HOÀNG MINH NGUYỆT THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ RAU AN TOÀN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN Ngành: Phát triển nông thôn Mã số ngành: 8.
Trang 1HOÀNG MINH NGUYỆT
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ RAU AN TOÀN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2HOÀNG MINH NGUYỆT
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ RAU AN TOÀN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số ngành: 8.62.01.18 LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC NÔNG
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, với sự hướng dẫn tận tình, trách nhiệm của PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông Các số liệu để triển khai luận văn này là hoàn toàn trung thực, là kết quả lao động tích cực, nghiêm túc và
sự nỗ lực, quyết tâm của bản thân Các số liệu được sử dụng trong luận văn chưa từng được diễn giả nào công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn đến các cán bộ giảng viên trường Nông lâm Thái Nguyên, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập tại trường Đặc biệt tôi xin gửi
lời cám ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông đã hướng dẫn tận tình, chỉ
bảo và cung cấp các kiến thức khoa học cần thiết trong quá trình thực hiện luận
văn của tôi với đề tài “Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất
và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn”, chuyên
ngành Phát triển nông thôn
Tôi xin cảm ơn đến ban lãnh đạo Chính quyền và các cán bộ, nhân dân liên quan đến hoạt động quản lý, phát triển lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn thành phố Bắc Kạn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn cao học cuối khóa của mình
Cuối cùng tôi xin cảm ơn đến gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong việc hoàn thành chương trình cao học Phát triển nông thôn theo đúng tiến độ
Do năng lực và thời gian nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, khuyến khuyết Tuy nhiên, tôi đã hết sức nỗ lực, vì vậy tôi mong Hội đồng chấm luận văn quan tâm, góp ý và tạo điều kiện để tôi hoàn thiện luận văn theo quy định
Tác giả luận văn
Hoàng Minh Nguyệt
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ vi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SĨ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 4
1.1.2 Đặc điểm sản xuất và tiêu thụ rau an toàn 10
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ rau an toàn 11
1.1.4 Nguyên nhân gây ô nhiễm sản phẩm 16
1.1.5 Quy trình sản xuất rau an toàn 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 19
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới 19
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam 21
1.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau tỉnh Bắc Kạn 26
1.3 Tổng quan một số công trình nghiên cứu rau tại tỉnh Bắc Kạn 30
1.4 Bài học kinh nghiệm 34
1.4.1 Về công tác quy hoạch sử dụng đất đai 34
1.4.2 Về xây dựng mô hình sản xuất rau theo tiêu chuẩn an toàn 34
1.4.3 Về lao động 35
1.4.4 Mối liên kết giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm 35
1.4.5 Vai trò quản lý của nhà nước 36
1.4.6 Đẩy mạnh công tác khuyến nông - lâm - ngư 36
Trang 6Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 37
2.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 40
2.1.3 Đánh giá các điều kiện của địa bàn nghiên cứu đối với sản xuất RAT 41
2.2 Nội dung nghiên cứu 42
2.3 Phương pháp nghiên cứu 43
2.3.1 Tiếp cận nghiên cứu 43
2.3.2 Thu thập số liệu 43
2.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 44
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 45
2.4.1 Các chỉ tiêu định tính 45
2.4.2 Các chỉ tiêu định lượng 45
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
3.1 Thực trạng về sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Bắc Kạn 47
3.1.1 Thực trạng sản xuất rau an toàn trong những năm qua 47
3.1.2 Thực trạng về tiêu thụ rau an toàn tại thành phố Bắc Kạn 56
3.1.3 Hiệu quả kinh tế 62
3.2 Những mặt đạt được và tồn tại trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn 66
3.2.1 Những mặt đạt được 66
3.2.2 Những tồn tại và nguyên nhân của nó 67
3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Bắc Kạn 69
3.3.1 Những giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất rau an toàn 69
3.3.2 Những giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ rau an toàn 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV : Bảo vệ thực vật
CNC : Công nghệ cao
CNH : Công nghiệp hóa
ĐBSCL : Đồng Bằng sông Cửu Long
PTNT : Phát triển nông thôn
RAT : Rau an toàn
RTT : Rau thông thường
SWOT : Phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thức SXNN : Sản xuất nông nghiệp
TBKT : Tiến bộ kỹ thuật
TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh
UBND : Ủy ban nhân dân
VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
BẢNG
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất rau trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 2018 27
Bảng 1.2: Tình hình tiêu thụ trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn năm 2018 29
Bảng 2.1 Tình hình thời tiết các tháng trong năm 2018 37
của Thành phố Bắc Kạn 37
Bảng 2.2 Tình hình sử dụng đất đai của Thành phố Bắc Kạn giai đoạn 2015-2018 39
Bảng 3.1: Diện tích, năng suất, sản lượng rau của thành phố Bắc Kạn 48
giai đoạn 2014-2018 48
Bảng 3.2: Bố trí sản xuất rau, rau an toàn tại các xã, phường trên địa bàn thành phố Bắc Kạn 2016 - 2018 (Đơn vị: ha) 49
Bảng 3.3 Vốn đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất rau an toàn 50
Bảng 3.4: Sử dụng giống trong sản xuất rau của nông hộ năm 2018 53
Bảng 3.5: Sử dụng phân chuồng và phân vi sinh 54
trong sản xuất rau của nông hộ năm 2018 54
Bảng 3.6: Thị trường tiêu thụ rau an toàn 57
Bảng 3.7: Tình hình tiêu thụ rau an toàn theo giá năm 2018 của thành phố Bắc Kạn 57
Bảng 3.8: So sánh giá một số loại rau an toàn ở xã Nông Thượng với giá rau an toàn ở phường Huyền Tụng thành phố Bắc Kạn 58
Bảng 3.9 Chênh lệch giá rau an toàn và rau thông thường tại thành phố Bắc Kạn 58
Bảng 3.10 Phân phối kênh tiêu thụ rau an toàn ở các hộ điều tra năm 2018 62
của thành phố Bắc Kạn 62
Bảng 3.11 So sánh hiệu quả kinh tế giữa một số loại rau với lúa 63
(tính trên 1ha) 63
Bảng 3.12 Chi phí sản xuất cho rau các loại trên 1 ha 64
Bảng 3.13 Hiệu quả sản xuất rau an toàn so với rau thông thường 65
trên 1 ha sản xuất rau các loại 65
Bảng 3.14: Lượng các chất dinh dưỡng chính mà cây rau 75
lấy đi để sản xuất được 1 tấn sản phẩm và lượng cần phải bón - kg/ha 75
(theo tài liệu của Nga) 75
Bảng 3.15: Định mức đầu tư hạ tầng cho vùng rau an toàn tập trung 76
Trang 9SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Hình thức tiêu thụ RAT ở thành phố Bắc Kạn 61
Sơ đồ 3.2: Hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm RAT ỏ thành phố Bắc Kạn 61
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SĨ Tên đề tài “Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn”
Thành phố Bắc Kạn là trung tâm của tỉnh Bắc Kạn, với lợi thế về vị trí địa lý,
cơ sở hạ tầng, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất rau Trong năm qua thành phố đã cung cấp cho thị trường khoảng 1.158 tấn rau xanh, sản xuất rau của thành phố đạt hiệu quả kinh tế khá Giá trị canh tác 1 ha rau gấp 4-9 lần so với trồng lúa, với giá trị sản xuất rau trung bình tại các xã, phường như phường Huyền Tụng, xã Nông Thượng là 120-180 triệu/ha/năm Song một thực tế mà người nông dân thành phố Bắc Kạn đang phải đối mặt là tình trạng sản xuất manh mún không theo quy
chuẩn, tiêu thụ bấp bênh Sản xuất rau an toàn (rau chất lượng) vẫn chưa thực sự
phổ cập, quy mô sản xuất rau an toàn vẫn còn bị bó hẹp và thiếu tính đồng bộ Trong nghiên cứu này tôi tập trung phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn với các mục tiêu
- Cập nhật, hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về sản xuất và tiêu thụ RAT
nhằm thúc đầy phát triển sản xuất và đẩy mạnh thị trường của RAT
- Phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ sản phẩm rau
an toàn trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn
Trong phạm vi đề tài này, tôi sử dụng tiếp cận vĩ mô, vi mô và có sự tham gia; Tiếp cận theo điều kiện địa lý và địa hình; tiếp cận theo hình thức sản xuất kinh doanh RAT; phương pháp phân tổ thống kê; thương pháp so sánh, phân tích, đối chiếu,… được vận dụng trong quá trình nghiên cứu để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu, giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các chỉ tiêu được đúng đắn, cũng như giúp cho việc phân tích tài liệu được khoa học, khách quan, phản ánh đúng những nội dung cần nghiên cứu Các số liệu được xử lý thống kê theo phương pháp nghiên cứu tính toán trên Excel
