Dạy học môn Toán ở lớp Một nhằm giúp học sinh: + Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phép đếm, về các số tự nhiên trong phạm vi 100, về độ dài và đo độ dài tron
Trang 12.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra 8
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp biện pháp 9
3.5 Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu 24
4 Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
Trang 2Môn toán ở tiểu học có một tầm quan trọng đặc biệt Thông qua môn toán
trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về toán học, rèn cho học sinh kỹ năng tính, giải toán Đồng thời qua dạy toán giáo viên hình thành cho học sinh phương pháp học tập; khả năng phân tích tổng hợp, óc quan sát, trí tưởng tượng
tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo, tư duy độc lập
Đối với mạch kiến thức: “Giải toán có lời văn” là một trong 5 mạch kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán cấp tiểu học Thông qua giải toán có lời văn, các em phát huy được trí tuệ, rèn luyện kỹ năng tổng hợp: đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán Toán có lời văn là mạch kiến thức tổng hợp của các mạch kiến thức toán học, giải toán có lời văn các em sẽ được giải các bài toán về
số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đại lượng Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa toán học với các môn học khác
Dạy học môn Toán ở lớp Một nhằm giúp học sinh:
+ Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phép đếm,
về các số tự nhiên trong phạm vi 100, về độ dài và đo độ dài trong phạm vi 20,
về tuần lễ và ngày trong tuần, về giờ đúng trên mặt đồng hồ; về một số hình học (Đoạn thẳng, điểm, hình vuông, hình tam giác, hình tròn); về bài toán có lời văn + Hình thành và rèn luyện các kĩ năng thực hành đọc, viết, đếm, so sánh các số trong phạm vi 100; cộng, trừ không nhớ trong phạm vi 100; đo và ước lượng độ dài đoạn thẳng (với các số đo là số tự nhiên trong phạm vi 20 cm) Nhận biết hình vuông, hình tam giác, hình tròn, đoạn thẳng, điểm, vẽ điểm, vẽ đoạn thẳng) Giải một số dạng bài toán đơn về cộng trừ bước đầu biết biểu đạt bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài thực hành, tập so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh
+ Chăm chỉ, tự tin, cẩn thận ham hiểu biết và học sinh có hứng thú học toán
Những năm gần đây đã có nhiều đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường miệt mài với đề tài nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1” mang lại kết quả khả quan nhưng kết quả đó bao hàm với mọi đối tượng học sinh Dựa trên hoàn cảnh thực tế tại đơn vị tôi với tỉ lệ trên 75% là học sinh đồng bào dân tộc thiểu số thì tôi rất trăn trở và suy nghĩ làm thế nào để học sinh đồng bào dân tộc thiểu số lớp Một làm được các phép tính cộng, trừ đã khó việc
giải toán có lời văn thì càng khó hơn Vì vậy tôi đã nghiên cứu đề tài “Một số
biện pháp nâng cao chất lượng Giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số”
Trang 3+ Áp dụng một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn
+ Góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán nói chung và dạy giải toán
có lời văn nói riêng
- Nhiệm vụ: Nghiên cứu dạy giải toán có lời văn nhằm giúp học sinh: + Nhận biết thế nào là một bài toán có lời văn
+ Biết giải và trình bày bài giải các bài toán đơn bằng một phép tính cộng hoặc một phép tính trừ
+ Bước đầu phát triển tư duy, rèn luyện phương pháp giải toán và khả năng diễn đạt đúng
3 Đối tượng nghiên cứu,
Biện pháp nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” trong chương trình lớp 1 ở Tiểu học
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Một số biện pháp nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” trong chương trình toán 1
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nội dung của đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:
- Tổng hợp lý luận thông qua các tài liệu, sách giáo khoa và thực tiễn dạy học của lớp 1C - khối I- Trường Tiểu học Ea Bông
- Đánh giá quá trình dạy toán Loại bài giải toán có lời văn từ những năm gần đây
- Tiến hành khảo sát chất lượng học sinh
- Đúc rút kinh nghiệm qua quá trình nghiên cứu
bộ môn Toán: “ Trong các môn khoa học và kỹ thuật, toán học giữ một vị trí nổi bật Nó có tác dụng lớn đối với kỹ thuật, với sản xuất và chiến đấu Nó là một
Trang 4các vấn đề, giúp chúng ta rèn luyện trí thông minh sáng tạo Hội nghị Ban Chấp hành trung ương khoá VIII lần thứ 2 đã chỉ rõ: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học” Trong luật Giáo dục, Khoản 2, điều 24 đã ghi:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Đổi mới cách thực hiện phương pháp dạy học là vấn đề then chốt của chính sách đổi mới giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đổi mới cách thực hiện phương pháp dạy học sẽ làm thay đổi tận gốc nếp nghĩ, nếp làm của các thế hệ học trò - chủ nhân tương lai của đất nước Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học sẽ tác động vào mọi thành tố của quá trình giáo dục và đào tạo Nó tạo ra sự hiện đại hoá của quá trình này Đổi mới phương pháp dạy học thực chất không phải là sự thay thế các phương pháp dạy học cũ bằng một loạt các phương pháp dạy học mới Về mặt bản chất, đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học chính là làm thế nào để học sinh phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác, luôn trăn trở tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội cả cách thức để có được tri thức ấy nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình Mặt khác môn toán thiết thực góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học theo đặc trưng và khả năng của môn Toán, cụ thể là chuẩn bị cho học sinh những tri thức, kỹ năng toán học cơ bản cần thiết cho việc học tập hoặc bước vào cuộc sống lao động Đối với môn Toán lớp Một, môn học có vị trí nền tảng,
là cái gốc, là điểm xuất phát của cả một bộ môn khoa học Môn Toán mở đường cho các em đi vào thế giới kỳ diệu của toán học Rồi mai đây, các em lớn lên, nhiều em trở thành vĩ nhân, trở thành anh hùng, nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ… trở thành những người lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống, trên tay có máy tính xách tay, trong túi có máy tính bỏ túi… nhưng không bao giờ các em quên được những ngày đầu tiên đến trường học đếm và tập viết
1, 2, 3 … học các phép tính cộng, trừ… Các em không quên được vì đó là kỷ niệm đẹp đẽ nhất của đời người và hơn thế nữa, những con số, những phép tính
ấy cần thiết cho suốt cả cuộc đời Đối với mạch kiến thức : “Giải toán có lời văn”, là một trong năm mạch kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán
Trang 5văn là mạch kiến thức tổng hợp của các mạch kiến thức toán học, giải toán có lời văn các em sẽ được giải các loại toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đo đại lượng Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học và thực
tế đời sống, giữa toán học với các môn học khác
sự việc xảy ra trong cuộc sống hàng ngày Cái khó của bài toán có lời văn là: phải biết lược bỏ những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán, hay nói cách khác là chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và nêu ra cách giải thích hợp để từ đó tìm được phép tính đúng và có đáp số đúng của bài toán Bên cạnh đó cái khó từ phía học sinh là: ít em chịu khó đọc kỹ đề, phần lớn các em chưa biết dựa vào dữ kiện bài toán
để phân tích và suy ngẫm hoặc phân tích không đúng hướng, không lôgic
b Khó khăn
Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học Ea Bông, kể từ khi về trường tới nay
tôi luôn được phân công dạy học sinh dân tộc thiểu số Vì vậy, qua thời gian giảng dạy tôi nhận thấy các em phát âm đa số là số là thiếu dấu, viết sai lỗi chính
tả Đặc biệt học sinh lớp Một và hầu hết giáo viên đều phàn nàn khi dạy đến phần giải toán có lời văn ở lớp Một Học sinh rất lúng túng khi nêu câu lời giải, thậm chí nêu sai câu lời giải, viết sai phép tính, viết sai đáp số Những tiết đầu tiên của giải toán có lời văn mỗi lớp chỉ có khoảng 20% số học sinh biết nêu lời giải, viết đúng phép tính và đáp số Số còn lại là rất mơ hồ, các em chỉ nêu theo quán tính hoặc nêu miệng thì được nhưng khi viết các em lại rất lúng túng, làm sai, một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại không biết để trả lời Chứng tỏ các
em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn Giáo viên
