toàn thực phẩm
Hiện nay ở Việt Nam, cùng với sự cố gắng trong việc thực hiện chính sách vàpháp luật về bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, chương trình giáo dục phổthông cũng đã lồng ghép các nội dung nói trên nhằm giúp học sinh hình thành ý thứcbảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.Mục đích là nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử dụngmôi trường, thực phẩm và lao động theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại vàtương lai Nhà trường là nơi đào tạo thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước,những người sẽ làm nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục sau này Do đó, nếu học sinh cóđầy đủ những nhận thức về bảo vệ môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm, thì từ khicòn đang học trên ghế nhà trường cho đến khi bước chân vào xã hội, dù cho họ có làmviệc gì, ở bất cứ nơi đâu, bất kì cương vị hoạt động nào, cũng đều có trách nhiệm vànhững hành động thiết thực nhằm bảo vệ môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm.Tuy nhiên, việc giáo dục môi trường và an toàn thực phẩm trong trường phổthông hiện nay còn gặp nhiều khó khăn như: học sinh chưa có hứng thú với những nộidung mang tính lý thuyết về môi trường, nhà trường chưa có đủ điều kiện cơ sở vậtchất để ứng dụng nội dung giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm trongcác bài giảng trên lớp, nguồn tư liệu để giáo viên sử dụng trong việc lồng ghép nộidung giáo dục môi trường, an toàn thực phẩm rất nhiều nhưng thiếu tính hệ thống…Hoá học là khoa học thực nghiệm, hoá học có vai trò rất quan trọng trong cuộcsống của chúng ta Hoá học đóng góp một phần rất quan trọng vào giải thích các hiệntượng trong thực tế, giúp cho mỗi chúng ta có ý thức hơn về bảo vệ môi trường Trongdạy học Hoá học ở trường phổ thông, nếu chúng ta lồng ghép được những bài tập vềbảo vệ môi trường có liên quan đến bài học thì sẽ làm cho tiết học trở nên sinh độnghơn, gây hứng thú và sức thu hút đối với học sinh và thông qua đó tuyên truyền giáodục môi trường cho học sinh
Trang 7Trong lí luận dạy học, bài tập được coi là một phương pháp dạy học vận dụng.
Nó được áp dụng phổ biến và thường xuyên ở tất cả các cấp học và các loại trườngkhác nhau Bài tập được sử dụng ở tất cả các khâu của quá trình dạy học, nghiên cứutài liệu mới, củng cố, vận dụng, kiểm tra - đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh.Như vậy sử dụng bài tập hoá học là một phương pháp dạy học Hoá học rất quan trọngtrong việc nâng cao chất lượng dạy học Hoá học ở các trường phổ thông
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC NHẰM GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”, nhằm mục
đích xây dựng ý thức bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm của các em họcsinh, đồng thời cung cấp nguồn tư liệu có hệ thống giúp giáo viên dễ dàng hơn trongviệc lồng ghép nội dung giáo dục môi trường và an toàn thực phẩm vào giảng dạy
2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu một số bài tập Hóa học nhằm giáo dục môi trường và vệ sinh an toànthực phẩm cho học sinh ở trường trung học phổ thông
3 Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua bài tập hóa họctrong chương trình THPT
4 Phương pháp nghiên cứu
- Đọc và nghiên cứu tài liệu có liên quan đến đề tài
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa
Trang 8PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 1.1.1 Vấn đề môi trường
1.1.1.1 Khái niệm môi trường
Hiện nay có nhiều khái niệm về môi trường:
- Môi trường theo nghĩa khái quát: “Môi trường là một tập hợp tất cả các thành
phần của thế giới vật chất bao quanh có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triểncủa mỗi sinh vật Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trongmột môi trường nhất định” Trong tiếng Anh, môi trường là “environment”, tiếng Pháp
là “environnement” đều có nghĩa là “cái bao quanh”, tiếng Trung Quốc gọi môi trường
là “hoàn cảnh” cũng có nghĩa tương tự
- Môi trường nhân văn – môi trường sống của con người hay còn gọi là môisinh (living environment): là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế
xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của từng cá nhân và cảcộng đồng Nhìn rộng hơn, môi trường sống của con người bao gồm cả vũ trụ bao la,trong đó hệ Mặt Trời và Trái Đất là bộ phận có ảnh hưởng trực tiếp và rõ nét nhất.Trong môi trường này luôn luôn tồn tại sự tương tác lẫn nhau giữa các thành phần vôsinh và hữu sinh Cấu trúc của môi trường tự nhiên gồm hai thành phần cơ bản: môitrường vật lý và môi trường sinh vật
- Môi trường vật lý (physical environment): Môi trường vật lý là thành phần vô
sinh của môi trường tự nhiên, bao gồm khí quyển, thạch quyển, sinh quyển
Khí quyển (atmosphere): còn được hiểu là môi trường không khí, là lớp khí
bao quanh Trái Đất, chủ yếu ở tầng đối lưu, cách mặt đất từ 10 – 12 km Theo chiềucao của tầng này, nhiệt độ, áp suất giảm dần và nồng độ không khí loãng dần Khíquyển đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì sự sống của con người, sinhvật và quyết định đến tính chất khí hậu, thời tiết của trái Đất
Thủy quyển (hydrosphere): hay còn gọi là môi trường nước, là phần nước
của Trái Đất, bao gồm đại dương, biển, sông hồ, ao, suối, nước ngầm, băng tuyết, hơinước trong đất và trong không khí Thủy quyển đóng vai trò không thể thiếu được
Trang 9trong việc duy trì cuộc sống con người, sinh vật, cân bằng khí hậu toàn cần, và pháttriển các ngành kinh tế.
Thạch quyển (lithosphere): hoặc địa quyển, bao gồm lớp vỏ Trái Đất Tính
chất vật lý, thành phần hóa học của địa quyển ảnh hưởng quan trọng đến cuộc sốngcon người, sự phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, giao thông, vận tải, đô thị, cảnh quan
và tính đa dạng sinh học trên Trái Đất
Sinh quyển (biosphere): còn gọi là môi trường sinh học, là thành phần của
môi trường vật lý có tồn tại sự sống Sinh quyển bao gồm phần lớn thủy quyển (đáyđại dương), lớp dưới của khí quyển, lớp trên của địa quyển Như vậy sinh quyển gắnliền với các thành phần của môi trường và chịu sự tác động trực tiếp của sự biến hóatính chất vật lý và hóa học của các thành phần này Đặc trưng cho sự hoạt động sinhquyển là các chu trình trao đổi vật chất và năng lượng
- Môi trường sinh vật (biological environment): Môi trường sinh vật là thành
phần hữu sinh của môi trường Môi trường sinh vật bao gồm các hệ sinh thái, quần thểđộng vật và thực vật Môi trường sinh vật tồn tại và phát triển trên cơ sở tiến hóa củamôi trường vật lý Các thành phần của môi trường không tồn tại ở trạng thái tĩnh màluôn luôn có sự chuyển hóa trong tự nhiên theo chu trình Sinh – Địa – Hóa và luônluôn ở trạng thái cân bằng động Chu trình phổ biến trong tự nhiên là chu trình Sinh –Địa – Hóa như chu trình cacbon, chu trình nitơ, chu trình photpho, chu trình lưuhuỳnh… là các chu trình chuyển hóa các nguyên tố hóa học từ dạng vô sinh (đất,nước, không khí) vào dạng hữu sinh (sinh vật) và ngược lại Một khi các chu trình nàykhông còn giữ ở trạng thái cân bằng thì tạo ra diễn biến bất thường, gây tác động xấucho sự sống của con người và sinh vật ở một khu vực hay ở quy mô toàn cầu
1.1.1.2 Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường
Thứ nhất, môi trường là nơi chứa đựng và cung cấp tài nguyên cho đời sống sản xuất của con người chúng ta.