Trang 11Kết quả sản xuất và tiêu thụ đã góp phần làm thay đổi cơ bản tập quán canh tác
cũ, thay đổi cả tư duy đối với người sản xuất và tiêu dùng, vấn đề xã hội hóa sản xuất RAT được thực hiện Mặc dù quy hoạch sản xuất đã được định hình, tuy nhiên, các hộ nông dân chưa bố trí sản xuất RAT tập trung, vẫn còn có sự xen kẽ với sản xuất rau thường, nên thực hiện quy mô kỹ thuật chưa triệt để Sản xuất và tiêu thụ RAT trong thời gian qua được phát triển trên cơ sở vật chất ở các vùng sản xuất RAT được đầu tư ngày càng cải thiện Nhiều ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ tiến bộ đưa vào sản xuất RAT ngày càng được chú ý Do đó, chất lượng RAT có bước cải thiện đáng kể Cơ cấu, chủng loại rau ngày càng đa dạng Tuy nhiên, đầu tư còn chưa được đồng bộ, chưa đủ tốt cho các địa phương phát triển sản xuất và tiêu thụ Phương thức sản xuất và tiêu thụ trên
cơ sở các nhóm hộ có nhiều ưu điểm trong sản xuất và tiêu thụ RAT hiện nay Họ vừa là người sản xuất, vừa có cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm trong nội thành nên giá bán thường cao hơn Mạng lưới tiêu thụ phong phú đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển
và phân phối RAT rộng khắp trên nhiều khu vực khác nhau Tuy nhiên, việc tiêu thụ vẫn
do người sản xuất tự phát thực hiện, sự tham gia của Nhà nước trong việc tiêu thụ sản phẩm RAT chưa được hiệu quả, cửa hàng chuyên bán RAT còn rất ít, phân phối sản phẩm RAT còn chưa rộng khắp nên lượng tiêu thụ còn chưa nhiều
- Qua kết quả nghiên cứu đề tài, để đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ RAT trên địa bàn thành phố Bắc Kạn trong thời gian tới đặt ra, cần giải quyết đồng bộ các giải pháp, cụ thể:
+ Giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất RAT như: mở rộng quy mô và quy hoạch nội bộ các vùng sản xuất, giải pháp về khoa học kỹ thuật trong trồng RAT, hoàn thiện về cơ chế chính sách cho phát triển RAT, giải pháp luân canh cây trồng, giải pháp đầu tư các yếu tố đầu vào cho sản xuất RAT, giải pháp xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất kinh doanh rau an toàn, giải pháp tuyên truyền Trong 07 giải đưa ra, tác giả thấy giải pháp đầu tư các yếu tố đầu vào cho sản xuất RAT là quan trọng nhất Vì đầu tư các yếu tố đầu vào là khâu quyết định chất lượng đầu ra
+ Giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ RAT như: giải pháp về tổ chức tiêu thụ RAT, liên kết chặt chẽ giữa các tác nhân tham gia sản xuất và tiêu thụ RAT, giải pháp đối với người sản xuất, giải pháp đối với người thu gom, giải pháp đối với người bán lẻ, giải pháp xây dựng thương hiệu sản phẩm rau an toàn Trong 06 giải pháp trên, tác giả thấy giải pháp xây dựng thương hiệu sản phẩm rau an toàn là quan trọng nhất Vì việc đăng ký thương hiệu là cách thức tốt nhất để phân định giữa RAT và RTT trên thị trường, tạo dựng niềm tin của người tiêu dùng, đảm bảo quyền lợi và nâng cao trách nhiệm của người trồng RAT
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân gian ta có câu: “Cơm không rau như đau không thuốc” Câu này muốn
khẳng định rau xanh là nhu cầu không thể thiếu trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của con người Rau là loại thực phẩm rất cần thiết, nó cung cấp nhiều vitamin mà các thực phẩm khác không thể thay thế được như Vitamin A, B, C, D, E … và các loại axit hữu
cơ, các chất khoáng như Ca, P, K … cần thiết cho sự phát triển của cơ thể con người Đặc biệt, khi lương thực và các thức ăn giàu đạm đã được bảo đảm thì yêu cầu về số lượng và chất lượng rau lại càng gia tăng như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ vì rau xanh có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim, bệnh đường ruột, vitamin C trong rau có tác dụng ngăn ngừa ung thư dạ dày, viêm lợi ….Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học, muốn cơ thể hoạt động bình thường cần cung cấp 2.300 - 2.500 kcal mỗi ngày, trong đó phải có 250-300 gam rau
Sự phát triển của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và sự gia tăng nhanh dân số đã làm cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau an toàn nói riêng
bị sức ép mạnh Đất đai bị thu hẹp, môi trường cho sản xuất nông nghiệp an toàn bị
ô nhiễm do rác thải đô thị Thêm vào đó, tập quán canh tác sản xuất của người dân trong việc sử dụng phân bón, hoá chất thuốc bảo vệ thực vật, nguồn nước tưới… không tuân thủ quy trình kỹ thuật, đã làm cho sản phẩm nông nghiệp mà đặc biệt là rau không được an toàn Ngày nay, Việt Nam đang trong xu hướng phát triển chung của thời đại, việc phát triển sản xuất tiêu dùng những sản phẩm sạch, an toàn là vấn
đề có tính cấp thiết vì sự phát triển kinh tế, xã hội, môi trường và sức khoẻ con người Vì vậy sản xuất nông nghiệp sạch và bền vững là hướng đi đúng đắn cho đất nước, trong đó ngành rau là một bộ phận
Thành phố Bắc Kạn là trung tâm của tỉnh Bắc Kạn, với lợi thế về vị trí địa lý, cơ
sở hạ tầng, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất rau Trong năm qua thành phố đã cung cấp cho thị trường khoảng 1.158 tấn rau xanh, sản xuất rau của thành phố đạt hiệu quả kinh tế khá Giá trị canh tác 1 ha rau gấp 4-9 lần so với trồng lúa, với giá trị sản xuất rau trung bình tại các xã, phường như phường Huyền Tụng, xã Nông Thượng là 120-180 triệu/ha/năm Song một thực tế mà người nông dân thành phố Bắc Kạn đang
Trang 13phải đối mặt là tình trạng sản xuất manh mún không theo quy chuẩn, tiêu thụ bấp bênh
Sản xuất rau an toàn (rau chất lượng) vẫn chưa thực sự phổ cập, quy mô sản xuất rau
an toàn vẫn còn bị bó hẹp và thiếu tính đồng bộ Nhận thức được những tồn tại đó nên
em chọn đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn”
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ sản phẩm rau
an toàn trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đối tượng liên quan đến sản xuất
và tiêu thụ RAT của các tác nhân trong sản xuất và tiêu thụ, bao gồm người sản xuất rau, người thu mua, bán buôn, bán lẻ RAT tại địa bàn nghiên cứu
4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
4.1 Những đóng góp mới của đề tài
Đề tài giúp hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề về thực trạng sản xuất và một số giải pháp thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn; các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ rau, đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ rau trên địa bàn thành phố Bắc Kạn theo hướng bền vững (liên kết chuỗi giá trị)
Trang 144.2 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu đã hệ thống hóa và làm rõ được những vấn đề lý luận và thực tiễn về sản xuất và tiêu thụ rau và các chủ trương phát triển cây rau của Đảng, nhà nước và tỉnh Bắc Kạn hiện nay Trên cơ sở đó xác định các nội dung nghiên cứu phát triển sản xuất và tiêu thụ rau; lựa chọn cách tiếp cận, xây dựng khung phân tích và hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu phù hợp
Số liệu nghiên cứu của đề tài này sẽ là tài liệu đóng góp vào cơ sở dữ liệu về sản xuất và tiêu thụ rau của Thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn nói riêng và cả nước nói chung, giúp các nhà khoa học, các nhà quản lý có thêm thông tin phục vụ cho công tác nghiên cứu, hoạch định các chính sách
4.3 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu là một trong những tài liệu khoa học giúp Thành phố Bắc Kạn xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển sản xuất và tiêu thụ rau theo hướng tập trung, liên kết chuỗi giá trị, tận dụng tối đa hiệu quả nguồn lao động và tài nguyên sẵn có của địa phương góp phần tăng thu nhập cho người dân nông thôn
Tác giả hy vọng rằng những giải pháp mà đề tài đề xuất sẽ được chính quyền
và ngành nông nghiệp phát triển nông thôn thành phố Bắc Kạn, các địa phương khác có điều kiện tương tự có thể tham khảo, vận dụng và áp dụng vào thực tiễn chỉ đạo, điều hành phát triển cây rau, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho hộ gia đình nông thôn trong xây dựng nông thôn mới
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1.1 Khái niệm về nông nghiệp sạch
Để hiểu rõ khái niệm RAT một cách hoàn chỉnh cần xuất phát từ quan điểm về nông nghiệp sạch Hiện nay, trên thế giới và ở nước Việt Nam có 2 quan điểm về nông nghiệp sạch đó là: nông nghiệp sạch tuyệt đối và nông nghiệp sạch tương đối