phải mất rất nhiều công sức khi dạy đến phần này
2.2 Những thành công và hạn chế
a Những thành công
Trong những năm học qua, đã có một vài đồng nghiệp cũng trăn trở về các biện pháp “giải toán có lời văn” và bên cạnh đó nhà trường đã tổ chức các cuộc thi và giao lưu giữa các lớp trong tổ khối nhằm phát hiện học sinh năng khiếu môn Toán và đạt kết quả như sau
Kết quả điều tra năm học 2013 – 2014
Trang 6HS viết đúng phép tính
HS viết đúng đáp số
Phần lớn học sinh biết làm bài toán có lời văn, kết quả của bài toán đúng Học sinh ham học, có hứng thú học tập môn Toán nói chung và “Giải toán cơ lời văn” nói riêng Học sinh bước đầu biết vận dụng bài toán có lời văn vào thực tế
b Những hạn chế
Về học sinh: Trong các tuyến kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu học thì tuyến kiến thức “Giải toán có lời văn” là tuyến kiến thức khó khăn nhất đối với học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một dân tộc thiểu số Bởi vì đối với lớp Một vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế Một nét nổi bật hiện nay nói chung là học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực Nhiều khi với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lí giải là tại sao các em lại có được phép tính đúng như vậy Thực tế hiện nay cho thấy các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn Một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra lối giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic Ngôn ngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ năng trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học, chưa có biện pháp, phương pháp học toán và giải toán một cách máy móc rập khuôn, bắt chước
Trang 7không làm được bài
Về giáo viên: Một số giáo viên ngại sử dụng đồ dùng minh hoạ, ngại tóm tắt bằng sơ đồ hình vẽ hoặc đoạn thẳng, sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp trong việc giúp học sinh tìm đường lối giải và giải toán còn khó hiểu
Về đồ dùng dạy học: Tư duy của học sinh lớp Một là tư duy cụ thể, để học sinh học tốt “giải toán có lời văn” trong quá trình giảng dạy rất cần đồ dùng thiết
bị dạy học để minh họa Trong những năm qua, các trường Tiểu học đã được cung cấp khá nhiều trang thiết bị về đồ dùng dạy học đồng bộ để dạy cho cả cấp học để dạy theo lớp nhưng thống kê theo danh mục thì số lượng vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu dạy “giải toán có lời văn”
Về cha mẹ học sinh: Một số phụ huynh chỉ quan tâm dấu hiệu bên ngoài của việc học tập đó là chỉ cần biết tính toán là được Bên cạnh đó phần đa hoàn cảnh gia đình các em còn khó khăn do đó cha mẹ hầu như chỉ chăm lo làm kinh
tế mà chưa thực sự quan tâm tới việc học tập và giúp đỡ các em tháo gỡ kịp thời những khúc mắc, khó khăn trong học tập khiến các em bỡ ngỡ khi làm bài, đặc biệt là giải toán có lời văn dẫn đến sự chán nản, thiếu tự tin, từ đó tạo nên những
lỗ hổng kiến thức trong học tập của các em
Bên cạnh những thành công mà đồng nghiệp tôi đã thực hiện được thì không ít mặt hạn chế và tồn tại cần được khắc phục Chính vì vậy tôi đã xây dựng sáng kiến riêng cho bản thân mình nhằm sử dụng các biện pháp để nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn”
2.3 Những mặt mạnh, mặt yếu
a Mặt mạnh
Khi thực hiện đề tài này được sự ủng hộ và động viên của Lãnh đạo nhà
trường, cha mẹ học sinh và đa số giáo viên trong tổ khối I nhằm mang đến cho
cả giáo viên và học sinh kết quả cao nhất
b Mặt yếu
Thời gian thực hiện đề tài còn hạn chế
Tài liệu phục vụ cho đề tài chưa đáp ứng được yêu cầu đạt ra
2.4 Nguyên nhân, các yếu tố tác động
+ Nguyên nhân từ phía HS:
Về học sinh: Trong các tuyến kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu học thì tuyến kiến thức “Giải toán có lời văn” là tuyến kiến thức khó khăn nhất đối với học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một Bởi vì học sinh lớp Một: Vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế Một nét nổi bật hiện nay nói chung học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực Nhiều khi với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời
Trang 8thiếu lôgic Ngôn ngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ năng tính toán, trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học
+ Nguyên nhân từ phía giáo viên:
Về giáo viên: Vẫn còn một số giáo viên chuyển đổi phương pháp giảng dạy còn lúng túng, chưa phát huy được tích cực chủ động của học sinh, phương pháp dạy học truyền thống đã ăn sâu vào tư duy vào lề lối dạy học hàng ngày Một số giáo viên dạy theo cách thông báo kiến thức sẵn có, dạy theo phương pháp thuyết trình có kết hợp với đàm thoại, thực chất vẫn là “thầy truyền thụ, trò tiếp nhận ghi nhớ”
+ Những sai lầm và khó khăn thường gặp của giáo viên và học sinh khi dạy và học tuyến kiến thức : “Giải toán có lời văn” ở lớp Một: Về mặt nhận thức giáo viên còn coi việc dạy “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp Một là đơn giản, dễ dàng nên chưa tìm tòi nghiên cứu để có phương pháp giảng dạy hiệu quả, đôi khi giáo viên giảng cho học sinh lớp Một đã diễn đạt như với các lớp trên làm học sinh khó hiểu và không thể tiếp thu được kiến thức trong việc giải các bài toán có lời văn Khả năng phối hợp, kết hợp với nhiều phương pháp để dạy tuyến kiến thức: “Giải toán có lời văn” ở lớp Một còn thiếu linh hoạt Giáo viên còn lúng túng khi tạo các tình huống sư phạm để nêu vấn đề Chưa khuyến khích động viên và giúp đỡ một cách hợp lý các nhóm cũng như các đối tượng học sinh trong quá trình học Khả năng kiên trì của học sinh lớp Một trong quá
trình học nói chung cũng như học “Giải toán có lời văn” nói riêng còn chưa cao 2.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
Vấn đề nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” ở lớp Một hiện nay là một vấn đề nan giải mà đa số giáo viên và nhà trường quan tâm Để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn phải có kế hoạch cụ thể cho đội ngũ giáo viên thông qua việc nâng cao trình độ chuyên môn và tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng tích cực, sáng tạo của học sinh nhiệm vụ đặt ra chúng ta phải đưa ra phương pháp dạy hiệu quả nhất
Một trong những yếu tố không thể thiếu trong việc nâng cao chất lượng
“giải toán có lời văn” ở lớp Một là việc tăng cường động viên các em học sinh luyện tập thực hành giải toán có lời văn mọi lúc mọi nơi Kiên trì, bền bỉ là yếu
tố góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Để nâng cao chất lượng giảng dạy thì việc Tăng cường sử dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh càng không thể thiếu trong mỗi bài dạy, tiết dạy học toán
Thường xuyên đánh giá để có biện pháp giúp đỡ học sinh kịp thời đây là yếu tố vô cùng quan trọng góp phần rất lớn trong việc nâng cao chất lượng giải
Trang 9lệ tinh thần học tập của các em
Đồng thời việc kết hợp giữa Gia đình – Nhà trường- Xã hội cũng là vấn đề lớn để nâng cao chất lượng giảng dạy
3 Giải pháp, biện pháp.
3.1 Mục tiêu của giải pháp:
Chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh lớp Một trong hai năm qua đã có những chuyển biến đi lên đáng kể, tuy nhiên vẫn chưa đạt được mức chất lượng tối thiểu theo quy định của trường, ngành Giáo dục đề ra Để tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh lớp Một trường Tiểu học Ea Bông trong giai đoạn hiện nay nhằm đạt chất lượng tối thiểu, mục tiêu chính của tôi như sau:
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp, biện pháp
- Nắm bắt nội dung chương trình Để dạy tốt môn Toán lớp Một nói chung,
“Giải bài toán có lời văn” nói riêng, điều đầu tiên mỗi giáo viên phải nắm thật chắc nội dung chương trình, sách giáo khoa Nhiều người nghĩ rằng Toán tiểu học, và đặc biệt là toán lớp Một thì ai mà chả dạy được Đôi khi chính giáo viên đang trực tiếp dạy cũng rất chủ quan và cũng có những suy nghĩ tương tự như vậy Qua dự giờ một số đồng chí giáo viên tôi nhận thấy giáo viên dạy bài nào chỉ cốt khai thác kiến thức của bài ấy, còn các kiến thức cũ có liên quan giáo viên nắm không thật chắc Người ta thường nói “Biết 10 dạy 1” chứ không thể
“Biết 1 dạy 1” vì kết quả thu được sẽ không còn là 1 nữa
- Dạy “Giải toán có lời văn” ở lớp Một theo từng mức độ
Mức độ 1: Ngay từ đầu học kỳ I các bài toán được giới thiệu ở mức độ nhìn hình vẽ - viết phép tính Mục đích cho học sinh hiểu bài toán qua hình vẽ, suy nghĩ chọn phép tính thích hợp
Thông thường sau mỗi phép tính ở phần luyện tập có một hình vẽ gồm 5 ô vuông cho học sinh chọn ghi phép tính và kết quả phù hợp với hình vẽ Ban đầu