Khi con xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng tăng,
số lượng tài nguyên được khai thác tăng lên càng cao để đáp ứng độ phức tạp pháttriển của xã hội Chức năng này của môi trường là chức năng sản xuất tự nhiên:
- Rừng núi là nơi cung cấp nước với đa dạng sinh học và độ phì nhiêu cho đấtđai, nguồn gỗ và củi phục vụ cho đời sống, dược liệu… cải thiện điều kiện sinh thái
- Các ao hồ sông ngòi cung cấp nước dinh dưỡng là nơi tồn tại phát triển chothủy sản
Trang 10- Các động thực vật cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm thiết yếu cho conngười.
- Nhiệt độ, không khí, năng lượng mặt trời, nước, gió có chức năng duy trì traođổi chất
- Các quặng dầu mỏ cung cấp nguyên liệu cho hoạt động sản xuất của con người
Thứ hai, môi trường là không gian sống lý tưởng cho sinh vật và con người.
Cuộc sống hàng ngày của con người cần một không gian nhất định để hoạt độngnhư nghỉ ngơi, làm việc, sinh hoạt Như vậy môi trường đòi hỏi phải đủ tiêu chuẩn vềcác mặt sinh lý hóa để cuộc sống của con người diễn ra một cách thoải mái nhất, cóhiệu quả nhất
Không gian sống của con người thay đổi liên tục theo sự phát triển của công nghệkhoa học Chẳng hạn như ngày nay, việc xây dựng hệ thống cống rãnh để đáp ứngđược sự lưu thông của nước thải sản xuất của con người để tránh phải thông tắc cốngnhư trước kia
Thứ ba, chứa đựng chất thải đó là chức năng sống còn của môi trường.
Trong quá trình phát triển, con người luôn luôn đào thải các chất ra ngoài môitrường và được phân hủy dưới tác động của vi sinh vật Trước đây, quá trình phân hủychất thải đa phần là để tự nhiên, nhưng bây giờ, với sự gia tăng dân số chóng mặt và sựphát triển của khoa học kĩ thuật và đô thị hóa thì lượng rác thải không ngừng được thải
ra làm cho lượng chất thải quá tải gây ô nhiễm nghiêm trọng
Nhiều nơi rác thải được thải ra đặc biệt là rác thải sản xuất và sinh hoạt nhiều nơi
ô nhiễm nghiêm trọng do rác thải như gây ô nhiễm nguồn nước, tắc cống ngầm Đểgiảm được tình trạng đó chúng ta phải thu gom xử lý đúng như tại gia đình chúng ta
lên thường xuyên để tránh gây tràn ứ ô nhiễm nguồn nước
Thứ tư, môi trường là nơi lưu trữ cung cấp thông tin cho con người.
- Môi trường là nơi ghi chép lưu giữ lịch sử tiến hóa phá triển của con ngườitrên Trái Đất
- Cung cấp các tín hiệu báo hiệu hiểm họa sớm cho con người và sinh vật sốngtrước những thảm họa từ thiên nhiên
- Là nơi gìn giữ các giá trị thẩm mỹ ,tôn giáo ,văn hóa của con người
- Môi trường còn bảo vệ con người và sinh vật trước những tác động từ bênngoài
Trang 11Hoạt động của con người cũng có tác động trở lại đối với môi trường Việc khaitác tài nguyên thiên nhiên một cách lãng phí, không có kế hoạch, việc xả thải bừa bãivào môi trường của con người đã dẫn tới chất lượng môi trường đang bị giảm sútnghiêm trọng Sự giảm sút này thể hiện ở việc suy thoái các nguồn tài nguyên thiênnhiên: rừng xanh đang tiếp tục có xu hướng bị suy thoái nhanh chóng trong nhữngnăm gần đây; mất đa dạng sinh học đang diễn ra một cách nhanh chóng chưa từng có;tài nguyên nước đang dần bị cạn kiệt kéo theo tình trạng thiếu nước trên thế giới ngàycàng lan rộng, nạn khô hạn kéo dài, gây nhiều hậu quả về kinh tế và xã hội cho nhiềuvùng rộng lớn; trữ lượng chất đốt hóa thạch đang giảm sút đột ngột trong khi tiêu thụnăng lượng ngày một gia tăng, các nguồn tài nguyên đất, nước, khí hậu đang bị ônhiễm trầm trọng Và con người đang phải gánh chịu những hậu quả từ việc suy thoáichất lượng môi trường như việc biến đổi khí hậu dẫn tới nạn hạn hán, lũ lụt, sóngthần diễn ra ngày càng thường xuyên Việc phải có những hành động, biện pháp cụthể để bảo vệ môi trường là một việc vô cùng cấp thiết.
1.1.2 Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm
1.1.2.1 Một số khái niệm chung
Hiện tượng ngộ độc thực phẩm xảy ra ngày càng nhiều ở các địa phương trên cảnước Hiện tượng này không chỉ xảy ra ở các nhà ăn tập thể (nhà máy, xí nghiệp,trường học…) mà còn xảy ra ở rất nhiều gia đình, kể cả thành thị và nông thôn
Ngộ độc thực phẩm phổ biến đến mức Nhà nước phải tổ chức các cơ quan chứcnăng thường xuyên đi kiểm tra, tuyên truyền về nguy cơ ngộ độc và các biện phápphòng chống
Thực phẩm là nguồn cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng cho con ngườiphát triển, duy trì sự sống và lao động Tuy nhiên nếu ta không tuân thủ các biện pháp
vệ sinh an toàn thực phẩm thì thực phẩm sẽ trở thành nguồn gây ngộ độc cho conngười
a Vệ sinh thực phẩm
Vệ sinh thực phẩm là một khái niệm khoa học để nói đến thực phẩm không chứa
vi sinh vật gây bệnh và không chứa độc tố
Ngoài ra khái niệm vệ sinh thực phẩm còn bao gồm cả những nội dung khác như
tổ chức vệ sinh trong vận chuyển, chế biến và bảo quản thực phẩm
b An toàn thực phẩm
Trang 12An toàn thực phẩm là một khái niệm khoa học có nội dung rộng hơn khái niệm
vệ sinh thực phẩm An toàn thực phẩm được hiểu như khả năng không gây ngộ độccủa thực phẩm đối với con người
Nguyên nhân gây ra ngộ độc thực phẩm không chỉ ở vi sinh vật mà còn được mởrộng ra do các chất hóa học, các yếu tố vật lý Khả năng gây ngộ độc không chỉ ở thựcphẩm mà còn xem xét cả một quá trình sản xuất trước thu hoạch Theo nghĩa rộng, antoàn thực phẩm còn được hiểu là khả năng cung cấp đầy đủ và kịp thời về số lượng vàchất lượng thực phẩm một khi quốc gia gặp thiên tai hoặc một lý do nào đó Vì thế,mục đích chính của sản xuất, vận chuyển, chế biến và bảo quản thực phẩm là phải làmsao để thực phẩm không bị nhiễm vi sinh vật gây bệnh, không chứa độc tố sinh học,độc tố hóa học và các yếu tố khác có hại cho sức khỏe người tiêu dùng
c Ngộ độc thực phẩm
Ngộ độc thực phẩm dùng để chỉ tất cả các bệnh gây ra bởi các mầm bệnh cótrong thực phẩm Bệnh do thực phẩm gây ra có thể chia làm hai nhóm là bệnh gây ra
do chất độc (poisonings) và bệnh do nhiễm trùng (infections)
- Bệnh gây ra do chất độc: chất độc này do vi sinh vật tạo ra, do nguyên liệu