Nông nghiệp sạch tuyệt đối còn gọi là nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh học Ở đây người ta thiên về biện pháp hữu cơ và sinh học, trở lại canh tác tự nhiên, không dùng các loai phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hóa học, chấp nhận năng suất cây trồng không cao để lấy “Sản phẩm hoàn toàn sạch’’ cũng có thể sản xuất rau, hoa, quả…trong nhà kính, nhà lưới để cách ly với các yêu tố độc hại của môi trường Nông nghiệp sạch tuyệt đối chỉ thực hiện ở các nước có dư thừa lương thực - thực phẩm, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho sản xuất, ở các quy mô nhỏ và người tiêu dùng chấp nhận giá thành cao của sản phẩm nông nghiệp
Nông nghiệp sạch tương đối: Ở đây người ta vẫn áp dụng các biện pháp thâm canh hiện đại, đặc biệt là các thành tựu về công nghệ sinh học, kết hợp các biện pháp hữu cơ - sinh học với các biện pháp khác nhưng với công nghệ đảm bảo các sản phẩm nông nghiệp không có hoặc có dưới mức hàm lượng cho phép các dư lượng hóa chất độc hại, đảm bảo giá thành hợp lý của sản phẩm nông nghiệp sạch
1.1.1.2 Khái niệm về rau an toàn
Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa quả
có chất lượng đúng như đặt tính giống của nó, hàm lượng các hoá chất độc và mức
độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường, thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là "RAT" (Trần Khắc Thi, Trần Ngọc Hùng, năm 2005)
Trang 16Theo quan điểm về Nông nghiệp: “RAT là loại rau không chứa các độc tố và các tác nhân gây bệnh, an toàn cho người và gia súc” Sản xuất rau sạch còn gọi lại sản xuất RAT cho người và gia súc khi đáp ứng được nhu cầu sau: Hấp dẫn về hình thức, tươi sạch, không bụi bẩn và không lẫn tạp chất, thu hái đúng độ chín khi có chất lượng cao nhất, có bao bì phù hợp, đẹp mắt
Trong đời sống hàng ngày, RAT đôi khi còn được gọi là rau sạch Vì khi bắt đầu chương trình sản xuất RAT thì khái niệm rau sạch được đưa ra tuy nhiên lại gây nhiều tranh cãi trong giới chuyên môn cũng như người tiêu dùng
Để phân biệt một cách chính xác hơn, khái niệm rau sạch nên sử dụng để chỉ các loại rau được sản xuất theo quy trình canh tác sạch như rau thủy canh, rau hữu cơ,… Mức độ đảm bảo VSATTP của rau sạch cao hơn nhiều so với RAT
RAT là rau khi sản xuất vẫn sử dụng phân hoá học và các hoá chất BVTV, song có giới hạn Chất lượng rau sản xuất ra có các tiêu chuẩn về: dư lượng thuốc BVTV; gốc nitrat và các yếu tố độc hại gây bệnh khác trong rau nằm trong giới hạn tiêu chuẩn cho phép, đảm bảo vệ sinh và an toàn sức khoẻ cho người tiêu dùng
RAT không chứa các dư lượng độc hại vượt quá ngưỡng cho phép theo tiêu chuẩn vệ sinh y tế không bị nhiễm các hoá chất, thuốc BVTV, hàm lượng nitrat, kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh khác (Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng, năm 2010)
1.1.1.3 Khái niệm về sản xuất
Sản xuất là một quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm đầu
ra Nó là quá trình tạo ra dòng của cải vật chất không có sẵn trong tự nhiên nhưng lại rất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội (Thông tư số 59/2012/BNN-PTNT, năm 2012)
Đầu vào của sản xuất bao gồm nhiều yếu tố tác động lẫn nhau như sau: Lao động, vốn, đất đai, máy móc và các tổ chức quản lý…
Đầu ra là kết quả của quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào tạo ra sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
Yếu tố đầu vào và đầu ra thể hiện quan hệ qua hàm sản xuất:
Q = F(X1, X2… Xn) Trong đó:
Q là sản lượng sản xuất ra
X (i=1,n) là yếu tố đầu vào
Trang 171.1.1.4 Khái niệm về tiêu thụ
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa thông qua tiêu thụ hàng hóa chuyển từ hình thái vật chất sang hình thức tiền tệ
và vòng chung chuyển vốn của doanh nghiệp được hình thành
Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, nó đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tiêu thụ sản phẩm
có thể góp phần tăng vòng quay của vốn là cầu nối đưa sản phẩm từ người sản xuất tới người tiêu dùng cuối cùng thông qua lưu thông trên thị trường
Kênh phân phối sản phẩm: Kênh phân phối là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình tạo ra dòng vận chuyển hàng hóa dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng hàng hóa Tất cả những người tham gia vào kênh phân phối được gọi là các thành viên của kênh, các thành viên nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng là những trung gian thương mại, các thành viên này tham gia nhiều kênh phân phối và thực hiện các chức năng khác nhau Các loại kênh phân phối:
+ Kênh tiêu thụ trực tiếp: Đây là kênh tiêu thụ sản phẩm bằng cách người sản xuất trực tiếp đưa sản phẩm đến người tiêu dùng, không qua trung gian
+ Kênh tiêu thụ gián tiếp: Là kênh người sản xuất bán sản phẩm của mình cho người tiêu dùng qua một hay một số trung gian, như người thu gom, người bán buôn, bán lẻ Tùy theo mức độ của một hay nhiều trung gian mà ta
có các kênh tiêu thụ: kênh 1, kênh 2, kênh 3 và kênh 4 (Thông tư số 59/2012/BNN-PTNT, năm 2012)
1.1.1.5 Khái niệm về thị trường, marketing
a) Khái niệm về thị trường
* Định nghĩa:
Thị trường là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán (đây là khái niệm phổ biến nhất) Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, trao đổi Như vậy ở đâu diễn ra các hoạt động trên thì ở đó xuất hiện thị trường Theo học thuyết của Mác thì cần hiểu rằng là nơi diễn ra các mối quan hệ kinh tế, là nơi chứa đựng tổng số cung-cầu, là nơi tập hợp nhu cầu của một loại hàng hóa nào đó
Trang 18Từ các khái niệm nêu trên cho thấy: Thị trường chứa đựng tổng số cung và tổng số cầu về một loại hàng hóa nào đó Thị trường bao gồm các yếu tố thời gian
và yếu tố không gian, trên thị trường luôn diễn ra hoạt động mua bán và các mối quan hệ tiền tệ
* Chức năng của thị trường bao gồm:
+ Chức năng thừa nhận hoặc chấp nhận hàng hóa dịch vụ
+ Chức năng thực hiện giá cả
+ Chức năng điều tiết kích thích tiêu dùng xã hội
+ Chức năng thông tin thị trường
* Các quy luật của thị trường:
+ Quy luật về giá trị: Là quy luật cơ bản của tiền sản xuất hàng hóa, quy luật này yêu cầu trao đổi hàng hóa phải dựa trên chi phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hóa đó
+ Quy luật cạnh tranh: Đây chính là cơ chế vận động của thị trường Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, mặt khác nó cũng đào thải những hàng hóa không được thị trường chấp nhận
+ Quy luật cung cầu: Cầu là nhu cầu cộng với khả năng thanh toán cho nhu cầu đó; là sự cần thiết của một cá thể về một hàng hóa hay dịch vụ nào đó
mà cá thể sẵn sàng có khả năng thanh toán cho hàng hóa hay dịch vụ đó Cung là một thuật ngữ dùng để chỉ thái độ của người bán và khả năng bán về một loại hàng hóa nào đó
- Quy luật cầu phản ánh mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa giá cả và lượng cung
về hàng hóa dịch vụ
b) Marketing:
Theo quan niệm của các nghiên cứu thì định nghĩa về Marketing được trình bày theo hai khái niệm khác nhau phù hợp với các giai đoạn phát triển của Marketing đó là Marketing cổ điển và Marketing hiện đại
Theo quan điểm cổ điển: Marketing là quá trình mà ở đó nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ được dự đoán về thỏa mãn thông qua một quá trình bao gồm nhận thức thúc đẩy và phân phối
Trang 19Về thực chất, Marketing là hoạt động kinh doanh nhằm hướng luồng hàng hóa và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng Đặc trưng của Marketing cổ điển là hoạt động Marketing chỉ diễn ra trên thị trường trong khâu lưu thông Hoạt động đầu tiên là hoạt động thị trường sau đó là tổ chức các kênh phân phối; các chủ trương và biện pháp đều nhằm mục tiêu là bán được hàng hóa, tăng được doanh số và lợi nhuận
Theo quan điểm hiện đại: Từ những năm 50 của thế kỷ XX, kinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, cạnh tranh trên thị trường gay gắt, giá cả biến động mạnh, rủi ro trong kinh doanh nhiều khủng hoảng kinh tế diễn ra buộc các nhà kinh doanh phải có những biện pháp mới ứng xử với thị trường Chính vì vậy Marketing hiện đại ra đời Marketing hiện đại có đặc trưng cơ bản là coi khách hàng là trung tâm, coi nhu cầu của người mua là quyết định Marketing hiện đại bắt đầu từ việc nghiên cứu phát hiện nhu cầu và làm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng, từ đó nhằm đạt mục tiêu kinh doanh Khẩu hiệu của Marketing hiện đại là