để giúp học sinh dễ thực hiện sách giáo khoa ghi sẵn các số và kết quả :
Trang 11Đến bài 3 trang 85
Học sinh quan sát và cần hiểu được:
Lúc đầu trên cành có 10 quả Sau đó rụng 2 quả Còn lại trên cành 8 quả
Ở đây giáo viên cần động viên các em diễn đạt trình bày miệng ghi đúng phép tính Tư duy toán học được hình thành trên cơ sở tư duy ngôn ngữ của học sinh Khi dạy bài này cần hướng dẫn học sinh diễn đạt trình bày động viên các
em viết được nhiều phép tính để tăng cường khả năng diễn đạt cho học sinh
Mức độ 2: Đến cuối học kì I học sinh đã được làm quen với tóm tắt bằng
Trang 12vẽ hay một tình huống sách giáo khoa
Mức độ 3: Giới thiệu bài toán có lời văn bằng cách cho học sinh tiếp cận
với một đề bài toán chưa hoàn chỉnh kèm theo hình vẽ và yêu cầu hoàn thiện (tiết 81- bài toán có lời văn) Tư duy học sinh từ hình ảnh phát triển thành ngôn ngữ, thành chữ viết Giải toán có lời văn ban đầu được thực hiện bằng phép tính cộng là phù hợp với tư duy của học sinh
Cấu trúc một đề toán gồm 2 phần: phần cho biết và phần hỏi, phần cho biết gồm có 2 yếu tố
Mức độ 4: Để hình thành cách giải bài toán có lời văn, sách giáo khoa đã
nêu một bài toán, phần tóm tắt đề toán và giải bài toán hoàn chỉnh để học sinh làm quen.( Bài toán- trang 117)
Giáo viên cần cho học sinh nắm vững đề toán, thông qua việc tóm tắt đề toán Biết tóm tắt đề toán là yêu cầu đầu tiên để giải bài toán có lời văn
Bài giải gồm 3 phần : câu lời giải, phép tính và đáp số
Chú ý rằng tóm tắt không nằm trong lời giải của bài toán, nhưng phần tóm tắt cần được luyện kỹ để học sinh nắm được bài toán đầy đủ, chính xác Câu lời giải trong bài giải không yêu cầu mọi học sinh phải theo mẫu như nhau, tạo diều kiện cho học sinh diễn đạt câu trả lời theo ý hiểu của mình Quy ước viết đơn vị của phép tính trong bài giải học sinh cần nhớ để thực hiện khi trình bày bài giải Bài toán giải bằng phép tính trừ được giới thiệu khi học sinh đã thành thạo giải ài toán có lời văn bằng phép tính cộng Giáo viên chỉ hướng dẫn cách làm tương tự, thay thế phép tính cho phù hợp với bài toán
Ở lớp Một, học sinh chỉ giải toán về thêm, bớt với một phép tính cộng hoặc trừ, mọi học sinh bình thường đều có thể hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách nhẹ nhàng nếu được giáo viên hướng dẫn cụ thể
GV dạy cho học sinh giải bài toán có lời văn cần thực hiện tốt các bước sau:
+ Đọc và tìm hiểu đề bài
+Tìm đường lối giải bài toán
+ Trình bày bài giải
+ Kiểm tra lại bài giải
- Muốn học sinh hiểu và có thể giải được bài toán thì điều quan trọng
đầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dung bài toán Giáo viên cần tổ chức cho các em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khoá quan trọng như " thêm, và, tất cả, " hoặc "bớt, bay đi, ăn mất, còn lại, " (có thể kết hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ) Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên cần gạch chân các từ ngữ chính trong đề bài Một số giáo viên còn gạch chân
Trang 13Trong giai đoạn đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đàm thoại " Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?" và dựa vào câu trả lời của học sinh để viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán Đây là cách rất tốt để giúp học sinh ngầm phân tích đề toán Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì giáo viên nên cho các em nhìn tranh và trả lời câu hỏi
Ví dụ : Bài 3 trang 118, giáo viên có thể hỏi:
+ Em thấy dưới ao có mấy con vịt? (Dưới ao có 5 con vịt)
+ Trên bờ có mấy con vịt? (Trên bờ có 4 con vịt)
+ Trên bờ và dưới ao có tất cả mấy con vịt? (Có tất cả 9 con vịt)
Trong trường hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên có thể gắn mẫu vật (gà, vịt, .) lên bảng từ để thay cho tranh; hoặc dùng tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng để hỗ trợ học sinh đọc đề toán
Thông thường có 3 cách tóm tắt đề toán:
Trang 1423, 24 Chúng ta cần bình tĩnh rèn cho học sinh từng bước, miễn sao đến cuối năm (tuần 33, 34, 35) học sinh đọc và giải được bài toán là đạt yêu cầu Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái phải tìm
Chẳng hạn: Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà Hỏi nhà An
có tất cả mấy con gà?
- Bài toán cho biết gì? (Nhà An có 5 con gà)
- Mẹ mua thêm bao nhiêu con gà nữa? (Mẹ mua thêm 4 con gà)
- Bài toán hỏi gì? (Nhà An có tất cả mấy con gà?)
Giáo viên nêu tiếp: "Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em làm phép tính gì? (tính cộng) Bao nhiêu cộng bao nhiêu? (5 + 4); 5 + 4 bằng bao nhiêu? (5 + 4 = 9); hoặc: "Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em tính thế nào? (5 + 4 = 9); hoặc: "Nhà An có tất cả mấy con gà ?" (9) Em tính thế nào để được 9 ? (5 + 4 = 9)
Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp "9 này là 9 con gà", nên ta viết "con gà" vào trong dấu ngoặc đơn: 5 + 4 = 9 (con gà)
Sau khi học sinh đã xác định được phép tính, nhiều khi việc hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải còn khó hơn việc chọn phép tính và tính ra đáp số
Trang 15Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu (Hỏi) và cuối
(mấy con gà ?) để có câu lời giải:"Nhà An có tất cả:" hoặc thêm từ "là" để
có câu lời giải: Nhà An có tất cả là:
Cách 2: Đưa từ "con gà" ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ "Hỏi"
và thêm từ Số (ở đầu câu), là ở cuối câu để có: "Số con gà nhà An có tất cả là:"
Cách 3: Dựa vào dòng cuối cùng của tóm tắt, coi đó là "từ khoá" của
câu lời giải rồi thêm thắt chút ít
Ví dụ: Từ dòng cuối của tóm tắt: "Có tất cả: con gà ?" Học sinh viết
câu lời giải: "Nhà An có tất cả là:"
Cách 4: Giáo viên nêu miệng câu hỏi: "Hỏi nhà An có tất cả mấy con
gà?" để học sinh trả lời miệng: "Nhà An có tất cả 9 con gà" rồi chèn phép tính vào để có cả bước giải (gồm câu lời giải và phép tính):
Nhà An có tất cả số con gà là:
5 + 4 = 9 (con gà)
Cách 5: Sau khi học sinh tính xong: 5 + 4 = 9 (con gà), giáo viên chỉ
vào 9 và hỏi: "9 con gà ở đây là số gà của nhà ai?" (là số gà nhà An có tất cả) Từ câu trả lời của học sinh ta giúp các em chỉnh sửa thành câu lời giải:
"Số gà nhà An có tất cả là" v.v
Giáo viên cần tạo điều kiện cho các em tự nêu nhiều câu lời giải khác nhau, sau đó bàn bạc để chọn câu thích hợp nhất Không nên bắt buộc học sinh nhất nhất phải viết theo một kiểu
Có thể coi việc trình bày bài giải là trình bày một sản phẩm của tư duy Thực tế hiện nay các em học sinh lớp 1 trình bày bài giải còn rất hạn chế, kể cả học sinh khá giỏi Cần rèn cho học sinh nề nếp và thói quen trình bày bài giải một cách chính xác, khoa học, sạch đẹp dù trong giấy nháp, bảng lớp, bảng con hay vở, giấy kiểm tra Cần trình bày bài giải một bài toán có lời văn như sau:
Bài giải
Số gà nhà An có tất cả là:
5 + 4 = 9 (con gà) Đáp số : 9 con gà Nếu lời giải ghi: "Số gà nhà An là:" thì phép tính có thể ghi: “5 + 4 = 9 (con)” (Lời giải đã có sẵn danh từ "gà")
Giáo viên cần hiểu rõ lý do tại sao từ "con gà" lại được đặt trong dấu ngoặc đơn? “Con gà” là giá trị của đơn vị chung cho cả ba chữ số trong một phép tính Đúng ra thì 5 + 4 chỉ bằng 9 thôi (5 + 4 = 9) chứ 5 + 4 không thể bằng 9 con gà được Do đó, nếu viết:"5 + 4 = 9 con gà" là sai Nói cách
Trang 16Có thể hiểu rằng chữ "con gà” viết trong dấu ngoặc đơn ở đây chỉ có một sự ràng buộc về mặt ngữ nghĩa với số 9, chứ không có sự ràng buộc chặt chẽ về toán học với số 9 Như vậy cách viết 5 + 4 = 9 (con gà) là một cách viết phù hợp
Học sinh Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp Một thường có thói quen
khi làm bài xong không hay xem, kiểm tra lại bài đã làm Giáo viên cần giúp học sinh xây dựng thói quen học tập này Cần kiểm tra về lời giải, về phép tính, về đáp số hoặc tìm cách giải hoặc câu trả lời khác
Khi giải bài toán có lời văn giáo viên lưu ý cho học sinh hiểu rõ những điều đã cho, yêu cầu phải tìm, biết chuyển dịch ngôn ngữ thông thường thành ngôn ngữ toán học, đó là phép tính thích hợp
Ví dụ, có một số quả cam, khi được cho thêm hoặc mua thêm nghĩa là thêm vào, phải làm tính cộng; nếu đem cho hay đem bán thì phải làm tính trừ, Giáo viên hãy cho học sinh tập ra đề toán phù hợp với một phép tính đã cho, để các em tập tư duy ngược, tập phát triển ngôn ngữ, tập ứng dụng kiến thức vào các tình huống thực tiễn
Ví dụ, với phép tính 3 + 2 = 5.Có thể có các bài toán sau:
- Bạn Hà có 3 chiếc kẹo, chị An cho Hà 2 chiếc nữa Hỏi bạn Hà có mấy chiếc kẹo?