(chất độc có nguồn gốc sinh học), do hóa chất từ quá trình chăn nuôi, trồng trọt, bảoquản, chế biến Các chất độc này có trong thực phẩm trước khi người tiêu dùng ănphải
- Bệnh nhiễm trùng do thực phẩm là trong thực phẩm có vi khuẩn gây bệnh, vi
khuẩn này vào cơ thể bằng đường tiêu hóa và tác động tới cơ thể do sự hiện diện của
nó cùng các chất độc mà nó tạo ra
d Chất độc (toxin, poisonings)
Chất độc trong thực phẩm là các chất hóa học hay hợp chất hóa học có trongnguyên liệu, sản phẩm thực phẩm ở một nồng độ nhất định gây ngộ độc cho người hayđộng vật khi sử dụng chúng
Chất độc có thể tồn tại ở nhiều trạng thái khác nhau Các chất độc được đưa vào
cơ thể bằng một trong những con đường sau:
- Chất độc được tạo thành trong thực phẩm do vi sinh vật nhiễm vào thựcphẩm Trong quá trình nhiễm và phát triển trong thực phẩm, các loài vi sinh vật có khảnăng sinh ra chất độc sẽ chuyển hóa chất dinh dưỡng có trong thực phẩm và tạo ra chấtđộc Như vậy, khi thực phẩm bị nhiễm vi sinh vật, các chất dinh dưỡng bị mất và bịbiến chất, đồng thời thực phẩm sẽ có chứa các chất độc
Trang 13- Chất độc được hình thành do sự chuyển háo các chất nhờ các enzim ngoạibào của vi sinh vật, khi vi sinh vật phát triển trong thực phẩm Chất độc này được tạo
ra ở ngoài tế bào vi sinh vật Khác với chất độc cũng tồn tại ở thực phẩm, chúng đượctổng hợp ở trong tế bào vi sinh vật mà sau đó thoát khỏi tế bào ra thực phẩm
- Chất độc do nguyên liệu thực phẩm Chúng không bị biến đổi hoặc biến đổirất ít trong quá trình chế biến và bảo quản thực phẩm
- Chất độc hình thành trong thực phẩm do việc sử dụng bừa bãi, không tuânthủ những quy định về sử dụng các chất phụ gia thực phẩm Các chất phụ gia được sửdụng rất nhiều trong chế biến thực phẩm Rất nhiều chất hóa học được sử dụng nhưchất phụ gia trong thực phẩm không được kiểm soát về chất lượng và số lượng khi sửdụng
- Chất độc hình thành trong thực phẩm do việc sử dụng bao bì có chất lượngkém, hoặc không đúng nguyên liệu cần thiết, phù hợp với loại thực phẩm
- Chất độc hình thành trong thực phẩm do nhiễm kim loại và các chất độc kháctrong quá trình chế biến và bảo quản
- Chất độc được hình thành trong thực phẩm do dư lượng thuốc trừ sâu, phânbón, chất diệt cỏ, diệt côn trùng, các chất thức ăn gia súc
e Độc tính (toxicity) là khả năng gây ngộ độc của chất độc
Độc tính của chất độc phụ thuộc vào mức độ gây độc và liều lượng của chất độc.Một chất có độc tính cao là chất độc ở liều lượng rất nhỏ, có khả năng gây ngộ độchoặc gây chết người và động vật khi sử dụng chất độc này trong thời gian ngắn
Trong một số trường hợp, chất độc không có độc tính cao nhưng việc sử dụngchúng nhiều lần trong một khoảng thời gian dài cũng có thể có những tác hại nghiêmtrọng
1.1.2.2 Các nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm
a Các tác nhân sinh học chính gây ô nhiễm bao gồm: vi khuẩn, nấm mốc, virus và ký sinh vật
- Vi khuẩn có ở mọi nơi xung quanh chúng ta Phân, nước thải, rác bụi, thựcphẩm tươi sống là ở chứa của nhiều loại vi khuẩn gây bệnh Trong không khí và ngay
ở trên cơ thể người cũng có hàng trăm loại vi khuẩn, cư trú ở da (đặc biệt là ở bàn tay),
ở đường hô hấp, đường tiêu hóa, bộ phận sinh dục, tiết niệu Thức ăn chín để ở nhiệt
độ bình thường là môi trường tốt cho vi khuẩn trong không khí xâm nhập và phát triển
Trang 14nhanh, đặc biệt các thức ăn còn thừa sau các bữa ăn chỉ cần một vài giờ là số lượng vikhuẩn có thể sinh sản đạt đến mức gây ngộ độc thực phẩm.
- Nấm mốc thường gặp trong môi trường sống, nhất là ở trong các loại ngũ cốc,quả hạt có dầu dự trữ trong điều kiện khí hậu nóng ẩm như ở nước ta Nấm mốc gây
hư hỏng thực phẩm, một số loại còn sản sinh ra các độc tố nguy hiểm Aflatoxin là độc
tố do nấm Aspergillus Flavus và Aspergillus Parasiticus sinh ra trong ngô, đậu và lạc
ẩm mốc có thể gây ung thư gan
- Virus gây ngộ độc thực phẩm thường có trong ruột người Các nhuyễn thể sống
ở vùng nước ô nhiễm, rau quả được bón phân tươi hoặc các món rau sống chuẩn bị vệsinh thường dễ bị nhiễm virus bại liệt, virus viêm gan
- Virus có thể lây truyền từ phân qua tay người tiếp xúc hoặc từ nước bị ô nhiễmphân vào thực phẩm, với một lượng rất ít virus đã gây nhiễm bệnh cho người Virusnhiễm ở người có thể lây sang người khác trước khi phát bệnh
- Ký sinh vật thường gặp trong thực phẩm là giun sán Người ăn phải thịt có ấutrùng sán dây trong thịt bò (sán dây bò), trong thịt lợn (thịt lợn gạo) chưa nấu chín, khivào cơ thể thì ấu trùng sẽ phát triển thành sán trưởng thành ký sinh ở đường tiêu hóa
và gây rối loạn tiêu hóa
Khi ăn cá nước ngọt như cá diếc, cá rô, cá chép, cá trôi… có nang trùng sán lágan nhỏ chưa nấu chín thì nang trùng chuyển tới ống mật, lên gan và phát triển ở ganthành sán trưởng thành gây tổn thương gan mật
Nếu ăn phải tôm, cua có nang trùng sán lá phổi chưa nấu chín hoặc uống nước cónang trùng thì chúng sẽ xuyên qua thành ruột và qua cơ hoành lên phổi, phát triểnthành sán trưởng thành gây viêm phế quản, đau ngực, ho khạc ra máu Bệnh do giunxoắn cũng bởi tập quán ăn thịt tái, nem bằng thịt sống, ăn tiết canh có ấu trùng gâynhiễm độc, dị ứng, sốt cao, liệt cơ hô hấp có thể dẫn đến tử vong
b Những độc hại hóa học thường gây ô nhiễm trong thực phẩm
- Các chất ô nhiễm trong công nghiệp và môi trường như: các dioxin, các chấtphóng xạ, các kim loại nặng (chì, thủy ngân, asen, cadimi…)
- Các chất hóa học sử dụng trong nông nghiệp: thuốc bảo vệ thực vật, động vật,thuốc thú y, chất tăng trưởng, phân bón, thuốc trừ giun sán và chất hun khói
- Các chất phụ gia sử dụng không đúng quy định: các chất tạo màu, tạo mùi, tạongọt, tăng độ kết dính, ổn định, chất bảo quản, chất chống oxi hóa, chất tẩy rửa… và
Trang 15- Các chất độc hại tạo ra trong quá trình chế biến thịt hun khói, dầu mỡ bị cháykhét, các hợp chất tạo ra do phản ứng hóa học trong thực phẩm, sự sản sinh độc tốtrong quá trình bảo quản, dự trữ bị nhiễm nấm mốc (độc tố vi nấm) hay biến chất.