“Hãy bán cái thị trường cần, đừng bán cái mình có” Từ những đặc trưng của Marketing cổ điển và Marketing hiện đại có thể khái quát về Marketing như sau:
Marketing là chức năng quản lý của doanh nghiệp về tổ chức toàn bộ các hoạt động nhằm hướng tới thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng, từ việc phát hiện ra nhu cầu và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự
về một hàng hóa cụ thể đến việc mua hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm làm cho khách hàng thỏa mãn khi tiêu dùng hàng hóa hay dịch vụ của doanh nghiệp, trên cơ sở đó đảm bảo cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu đề ra (Trần
Văn Đức, năm 1993)
1.1.1.6 Khái niệm về kênh tiêu thụ
Có rất nhiều định nghĩa về kênh tiêu thụ Kênh tiêu thụ có thể được coi là đường đi của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng Nó cũng được coi như một dòng chuyển quyền sở hữu các hàng hoá khi chúng được mua bán qua các tác nhân khác nhau Một số ý kiến khác lại cho rằng, kênh tiêu thụ là các hình thức liên kết lỏng lẻo của các công ty để thực hiện mục đích thương mại
Trang 20* Các loại kênh tiêu thụ:
+ Kênh I: Kênh tiêu thụ trực tiếp: đây là kênh tiêu thụ mà người sản xuất bán trực tiếp hàng hoá cho người tiêu dùng cuối cùng
Sơ đồ: Người sản xuất → Người tiêu dùng
Ưu điểm: Đẩy nhanh tốc độ chuyển hàng hóa, thu được lợi nhuận cao Nhược điểm: Chu chuyển vốn chậm, quản lý phức tạp
+ Kênh II: Kênh tiêu thụ gián tiếp: Kênh này bao gồm Nhà sản xuất, người bán lẻ và người tiêu dùng cuối cùng Trên thị trường trung gian này thường là thị trường bán lẻ
Sơ đồ: Người sản xuất → Người bán lẻ → Người tiêu dùng
Ưu điểm: Ngoài những ưu điểm của kênh trực tiếp thì kênh này còn mang đến cho người sản xuất chức năng lưu thông để họ tập trung nguồn lực vào sản xuất
Nhược điểm: Quy mô lưu thông hàng hóa còn thấp chỉ phù hợp với doanh nghiệp có quy mô nhỏ lẻ, sản xuất hàng hóa đơn giản trong thời gian và không gian nhất định
+ Kênh III: Kênh này bao gồm Sơ đồ: Người sản xuất → Người thu gom → Người bán lẻ → Người tiêu dùng
Ưu điểm: Tổ chức kênh chặt chẽ, quy mô hàng hóa lớn, vòng quay vốn nhanh Nhược điểm: Rủi ro xảy ra khá lớn, việc giám sát khách hàng và giá cả rất khó khăn đồng thời doanh nghiệp ít năng động
+ Kênh IV Kênh này bao gồm: Người sản xuất, người thu gom, người bán buôn, bán lẻ và người tiêu dùng
Sơ đồ: Người sản xuất → Thu gom → Người bán buôn → Người bán lẻ → Người tiêu dùng cuối cùng (Thông tư số 59/2012/BNN-PTNT, năm 2012)
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì tiêu thụ sản phẩm là khâu rất quan trọng, thông qua quá trình tiêu thụ mà sản phẩm tách ra khỏi quá trình sản xuất bước vào quá trình lưu thông và đến tay của người tiêu dùng cuối cùng Quá trình tiêu thụ được thực hiện nhanh, thuận lợi sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Do vậy để thúc đẩy ngành sản xuất rau phát triển thì phải tổ chức tốt khâu tiêu thụ
Trang 211.1.2 Đặc điểm sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
1.1.2.1 Đặc điểm của sản xuất và tiêu thụ rau nói chung
+ Ngành sản xuất rau là ngành mang tính hàng hóa cao, điều này được thể hiện là sau khi thu hoạch sản lượng rau trở thành hàng hóa trao đổi trên thị trường chiếm tỷ lệ cao Do vậy ngành sản xuất rau có mối quan hệ chặt chẽ với các khâu như: Công tác thu mua, vận chuyển lưu thông, phân phối, giá cả… nếu các khâu trên phối hợp chặt chẽ với nhau thì sản phẩm rau được lưu thông và phân phối kịp thời đến tay người tiêu dùng, từ đó mà đảm bảo lợi ích của người sản xuất cũng như người tiêu dùng góp phần thúc đẩy ngành rau phát triển
+ Rau là loại sản phẩm dễ hỏng, có hàm lượng nước khá cao (khoảng 70 - 80%), có khối lượng lớn và cồng kềnh nên khó thực hiện việc bảo quản, dễ làm cho rau dập nát dẫn đến hao hụt về trọng lượng và phẩm chất rau Do đặc điểm này mà
bố trí sản xuất tập trung, chuyên canh để đảm bảo vận chuyển và tiêu thụ nhanh chóng kịp thời cũng như công tác tổ chức tốt các công việc như bảo quản chế biến,
dự trữ để duy trì chất lượng rau cho tốt
+ Rau là loại cây trồng ngắn ngày, phong phú về chủng loại, lại mẫn cảm với sâu bệnh, rất thích hợp với việc trồng xen, trồng gối Yêu cầu việc bố trí mùa vụ, tổ chức các dịch vụ phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc BVTV và tổ chức sử dụng lao động trong sản xuất
+ Rau có đặc điểm chăm sóc tỷ mỉ, phải đầu tư nhiều công lao động cẩn thận thường xuyên Vì thế mà người sản xuất rau phải nắm bắt được yêu cầu cụ thể của từng loại rau để bố trí thời vụ gieo trồng thích hợp nhằm sản xuất đúng thời vụ đạt năng suất cao
1.1.2.2 Đặc điểm của sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
Sản xuất rau an toàn là bộ phận của sản xuất rau nói chung, nó mang đầy đủ đặc điểm của ngành sản xuất rau và có những đặc điểm riêng biệt
+ Trước hết hầu hết các cây trồng đều trải qua thời kỳ ươm trước khi trồng đại trà, sự chống chịu bệnh tật, sự phát triển cũng như chất lượng sản phẩm phần nào phụ thuộc vào giai đoạn ươm này, do vậy khi sản xuất phải xử lý cây trồng ngay từ đầu
Trang 22+ Là loại cây trồng nhưng đòi hỏi kỹ thuật cao, đầu tư vật chất cũng như sức lao động lớn hơn nhiều so với nhiều loại cây trồng khác
+ Là loại sản phẩm tươi, xanh, nhiều chất dinh dưỡng, khả năng mắc nhiều loại sâu bệnh Do vậy trong quá trình canh tác phải sử dụng nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật Đây là vấn đề có tính hai mặt, sử dụng để bảo vệ, duy trì sản lượng cây trồng nhưng sử dụng không đúng quy cách lại là nguyên nhân gây nhiễm độc sản phẩm, khí đó không còn được là rau an toàn nữa
+ Đối với rau an toàn thị trường tiêu thụ khá nghiêm ngặt, nó đặt ra tiêu chuẩn cho những người sản xuất những sản phẩm đủ tiêu chuẩn quy định mới tồn tại trong thị trường Mặt khác, rau an toàn chưa có thương hiệu, kiểm tra chất lượng chưa nghiêm ngặt đã phần nào mất niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm rau an toàn Người tiêu dùng nghi ngờ không biết là rau đủ tiêu chuẩn rau an toàn hay không?
+ Do sản xuất theo tiêu chuẩn cho trước nên sản xuất rau an toàn phải tuân thủ nghiêm ngặt của kỹ thuật, đòi hỏi mức độ đầu tư vật chất, cao hơn sản xuất rau bình thường, trong khi đó năng suất và sản lượng thấp hơn Đây là nguyên nhân chính làm cho giá bán của các loại rau này cao hơn nhiều so với sản phẩm cùng loại sản xuất trong điều kiện bình thường, nhất là trong giai đoạn đầu Điều đó là, hạn chế đến sức mua, sức cạnh tranh của nó trên thị trường
+ Xu thế phát triển ở nước Việt Nam: hiện nay nhu cầu tiêu dùng đang tăng tạo ra thị trường tiêu thụ rau an toàn phát triển cả về số lượng, chủng loại và chất lượng sản phẩm (Trần Khắc Thi, năm 2008)
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
1.1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất rau an toàn
* Nhóm yếu tố về tự nhiên
+ Khí hậu thời tiết khí hậu ở nước Việt Nam mang tính chất khí hậu nhiệt đới nóng ẩn tạo điều kiện sâu bệnh phát triển, thời tiết thay đổi liên tục, do vậy ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau an toàn nói riêng Do đó trong quá trình sản xuất các hộ phải có biện pháp phòng chống các điều kiện bất lợi cho cây trồng cũng như xem xét lựa chọn các giống cây phù hợp với nhiệt độ - thời tiết từng vùng
Trang 23+ Đất đai: Đối với cây rau bộ rễ ăn nông ở tầng mặt trong phạm vi từ 25 - 30
cm Do vậy tính chịu hạn rất kém dễ bị sâu bệnh, loại đất thích hợp với rau an toàn
là đất nhẹ, đất trung bình sau đó đến đất cát pha Để cây rau cho năng suất đòi hỏi phải có tầng đất canh tác tươi xốp, giữ ẩm, giữ nhiệt, dễ thoát nước khi ngập úng, giàu chất dinh dưỡng, dễ hấp thụ, bên cạnh đó có nhiều yếu tố khác nhưng yêu cầu của rau an toàn tương đối giống nhau
* Nhóm yếu tố kỹ thuật
+ Yếu tố giống: Giống đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, nếu đầu tư như nhau giống khác nhau cho năng suất khác nhau Giống tốt là giống cho năng suất cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, chất lượng sản phẩm cao… ở Việt Nam hiện nay vẫn còn sử dụng một số giống cũ ở một vài địa phương, trong những năm gần đây đã lai tạo và nhập nhiều giống mới nhưng việc đưa giống mới vào địa phương phải chú ý đến từng điều kiện của từng vùng từng địa phương
+ Yếu tố phân bón: Nếu phân bón đầy đủ và hợp lý thì sẽ làm tăng năng suất
và phẩm chất rau Phân bón có mối quan hệ chặt chẽ với khả năng chống chịu sâu bệnh của rau Mặc dù cây rau là cây có thời gian sinh trưởng tương đối ngắn và cho khối lượng sản phẩm tương đối cao nhưng đòi hỏi lượng phân bón lớn Song không lúc nào lượng phân bón cũng tỷ lệ thuận với năng suất