- Nhà Nam có 3 con gà mẹ Nam mua thêm 2 con gà Hỏi nhà Nam có tất
cả mấy con gà?
Có nhiều đề bài toán học sinh có thể nêu được từ một phép tính Biết nêu
đề bài toán từ một phép tính đã cho, học sinh sẽ hiểu vấn đề sâu sắc hơn, chắc chắn hơn, tư duy và ngôn ngữ của học sinh sẽ phát triển hơn
* Tìm ra điểm yếu của học sinh:
Học sinh biết giải toán có lời văn nhưng kết quả chưa cao
Số học sinh viết đúng câu lời giải đạt tỷ lệ thấp
Trang 17Trong phạm vi 27 tiết dạy từ tiết 81 đến tiết 108 tôi đặc biệt chú ý vào 1 số tiết chính sau đây:
Tiết 81: Bài toán có lời văn (trang 115)
Có bạn, có thêm bạn đang đi tới Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn?
HS quan sát tranh và trả lời câu hỏi
Điền vào chỗ chấm số 1 và số 3
Qua tìm hiểu bài toán giúp cho học sinh xác định được bài có lời văn gồm 2 phần:
- Thông tin đã biết gồm 2 yếu tố
- Câu hỏi ( thông tin cần tìm )
Từ đó học sinh xác định được phần còn thiếu trong bài tập ở trang116:
Có 1 con gà mẹ và 7con gà con Hỏi có tất cả bao nhiêu con gà?
Kết hợp giữa việc quan sát tranh và trả lời câu hỏi gợi ý của giáo viên, học sinh hoàn thành bài toán 4 trang 116:
Có 4 con chim đậu trên cành, có thêm 2 con chim bay đến Hỏi có tất cả
bao nhiêu con chim?
Tiết 82: Giải toán có lời văn ( trang 117)
Giáo viên nêu bài toán Học sinh đọc bài toán
- Đây là bài toán gì? Bài toán có lời văn
- Thông tin cho biết là gì ? Có 5 con gà, mua thêm 4 con gà
- Câu hỏi là gì ? Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà ? Dựa vào tranh vẽ và tóm tắt mẫu
Trang 18Tóm tắt
Có : 5 con gà Thêm : 4 con gà
Có tất cả : con gà?
GV đưa ra cách giải bài toán mẫu:
Bài giải Nhà An có tất cả số con gà là:
5 + 4 = 9 (con gà ) Đáp số: 9 con gà Bài 1 trang 117: Học sinh đọc bài toán- phân tích đề bài- điền vào tóm tắt
và giải bài toán
Trang 19Vài ba học sinh nêu câu lời giải khác nhau
GV chốt lại một cách trả lời mẫu:
Riêng với loại bài mà đơn vị tính là đơn vị đo độ dài (cm) cần thêm chữ
dài vào trước chữ là
Trang 20
Tiết 86 Tiết 104
Hầu hết đều có bài toán có lời văn vận dụng kiến thức toán được cung cấp theo phân phối chương trình Tuy nhiên, việc phân tích đề - tóm tắt - giải bài toán phải luôn luôn được củng cố duy trì và nâng dần mức độ Song cơ bản vẫn
là các mẫu lời giải cho các bài toán thêm là:
- Có tất cả là:
- Số ( đơn vị tính ) + có tất cả là:
- Vị trí ( trong, ngoài, trên, dưới, ) + có tất cả là:
- đoạn thẳng + dài là:
Tiết 105: Giải toán có lời văn(tiếp theo)
Bài toán: Nhà An có 9 con gà, mẹ đem bán 3 con gà Hỏi nhà An còn lại mấy con gà?
HS đọc – phân tích bài toán :
+Thông tin cho biết là gì? Có 9 con gà Bán 3 con gà
+Câu hỏi là gì ? Còn lại mấy con gà?
Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc tóm tắt, làm bài giải mẫu Giáo viên giúp học sinh nhận thấy câu lời giải ở loại toán bớt này cũng như cách viết của loại toán
thêm đã nêu ở trên chỉ khác ở chỗ cụm từ có tất cả được thay thế bằng cụm từ
Trang 21Tóm tắt
Có : 8 con chim Bay đi : 2 con chim Còn lại : con chim?
Bài giải
Số chim còn lại là:
8 - 2 = 6 (con chim) Đáp số : 6 con chim
Bài 3 trang 149
Tóm tắt Đàn vịt có : 8 con
ở dưới ao : 5 con Trên bờ : con?
Bài giải
Trên bờ có số con vịt là:
8 – 5 = 3 (con vịt) Đáp số: 3 con vịt
* Nhưng bài 4 trang 150 và bài 4 trang151 thì lời giải dựa vào dòng thứ 3 của phần tóm tắt bài toán:
Trang 228 - 4 = 4( hình ) 15 - 4 = 11( hình )
Đáp số: 4 hình tam giác Đáp số: 11 hình tròn
* Bài 3 trang 151 Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng
Một sợi dây dài 13 cm, đã cắt đi 2 cm Hỏi sợi dây còn lại dài bao nhiêu
Tiết 108 Luyện tập chung
Đây là phần tổng hợp chốt kiến thức của cả 2 dạng toán đơn thêm và bớt ở
Lúc này HS đã quá quen với giải bài toán có lời văn nên hướng dẫn cho học
sinh chọn cách viết câu lời giải gần với câu hỏi nhất đó là:
- Đọc kĩ câu hỏi
- Bỏ chữ Hỏi đầu câu hỏi
- Thay chữ bao nhiêu bằng chữ số
- Thêm vào cuối câu chữ là và dấu hai chấm
Cụ thể Bài 1 trang 152
Trang 23Câu lời giải là: Có tất cả số ô tô là :
B, Câu hỏi là: Hỏi trên cành còn lại bao nhiêu con chim?
Câu lời giải là: Trên cành còn lại số con chim là :
VD khác:
Câu hỏi là: Hỏi hai lớp trồng được tất cả bao nhiêu cây ?
Câu lời giải là: Hai lớp trồng được tất cả số cây là:
Câu hỏi là: Hỏi con sên bò được tất cả bao nhiêu xăng-ti-mét?
Câu lời giải là: Con sên bò được tất cả số xăng-ti-mét là?
Câu hỏi là: Hỏi Lan còn phải đọc bao nhiêu trang nữa thì hết quyển sách?