- Các độc tố tự nhiên có sẵn trong thực phẩm như mầm khoai tây, sắn, đầu mèo,măng, nấm độc, cá nóc…
- Các chất gây dị ứng trong một số hải sản, nhộng tôm…, các độc hại nguồn gốcvật lý như các mảnh thủy tinh, gỗ, kim loại, đá sạn, xương, móng, lông, tóc và các vật
lạ khác lẫn vào thực phẩm cũng gây nguy hại đáng kể như gãy răng, hóc xương, tổnthương niêm mạc dạ dày, miệng…
1.1.2.3 Một số biện pháp xử lý thông thường khi bị ngộ độc thực phẩm
Khi có trường hợp nhiễm độc, ngộ độc do thức ăn hoặc nghi ngờ bị ngộ độc thìnhất thiết phải đình chỉ việc sử dụng thức ăn đó và giữ toàn bộ thức ăn thừa, chất nôn,phân, nước tiểu… để gửi đi xét nghiệm, báo ngay cho cơ quan y tế gần nhất và kịpthời tổ chức cấp cứu người bị ngộ độc Xử trí cấp cứu trước tiên là phải làm cho người
bị ngộ độc nôn ra cho hết chất đã ăn vào, ngăn cản sự hấp thu của ruột đối với chấtđộc, phá hủy độc tính đồng thời bảo vệ niêm mạc dạ dày
a Loại trừ các chất độc ra khỏi cơ thể
- Gây nôn: thực hiện ngay bằng cách cho ngón tay vào họng để kích thích nôn
- Rửa dạ dày: rửa dạ dày càng sớm càng tốt, chậm nhất là trước 6 giờ Có thể dùngnước ấm, nước muối sinh lý để rửa
- Tẩy ruột: nếu thời gian ngộ độc lâu trên 6 giờ thì có thể dùng thuốc tẩy magie sunfat,natri sunfat
- Gây bài niệu bằng cách truyền dịch
Trang 16Bài tập hoá học là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hayđồng thời cả bài toán và cả câu hỏi, mà trong khi hoàn thành chúng, học sinh nắmđược một tri thức hay kỹ năng nhất định hoặc hoàn thiện chúng.
Trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông, BTHH giữ vai trò rất quan trọngtrong việc thực hiện mục tiêu đào tạo BTHH vừa là mục đích, vừa là nội dung lại vừa
là phương pháp dạy học hiệu quả, nó không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức, conđường giành lấy kiến thức mà còn mang lại niềm vui của quá trình khám phá, tìm tòi,phát hiện của việc tìm ra đáp số Đặc biệt BTHH còn mang lại cho người học mộttrạng thái hưng phấn, hứng thú nhận thức Đây là một yếu tố tâm lý quan trọng của quátrình nhận thức đang được chúng ta quan tâm
1.2.2 Ý nghĩa, tác dụng của bài tập Hóa học
a Ý nghĩa trí dục
- Làm chính xác hoá các khái niệm hoá học Củng cố, đào sâu và mở rộng kiếnthức
- Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất
- Rèn luyện kỹ năng hoá học như cân bằng phương trình phản ứng, tính toán theocông thức hoá học và phương trình hoá học, kỹ năng thực hành góp phần vào việcgiáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh
- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống lao động sảnxuất bảo vệ môi trường
- Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy Trongthực tiễn dạy học, tư duy hoá học được hiểu là kỹ năng quan sát hiện tượng hóa học,phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận thành phần, xác lập mối liên
hệ định lượng và định tính của các hiện tượng, đoán trước hệ quả lý thuyết và áp dụngkiến thức của mình Trước khi giải bài tập học sinh phải phân tích điều kiện của đề tài,
tự xây dựng các lập luận, thực hiện việc tính toán, khi cần thiết có thể tiến hành thínghiệm, thực hiện phép đo… Trong những điều kiện đó, tư duy logic, tư duy sáng tạocủa học sinh được phát triển, năng lực giải quyết vấn đề được nâng cao
b Ý nghĩa phát triển
Sự phát triển tư duy nói chung được dựa trên sự rèn luyện thành thạo và vữngchắc các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượnghóa, cụ thể hóa…kết hợp với các phương pháp tư duy
Trang 17Trong dạy học hóa học, bài tập là phương tiện cơ bản để rèn luyện các thao tác tưduy đồng thời giúp học sinh hiểu kiến thức một cách sâu sắc, biết vận dụng kiến thứcmột cách linh hoạt và có hiệu quả Nói chung các bài tập hóa học đều có khả năng rènluyện tư duy nhưng thuận lợi hơn cả là những bài tập có tác dụng rèn luyện khả năngsuy luận.
Phát triển ở học sinh năng lực tư duy logic, biện chứng khái quát, độc lập thôngminh và sáng tạo Cao hơn mức rèn luyện thông thường, học sinh phải biết vận dụngmột cách linh hoạt, sáng tạo để giải quyết bài tập trong những tình huống mới, hoàncảnh mới, biết đề xuất đánh giá theo ý kiến riêng bản thân, biết đề xuất các giải phápkhác nhau khi phải xử lý một tình huống… thông qua đó, bài tập hoá học giúp pháthiện năng lực sáng tạo của học sinh để đánh giá, đồng thời phát huy được năng lựcsáng tạo cho bản thân
c Ý nghĩa giáo dục
Giáo dục đạo đức, tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học.Bài tập hoá học còn có tác dụng giáo dục cho học sinh phẩm chất tư tưởng đạo đức.Qua các bài tập về lịch sử, có thể cho học sinh thấy quá trình phát sinh những tư tưởng
về quan điểm khoa học tiến bộ, những phát minh to lớn, có giá trị của các nhà khoahọc tiến bộ trên thế giới Thông qua việc giải các bài tập, còn rèn luyện cho học sinhphẩm chất độc lập suy nghĩ, tính kiên trì dũng cảm khắc phục khó khăn, tính chính xáckhoa học, kích thích hứng thú bộ môn hoá học nói riêng và học tập nói chung
1.2.3 Phân loại bài tập Hóa học
Có nhiều cách phân loại bài tập tùy thuộc vào cơ sở phân loại Có thể dựa vào các
cơ sở sau đây:
- Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh khi giải bài tập có thể chia thành: bàitập lý thuyết và bài tập thực nghiệm
- Dựa vào tính chất của bài tập có thể chia thành: bài tập định tính và bài tập địnhlượng
- Dựa vào kiểu bài hoặc dạng bài có thể chia thành: bài tập xác định công thứcphân tử của hợp chất; tính thành phần phần trăm của hỗn hợp; nhận biết, tách các biết
ra khỏi hỗn hợp; điều chế
- Dựa vào nội dung có thể chia thành: bài tập nồng độ, điện phân, áp suất,
Trang 18- Dựa vào chức năng có thể chia thành: bài tập kiểm tra sự hiểu và nhớ; bài tậpđánh giá các khả năng vẽ sơ đồ, tìm tài liệu, tổng kết Bài tập rèn luyện tư duy khoahọc (phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch ).