Đối với phân chuồng: Rau phản ứng khá tốt với các loại phân đã ủ ải Ngoài
ra phân chuồng còn có tác dụng cải tạo đất và duy trì cân đối giữa sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực
Đối với phân đạm: Rau khá thích hợp với đạm đặc biệt là rau an lá Nhưng trong quá trình bón phải chú ý là thời kỳ nào bón ít thời kỳ nào là bón nhiều
Đối với lân: Bón lân cho rau ăn quả, quả giúp bộ rễ phát triển đầy đủ, cây cứng cáp thời gian chống chịu sâu bệnh hại và những thay đổi bất lợi của ngoại cảnh…
Đối với kali: Đây là loại phân có tác dụng thúc đẩy mạnh các quá trình tích luỹ vật chất, kali rất cần thiết cho loại cây ăn củ, quả ăn rễ nhưng điều quan trọng là khi nào bón kali cho rau là hợp lý nhất để đạt hiệu quả kinh tế là điều quan trọng hơn cả
Trang 24+ Yếu tố về kỹ thuật canh tác: Các khâu công việc như làm đất, làm cỏ, tưới nước… là những biện pháp đáp ứng nhu cầu về dinh dưỡng, độ thoáng khí, nồng độ
CO2 trong đất để rau sinh trưởng và phát triển tốt Nếu có chế độ chăm sóc thường xuyên và hợp lý thì sẽ cho năng suất cao và ngược lại
+ Yếu tố bảo vệ thực vật: Đây là yếu tố quan trọng không kém gì khâu chọn giống, yếu tố này quyết định phần quan tâm đến sản lượng cây trồng và yêu cầu của RAT
+ Yếu tố thời vụ gieo trồng: Các loại cây trồng đều có đặc điểm sinh trưởng
và quy luật phát triển riêng Đối với rau an toàn, thời vụ gieo trồng được tính từ khi đặt giống, gieo hạt, qua quá trình sinh trưởng, phát triển và đến thời kỳ thu hoạch
Do vậy cũng giống như các loại cây trồng khác, rau an toàn gieo trồng không đúng thời vụ thì sẽ gặp khó khăn về thời tiết, sâu bệnh… làm cây sinh trưởng chậm, phát triển kém, năng suất thấp Như vậy, để nâng cao hiệu quả sản xuất rau an toàn, người nông dân không chỉ biết có chăm sóc đầy đủ, hợp lý mà còn phải biết bố trí cơ cấu cây trồng mùa vụ thích hợp
* Nhóm yếu tố về kinh tế xã hội
+ Yếu tố vốn: Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng thì vốn được thể hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất Trong ngành sản xuất nông nghiệp thì sự tác động của vốn vào quá trình sản xuất không phải bằng trực tiếp mà bằng cách gián tiếp thông qua đất, cây trồng vật nuôi… vốn trong nông nghiệp khá đa dạng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: Máy móc, con giống cây trồng lâu năm, con trâu, con bò…
+ Yếu tố lao động: Lao động là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất rau Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài các trang trại và các hộ sản xuất với quy mô lớn thì mới sử dụng lao động đi thuê, còn các hộ sản xuất với quy mô nhỏ thì thường tận dụng triệt để lao động gia đình mà sản xuất theo hình thức lấy công làm lãi
Trang 25+ Yếu tố thị trường: Tiêu thụ sản phẩm là một khâu của quá trình tái sản xuất, giá trị sản phẩm thông qua quá trình tiêu thụ, thực hiện tốt việc tiêu thụ sản phẩm là kết thúc quá trình sản xuất tức là giải quyết khâu “đầu ra” cho quá trình sản xuất Vì thế tiêu thụ là khâu cuối cùng quyết định đến kết quả và hiệu quả sản xuất Tiêu thụ sản phẩm kịp thời và nhanh chóng là tiền đề quan trọng để thực hiện tốt phân phối sản phẩm và kết thúc quá trình sản xuất của hộ nông dân
+ Chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước: Cơ chế chính sách của nhà nước tác động trực tiếp đến tình hình của một số nông sản trên thị trường Đi đôi với việc kích thích sản xuất thì thông qua việc tác động thị trường là chính sách giá
cả, chính sách tiêu thụ sản phẩm, chính sách về nghiên cứu về một số giống mới… Nhà nước cần chú ý đến việc đầu tư vốn, xây dựng các mạng lưới tiêu thụ cũng như xây dựng các nhà máy chế biến rau (Trần Khắc Thi, năm 2008)
1.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ rau an toàn
Do rau là sản phẩm dễ hỏng, có hàm lượng nước cao, có khối lượng lớn và cồng kềnh Trong khi thu hoạch cũng như trong vận chuyển làm cho rau dập nát dẫn đến hao hụt về trọng lượng làm ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ
Phương tiện vận chuyển cũng là một yếu tố làm ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ rau nói chung, rau an toàn nói riêng Các hộ nông dân rất ít dùng xe máy vận chuyển mà chỉ sử dụng các phương tiện thông thường, theo thói quen như: xe đạp,
xe máy, xe thồ để vận chuyển, do đó quá trình vận chuyển đi xa sẽ không đảm bảo chất lượng cũng như thời gian
Tâm lý của người tiêu dùng cũng làm ảnh hưởng khá lớn đến quá trình tiêu thụ rau an toàn Họ nói rằng không tin tưởng vào rau an toàn bởi rau an toàn không
có bao bì, không có dấu kiểm nghiệm, không có nơi sản xuất và thời hạn bảo quản nên rất dễ bị các sản phẩm khác trà trộn, làm cho người tiêu dùng sản phẩm không thật sự tin tưởng vào sản phẩm của mình đang sử dụng
Mặt khác rau an toàn chỉ mới xuất hiện trong thời gian gần đây, chỉ xuất hiện
ở khu đô thị, khu công nghiệp chưa nhân rộng ra các vùng Do đó thói quen sử dụng rau an toàn chưa cao làm ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ sản phẩm Do đầu tư vật
Trang 26chất, lao động cho sản xuất rau an toàn thường cao hơn sản phẩm rau thường cho nên giá bán loại rau này cao hơn nhiều so với sản phẩm cùng loại sản xuất trong điều kiện bình thường, nhất là trong giai đoạn đầu Điều này hạn chế đến sức mua, sức cạnh tranh của nó trên thị trường (Tổng cục Thống kê, năm 2016)
1.1.3.3 Các mối quan hệ trong sản xuất và tiêu thụ Rau an toàn
Các tác nhân tham gia phân phối
Tham gia trên kênh phân phối sản phẩm nói chung, rau an toàn nói riêng gồm có các tác nhân sau:
- Người sản xuất: Trực tiếp tạo ra sản phẩm, sau thu hoạch có thể bán sản phẩm trực tiếp cho các cửa hàng hoặc bán cho những người thu mua
- Người thu gom: Họ thu mua sản phẩm của người sản xuất và giao lại tại các cửa hàng, siêu thị Có thể họ cũng là những người tham gia sản xuất tạo ra các sản phẩm này, đồng thời họ tham gia thu mua sản phẩm của người trồng rau và họ giao sản phẩm mua được tại các cửa hàng hoặc siêu thị Do vậy trong trường hợp này họ cũng là những người cung cấp, cũng có thể người sản xuất có thêm chức năng thu gom
- Người bán buôn: Họ thu mua từ các vùng trong tỉnh hoặc từ các vùng lân cận mang về thành phố, sau đó họ bán lại cho những cửa hàng, siêu thị có nhu cầu
- Người bán lẻ: Là những người bán sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng
Họ thường có vốn ít, kinh doanh với một lượng nhỏ và giá bán thường cao hơn giá bán buôn
- Người tiêu dùng: Là những người có nhu cầu về một sản phẩm nào đó nhưng không có điều kiện sản xuất, họ thường là người mua sản phẩm để tiêu dùng
cá nhân và gia đình họ Các tác nhân này thường có mối liên kết hợp tác với nhau trong các kênh phân phối
Ở những nước phát triển, việc trao đổi thông tin giữa các đối tác khác nhau trong một quy trình là rất phổ biến, có sự kết hợp giữa sản xuất và phân phối, nghĩa
là tồn tại hợp đồng ký kết bởi nhà sản xuất và nhà phân phối mà đây là cửa hàng, siêu thị (Báo cáo kinh tế - xã hội các năm 2015, 2016, 2017, 2018)
Trang 271.1.4 Nguyên nhân gây ô nhiễm sản phẩm
* Hàm lượng Nitrat quá cao là hậu quả của bón phân hoá học, đặc biệt là bón
đạm quá liều lượng hoặc bón phân đạm không đúng lúc, gần thời gian thu hoạch
Cây hấp thụ đạm và các chất qua bộ rễ, tổng hợp thành các chất dinh dưỡng tích luỹ trong các bộ phận của cây nhưng trước khi chuyển hoá thành các chất dinh dưỡng, đã tồn tại trong cây dưới dạng Nitrat Trong cơ thể người lượng Nitrat cao
có thể tác dụng với Amin thành chất gây ung thư gọi là Nittrosmin Theo tổ chức WTO thế giới quy định lượng Nitrat trong rau không vượt quá 300 mg/kg rau tươi
Mỹ cho rằng lượng đó còn phụ thuộc vào lượng rau
* Tồn dư kim loại nặng trong sản phẩm rau
Các kim loại nặng tiềm ẩn trong đất trồng hoặc từ nguồn nước từ thành phố
và khu công nghiệp chuyển trực tiếp qua nước tưới được rau hấp thụ Sự lạm dụng quá mức thuốc BVTV dùng để trừ sâu bệnh, cỏ dại cùng với phân bón các loại (đạm, lân, kaly…) đã làm các chất rửa trôi, xuống mương, ao, hồ thâm nhập vào các mạch nước ngầm gây ô nhiễm, bón phân nhiều cũng làm tăng hàm lượng Camidi trong đất vào trong sản phẩm rau Một số tấn Supe lân chứa từ 50 - 70 gam Camidi
* Dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật
Khi phun thuốc sâu, trừ bệnh và thuốc BVTV sẽ tạo thành một lớp mỏng trên
bề mặt cây trồng và một lớp chất lắng và dư lượng ban đầu của thuốc Sản phẩm rau
sẽ gây ngộ độc cho người, gia súc khi:
- Thu hoạch gần thời gian phun thuốc, không đảm bảo thời gian cách ly, thuốc chưa phân huỷ hết
- Các loại thuốc có ngộ độc cao và phân huỷ chậm, các loại thuốc đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng như Monitor, Uwofaox
* Vi sinh vật gây bệnh và ký sinh trùng đường ruột
Trong phân chuồng, phân bắc chứa hai loại có chứa trứng giun và một số
vi sinh gây bệnh như E.coli, Salmonella Việc sử dụng nước phân tưới cho rau, đặc biệt là rau gia vị, rau ăn sống là hình thức truyền tải trứng giun và các yếu tố gây bệnh nguy hiểm đến tính mạng như bệnh ỉa chảy, giun móc (Trần Khắc Thi, năm 2008)
Trang 281.1.5 Quy trình sản xuất rau an toàn
Trước tình trạng ngộ độc thực phẩm xảy ra ngày càng nhiều, vấn đề ATVSTP được mọi người quan tâm và nhu cầu sử dụng RAT ngày càng tăng Các chương trình sản xuất rau an toàn đã được khởi sướng và thực hiện ở một số vùng theo Quyết định số 04/2007/QĐ-BNN ngày 19/01/2007 của Bộ NN và PTNT ban hành “Quy định về quản lý sản xuất và chứng nhận rau an toàn” Theo quy định này rau sản xuất theo quy trình an toàn phải đảm bảo điều kiện sản xuất RAT như về nhân lực, về đất trồng, phân bón, nước tưới, kỹ thuật canh tác, phòng trừ sâu bệnh Về nhân lực, rau sản xuất theo quy trình an toàn người sản xuất phải được tập huấn kĩ thuật sản xuất RAT Đất trồng phải đảm bảo các tiêu chuẩn về mức độ ô nhiễm trong đất không được quá mức quy định cho phép Phân bón cần
sử dụng phân bón trong danh mục quy định, không có nguy cơ ô nhiễm Trong sản xuất RAT, vấn đề nước tưới trong sản xuất RAT cũng rất quan trọng, nước tưới phải đảm bảo không ô nhiễm, đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn, không sử dụng nước thải công nghiệp, nói chung nguồn nước cho vùng sản xuất RAT cần được kiểm tra định kì đột xuất Cùng với đó kỹ thuật canh tác, công tác phòng trừ sâu bệnh cũng phải tuân thủ theo quy trình Ngoài ra, rau sản xuất theo quy trình an toàn cần đảm bảo các điều kiện về thu hoạch bảo quản, công bố tiêu chuẩn chất lượng, RAT trước khi lưu thông phải đảm bảo các quy định về chất lượng và phải
có tổ chức sản xuất, kiểm tra và giám sát
Quy trình RAT mới ban hành đã đầy đủ và chi tiết hơn, được tổ chức triển khai rộng khắp cả nước nhưng mới chỉ dừng lại ở các quy định cụ thể về điều kiện sản xuất rau an toàn, chưa đưa ra các giải pháp thực hiện cụ thể nên việc thực hiện chưa đảm bảo đầy đủ tiêu chuẩn RAT (Trần Khắc Thi, năm 2007)
* Quy trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)
IPM là tên viết tắt của cụm từ tiếng anh “Integrated Pests Management”, có nghĩa
là quản lý tổng hợp dịch hại bảo vệ cây trồng
Biện pháp IPM là một hệ thống điều khiển dịch hại bằng cách sử dụng tất cả những kĩ thuật thích hợp trên cơ sở sinh thái
Trang 29Định nghĩa khoa học hơn của IPM là: sử dụng những nguyên tắc sinh thái hợp lý (mối quan hệ giữa các sinh vật trong hệ sinh thái, cân bằng sinh học trong tự nhiên, quy luật tự điều chỉnh, quy luật hình tháp số lượng )
Đối với mỗi loại rau có quy trình cụ thể tuy nhiên quy trình bao gồm những biện pháp phòng trừ sau:
- Biện pháp canh tác như các biện pháp làm đất (phơi ải nhằm diệt nhộng của sâu, mầm bệnh, mầm cỏ dại và tuyến trùng); Bón phân cân đối; sử dụng những kháng bệnh; xử lý hạt giống trước khi gieo trồng nhằm diệt một số mầm bệnh Ngoài ra còn các biện pháp canh tác khác như vệ sinh đồng ruộng, luân canh cây trồng
- Biện pháp cơ giới và vật lý như đặt bẫy đèn, đặt bẫy dính hay diệt sâu bằng tay, vặt bỏ những rau quả bị sâu, bệnh, tuyệt đối không vứt bừa bãi trên ruộng
- Biện pháp sinh học: Hạn chế sử dụng thuốc hóa học làm ảnh hưởng đến thiên địch có mặt trên đồng ruộng như nhện linh miêu, nhện chân dài, ruồi xanh, bọ rùa ; không giết những loài có ích như ếch nhái, cóc, chim bắt sâu trên mặt ruộng;
Ưu tiên sử dụng thuốc vi sinh như BT, Centary, Depel
- Biện pháp hóa học: Nên kiểm tra đồng ruộng để phát hiện các dịch hại Quan sát số cây từ 15 - 20 cây dải đều trên ruộng
Mỗi loại cây đều có những loại sâu hại và bệnh hại khác nhau cần quan sát
để phát hiện sớm kịp thời, dùng những loại thuốc phù hợp
Quy trình IPM triển khai đã giúp người nông dân có kỹ thuật canh tác tổng hợp Nhưng quy trình này chưa đưa ra các giải pháp khắc phục các yếu tố có nguy
cơ ô nhiễm môi trường, ô nhiễm sản phẩm từ trồng trọt về hóa chất, dư lượng thuốc BVTV (Nguyễn Văn Dũng, năm 2013)
* Quy trình VietGAP
Thực hiện quyết định số 379/QĐ - BNN - KHCN ngày 28/01/2008, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi an toàn tại Việt Nam (VietGAP)
Sản xuất rau theo quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) mới được ban hành nhưng so với các quy trình sản xuất RAT mà trước đây đã áp
dụng ở Việt Nam quy trình này có ưu việt hơn bởi vì RAT sản xuất theo quy
Trang 30trình này không chỉ đảm bảo VSATTP mà còn đảm bảo an sinh xã hội và môi
trường Tuy nhiên đây là quy trình sản xuất ưu việt nhưng còn mới mẻ đòi hỏi có
sự tham gia của tất cả mọi người từ người sản xuất, người tiêu thụ, người tiêu dùng, các cơ quan, các tổ chức… mới mang lại hiệu quả
Các nước phát triển công nghệ sản xuất “rau quả sạch” đã được hoàn thiện
ở một trình độ cao “rau sạch” đã được sản xuất trong nhà kính, nhà lưới và công nghệ thuỷ canh đã trở nên quen thuộc đối với người dân ở các nước này, ở các nước phát triển và một số nước trong khu vực, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nói chung và rau nói riêng đều được quy định hết sức nghiêm ngặt
Các nước như Đức, Hà Lan và nhiều nước Tây Âu, Bắc Mỹ đã có hàng nghìn cửa hàng bán “rau sạch sinh thái” để phục vụ bữa ăn hàng ngày của người dân Mỗi loại sản phẩm đưa ra bán trên thị trường đều đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và có tem nhãn rõ ràng
Trong vòng hai thập kỷ qua thương mại rau quả trên thế giới có bước phát triển mạnh mẽ Theo Tổ chức Nông nghiệp quốc tế (FAO), giá trị sản lượng của sản xuất RAT thế giới tăng trưởng mạnh mẽ, bình quân hàng năm tăng 11,7% Theo Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ, do tác động của sự thay đổi yếu tố như: cơ cấu dân số, thị hiếu tiêu dùng và thu nhập dân cư… tiêu thụ nhiều loại rau sẽ tăng mạnh trong giai đoạn 2000- 2010, đặc biệt là các loại rau ăn lá Theo USDA nếu như nhu cầu các loại rau diếp, rau xanh khác tăng khoảng 22-
Trang 3123% thì tiêu thụ khoai tây và các loại rau củ khác tăng sẽ chỉ tăng khoảng 8%, giá rau tươi các loại sẽ tiếp tục tăng cùng với tốc độ tăng nhu cầu tiêu thụ (Lê Mỹ Xuyên, năm 2007)
7 Tình hình tiêu thụ rau trên thế giới
Tùy theo phong tục tập quán ẩm thực của từng nước, vùng mà có thị hiếu
về các loại rau khác nhau Ở các nước phát triển, rau không được ăn sống nhiều lắm, chúng thường được nấu chín và ăn như món ăn thêm hoặc lẫn với thịt, cá hoặc thức ăn khác Tại các nước phát triển nhu cầu rau tươi rất cao Riêng đối với các nước có mùa đông kéo dài thường phải dùng cả rau đông lạnh, nhưng sở thích của họ vẫn là rau tươi, hầu hết các loại rau được dùng thông qua chế biến, một phần nhỏ dùng đóng hộp và giầm dấm Đối với các nước châu Phi lại có kiểu sử dụng rau khác so với tình hình sử dụng chung Ví dụ: trồng sắn ngoài việc ăn củ họ còn dùng cả lá, lá sắn là loại rau qua trọng nhất ở châu Phi
Mức tiêu thụ rau khác nhau ở các nước khác nhau và thường phụ thuộc vào mức thu nhập, tuy nhiên một số nước còn phụ thuộc vào tập quản của họ Ví
dụ Indonexia mức tiêu dùng bình quân mỗi người là 22 kg/năm và hàng năm họ vẫn xuất khẩu rau sang Malaixia và Singapo; ở Ấn Độ mức tiêu dùng là 54 kg/năm; Thái Lan là 53 kg/năm… Một số nước khác có mức tiêu dùng rau cao như Đài Loan 115 kg/người/năm, Hàn Quốc 229 kg/người/năm Nhưng lượng rau tiêu dùng được trao đổi giữa các nước rất lớn Có nhiều kênh tiêu thụ tồn tại, nhưng kênh tiêu thụ số lượng rau lớn nhất là: Người sản xuất - HTX - người buôn bán - người bán lẻ - người tiêu dùng
Trên thế giới những người nhập khẩu rau lớn là những nước không có khả năng sản xuất rau (do điều kiện thời tiết, đất đai…) hoặc là những nước có nền công nghiệp dịch vụ phát triển như Nhật Bản, Singapo, Hồng Kông, Mỹ… Nên hàng năm các nước này phải nhập khẩu hàng nghìn tấn rau để phục vụ nhu cầu của người dân (Tham khảo tài liệu trên Internet www.sonongnghiep.hochiminhcity.gov.com)
Trang 321.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam
* Tình hình về sản xuất
Sản xuất rau ở Việt Nam đã được phát triển từ lâu đời ở khắp các địa phương trong cả nước Những năm gần đây sản xuất rau của cả nước có xu hướng gia tăng về cả diện tích, năng suất và sản lượng, mức độ tăng bình quân