Câu lời giải là: Lan còn phải đọc số trang nữa là:
Trên đây là 2 mẫu toán đơn điển hình của phần giải toán có lời văn ở lớp Một Tôi đã đưa ra phương pháp dạy từ dễ đến khó để học sinh có thể giải toán
mà không gặp khó khăn ở bước viết câu lời giải Tối thiểu học sinh có lực học trung bình yếu cũng có thể chọn cho mình một cách viết đơn giản nhất bằng cụm từ:
Có tất cả là:
Hoặc : Còn lại là:
Còn học sinh khá giỏi các em có thể chọn cho mình được nhiều câu lời giải khác nhau nâng dần độ khó thì lời giải càng hay và sát với câu hỏi hơn
3.3 Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
Điều kiện để thực hiện các biện pháp trên có các công văn 4119 /BGD ĐT –GDTH ngày 06 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Công văn số 1043/SGD ĐT-GDTH ngày 28 tháng 08 năm 2014 của Sở Giáo dục Đào tạo Đăk Lăk Căn cứ Công văn số 1012 /PGD ĐT – GDTH ngày 17 tháng 9 năm
2014 của Phòng Giáo dục và Đào tạo Krông Ana
Trang 24Thông tư 32/2009/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Thông tư 39/2009/TT- BGD ĐT ngày 29 tháng 12 năm
2009 Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014
Luật Giáo dục năm 2005 Công văn số 5842/BGDDT-VP, ngày 01/9/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học giáo dục phổ thông
3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp:
Các biện pháp thực hiện có mối quan hệ mật thiết với nhau biện pháp này
là tiền đề cho biện pháp khác Đầu tiên chúng ta nâng cao và trình độ chuyên môn cho từng giáo viên Từ đó người giáo viên có được những kiến thức cơ bản
về chuyên môn để đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng tích cực, sáng tạo
Để học sinh thích học, giáo viên yêu trường yêu lớp một trong vấn đề không thể thiếu là tạo cảnh quan môi trường Sư phạm Xanh, sạch, đẹp, an toàn
và thân thiện từ đó giáo viên học sinh thích đến trường thích tham gia vào các hoạt động của trường, lớp
Bên cạnh các giải pháp trên công tác vận động, khuyến khích học sinh chăm học là một yếu tố góp phần lớn trong nâng cao chất lượng giảng dạy môn Toán nói riêng và chất lượng Giáo dục nói chung Việc vận động, khuyến khích học sinh là biện pháp tổng thể để đưa chất lượng Giáo dục ngày càng đi nên đáp ứng đòi hỏi của toàn xã hội đưa nước ta thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa: “ Sánh vai với các cường quốc năm châu”
3.5 Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Sau một năm triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời
văn Chất lượng giảng dạy, giải toán có lời văn của trường được nâng lên rõ rệt,
ý thức giáo dục của giáo viên được nâng lên, tỷ lệ học sinh hoàn thành nhiệm vụ môn học tăng, tỷ lệ học sinh hoàn thành nhiệm vụ môn học giảm Đặc biệt học sinh có ý thức cao hơn trong việc học Toán cũng như các môn học khác
4 Kết quả đạt được
Kết quả kiểm tra mức độ học môn Toán của học sinh năm học 2014-2015
cho thấy tỉ lệ học sinh hoàn thành các bước giải bài toán có lời văn còn hạn chế
HS viết đúng phép tính
HS viết đúng đáp
số
HSviết đúng cả 3 bước trên
Trang 25HS viết đúng phép tính
HS viết đúng đáp
số
HS viết đúng cả 3 bước trên
* Về giáo viên: Chuyên môn của Giáo viên đã được nâng lên Biết lựa chọn
áp dụng các biện pháp trong quá trình giảng dạy họ vận dụng tất cả các biện pháp dạy phù hợp với đối tượng học sinh, chú trọng đến công tác dạy giải toán
có lời văn, vận động, khuyến khích học tập Vì thế, năm học 2014-2015 không chỉ khối I mà nhà trường đã có bước tiến triển trong công tác nâng cao hiệu quả
về chất lượng công tác giáo dục so với cuối học 2013-2014
* Về học sinh: Các em có niềm đam mê môn Toán, hứng thú với các bài
toán có lời văn, nhiều em đã biết vận dụng các bước giải toán vào việc giải các bài toán, xác định được dạng bài toán và nắm được cách giải, biết đặt lời giải và phép tính tương ứng phù hợp, trình bày bài giải khá rõ ràng đẹp mắt Kết quả học tập của các em cũng được nâng cao hơn, tự tin hơn trong giao tiếp
Những bài học kinh nghiệm
Qua việc nghiên cứu và áp dụng phương pháp dạy Toán có lời văn cho học sinh lớp Một cho thấy giải Toán có lời văn ở lớp Một không khó ở việc viết phép tính và đáp số mà chỉ mắc ở câu lời giải của bài toán Sau quá trình nghiên cứu và áp dụng kinh nghiệm sáng kiến thì học sinh biết viết câu lời giải đã đạt kết quả rất cao, dẫn tới việc học sinh đạt tỉ lệ cao về hoàn thiện bài toán có lời văn Vì vậy theo chủ quan của bản thân tôi thì kinh nghiệm này có thể áp dụng
và phổ biến nhằm nâng cao chất lượng cho học sinh về việc giải toán có lời văn
III PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
Muốn giúp học sinh có kĩ năng giải toán có lời văn cần:
Chú trọng việc dạy học giải toán có lời văn Nắm vững quy trình giải toán
có lời văn Chuẩn bị tốt nội dung, hệ thống câu hỏi khai thác Quan tâm đến từng đối tượng học sinh Kịp thời uốn nắn, sửa sai cách làm bài, trình bày bài làm của học sinh
Tăng cường sử dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh
Giáo viên thể hiện tính kiên trì, bề bỉ, nhiệt tình hết lòng vì học sinh Trong quá trình giảng dạy thường xuyên nhắc nhở học sinh phải thực hiện đầy
đủ các bước khi tiến hành giải bài toán có lời văn
Trang 26Thường xuyên đánh giá để có biện pháp giúp đỡ học sinh kịp thời
Phương pháp dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 giúp học sinh
hoàn thiện một bài giải đủ 3 bước: câu lời giải + phép tính + đáp số là vấn đề
đang được các thầy cô trực tiếp dạy lớp 1 rất quan tâm Vấn đề đặt ra là giúp học
sinh lớp 1 viết câu lời giải của bài toán sao cho sát với yêu cầu mà câu hỏi của
bài toán đưa ra Chính vì vậy nên tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp mà bản
thân tôi đã vận dụng trong quá trình dạy và đạt kết quả tương đối khả quan
Trên đây là quá trình nghiên cứu, áp dụng kinh nghiệm vào đổi mới
phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy giải toán có lời văn cho
học sinh lớp 1 nói riêng Tôi hy vọng sẽ tiếp tục nghiên cứu thành công về đổi
mới phương pháp dạy Toán và nâng cao hiểu biết cho bản thân trong quá trình
dạy học ở Tiểu học
2 Kiến nghị, đề xuất
góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán học sinh tiểu học như sau:
Đối với Phòng Giáo dục – Đào tạo huyện: Thường xuyên tổ chức hội thảo
chuyên môn theo từng cụm trường hoặc cho các tổ trưởng chuyên môn trong
toàn huyện để chúng tôi có điều kiện trao đổi, học hỏi, đúc rút kinh nghiệm
trong quá trình giảng dạy
Đầu tư thêm cơ sở vật chất cho nhà trường để đủ phòng học cho việc tổ
chức dạy học hai buổi/ngày
Đối với gia đình và Xã hội: Cần quan tâm nhiều hơn nữa đến việc học tập
của con em, phối hợp chặt chẽ giữa Nhà trường, gia đình và xã hội để giáo dục
con em được tốt hơn
Trên đây là một vài kinh nghiệm mà tôi đã đúc rút được trong quá trình
dạy học toán lớp 1 trên thực tế đã đạt được những thành công nhất định Cách
thức giúp học sinh giải Toán có lời văn chỉ là một khía cạnh nhỏ trong nội dung
Toán Tiểu học Tôi mạnh dạn nêu ra để hội đồng khoa học xem xét, bổ sung,
góp ý kiến để tôi có thêm những kinh nghiệm trong giảng dạy nhằm nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện cho học sinh
Đây là ý kiến chủ quan của cá nhân tôi nên không tránh khỏi những hạn
chế Rất mong nhận được sự tham gia góp ý của bạn bè đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa học
Ea Bông, ngày 01 tháng 03 năm 2016
Người viết
Hoàng Thị Kim Chi
Trang 27Xếp loại : Điểm:
Chủ tịch Hội đồng
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM CẤP HUYỆN
Xếp loại : Điểm:
Chủ tịch Hội đồng
Trang 28
BẢN
GHI CHÚ
5 Nội dung sách giáo khoa Toán ở lớp 1 Nhà xuất bản Giáo dục
Trang 29Lưu Thị Hạnh 1 Trường Tiểu học Hà Huy Tập
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN
CHO HỌC SINH LỚP 2
I PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, giáo dục nước ta đang ngày càng phát triển và từng
bước hội nhập với thế giới Sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục gắn liền với việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường Quá trình đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh ngày càng được chú trọng và quan tâm Trong sự phát triển chung của nền giáo dục,
bộ môn Toán cũng đang phát triển và đóng một vai trò quan trọng Từ đó, mỗi giáo viên phải không ngừng nỗ lực phấn đấu để nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ nhằm đáp ứng cho mục tiêu giáo dục ngày càng phát triển của nước nhà Trong chương trình Tiểu học, môn Toán là một môn học không thể thiếu trong nhà trường Thông qua việc học Toán các em bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, khả năng suy luận và diễn đạt ý đúng bằng lời Thông qua việc học tập tốt môn Toán sẽ là chiếc cầu nối cho các em lĩnh hội và tiếp thu tốt các môn khoa học khác trong cuộc sống sau này Nhận thức được vai trò quan trọng của môn học Toán, mỗi giáo viên khi giảng dạy phải tìm ra phương pháp dạy học phù hợp để giúp các em học sinh tiếp thu đầy đủ kiến thức và biết vận dụng được vào trong cuộc sống hàng ngày Việc dạy học tốt đối với mỗi giáo viên không chỉ là việc giúp các em nắm được các kiến thức học trong nhà trường mà thông qua học trên lớp các
em còn biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, để các em trở thành những người có ích cho xã hội Chính vì vậy môn Toán là một môn học đóng vai trò quan trọng trong cả quá trình học ở Tiểu học
Năm học 2014 – 2015 tôi được phân công dạy lớp 2, qua một thời gian làm quen và nắm bắt tình hình học tập đầu năm của các em, bản thân nhận thấy
đa số các em học sinh trong quá trình học còn thụ động, các em chưa khai thác hết khả năng tiềm ẩn trong nội dung bài học, vận dụng chưa linh hoạt và nhanh nhẹn trong một số trường hợp đơn giản trong thực tế cuộc sống Một số giáo viên khi giảng dạy chưa mạnh dạn trong việc đổi mới phương pháp dạy học, hạn chế việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức Mặt khác trường Tiểu học Võ Thị Sáu là một trong những trường có tỷ lệ học sinh đồng bào đông nhất trong các trường Tiểu học trên toàn huyện, việc tiếp thu kiến thức của các em còn chậm Từ đó, bản thân luôn suy nghĩ để tìm ra được một số phương pháp dạy học mới phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập cho các em và đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2
Trang 30Lưu Thị Hạnh 2 Trường Tiểu học Hà Huy Tập
Xuất phát từ những cơ sở trên, tôi chọn đề tài: “Biện pháp để nâng cao
chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2.”