- Dựa vào khối lượng kiến thức hay mức độ đơn giản hoặc phức tạp có thể chiathành: bài tập cơ bản và bài tập tổng hợp
- Căn cứ vào hình thức người ta có thể chia bài tập hoá học thành hai nhóm lớn:bài tập tự luận (trắc nghiệm tự luận) và bài tập trắc nghiệm (trắc nghiệm khách quan)
Bài tập tự luận: Khi làm bài, HS phải viết / trình bày câu trả lời, phải lý
giải, lập luận, phải chứng minh bằng ngôn ngữ của mình Trong bài tập tự luận, lạichia ra: bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập có sử dụng hình vẽ, bài tập thựctế dựa vào tính chất, nội dung bài tập Gần đây, việc kiểm tra đánh giá HS đã chuyểndần sang trắc nghiệm nhưng bài tập tự luận vẫn đang được phát triển và sử dụng khá
rộng rãi do những ưu điểm của nó như: đo được khả năng độc lập suy nghĩ, phát huy
được tính sáng tạo của HS Và để tăng cường hứng thú học tập, nghiên cứu hoá họccho HS, bài tập thực tế, bài tập có sử dụng hình vẽ hiện nay cũng được chú trọng xâydựng
Bài tập trắc nghiệm: Khi làm bài, HS chỉ phải đọc, suy nghĩ để lựa chọn
đáp án đúng trong số các phương án đã cho Thời gian giành cho mỗi câu từ 1 - 2 phút.Bài tập trắc nghiệm được chia thành 4 dạng chính: dạng điền khuyết, dạng ghép đôi,dạng đúng sai, dạng nhiều lựa chọn Hiện nay, bài tập trắc nghiệm dạng nhiều lựa chọn
là loại bài tập thông dụng nhất do những ưu điểm của nó như: có độ tin cậy cao, tínhgiá trị tốt hơn (đo được khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, định luật, tổng quáthoá ), thật sự khách quan khi chấm bài (điểm số của bài trắc nghiệm khách quankhông phụ thuộc vào chữ viết, khả năng diễn đạt của HS và vào trình độ người chấmbài)
1.2.4 Xây dựng bài tập Hóa học
- Nguyên tắc: Lựa chọn bài tập điển hình; phải kế thừa, bổ sung nhau; có tính
phân hóa, vừa sức học sinh; cân đối giữa thời gian học lý thuyết và bài tập
- Chú ý khi cho bài tập: Nội dung kiến thức trong chương trình; dữ kiện và kết
quả tính toán phù hợp với thực tế; phải vừa sức với trình độ học sinh; chú ý đến yêucầu đạt được (thi lên lớp, thi tốt nghiệp hay thi vào đại học); phải đủ các dạng; phải rõràng, chính xác, không đánh đố học sinh
- Xu hướng hiện nay:
Trang 19Thực tế cho thấy có nhiều bài tập hóa học còn quá nặng nề về thuật toán, nghèonàn về kiến thức hóa học và không có liên hệ với thực tiễn hoặc mô tả không đúng vớicác quy trình hóa học Khi giải các bài tập này thường mất thời gian tính toán toánhọc, kiến thức hóa học lĩnh hội được không nhiều và hạn chế khả năng sáng tạo,nghiên cứu khoa học hóa học của học sinh Các dạng bài tập này dễ tạo lối mòn trongsuy nghĩ hoặc nhiều khi lại quá phức tạp, rối rắm với học sinh làm cho các em thiếu tựtin vào khả năng của bản thân dẫn đến chán học, học kém.
Định hướng xây dựng chương trình sách giáo khoa THPT của Bộ GD&ĐT (năm2002) có chú trọng đến tính thực tiễn và đặc thù của môn học trong lựa chọn kiến thứcnội dung sách giáo khoa Quan điểm thực tiễn và đặc thù của hóa học cần được hiểu ởcác góc độ sau đây:
- Nội dung kiến thức hóa học phải gắn liền với thực tiễn đời sống, xã hộicộng đồng
- Nội dung kiến thức phải gắn với thực hành, thí nghiệm hóa học và tăngcường thí nghiệm hóa học trong nội dung học tập
- Bài tập hóa học phải đa dạng, phải có nội dung hóa học thiết thực trên cơ sởcủa định hướng xây dựng chương trình hóa học Phổ thông thì xu hướng phát triểnchung của bài tập hóa học trong giai đoạn hiện nay cần đảm bảo các yêu cầu:
Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tính toán
mà cần chú ý tập trung vào rèn luyện và phát triển các năng lực nhận thức, tư duy hóahọc và hành động cho học sinh Kiến thức mới hoặc kiểm nghiệm các dự đoán khoahọc
Bài tập hóa học cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức hóa học và cácứng dụng của hóa học trong thực tiễn Thông qua các dạng bài tập này làm cho họcsinh thấy được việc học hóa học thực sự có ý nghĩa, những kiến thức hóa học rất gầngũi thiết thực với cuộc sống Ta cần khai thác các nội dung về vai trò của hóa học vớicác vấn đề kinh tế, xã hội môi trường và các hiện tượng tự nhiên, để xây dụng các bàitập hóa học làm cho bài tập hóa học thêm đa dạng, kích thích được sự đam mê hứngthú học tập bộ môn
Bài tập hóa học định lượng được xây dựng trên quan điểm không phứctạp hóa bởi các thuật toán mà chú trọng đến nội dung hóa học và các phép tính được sửdụng nhiều trong tính toán hóa học
Cần sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan, chuyển hóa một số dạngbài tập tự luận, tính toán định lượng sang dạng trắc nghiệm khách quan
Trang 20Như vậy xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay hướng đến rèn luyệnkhả năng vận dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hóa học cho học sinh ở cácmặt: lí thuyết, thực hành và ứng dụng Những bài tập có tính chất học thuộc trong cácbài tập lí thuyết sẽ giảm dần mà được thay bằng các bài tập đòi hỏi sự tư duy, tìm tòi.
1.2.5 Quan hệ giữa bài tập hóa học với việc phát triển năng lực nhận thức của học sinh
Trong học tập hoá học, một trong những hoạt động chủ yếu để phát triển tư duycho học sinh là hoạt động giải bài tập Vì vậy, giáo viên cần phải tạo điều kiện đểthông qua hoạt động này các năng lực tư duy được phát triển, học sinh sẽ có nhữngphẩm chất tư duy mới, thể hiện ở:
- Năng lực phát hiện vấn đề mới
- Tìm ra hướng mới
- Tạo ra kết quả học tập mới
Để có được những kết quả trên, người giáo viên cần ý thức được mục đích củahoạt động giải BTHH, không phải chỉ là tìm ra đáp số đúng mà còn là phương tiện kháhiệu quả để rèn luyện tư duy hoá học cho học sinh BTHH phong phú và đa dạng, đểgiải được BTHH cần phải vận dụng nhiều kiến thức cơ bản, sử dụng các thao tác tưduy so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá, … Qua đó học sinhthường xuyên được rèn luyện ý thức tự giác trong học tập, nâng cao khả năng hiểu biếtcủa bản thân
Thông qua hoạt động giải bài tập sẽ giúp cho tư duy được rèn luyện và phát triểnthường xuyên, đúng hướng, thấy được giá trị lao động, nâng khả năng hiểu biết thếgiới của học sinh lên một tầm cao mới, góp phần cho quá trình hình thành nhân cáchtoàn diện của học sinh
1.2.6 Những dạng bài tập có thể góp phần giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm
a Bài tập hình thành khái niệm hoá học
Khi hình thành khái niệm GV thường nêu lên định nghĩa hoặc cho HS đọc địnhnghĩa rồi GV giải thích, qua đó mà HS ghi nhớ các dấu hiệu bản chất của nó GV cũng
có thể lựa chọn, xây dựng hệ thống BTHH phù hợp để điều khiển hướng dẫn HS tưduy, tìm ra những dấu hiệu bản chất của khái niệm cần hình thành và phát biểu đượckhái niệm bằng ngôn ngữ hoá học Sau đó GV chỉnh lí, phát biểu chính xác hoá khái
Trang 21niệm và tổ chức cho HS vận dụng khái niệm đó Trên cơ sở hiểu rõ bản chất của kháiniệm, HS dễ dàng liên hệ các kiến thức đã học với nội dung liên quan đến môi trường.