về diện tích là 4,6% về năng suất là 0,7%, về sản lượng là 5,1%
Theo báo cáo của Cục Chế biến Thương mại Nông lâm Thủy sản và Nghề muối, năm 2015, diện tích sản xuất rau cả nước là hơn 823.800ha, trong đó 120.000ha chuyên canh, 430.000ha luân canh; sản lượng rau đạt 14 triệu tấn
Đối với rau an toàn, diện tích quy hoạch đến đầu năm 2016 là 71.728ha, trong
đó diện tích đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn là 6.310ha; diện tích được cấp giấy chứng nhận VietGAP và các GAP khác là 491ha; diện tích sản xuất theo hướng an toàn là 16.797ha
Mặc dù chủng loại rau rất đa dạng và phong phú, nhưng quy mô sản xuất rau hiện vẫn nhỏ lẻ, manh mún Theo số liệu Tổng cục Thống kê bình quân sản lượng rau trên đầu người thu ở đất nông nghiệp ở Việt Nam khá cao so với các nước trong khu vực, đạt 141,49 kg/người/năm, tuy nhiên, phân bố không đều có những tỉnh như Lâm Đồng bình quân sản lượng rau trên đầu người đạt từ (800-1.100) kg/người trên năm Đây là vùng sản xuất rau hàng hoá lớn nhất cả nước cung cấp rau cho cả nội tiêu và xuất khẩu, tỉnh Hưng Yên là tỉnh có bình quân cao hơn bình quân cả nước có khả năng cung cấp rau tiêu dùng nội địa và 1 phần cung cấp rau cho chế biến xuất khẩu Sơn La bình quân rau trên đầu người thấp chỉ khoảng (40-55) kg/người/năm đáp ứng nhu cầu nội tỉnh và 1 phần cung cấp rau trái vụ cho thị trường Hà Nội
Vùng sản xuất rau lớn nhất là ĐBSH (chiếm 25,9% về diện tích và 29,6% sản lượng rau cả nước), tiếp đến vùng ĐBSCL (chiếm 24,9% về diện tích và 28,3% sản lượng rau của cả nước)
Nhiều vùng rau an toàn (RAT) đã được hình thành đem lại thu nhập cao
và an toàn cho người sử dụng đang được nhiều địa phương chú trọng đầu tư xây dựng mới và mở rộng: Hà Nội, Hải Phòng (An Lão), TP Hồ Chí Minh, Lâm Đồng (Đà Lạt)…
Trang 33* Tình hình về mức tiêu thụ sản phẩm
Trong báo cáo về thực trạng an toàn rau, củ, quả trên thị trường Việt Nam năm 2016, Trung tâm nghiên cứu và tư vấn tiêu dùng đã chỉ ra: 93% hộ tiêu thụ quả, các loại rau quả được tiêu thụ rộng rãi nhất là rau muống (95% số hộ tiêu thụ),
cà chua (88%) và chuối (87%) Mức tiêu thụ rau quả bình quân của Việt Nam là 71 kg/ người/ năm Rau chiếm 3/4 (54 kg), trong khi quả chỉ chiếm phần còn lại (17 kg) Các sản phẩm quan trọng nhất là rau muống - chiếm 31% tổng số lượng rau tiêu thụ, và chuối - chiếm 50% lượng quả tiêu thụ Giá trị tiêu thụ rau quả hàng năm (bao gồm cả tiêu thụ rau quả nhà tự trồng) là 126.000 đồng/người hoặc 529.000 đồng/hộ, mặc dù quả chỉ chiếm 1/4 khối lượng rau quả tiêu thụ, nhưng thường có giá cao hơn, nên chiếm gần 40% tổng giá trị, tiêu thụ rau quả chiếm khoảng 4% tổng giá trị chi phí tiêu dùng Các sản phẩm quan trọng nhất là rau muống (chiếm 31% tổng số) và chuối (chiếm 17%), giá trị tiêu thụ rau quả hàng năm (bao gồm cả tiêu thụ rau quả nhà tự trồng) là 126.000 đồng/người (hay 529.000 đồng/hộ), mặc
dù quả chỉ chiếm 1/4 khối lượng rau quả tiêu thụ, nhưng thường có giá cao hơn, nên chiếm gần 40% tổng giá trị, tiêu thụ rau quả chiếm khoảng 4% tổng giá trị chi phí tiêu dùng (Lê Mỹ Xuyên, năm 2007)
* Tình hình xuất nhập khẩu ngành rau nước ta
Ngành nông nghiệp nói chung và rau củ quả nói riêng của Việt Nam hiện nay, chúng ta thấy rằng, xuất khẩu rau củ quả đạt được nhiều kết quả tích cực Năm
2017, Việt Nam xuất khẩu đạt hơn 3,5 tỷ USD, tăng trên 40% so với năm 2016 Trong 7 tháng đầu năm 2018, kim ngạch xuất khẩu ngành rau củ quả đạt 2,29 tỷ USD và dự kiến cả năm sẽ đạt 4 tỷ USD
Tuy nhiên, ngành nông nghiệp nói chung, sản xuất rau củ quả nói riêng vẫn còn tồn tại tình trạng “được mùa mất giá”, sản xuất dư thừa nhưng thiếu sản phẩm đạt chất lượng cho xuất khẩu, sản xuất khó tiêu thụ trong khi người tiêu dùng trong nước phải loay hoay tìm nguồn thực phẩm an toàn…Công ty cổ phần Thực phẩm Xuất khẩu Đồng Dao đã khởi công Dự án Trung tâm chế biến rau quả DOVECO Gia Lai Khi hoàn thành (giai đoạn 1 vào cuối năm 2018 và giai đoạn 2 vào cuối năm 2019), đây sẽ là một trung tâm chế biến rau quả khép kín lớn nhất khu vực Tây Nguyên Mỗi năm, nhà máy sẽ thu mua và chế biến hàng trăm nghìn tấn rau quả các
Trang 34loại như chanh dây, chuối, bơ, xoài, sầu riêng, mãng cầu, khoai lang, rau chân vịt, đậu tương rau, ngô ngọt, bí Nhật và nhiều loại rau quả khác của Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên Doanh thu hằng năm ước đạt 1.500 - 2.000 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 50 triệu USD
* Các vùng rau hàng hóa nước ta
Theo thống kê của Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh năm 2016:
- Miền Bắc
+ Sản xuất rau ở Hà Nội: Năm 2015, tổng diện tích gieo trồng rau các loại của TP Hà Nội có 8,1 ngàn ha (diện tích canh tác 3 ngàn ha, hệ số sử dụng đất 2,7 lần), năng suất đạt 186,2 tạ/ha, sản lượng 150,8 ngàn tấn
Chủng loại rau rất phong phú, đa dạng Các loại rau ăn lá như cải xanh, rau muống, cải thảo, cải làn, bắp cải, cải ngọt, cải bó xôi chiếm ưu thế về diện tích và sản lượng (chiếm khoảng 70 –80% diện tích), có tỷ suất hàng hoá cao
Tuy nhiên, sản xuất rau hiện nay chủ yếu vẫn theo phương pháp truyền thống nên chất lượng rau không đảm bảo Do đó chủ chương của Thành phố là đẩy nhanh việc xây dựng các vùng sản xuất RAT, nhằm đảm bảo an toàn cho người sử dụng, người sản xuất và môi trường sinh thái Hiện nay trên địa bàn Thành phố, diện tích sản xuất RAT chiếm khoảng 20 - 25% diện tích canh tác rau, tập trung chính ở các huyện ngoại thành như Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì Lượng rau an toàn chiếm khoảng 15 - 20% sản lượng rau của toàn Thành phố Thành phố đang xây dựng các
dự án nông nghiệp công nghệ cao như: mô hình rau hoa chất lượng cao ở Từ Liêm
16 ha với vốn đầu tư 24 tỷ đồng, mô hình nông nghiệp CNC Nam Hồng 30 ha, Kim Sơn 15 ha… Hà Nội hiện có 37 HTX sản xuất RAT, tập trung tại Đông Anh, Sóc Sơn, Từ Liêm , trong đó một số HTX thực hiện tốt quy trình sản xuất RAT trong những năm qua và được cấp chứng nhận sản xuất RAT (mô hình quản lý sản xuất, đăng ký thương hiệu có mã vạch và hệ thống tiêu thụ sản phẩm RAT)
+ Vùng sản xuất chuyên canh cà rốt, hành tỏi, dưa hấu hàng trăm ha tại Nam Sách, Bình Giang, Kim Thành tỉnh Hải Dương hàng năm cho thu nhập 70 - 90 triệu đồng/ha
Trang 35+ Vùng chuyên sản xuất dưa chuột tại Lý Nhân tỉnh Hà Nam hàng năm sản xuất 400 - 500 ha cà chua và dưa chuột cung cấp cho các nhà máy chế biến của Tổng công ty rau quả, nông sản Vụ Xuân 2006, Tổng công ty rau quả đã tổ chức sản xuất rau nguyên liệu vụ xuân ở các tỉnh Nam Định, Bắc Giang, Thanh Hoá đạt
840 ha (trong đó dưa chuột bao tử 274 ha, ớt 300 ha, ngô ngọt 126 ha, cà chua bi 45 ha) và đã thu mua trên 6.000 tấn sản phẩm
+ Thái Bình đã hình thành được nhiều vùng sản xuất nông nghiệp mang tính chuyên canh với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: hành, tỏi, ớt, khoai tây ở huyện Quỳnh Phụ; dưa chuột, ngô bao tử, sa lát ở huyện Thái Thuỵ Một số rau màu xuất khẩu được tỉnh mở rộng gieo trồng: khoai tây Đức, Hà Lan; ớt Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản; cải bắp cuộn, bí xanh, đậu cô ve Trung Quốc; khoai lang Nhật
và cà chua bi để tăng giá trị thu nhập và hiệu quả sản xuất
+ Trồng măng ở Đan Phượng - Hà Tây: Cây măng Điền trúc, có nguồn gốc từ Trung Quốc, được trồng ở xã Song Phượng, Đan Phượng, Hà Tây; trên diện tích đất chân đồi bạc màu Sau 12 tháng trồng cho thu hoạch, sau khi trừ mọi chi phí, thu lãi từ
60 -70 triệu đồng/ha Trồng măng Điền trúc cho giá trị kinh tế cao là vì sản phẩm của
nó có khả năng tận thu cao: mầm măng (củ măng) bán rất chạy trên thị trường, với giá bán 8.000 - 11.000 đồng/kg măng ngọt; mo nang dùng để bán cho các làng nghề chuyên chằm nón, thân cây mẹ lại là nguyên liệu chính để sản xuất chiếu trúc
- Miền Trung
+ Sản xuất rau hàng hoá xuất khẩu Quỳnh Lưu, Nghệ An
Sản xuất rau ở xã Quỳnh Lương, Quỳnh Lưu vào chính vụ (vụ Đông và Hè Thu), bình quân mỗi ngày nông dân trong xã đưa ra thị trường từ 30 đến 45 tấn rau
Xã đã thành lập trang web giới thiệu, quảng bá và bán sản phẩm, thông qua trang Web này nhiều hợp đồng bán rau xanh cho khách hàng trong, ngoài nước đã được
ký Trong năm 2005, xã Quỳnh Lương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã xuất sang Hà Lan 600 tấn rau xanh các loại (cà chua, rau cải, đậu, bắp cải, rau thơm, hành), tăng hơn năm trước 100 tấn
- Miền Nam:
+ Trồng rau nông nghiệp công nghệ cao ở thành phố Hồ Chí Minh