I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Phối hợp một số biện pháp dạy học để nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2 năm học 2014 – 2015
I.3 Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng và phối hợp một số biện pháp sư phạm trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2
I.4 Phạm vi nghiên cứu
Áp dụng các phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2A, trường Tiểu học Võ Thị Sáu, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk, năm học 2014 – 2015
I.5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp 1 : Phương pháp trực quan
- Phương pháp 2 : Phương pháp gợi mở vấn đáp
- Phương pháp 3 : Phương pháp luyện tập
- Phương pháp 4 : Phương pháp dạy học phân hóa nội tại
- Phương pháp 5 : Phương pháp kiểm tra, đánh giá
II PHẦN NỘI DUNG
II.1 Cơ sở lý luận
Lứa tuổi học sinh Tiểu học chủ yếu ở vào khoảng từ 6 đến 11 tuổi, nhìn chung các em còn rất nhạy cảm với những tác động bên ngoài Khả năng phân tích của các em còn rất kém nên các em thường tri giác trên tổng thể Về sau các hoạt động tri giác phát triển và được hướng dẫn bởi các hoạt động nhận thức khác nên nó chính xác dần Sự chú ý không có chủ định chiếm ưu thế, trí nhớ trực quan hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ lô-gic, những hình ảnh cụ thể dễ nhớ hơn là câu chữ khô khan, trừu tượng, khái quát Trí tưởng tượng tuy có phát triển nhưng còn tản mạn, ít có tổ chức và chịu tác động nhiều của hứng thú, các mẫu hình có sẵn Dần dần tư duy và khả năng suy luận của các em sẽ thay đổi và phát triển theo chiều hướng khác nhau là do
sự hướng dẫn của giáo viên Nắm vững vấn đề này, tùy vào nội dung giảng dạy
mà giáo viên lựa chọn một cách linh hoạt các phương pháp dạy học thích hợp
để học sinh tiếp thu kiến thức tốt và phát huy khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của mình
Trang 31Lưu Thị Hạnh 3 Trường Tiểu học Hà Huy Tập
Đối với học sinh lớp 2, tư duy của các em còn rất non nớt, các em vừa trải qua một năm học tập ở môi trường Tiểu học Nhìn chung ở lứa tuổi này đã xuất hiện những tiến bộ mới song còn hạn chế, các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành tổng thể nhưng sự liên kết đó chưa mang tính tổng quát Giáo viên nắm được tâm lý của các em và tìm ra phương pháp phù hợp để tư duy của các em dần phát triển thành tổng thể khi chiếm lĩnh các kiến thức được học Việc kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được thực hiện thông qua việc cho học sinh tính toán, các bài toán liên quan với cuộc sống một cách thích hợp giúp học sinh hình thành và rèn luyện những kĩ năng thực hành cần thiết trong đời sống hàng ngày, giúp các em biết vận dụng những kỹ năng đó vào cuộc sống Thông qua đó các em sẽ phát triển tư duy và vận dụng học tốt các môn học khác, rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy tổng thể và những đức tính tốt của con người lao động mới
II.2 Thực trạng
a, Thuận lợi, khó khăn
*Thuận lợi
Được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của ban giám hiệu nhà trường tới chất
lượng dạy và học trong nhà trường
Nhìn chung các em học sinh đã nắm được kiến thức cộng, trừ cơ bản của môn Toán lớp 1
Một số em học sinh giỏi, khá trong lớp đã vui vẻ giúp đỡ bạn cùng tiến bộ trong hoạt động nhóm
Lượng kiến thức môn Toán lớp 2 được phân theo mạch kiến thức từ đơn giản đến phức tạp
Nhiều gia đình học sinh đã quan tâm đến vấn đề học tập của con em mình Giáo viên, học sinh và phụ huynh nhiệt tình hưởng ứng và tham gia tích cực trong quá trình thực hiện đề tài
Đa số các em còn thụ động, chưa manh dạn trong quá trình học tập
Trang 32Lưu Thị Hạnh 4 Trường Tiểu học Hà Huy Tập
Một số giáo viên ngại sử dụng đồ dùng minh hoạ, chuyển đổi phương pháp giảng dạy còn lúng túng, chưa phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
b, Thành công, hạn chế
Thành công: Đề tài được thực hiện nhằm nâng cao chất lượng môn Toán cho
học sinh lớp 2, làm cơ sở cho các em áp dụng kiến thức vào thực tế
Hạn chế: Do lớp chiếm đa số học sinh là người dân thộc thiểu số, việc tiếp thu
kiến thức của các em còn hạn chế, mặt khác các em đọc và hiểu Tiếng Việt còn chậm nên khi dạy cho học sinh nắm được kiến thức về giải toán có lời văn, các yếu
tố hình học còn gặp nhiều khó khăn Từ đó, ảnh hưởng tới việc nâng cao chất lượng của môn Toán lớp 2
c, Mặt mạnh, mặt yếu:
Mặt mạnh: Đây là giải pháp phát huy tính tích cực, chủ động trong quá trình
học tập của người học Phát triển khả năng nhận thức, tư duy sáng tạo cho học sinh Giúp các em vận dụng và thực hành làm toán một cách nhanh nhẹn, logic và
có kết quả cao nhất
Mặt yếu: Trong quá trình học tập các em còn rụt rè, chưa chủ động chiếm
lĩnh kiến thức môn học Các em còn trông chờ nhiều vào sự hướng dẫn, gợi mở của giáo viên Từ đó, các em sẽ bối rối khi gặp những bài toán tương tự, khả năng vận dụng vào làm các bài tập liên quan bị hạn chế
d, Nguyên nhân:
Thành công: Sau khi thực hiện đề tài sẽ nâng cao chất lượng môn Toán cho
học sinh lớp 2, làm cơ sở cho các em học tốt môn Toán trong những năm tiếp theo
ở cấp Tiểu học Thông qua việc học tốt môn Toán các em sẽ phát triển tư duy,
nhận thức giúp các em học tốt các môn học khác
Hạn chế, yếu kém: Đa số học sinh trong lớp là người dân tộc thiểu số, việc
tiếp thu kiến thức của các em còn chậm Trình độ nhận thức của phụ huynh còn thấp, hoàn cảnh gia đình học sinh còn nhiều khó khăn,… Do vậy, phần nào ảnh hưởng tới đề tài nghiên cứu này
e, Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
Trong dạy học ở Tiểu học nói chung và dạy học Toán nói riêng, một yêu cầu đặt ra là tích cực hóa hoạt động của người học, tạo điều kiện để người học phát hiện và lĩnh hội tri thức Nội dung toán học ở lớp 2 mặc dù chưa đòi hỏi học sinh phải suy luận nhiều nhưng do nhận thức của các em trong giai đoạn này còn mang tính trực giác và cảm tính, các em tin tưởng tuyệt đối vào sự hướng dẫn và dạy bảo của thầy cô giáo Vì vậy mỗi giáo viên khi giảng giải kiến thức phải nhẹ nhàng, đầy đủ, đúng nội dung để khơi gợi sự phát triển của trí tuệ, nhận thức cho các em
Để đạt được những yêu cầu đặt ra, ngoài kiến thức giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ các phương tiện và đồ dùng dạy học, kết hợp với kĩ năng sư phạm phù hợp Do
Trang 33Lưu Thị Hạnh 5 Trường Tiểu học Hà Huy Tập
trình độ nhận thức của phụ huynh còn thấp, việc kèm cặp thêm cho con em ở nhà chưa được chú trọng, vấn đề học tập của các em chủ yếu được thực hiện ở trên lớp Mỗi giáo viên, ngoài công tác giảng dạy cần liên hệ chặt chẽ với gia đình, tuyên truyền để tất cả phụ huynh hiểu được vấn đề học tập tốt của các em cần có sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường, nhắc nhở các em việc tự học thêm ở nhà Bên cạnh đó, trong quá trình học tập ở trường giáo viên cần tạo không khí học tập thoải mái để học sinh tự tin, hướng thú, chủ động tiếp thu kiến thức Mặt khác cần động viên, khen ngợi và khích lệ kịp thời học sinh để tạo không khí phấn khởi, thi đua học tập nâng cao chất lượng môn Toán của tất cả học sinh trong lớp