b Bài tập có nội dung biện luận để tăng cường tính suy luận cho HS
Nhiều bài toán có phần tính toán rất đơn giản nhưng có nội dung biện luận hoáhọc phong phú, sâu sắc là phương tiện tốt để rèn luyện tư duy hoá học cho HS Khi
GV lồng ghép các bài tập tính toán về các vấn đề có nội dung giáo dục môi trường, HS
sẽ nhanh chóng hiểu và tăng cường nhận thức về môi trường thông qua bài tập Ví dụcác bài tập về tính toán lượng khí thải gây ô nhiễm không khí, hay tính toán lượngnguyên liệu cần dùng để điều chế các sản phẩm thân thiện với môi trường
c Bài tập thực nghiệm
Khi giải bài tập thực nghiệm, học sinh phải biết vận dụng kiến thức để giải bằng
lí thuyết sau đó tiến hành thí nghiệm để kiểm nghiệm tính đúng đắn của những bướcgiải bằng lí thuyết và rút ra kết luận về cách giải Dạng bài tập này mang lại hiệu quảgiáo dục rất tốt Khi HS được tự mình tiến hành và quan sát thí nghiệm, tư duy của HS
sẽ được tác động mạnh mẽ, nhận thức được nâng cao
Tuy nhiên ở Việt Nam cơ sở vật chất và điều kiện tiến hành thí nghiệm còn nhiềuhạn chế nên rất khó khăn cho việc áp dụng dạng bài tập này
d Bài tập thực tiễn
Việc tăng cường sử dụng bài tập thực tiễn trong các bài dạy giúp HS vận dụngcác kiến thức hoá học để giải quyết các vấn đề thực tiễn có nội dung GDMT Thôngqua việc giải các bài tập này HS sẽ thấy việc học hoá học có ý nghĩa hơn, hứng thúhơn
e Bài tập có sử dụng sơ đồ, đồ thị, hình ảnh
Dạng bài tập này có hình thức trình bày ngắn gọn, cô đọng, nêu bật được nhữngdấu hiệu bản chất của các định nghĩa, các hiện tượng và khái niệm Thông qua việcquan sát các đồ thị, hình ảnh cụ thể, HS dễ dàng tiếp thu những nội dung giáo dục môitrường được lồng ghép trong bài tập Ví dụ các bài tập có đồ thị về nồng độ các khíthải độc hại trong không khí hay bài tập có hình ảnh về sự ô nhiễm môi trường đất dorác thải
1.2.5 Cách sử dụng bài tập Hóa học ở trường Trung học phổ thông
Trang 22Ở bất cứ công đoạn nào của quá trình dạy học đều có thể sử dụng bài tập Khidạy học bài mới có thể dùng bài tập để vào bài, để tạo tình huống có vấn đề, để chuyểntiếp từ phần này sang phần kia, để củng cố bài, để hướng dẫn học sinh tự học ở nhà.Khi ôn tập, kiểm tra đánh giá thì nhất thiết phải dùng bài tập Ở Việt Nam, bài tậpđược hiểu theo nghĩa rộng, có thể là câu hỏi lý thuyết hay bài toán Sử dụng bài tậphóa học để đạt được các mục đích sau:
- Củng cố, đào sâu, mở rộng kiến thức và hình thành quy luật của các quá trìnhhóa học
- Rèn kỹ năng
- Rèn năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề
1.3 TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
1.3.1 Phương pháp trắc nghiệm khách quan
1.3.1.1 Định nghĩa
Trắc nghiệm khách quan là hình thức học sinh chỉ sử dụng những kí hiệu đơngiản để xác nhận câu trả lời đúng Thông thường có nhiều câu trả lời được cung cấpcho mỗi câu hỏi nhưng chỉ có một câu trả lời đúng nhất Bài trắc nghiệm được chấmbằng cách đếm số lần học sinh chọn câu trả lời đúng Do đó, hệ thống cho điểm làkhách quan, không phụ thuộc vào người chấm
1.3.1.2 Ưu điểm của trắc nghiệm khách quan
- Do số lượng câu hỏi nhiều nên phương pháp TNKQ có thể kiểm tra nhiều nộidung kiến thức bao trùm gần cả chương, nhờ vậy buộc học sinh phải học kĩ tất cả cácnội dung kiến thức trong chương
- Phương pháp TNKQ buộc học sinh phải tự giác, chủ động, tích cực học tập.Điều này tránh được tình trạng học tủ, học lệch ở học sinh
- Thời gian làm bài từ 1-3 phút cho mỗi câu, hạn chế được tình trạng quay cóp và
sử dụng tài liệu
- Khi làm bài TNKQ, học sinh chủ yếu sử dụng thời gian để đọc đề, suy nghĩ,không tốn thời gian trình bày bài làm bài bản như TNTL, do vậy có tác dụng rèn kĩnăng nhanh nhẹn và phát triển tư duy cho học sinh
- Do số câu hỏi nhiều nên bài TNKQ thường gồm nhiều câu hỏi có tính chuyên
Trang 23- Có thể phân tích tính chất câu hỏi bằng phương pháp thủ công hoặc nhờ vào cácphần mềm tin học, do vậy có thể sửa chữa, bổ sung hoặc loại bỏ các câu kém để bàiTNKQ ngày càng có giá trị hơn Ngoài ra, việc phân tích câu hỏi còn giúp giáo viênlựa chọn phương pháp dạy phù hợp, hướng dẫn học sinh có phương pháp học tập đúngđắn, ít tốn công sức, thời gian chấm bài và cho điểm hoàn toàn khách quan, không có
sự chênh lệch giữa các giáo viên chấm khác nhau Một bài TNKQ có thể dùng để kiểmtra ở nhiều lớp nhưng phải đảm bảo không bị lộ đề
- Kiểm tra bằng phương pháp TNKQ có độ may rủi ít hơn TNTL vì không cónhững trường hợp trúng tủ, từ đó loại bỏ dần thói quen đoán mò, học lệch, học tủ, chủquan, sử dụng tài liệu,… của học sinh – nó đang là mối lo ngại của nhiều giáo viênhiện nay
- Điểm của bài kiểm tra bằng TNKQ hầu như thật sự là điểm do học sinh tự làmbài, vì học sinh phải làm từ 2,3… câu trở lên thì mới được một điểm trong thang điểm
10 Do vậy, xác suất quay cóp, đoán mò để được điểm rất thấp
1.3.1.3 Nhược điểm của trắc nghiệm khách quan
- TNKQ dùng để đánh giá các mức trí năng ở mức biết, hiểu thì thật sự có ưuđiểm, còn ở mức phân tích, tổng hợp, đánh giá và thực nghiệm thì bị hạn chế, ít hiệuquả vì nó không cho phép kiểm tra khả năng sáng tạo, chủ động, khả năng tổng hợpkiến thức cũng như phương pháp tư duy suy luận, giải thích, chứng minh của học sinh
Vì vậy, đối với cấp học càng cao thì khả năng áp dụng của hình thức TNKQ càng bịhạn chế
- Phương pháp TNKQ chỉ cho biết “kết quả” suy nghĩ của học sinh mà khôngcho biết quá trình tư duy, thái độ của học sinh đối với nội dung được kiểm tra, do đókhông đảm bảo được chức năng phát triển lệch lạc của kiểm tra để có sự điều chỉnhtrong việc dạy và học
- Do sẵn có phương án trả lời câu hỏi, nên TNKQ khó đánh giá được khả năngquan sát, phán đoán tinh vi, khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, khả năng tổ chức, sắpxếp, diễn đạt ý tưởng, khả năng suy luận, óc tư duy độc lập, sáng tạo và sự phát triểnngôn ngữ chuyên môn của học sinh
- Việc soạn được câu hỏi đúng chuẩn là công việc thực sự khó khăn, yêu cầungười soạn phải có chuyên môn khá tốt, có nhiều kinh nghiệm và phải có thời gian
Trang 24Điều khó nhất là ngoài một câu trả lời đúng thì các phương án trả lời khác để chọncũng phải có vẻ hợp lí.