Trang 36Hiện thành phố có 1.663 ha sản xuất rau an toàn với sản lượng đạt khoảng 30.000 tấn/năm Hiện nay thành phố đang xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao trên 100 ha tại huyện Củ Chi, áp dụng công nghệ trồng rau bằng kỹ thuật thuỷ canh, màng dinh dưỡng và canh tác trên giá thể không đất, nuôi cấy mô cho rau, hoa, cây cảnh, cây ăn trái… ứng dụng chất điều hoà sinh trưởng thực vật, công nghệ gen, sản xuất nấm và các chế phẩm vi sinh
+ Trồng nấm tại tỉnh Vĩnh Long
Dự án cung cấp giống chương trình nấm thực phẩm đã hỗ trợ nông dân ở 20
xã trồng trong vụ Đông Xuân, Hè Thu và Thu Đông được 634,5 ha nấm rơm, tương đương 139.590 m mô Năng suất thu được 1 - 1,4 kg/m mô, sản lượng 139,6 - 195,4 tấn nấm rơm, với giá bán từ 7.000 - 9.000 đồng/kg nấm, doanh thu từ chương trình khoảng 1,4 - 1,75 tỷ đồng
+ Vùng trồng rau tỉnh Tiền Giang
Hiện nay, diện tích rau của Tiền Giang lên đến 30.000 ha, mỗi năm cho sản lượng xấp xỉ 450.000 tấn với tổng thu nhập khoảng 150 tỷ đồng Vùng trồng rau
an toàn của tỉnh được quy hoạch ở các xã Thân Cửu Nghĩa, Long An, Phước Thạnh, Tân Hiệp (Châu Thành); Long Bình Điền, Bình Phan, Bình Phục Nhất (Chợ Gạo); Bình Nhì, Long Vĩnh (Gò Công Tây); Mỹ Phong, Tân Mỹ Chánh (thành phố Mỹ Tho) và Long Hưng (thị xã Gò Công) Hiện tại dự án sản xuất rau
an toàn 500 ha đã được UBND tỉnh Tiền Giang phê duyệt Dự kiến mở rộng lên 1.000 ha vào những năm tiếp theo
+ Vùng trồng nấm Tân Phước - Tiền Giang
Toàn huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang có khoảng 500 ha nấm rơm, chủ yếu trồng tập trung ở các xã Tân Hoà Tây, Mỹ Phước, Phước Lập, Thạnh Mỹ, Tân Hoà Đông… giá nấm rơm khoảng 18.000 - 20.000 đồng/kg, có khi lên đến 25.000 đồng/kg, vốn đầu tư thấp, nguồn nguyên liệu sẵn có (rơm rạ), kĩ thuật đơn giản
+ Vùng sản xuất rau ôn đới tỉnh Lâm Đồng
Diện tích trồng rau tại Lâm Đồng năm 2005 đạt khoảng 27.315 ha, sản lượng 67.700 tấn, sản lượng xuất khẩu khoảng 17.324 tấn Chủng loại rau phong phú, có nhiều loại rau chất lượng cao như cải bắp, cải thảo, súp lơ (chiếm 55 – 60%), nhóm
Trang 37rau ăn củ chiếm 20 25% (khoai tây, cà rốt, củ dền), nhóm rau ăn quả chiếm 10 12% (cà chua, đậu Hà lan )
-Diện tích rau an toàn trên 600 ha theo công nghệ sản xuất cách ly trong nhà lưới không sử dụng phân bón, nông dược vô cơ và cách ly trong nhà lưới có sử dụng giới hạn nông dược vô cơ
1.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau tỉnh Bắc Kạn
1.2.3.1 Diện tích, năng suất, sản lượng rau, RAT trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
Tỉnh Bắc Kạn nằm ở miền núi phía Bắc, có điều kiện tự nhiên và khí hậu tương đối thuận lợi cho việc phát triển cây rau Từ trước đến nay, các địa phương trên địa bàn tỉnh như huyện Ba Bể, huyện Ngân Sơn, huyện Chợ Đồn, huyện Bạch Thông, huyện Na Rì, huyện Chợ Mới, huyện Pác Nặm và thành phố Bắc Kạn đã sản xuất rau cho nhu cầu tiêu dùng của địa phương Các hộ trồng rau chủ yếu là quy mô nhỏ, ít hộ có quy mô hàng hóa Tại một số vùng, người dân còn sử dụng rau rừng,
việc sản xuất rau chỉ mang tính tự cung tự cấp
Do sản xuất rau của tỉnh vẫn còn mang tính tự phát, chủ yếu là quy mô nông
hộ, sản xuất trong vườn gia đình, mang tính tự cung tự cấp cao, nên lượng rau tươi sản xuất được chỉ chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng tại địa phương, ít mang tính hàng hóa Mặt khác, do lạc hậu về kỹ thuật sản xuất và áp dụng giống mới nên sản xuất rau mang tính mùa vụ cao Mùa hè diện tích rau thường ít, chủng loại đơn
điệu (chủ yếu là rau muống và một số loại rau nhiệt đới khác) Chính vì vậy mà rau
tươi dùng cho nhu cầu tiêu dùng nội tỉnh bị thiếu hụt, một số lượng rau lớn được vận chuyển từ nơi khác đến tiêu thụ tại thị trường Bắc Kạn, đặc biệt là trong vụ hè Tuy nhiên, trong vụ đông xuân, do triển khai sản xuất rau vụ đông, sản phẩm thu hoạch ồ ạt trong thời gian ngắn tại hầu hết các địa phương gây nên hiện tượng thừa cục bộ, khả năng tiêu thụ kém dẫn đến hạn chế sản xuất
Tại Bắc Kạn, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt quy hoạch phát triển sản xuất
rau an toàn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020 (Quyết
định số 1059/QĐ-UBND ngày 11/7/2013) Tuy nhiên, rau an toàn còn chưa được người tiêu dùng biết đến nhiều Toàn tỉnh chưa có vùng sản xuất rau an toàn tập trung chuyên canh Mới chỉ có một số mô hình sản xuất rau an toàn của các đề tài, dự án như: “Mô hình sản xuất rau an toàn phục vụ tiêu dùng tại tỉnh Bắc Kạn” năm 2008-
Trang 382010 tại huyện Ba Bể (Thuộc Chương trình hợp tác giữa thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Kạn - Viện Nghiên cứu Rau quả chủ trì thực hiện), mô hình “Ứng dụng các tiến
bộ kỹ thuật xây dựng mô hình sản xuất giống rau hoa và rau hoa thương phẩm chất lượng cao tại tỉnh Bắc Kạn” Thuộc Chương trình “Xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn miền núi” giai đoạn 2004 - 2010 Viện Nghiên cứu Rau quả chủ trì thực hiện; mô hình sản xuất rau an toàn tại xã Cẩm Giàng - huyện Bạch Thông, mô hình sản xuất rau an toàn trái vụ tại xã Quân Bình - huyện Bạch Thông; giai đoạn 2016-2018 Viện Nghiên cứu
và phát triển công nghệ Nông lâm nghiệp Thành Tây triển khai Dự án Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất rau tại thành phố Bắc Kạn - tỉnh Bắc Kạn và một số
mô hình nhỏ của các chương trình khuyến nông, 30A, dự án Chương trình xây dựng nông thôn mới, Các mô hình đã đạt được những thành công nhất định Tuy nhiên, số lượng sản phẩm chưa nhiều, không đủ tiêu thụ trên thị trường
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất rau trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 2018
STT Huyện, thành phố
Diện tích (ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (tấn) Chủng loại RAT
1 Thành phố Bắc Kạn 139 83,3 1.158 Cải các loại, đậu quả,
cà chua, bắp cải, khoai tây, su hào, bí xanh, bí đỏ, các loại cà, mùi tàu, rau thơm, rau muống, rau cần, rau ngót, bầu, mướp, mướp đắng, su su, cà rốt, hành, tỏi, súp lơ…
Nguồn: Sở Nông Nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn
Tổng diện tích rau toàn tỉnh năm 2018 là 2.677 ha; phân bổ ở 08 huyện, thành phố với 122 xã, phường, thị trấn Diện tích sản xuất RAT là 267,7 ha chiếm 10%
Năng suất và sản lượng rau nói chung và rau an toàn trong năm 2018 đạt khá, năng suất rau đại trà trung bình đạt 109,06 tạ/ha/vụ, sản lượng rau đại trà đạt 29.196
Trang 39tấn/năm Đối với rau an toàn thì năng suất và sản lượng kém hơn rau đại trà, năng suất RAT đạt 90 tạ/ha/vụ, sản lượng RAT đạt 2.409,3 tấn/năm, tuy nhiên hiệu quả kinh tế
mà rau an toàn mang lại lại cao hơn rau đại trà
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn rau an toàn hiện đang là hướng phát triển chính trong trồng rau, chủng loại và chất lượng rau an toàn ngày một phong phú và đảm bảo Cơ cấu chủng loại RAT năm 2018 gồm hơn 10 loại rau thông thường và cao cấp, chất lượng RAT trên diện tích rộng đã được đảm bảo hơn do ý thức của bà con cũng như
sự giám sát về quy trình sản xuất của cơ quan quản lý đã được cải thiện đáng kể
1.2.3.2 Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất rau và RAT
So với sản xuất rau thông thường thì RAT đòi hỏi phải có cơ sở hạ tầng thuận lợi và hiện đại hơn nhằm để đáp ứng nhu cầu khắt khe của quy trình sản xuất như nhà lưới, giếng khoan, hay giao thông …Hiện nay tỉnh Bắc Kạn có 8.300 m2
Trang 401.2.3.3 Tiêu thụ rau, RAT
Bảng 1.2: Tình hình tiêu thụ trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn năm 2018
STT Huyện, thành phố
Tiêu thụ theo giá RAT
Tiêu thụ theo giá rau thường
Nguồn: Sở Nông Nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn
Hình thức tiêu thụ đại trà của nông dân chủ yếu tiêu thụ tự do tại các chợ hoặc bán buôn
Đối với RAT có nhiều hình thức tiêu thụ hơn như một số nông dân đã ký hợp đồng cung cấp rau thường xuyên cho các cửa hàng bếp ăn, nhà trường … số lượng không nhiều Lượng lớn còn lại chủ yếu tự tiêu thụ qua các chợ hoặc bán buôn
Riêng đối với RAT được cấp giấy chứng nhận đủ ĐK: Phần lớn đã có đầu
ra ổn định bằng các hợp đồng cung cấp rau cho các nhà hàng, các trường học, bếp ăn tập thể,…
1.2.3.4 Tình hình quản lý nhà nước về rau, RAT
Trong năm 2018 tỉnh Bắc Kạn đã cấp 05 giấy chứng nhận “Đủ điều kiện sản xuất RAT”, 30 giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh RAT
Thanh tra liên ngành tỉnh Bắc Kạn gồm (Sở NN, sở Y tế, sở Công Thương,
Sở Khoa học & Công nghệ…), thường xuyên thanh, kiểm tra đột xuất các cơ sở sản xuất, kinh doanh RAT và các cơ sở kinh doanh thuốc BVTV Thông qua các hình thức như lấy mẫu rau ngẫu nhiên để kiểm tra chất lượng