III Giải pháp, biện pháp
a, Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Nhằm nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2 Từ đó, các em nắm
được kiến thức toán học một cách toàn diện, nâng cao năng lực tư duy nhận thức
để vận dụng vào các bài toán có liên quan Giúp các em học tốt các môn học khác
b, Nội dung và cách thức thực hiện
Biện pháp thứ nhất: Nắm bắt nội dung chương trình
Đối với mỗi giáo viên, để giúp dạy tốt môn Toán lớp 2 ngoài các yêu cầu cần thiết về kiến thức, kĩ năng và chuẩn bị đồ dùng dạy học thì phải nắm bắt được nội dung chương trình sách giáo khoa Toán lớp 2 Từ đó, giáo viên mới
có kế hoạch thiết kế tiết dạy phù hợp Các khái niệm và quy tắc trong sách giáo khoa nói chung đều được giảng dạy thông qua việc thực hiện kiến thức từ đơn giản đến phức tạp Trong mỗi bài học, đều xây dựng dựa trên việc hình thành kiến thức rồi vận dụng kiến thức vào thực hành tính, cuối mỗi bài học thường có một bài toán giải có lời văn để học sinh vận dụng kiến thức đã học vào thực hành giải toán, thông qua đó rèn kĩ năng cho các em
Ví dụ: Bài “ Phép cộng có tổng bằng 100” SGK/T40
Đầu tiên, giáo viên hướng dẫn để các em nắm bắt được kiến thức mới với phép cộng có tổng bằng 100 thông qua cách thực hiện phép tính cộng 83 + 17 Khi thực hiện phép cộng dạng này giáo viên khắc sâu cho các em cách đặt tính thẳng hàng đơn vị với hàng đơn vị, hàng chục với hàng chục và khi thực hiện cách tính kết quả 100 viết số 1 lùi về phía tay trái là hàng trăm Khi các em hiểu cách đặt tính và nắm được cách tính thì các em sẽ dễ dàng làm được những bài tập có liên quan
Tiếp đến là các bài tập 1,2,3 vận dụng kiến thức đã học vào thực hành tính cộng các số trong phạm vi 100, cuối cùng là bài toán giải có liên quan đến phép cộng các số trong phạm vi 100
Trang 34Lưu Thị Hạnh 6 Trường Tiểu học Hà Huy Tập
Việc thiết kế mỗi bài học như vậy sẽ giúp các em nắm được kiến thức và vận dụng vào làm được những bài toán có liên quan, nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh, làm cơ sở cho các em tiếp thu phương pháp và vận dụng học tốt hơn môn Toán ở những năm tiếp theo ở cấp Tiểu học
Biện pháp thứ hai: Sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học
Toán học là một môn khoa học mang tính trừu tượng cao Để học sinh hiểu
bài một cách sâu sắc, dễ tiếp thu ngoài việc sử dụng kiến thức, kĩ năng sư phạm thì giáo viên cũng cần chuẩn bị đầy đủ các phương tiện và đồ dùng dạy học Đối với tâm lí học sinh lớp 2, tư duy nhận thức của các em chưa có chủ định, thiếu tập trung Việc sử dụng đồ dùng dạy học là một giải pháp sư phạm tạo ra chỗ dựa ban đầu giúp học sinh nhận thức được những kiến thức trừu tượng, giải pháp này tác động vào các hoạt động nhận thức của trẻ theo đúng quy luật: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Do đó, khi sử dụng đồ dùng dạy học trong một tiết học, không những học sinh hiểu sâu bài hơn mà còn làm cho các em thấy kiến thức toán học có mối quan hệ chặt chẽ với thực tiễn, tạo cho học sinh ý thức vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn
Ví dụ: Đối với bài: Giờ, phút/ SGK trang 125
Khi dạy học bài này, ngoài việc giúp các em nhận biết được 1 giờ bằng 60 phút, cách xem đồng hồ khi kim phút chỉ vào số 3 và số 6 thì tôi còn chuẩn bị thêm đồ dùng dạy học đó là chiếc đồng hồ Tôi quay một số giờ cụ thể về thời gian các em thức dậy, thời gian các em ăn sáng, thời gian các em đi học,… Thông qua đó các em biết vận dụng thời gian vào thực tế và sử dụng thời gian khoa học để đạt hiệu quả công việc, học tập và nghỉ ngơi phù hợp
Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học là một việc làm cần thiết đối với mỗi giáo viên khi đứng lớp Nhưng trong quá trình dạy học người giáo viên phải biết lựa chọn thiết bị đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung bài dạy, tránh lạm dụng dẫn đến việc sử dụng thiết bị đồ dùng dư thừa, không có mục đích Vì vậy, khi sử dụng đồ dùng dạy học giáo viên cần phải cân nhắc kĩ về mục đích, biện pháp để đồ dùng, thiết bị dạy học mang lại hiệu quả cao nhất
Biện pháp thứ ba: Phối hợp các phương pháp trong dạy học Toán
Trong dạy học không có phương pháp nào là tối ưu hay vạn năng, việc kết hợp
linh hoạt các phương pháp dạy học cùng với lòng nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của nguời thầy sẽ mang lại kết quả cao trong giảng dạy, là chiếc cầu nối giúp các
em đến với tri thức của nhân loại.Khi xác định các phương pháp dạy học giáo viên phải biết tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của người học để thông qua đó giúp các em lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt
Trang 35Lưu Thị Hạnh 7 Trường Tiểu học Hà Huy Tập
được mục tiêu của bài học Như vậy việc vận dụng và phát huy có hiệu quả các phương pháp dạy học sẽ góp phần vô cùng quan trọng để phát triển trí tuệ cho các
em một cách tổng hợp.Bằng kinh nghiệm thực tế, tôi đã sử dụng các phương pháp như sau:
Phương pháp 1: Phương pháp trực quan
Trong môn Toán, phương tiện trực quan là chỗ dựa để giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát, nhận xét, so sánh, đưa ra những nhận định, những hình ảnh đặc trưng nhằm minh họa, thể hiện các kiến thức trừu tượng của toán học
Ví dụ : Đối với bài: Thực hành xem đồng hồ (SGK/78)
Sau khi học xong bài học, giáo viên đưa ra hình ảnh minh họa hoạt động chào cờ đầu tuần và hỏi học sinh: Buổi sáng chúng ta thường tổ chức chào cờ vào lúc mấy giờ ? Học sinh sẽ trả lời được thời gian là 7 giờ Tiếp đến giáo viên gọi học sinh lên quay thời gian đúng 7 giờ trên chiếc đồng hồ mà giáo viên chuẩn bị cho tiết học, tiếp theo cho các em quan sát và đọc thời gian đúng
Từ cách cách dạy học vận dụng và liên hệ thực tế như vậy các em sẽ hiểu bài tốt hơn và vận dụng được cách xem thời gian đúng cho hoạt động trong ngày Qua đó, giáo viên giáo dục các em thực hiện đúng nội quy trường, lớp và
sử dụng quỹ thời gian trong ngày phù hợp, có hiệu quả
Phương pháp 2 : Phương pháp gợi mở vấn đáp
Khi sử dụng phương pháp dạy học này, đối với việc hướng dẫn học sinh làm toán bản thân giáo viên không trực tiếp đưa ra những kiến thức ở dạng hoàn chỉnh mà gợi mở để các em tư duy, tự tìm ra những kiến thức mới, suy luận để hiểu được nội dung của bài học
Ví dụ : Đối với bài tập 4/ SGK trang 60: Cô giáo có 63 quyển vở, cô đã phát cho học sinh 48 quyển vở Hỏi cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ?
Trang 36Lưu Thị Hạnh 8 Trường Tiểu học Hà Huy Tập
Khi dạy bài tập này giáo viên đã sử dụng hệ thống câu hỏi như sau :
- Bài toán cho biết gì ? Bài toán cho biết : Cô giáo có 63 quyển vở, cô đã phát cho học sinh 48 quyển vở
- Bài toán hỏi gì ? Bài toán hỏi : Cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ?
- Để biết cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ta làm như thế nào ?