- Do số lượng câu hỏi nhiều bao trùm nội dung của cả chương trình học nên câuhỏi chỉ đề cập một vấn đề, kiến thức yêu cầu không khó do đó hạn chế việc phát triển
tư duy cao ở học sinh khá giỏi Có thể có một số câu hỏi mà những học sinh thôngminh có thể có những câu trả lời hay hơn đáp án cho sẵn, nên những học sinh đókhông cảm thấy thỏa mãn
- Khó soạn được một bài TNKQ hoàn hảo và tốn kém trong việc soạn thảo, in ấn
đề kiểm tra và học sinh cũng mất nhiều thời gian để đọc câu hỏi
1.3.2 So sánh trắc nghiệm khách quan với trắc nghiệm tự luận
- Có thể đo những khả năngsuy luận như: sắp đặt ý tưởng,suy diễn, so sánh và phân biệtnhưng không hữu hiệu bằngtrắc nghiệm tự luận
- Có thể kiểm tra – đánh giákiến thức của học sinh ở mứctrí năng biết, hiểu một cáchhữu hiệu
- Học sinh có thể tự diễn đạt ý tưởngbằng chính ngôn ngữ chuyên môncủa mình nhờ vào kiến thức và kinhnghiệm đã có
- Có thể đo lường khả năng suy luậnnhư sắp xếp ý tưởng, suy diễn, tổngquát hóa, so sánh, phân biệt, phântích, tổng hợp một cách hữu hiệu
- Không đo lường kiến thức ở mứctrí năng biết, hiểu một cách hữuhiệu
do số lượng câu hỏi lớn
Trong một khoảng thời gian xácđịnh, có thể kiểm tra – đánh giá đượcmột phạm vi kiến thức nhỏ nhưng rấtsâu với số lượng câu hỏi trong mộtbài kiểm tra ít
Trang 25“học tủ” nhưng đôi khi dễ tạo
sự đoán mò
Khuyến khích học sinh độc lập sắpđặt, diễn đạt ý tưởng bằng chínhngôn ngữ của mình một cách hiệuquả và nó tạo cơ sở cho giáo viênđánh giá những ý tưởng đó, songmột bài trắc nghiệm tự luận dễ tạo ra
sự “lừa dối” vì học sinh có thể khéoléo tránh đề cập đến những điểm mà
họ không biết hoặc chỉ biết mập mờ.Công việc
soạn đề
kiểm tra
Việc chuẩn bị câu hỏi phảinhiều, do đó đòi hỏi phải cónhiều kinh nghiệm, kiến thứcchuyên môn vững chắc Đây
là công việc rất tốn thời gian,công sức, vì vậy nếu có ngânhàng đề thì công việc này đỡtốn công sức hơn
Việc chuẩn bị câu hỏi trắc nghiệm tựluận do số lượng ít nên không khólắm nếu giáo viên giỏi trong lĩnh vựcchuyên môn
Công việc
chấm điểm
Công việc chấm điểm nhanhchóng và tin cậy, đặc biệtchiếm ưu thế khi cần kiểm tramột số lượng lớn học sinh
Đây là công việc khó khăn, mấtnhiều thời gian và khó cho điểmchính xác nên đòi hỏi giáo viên phảiluôn luôn cẩn thận, công bằng, tránhthiên vị
Trang 26CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC NHẰM GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN
- Xử lý nước thải chứa clo trong công nghiệp dệt, công nghiệp giấy
Bài 23 : Hidro clorua – axit clohidric
- Lồng ghép nội dung giáo dục môi trường vào phần tính chất hóa học (vềviệc phá hủy các thiết bị, công trình công cộng do dư lượng HCl trong nước thải nhàmáy tái chế nhựa, giấy, ) và lồng ghép hướng giải quyết hiện nay
Bài 24: Hợp chất có oxi của clo
- Tác hại của hợp chất có oxi của clo đối với sức khỏe (lồng vào phần tínhchất hóa học)
- Ảnh hưởng đến nguồn nước khi sử dụng liều lượng không phù hợp, cách
sử dụng sản phẩm tẩy rửa hợp lý và hiệu quả (phần ứng dụng)
Bài 29: Oxi - ozon
- Vai trò của oxi trong không khí và đối với sức khỏe con người (lồng vàophần mở đầu bài giảng)
- Lợi ích của việc trồng rừng (phần ứng dụng)
Trang 27- Vai trò của oxi trong môi trường nước.
- Những tính chất quan trọng của ozon có lợi cho môi trường (lồng vàophần hóa tính)
- Sự suy giảm tầng ozon, sự lên tiếng của toàn thế giới về lỗ thủng tầngozon và giải pháp (lồng vào phần trạng thái tự nhiên và ứng dụng)
Bài 30: Lưu huỳnh
- Ô nhiễm không khí, gây độc cho cơ thể người (lồng vào tính chất vật lý,tính chất hóa học)
- Ô nhiễm sông, ao hồ Rèn luyện ý thức bảo vệ môi trường (lồng vào phầnứng dụng)
Bài 32: Hidro sunfua – Lưu huỳnh đioxit – Lưu huỳnh trioxit
- Hiệu ứng nhà kính
- Mưa axit (lồng vào phần tính chất hóa học)
2.1.2 Chương trình Hóa học lớp 11
Bài 8 : Amoniac và muối amoni
- Ảnh hưởng đến sức khỏe con người (lồng vào tính chất vật lý)
- Sự ô nhiễm không khí trong quá trình sử dụng amoniac và muối amonitrong sản xuất phân bón (lồng vào ứng dụng)
Bài 10: Photpho
- Độc tính (lồng vào phần tính chất vật lý)
- Kẽm photphua làm thuốc chuột, cơ chế và tác hại với người (phần tínhchất hóa học)
Bài 12: Phân bón hóa học
- Độ pH của môi trường do phân tạo thành để chọn lựa phân phù hợp vớiđất (phần tính chất mỗi loại phân)
- Ảnh hưởng đến môi trường và con người khi lượng phân bón dư so vớinhu cầu (phần ứng dụng)
Bài 16: Hợp chất của cacbon
- Khí thải động cơ, hiệu ứng nhà kính (phần tính chất hóa học)
Bài 25: Ankan: Tính chất hóa học, điều chế và ứng dụng
Trang 28- Phương pháp khí sinh học, tận dụng khí từ rác thải để tạo năng lượng(phản ứng cháy trong tính chất hóa học).
- CFC làm thủng tầng ozon (phản ứng thế)
Bài 29: Anken: Tính chất hóa học, điều chế và ứng dụng
- Phân tích lợi và hại của việc sử dụng túi nilon, dép xốp, hộp xốp
Bài 37: Nguồn hidrocacbon thiên nhiên
- Là nhiên liệu trong công nghiệp và để đun nấu trong gia đình
- Ý thức sử dụng tiết kiệm nhiên liệu
Bài 40: Ancol: Tính chất hóa học, điều chế và ứng dụng
- Ảnh hưởng đến sức khỏe con người
- Giới thiệu về xăng sinh học
Bài 44: Andehit và xeton
- Ô nhiễm môi trường trong nhà, văn phòng, ảnh hưởng đến hô hấp, da,
- Tác hại của andehit trong vải áo quần
- Tác hại của axeton trong mỹ phẩm
2.1.3 Chương trình Hóa học lớp 12
Bài 3: Khái niệm về xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp
- Lựa chọn chất giặt rửa thích hợp cho từng vùng kinh tế
- Xử lý nước thải có chất giặt rửa ra môi trường
Bài 6: Saccarozơ, tinh bột và xenlulozơ
- Sản xuất đường mía và các hóa chất phụ gia sử dụng tác động đến sứckhỏe của công nhân sản xuất và môi trường
- Sự chuyển hóa tinh bột trong cơ thể
Trang 29- Cách xử lý mùi tanh của cá.
Bài 11: Peptit và protein
- Các loại protein quan trọng trong thực phẩm và các thực phẩm dinh dưỡngchức năng
Bài 14: Vật liệu polime
- Các vật liệu polime thường sử dụng trong đời sống và các tác hại lâu dàiđến môi trường
Bài 21: Điều chế kim loại
- Sản xuất các kim loại quý hiếm và tác động của việc sản xuất đến môitrường
Bài 26: Kim loại kiềm thổ và một số hợp chất của kim loại kiềm thổ
- Nước cứng và cách xử lý nước cứng, nước phèn
Bài 44: Hóa học và vấn đề xã hội
- Lương thực, thực phẩm, sản xuất và sử dụng hợp lý để bảo vẹ sức khỏe
- Tác hại của andehit trong vải, áo quần
- Tác hại của xeton trong mỹ phẩm
Bài 45: Hóa học và vấn đề môi trường
- Nguyên nhân và tác hại của ô nhiễm nước, không khí, đất
- Giải pháp khắc phục
2.2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM Ở TRƯỜNG THPT
Trang 30Bài tập phải được tuyển chọn cẩn thận từ nhiều tài liệu, kết hợp với một số phần
tự xây dựng trải rộng khắp chương trình Hóa học THPT, liên quan đến nhiều vấn đềcủa hóa học nhưng không nằm ngoài chương trình, không mang tinh đánh đố
Bài tập có thể ở hình thức tự luận hoặc trắc nghiệm, miễn sao phát huy hết nănglực của học sinh
2.2.1.3 Hệ thống bài tập cần phù hợp với kiến thức của học sinh THPT
Bài tập hóa học được xây hựng dựa trên các chuẩn kiến thức hóa học trongchương trình THPT, để từ đó học sinh có thể vận dụng kiến thức hóa học của mình đểgiải quyết vấn đề được đưa ra
2.2.1.4 Hệ thống bài tập phải hấp dẫn, gây hứng thú cho học sinh
Các bài tập hóa học phải tạo nên sự hứng thú hấp dẫn cho HS, khi giải bài tập HSđược học thêm những kiến thức mới và những chuỗi quan hệ giữa lý thuyết và thực tế
để từ đó học sinh có thêm hứng thú để tiếp tục giải các bài tập tiếp theo
2.2.2 Quy trình xây dựng bài tập Hóa học có nội dung giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm
- Bước 1: Tìm hiểu chương trình Hóa học ở trường THPT
Để xây dựng hệ thống bài tập có nội dung giáo dục môi trường và vệ sinh an toànthực phẩm ở trường THPT, chúng ta phải biết trong chương trình Hóa học ở trườngTHPT có bao nhiêu chương, trong mỗi chương thì phần kiến thức nào có liên hệ vớithực tế
- Bước 2: Tìm tài liệu tham khảo
Tài liệu tham khảo, sách giáo khoa và nguồn tài liệu trên mạng internet là mộtphần không thể thiếu trong quá trình xây dựng bài tập, đó không chỉ là nguồn tài liệuphong phú mà còn là cơ sở lý luận vững chắc để xây dựng hệ thống bài tập phong phú,
đa dạng và chính xác khoa học
- Bước 3: Chọn tài liệu có nội dung về môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm
Sau khi có nguồn tài liệu phong phú, chọn ra những tài liệu nào có nội dung kiếnthức gắn liền với môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm
- Bước 4: Tìm mối liên hệ giữa kiến thức hóa học THPT với vấn đề môi trường và vệ
sinh an toàn thực phẩm.
Trang 31Sau khi có nguồn tài liệu phù hợp, tìm mối liên hệ giữa những kiến thức hóa họctrong trường THPT với các vấn đề có trong tài liệu tham khảo để tạo cơ sở cho việcxây dựng hệ thống bài tập.
- Bước 5: Xây dựng hệ thống bài tập
Dựa vào các nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập về giáo dục môi trường và vệ sinh
an toàn thực phẩm, cùng lượng kiến thức từ nguồn tài liệu đã tìm kiếm, xây dựng hệthống bài tập theo từng chương trong chương trình hóa học phổ thông
- Bước 6: Xin ý kiến chuyên gia, đồng nghiệp về hệ thống bài tập
Sau khi xây dựng hệ thống bài tập, cần xin ý kiến đồng nghiệp hoặc các giáo viên,giảng viên có kinh nghiệm để chỉnh sửa và hoàn thiện hơn
- Bước 7: Hoàn thiện hệ thống bài tập
Sau khi chỉnh sửa và hoàn thiện bài tập về nội dung và hình thức, sử dụng hệthống bài tập này để tiến hành cho HS làm và đánh giá chất lượng
2.2.3 Một số ví dụ
Ví dụ 1: Trước khi ăn rau sống, người ta thường ngâm chúng trong dung dịch
nước muối ăn trong thời gian từ 10 – 15 phút để sát trùng Vì sao dung dịch nước muối (NaCl) có tính sát trùng? Vì sao cần thời gian ngâm rau sống dài như vậy?
Giải:
Dung dịch muối ăn (NaCl) có nồng độ muối lớn hơn nồng độ muối trong các tếbào của vi khuẩn, nên do hiện tượng thẩm thấu, muối đi vào tế bào, làm cho nồng độmuối trong vi khuẩn tăng cao, và có quá trình chuyển nước ngược lại từ tế bào vikhuẩn ra ngoài Vi khuẩn mất nước nên bị tiêu diệt Do tốc độ khuếch tán chậm nênviệc sát trùng chỉ có hiệu quả khi ngâm rau sống rtrong nước muối từ 10 – 15 phút
Ví dụ 2: Sau khi thu hoạch lúa, một lượng lớn rơm, rạ được tận dụng cho nhiều
mục đích khác nhau như trồng nấm, làm thức ăn cho trâu, bò, ủ trong bể biogas, hay đốt lất tro bếp trộn với phân chuồng để bón cho cây trồng Tại sao khi bón phân chuồng hoặc phân bắc, người nông dân thường trộn thêm tro bếp?
Giải:
Về phương diện hóa học, khi bón phân chuồng hoặc phân bắc thì người nông dânthường trộn thêm tro bếp vì: trong tro bếp có chứa các nguyên tố kali, magie, canxi vàmột số nguyên tố vi lượng nên khi bón phân chuồng hoặc phân bắc nếu trộn thêm trobếp sẽ giúp bổ sung đầy đủ lượng dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng Một lý do khác