Từ hệ thống câu hỏi gợi mở, học sinh tư duy và trả lời được cách làm bài toán (lấy 63 - 48) thông qua đó sẽ hiểu và nắm được cách giải của bài toán Hình thức hỏi - đáp giữa giáo viên - học sinh giúp giáo viên nhận biết được việc tiếp thu bài của các em trong lớp và kịp thời uốn nắn, có biện pháp hỗ trợ kịp thời để các em cùng tiến bộ
Phương pháp 3 : Phương pháp luyện tập
Luyện tập có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt với môn Toán Môn Toán là một môn học công cụ, được sử dụng rộng rãi trong các môn khoa học khác và trong đời sống Học toán không chỉ để lĩnh hội một tri thức mà điều quan trọng hơn là phải biết vận dụng những tri thức đã học, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và đặc biệt là những phương thức tư duy cần thiết Phương pháp luyện tập được
sử dụng rộng rãi trong hoạt động dạy học của giáo viên, luyện tập ngay cả trong quá trình truyền thụ tri thức ; vừa giảng, vừa rèn luyện chính là đặc điểm của bộ môn Toán Vận dụng giải các bài tập sau khi học xong lý thuyết ; giải các bài tập có nội dung thực tế ; giải các bài tập toán tổng hợp đòi hỏi phải vận dụng sáng tạo các tri thức, kĩ năng đã học, đã biết
Ví dụ : Đối với bài : Ngày, tháng (SGK/79)
Sau khi dạy cho học sinh nắm ngày tháng trong một tờ lich của tháng 11 trong sách giáo khoa, giáo viên tiến hành cho các em là các bài tập vận dụng 1,2 Tiếp theo giáo viên cho học sinh luyện tập thêm bằng cách điền các ngày còn thiếu trong tháng 12 của bài tập 2, rồi đặt thêm hệ thống câu hỏi nâng cao hơn : “Thứ bảy tuần này là ngày 27 thì thứ bảy tuần trước là ngày bao nhiêu ?” Qua đó các em hiểu và vận dụng xem được ngày, tháng trên tờ lịch tháng 12
mà giáo viên đã chuẩn bị
Trang 37Lưu Thị Hạnh 9 Trường Tiểu học Hà Huy Tập
Phương pháp 4 : Phương pháp dạy học phân hóa nội tại
Học sinh trong một lớp, vừa có sự lựa chọn và sắp xếp, vừa có sự khác nhau về phát triển nhân cách, trong đó sự giống nhau là cơ bản Nhưng bên cạnh đó do nhu cầu xã hội, môi trường sống của gia đình dẫn đến các em cũng
có sự khác nhau nhiều về nhận thức Đối với học sinh lớp tôi, tỷ lệ học sinh người đồng bào chiếm hơn 90% học sinh trong lớp, trong số đó có khoảng 40% các em theo kịp tiến độ tiếp nhận kiến thức của các em người Kinh Chính
vì vậy trong quá trình dạy học sinh môn Toán giáo viên tiến hành phân hóa đối tượng học sinh theo từng dạng bài tập
Ví dụ : Bài Luyện tập chung (SGK/105)
Đây là bài tập ôn lại các dạng toán đã học về bảng nhân, tính giá trị biểu thức, đường gấp khúc và độ dài đường gấp khúc nên khi dạy bài này giáo viên dạy theo phương pháp phân hóa đối tượng học sinh như sau :
- Đối với các em học sinh còn hạn chế về kiến thức Toán, giáo viên cho các em làm bài tập 1, 3, 5 Các em phải học thuộc được bảng nhân và vận dụng vào làm được bài tập 1 và nhận biết được về đường gấp khúc và cách tính độ dài đường gấp khúc, giúp các em rèn kĩ năng cộng các số
- Đối với học sinh nắm được kiến thức theo chuẩn kiến thức - kĩ năng, giáo viên cho các em làm các bài tập 1, 3, 4, 5 Thông qua cách tính nhẩm các
em sẽ làm được bài tập tính giá trị của biểu thức có liên quan giữa phép nhân - phép cộng - phép trừ, rồi vận dụng vào giải được bài toán có lời văn và nắm được cách tính độ dài đường gấp khúc
- Đối với đối tượng học sinh khá giỏi sau khi các em làm xong những bài tập theo chuẩn kiến thức, giáo viên cho các em làm thêm bài tập 2 hoặc có thể
ra một số bài tập vận dụng nhằm phát triển từ duy nhận thức cho các em : + Tìm giá trị của M : 5 x 4 + 12 < 9 x 5 – M < 8 x 3 + 10
+ Mẹ có 46 cái kẹo, mẹ cho em 12 cái và cho anh 10 cái Hỏi mẹ còn lại bao nhiêu cái kẹo ?
Phương pháp 5 : Phương pháp kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra, đánh giá là một hình thức nhằm phát hiện những thiếu sót của học sinh và giáo viên trong quá trình dạy và học Kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện thường xuyên trong mỗi tiết học, theo định kì Từ đó, giúp giáo viên
và học sinh có kế hoạch dạy - học phù hợp
Ví dụ : Vào đầu tiết học tôi thường gọi học sinh lên làm lại bài cũ để nắm bắt bắt tình hình tiếp thu bài ở tiết trước của các em Sau mỗi tiết dạy giáo viên thường tổ chức cho học sinh củng cố lại kiến thức bằng cách gọi các em lên
Trang 38Lưu Thị Hạnh 10 Trường Tiểu học Hà Huy Tập
bảng làm bài tương tự hoặc nêu lại quy tắc, kiến thức trọng tâm của bài học Việc làm như vậy sẽ giúp giáo viên kiểm tra, nhận xét, đánh giá được quá trình tiếp thu bài của các em Qua đó, giúp các em khác hiểu sâu nội dung bài học
và khắc phục những thiếu sót của bản thân Từ đó, bản thân có hình thức tổ chức dạy học phù hợp hơn
Qua việc kiểm tra sẽ đánh giá hiệu quả của việc nghiên cứu phối hợp một
số biện pháp để nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh
Biện pháp thứ tư : Một số biện pháp cần làm giúp học sinh học tốt
tuyến kiến thức Toán học lớp 2 :
* Tuyến kiến thức về số học :
Nội dung chủ yếu về số học trong chương trình môn Toán lớp 2 chủ yếu là cộng, trừ có nhớ trong phạm vi 100 ; bảng nhân, chia trong phạm vi từ 2 đến 5 Giáo viên thực hiện đầy đủ các yêu cầu của mạch kiến thức thông qua việc dạy học và tăng cường luyện thực hành, kĩ năng tính toán cho học sinh, song cũng khuyến kích học sinh tính bằng nhiều cách, lựa chọn cách tính cho phù hợp Học thuộc bảng cộng - trừ, bảng nhân - chia, nắm được các thuật tính sẽ giúp học sinh thực hiện nhanh, thành thạo các kiến thức của môn học và vận dụng vào đời sống thực tiễn có hiệu quả
Khi dạy học toán cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100 cho học sinh lớp 2 giáo viên luôn yêu cầu các em tính bằng nhiều cách trong đó vận dụng tính nhẩm để tìm nhanh kết quả
Phép cộng :
Các bài dạng 9 + 5 ; 29 + 5 ; 49 + 25
Ví dụ : Đối với bài 9 cộng với một số : 9 + 5
Trước tiên, giáo viên cho các em thực hiện tính bằng que tính, các em sẽ trả lời được kết quả 9 + 5 = 14
Tiếp theo, hướng dẫn các em đặt tính như sau :
Trang 39Lưu Thị Hạnh 11 Trường Tiểu học Hà Huy Tập
cách làm như vậy các em sẽ nắm được quy luật của phép cộng 9 cộng với một số
và lập được bảng cộng và học thuộc nhanh bảng cộng 9 cộng với một số như sau :
Bài tập 1 (SGK/15)
9 + 3 = 9 + 6 = 9 + 8 = 9 + 7 = 9 + 4 =
3 + 9 = 6 + 9 = 8 + 9 = 7 + 9 = 4 + 9 = Đối với bài tập này, các em sẽ dễ dàng điền được kết quả vào dòng thứ nhất sau khi các em đã học thuộc bảng cộng 9 (9 + 3 = 12, 9 + 6 = 15 …) Dựa vào cách tính nhẩm ở dòng thứ nhất giáo viên hướng dẫn các em làm dòng thứ hai và điền ngay được 3 + 9 = 12 (vì khi đổi chỗ các số hạng trong một tổng thì tổng không thay đổi)
Bài tập 3 (SGK/ 15)
9 + 6 + 3 = 9 + 9 + 1 = 9 + 4 + 2 = 9 + 5 + 3 = Sau khi các em làm đúng bài tập, giáo viên yêu cầu các em nêu cách làm và chọn cách giải nhanh nhất : 9 + 6 + 3 = 15 + 3 = 18 hay 9 + 9 = 18
Đối với bài 29 + 5 ; 49 + 25 giáo viên hướng dẫn các em vận dụng bảng cộng 9 cộng với một số để làm tính cộng
Trang 40Lưu Thị Hạnh 12 Trường Tiểu học Hà Huy Tập
Với các bảng cộng khác giáo viên cũng tiến hành tương tự Thông qua đó
các em nắm được bảng cộng và vận dụng vào thực hiện tính cộng có nhớ trong
phạm vi 100 nhanh nhất
Phép trừ :
Các bài dạng 12 - 8 ; 32 - 8 ; 52 - 28
Ví dụ : Đối với bài 12 trừ đi một số : 12 - 8
Trước tiên, giáo viên cho các em thực hiện tính bằng que tính, các em sẽ
trả lời được kết quả 12 - 8 = 4
Tiếp theo, hướng dẫn các em đặt tính như sau :
Viết phép tính theo cột dọc
Dựa vào cách tính này, giáo viên hướng dẫn các em phân tích số ( 8 = 2 + 6),
sau đó lấy 12 – 2 - 6 = 10 - 6 = 4 viết 4 ở hàng đơn vị
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện tính theo thao tác sau :
12 - 8 = (12 + 2) - (8 + 2)
= 14 - 10 = 4
Đây là phát hiện cách trừ nhẩm giáo viên đưa ra để giúp học sinh tư duy
nhanh : Muốn trừ nhẩm ta làm tròn chục số trừ ; khi thêm vào số trừ bao nhiêu đơn
vị để tròn chục thì phải thêm vào số bị trừ bấy nhiêu đơn vị Với cách tính như vậy
các em sẽ vận dụng vào làm được những bài tập khó hơn
Trên cơ sở học thuộc bảng cộng và bảng trừ, các em sẽ dễ dàng điền được kết
quả vào phép tính Thông qua đó các em điền đúng kết quả câu b
Dựa vào bảng trừ 12 trừ đi một số các em sẽ vận dụng và làm được các bài tập