ĐẤT NƯỚC “NGUYỄN KHOA ĐIỂM”CHUYÊN BẮC GIANG LẦN 2 Câu 2 4.0 điểm: Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân được Nguyễn Khoa Điềm thể hiện như thế nào trong đoạn thơ sau: Những người vợ nhớ chồng
Trang 1PHẦN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC – PHẦN 1
1 VỢ CHỒNG A PHỦ LỤC NGẠN BẮC GIANG LẦN 1
Câu 2: Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng nhân vật Mị trong đoạn văn sau:
“Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho Trẻ con đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đã đốt những lều canh nương để sưởi lửa Ở Hồng Ngài người ta thành lệ cứ ăn Tết khi gặt hái vừa xong, không kể ngày, tháng nào Ăn Tết như thế cho kịp lúc mưa xuân xuống thì đi vỡ nương mới Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội
Nhưng trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ […] Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi:
Mày có con trai con gái rồi Mày đi làm nương
Ta không có con trai con gái Ta đi tìm người yêu
Tiếng chó sủa xa xa Những đêm tình mùa xuân đã tới
Ở mỗi đầu làng đều có một mỏm đất phẳng làm cái sân chơi chung ngày Tết Trai gái trẻ con ra sân chơi ấy tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy
Cả nhà thống lí Pá Tra vừa ăn xong bữa cơm Tết cúng ma Xung quanh, chiêng đánh
ầm ĩ, người ốp đồng vẫn còn nhảy lên xuống, run bần bật Vừa hết bữa cơm lại tiếp ngay bữa rượu bên bếp lửa
Ngày Tết, Mị cũng uống rượu Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ừng ực từng bát Rồi say,
Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mỵ thì đang sống về ngày trước Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị
Rượu đã tan lúc nào Người về, người đi chơi đã vãn cả Mị không biết, Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà Mãi sau Mị mới đứng dậy, nhưng Mị không bước ra đường chơi mà
từ từ bước vào buồng Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết Mị cũng chẳng buồn đi Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước Mị trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ Mị muốn đi chơi Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón
Trang 2trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa Nhớ lại chỉ thấy nước mắt ứa ra Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường:
Anh ném pao, em không bắt
Em không yêu, quả pao rơi rồi…
Lúc ấy, A Sử vừa ở đâu về, lại đang sửa soạn đi chơi A Sử thay áo mới, khoác thêm hai vòng bạc vào cổ rồi bịt cái khăn trắng lên đầu Có khi nó đi mấy ngày mấy đêm, nó còn muốn rình bắt
mấy người con gái nữa về làm vợ Cũng chẳng bao giờ Mỵ nói gì
Bây giờ Mị cũng không nói Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo Mỵ muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách A Sử đang sắp bước
ra bỗng quay lại lấy làm lạ Nó nhìn quanh, thấy Mị rút thêm cái áo A Sử hỏi:
- Mày muốn đi chơi à?
Mị không nói A Sử cũng không hỏi thêm nữa A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà Tóc Mị xoã xuống, A
Sử quấn luôn tóc lên cột làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa Trói xong vợ,
A Sử thắt nốt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi A Sử tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng lại
Từ đoạn văn, nhận xét về nét đặc sắc nghệ thuật của cây bút Tố Hữu
Cảm nhận về hình tượng nhân vật Mị trong đoạn văn trích “Vợ chồng A Phủ” –
Tô Hoài Từ đoạn văn, nhận xét về nét đặc sắc nghệ thuật của cây bút Tố Hữu
I Giới thiệu chung:
- Tô Hoài là cây đại thụ của nền văn học hiện đại Việt Nam Ông đã để lại cho đời một
sự nghiệp văn chương đạt kỉ lục về số lượng tác phẩm; phong phú, hấp dẫn về nội dung; đặcsắc về nghệ thuật
- "Vợ chồng A Phủ" là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn
học hiện đại của ta nói chung Nhân vật Mị được tác giả tập trung xây dựng, khắc họa, trởthành điển hình cho số phận cay đắng, tủi cực của người lao động miền núi Tây Bắc thời kìtrước cách mạng tháng Tám và quá trình họ tự đấu tranh, giải phóng mình
- Đoạn trích khắc họa sức sống tiềm tàng của Mị trong đêm tình mùa xuân
II Phân tích:
1 Hoàn cảnh:
- Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc vào mùa xuân thật đẹp:
+ “Ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho”
+ “Gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng”
Trang 3-> Chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, diễn tả sự chuyển mình của đất trời từ mùa đông khắcnghiệt sang mùa xuân ấm áp
- Cuộc sống của con người cũng thật sinh động:
+ Sắc màu: “những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ”
+ Âm thanh: “đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà”, “tiếng sáo lấp ló ngoài đầu núi”
-> Sắc màu rực rỡ, âm thanh náo nức
=> Đây là hoàn cảnh, tình huống đầy ý nghĩa, khơi gợi sức sống tiềm tàng của Mị
1000 bài tập môn Ngữ Văn - chọn lọc theo chuyên đề & dạng
(File word có lời giải)
Hướng dẫn đăng ký trọn bộ:
Cách 1: Truy cập link
http://tailieudoc.vn/1000-bai-tap-van-van-dung.html để đăng ký trực tiếp.
Cách 2: Soạn tin “ Đăng ký 1000 văn ” gửi đến số 0982.563.365
2 Sức sống tiềm tàng của Mị:
- Mị ngồi nhẩm theo lời bài hát của người thổi sáo Tiếng hát trong lòng Mị là một biểutượng cho thấy sức sống bắt đầu hồi sinh Tiếng hát ấy đã thôi thúc Mị có những hành độngtiếp theo
- Mị uống rượu: “lén lấy hũ rượu, cư uống ực từng bát” ( Cách uống rượu rất lạ).
Uống như muốn nuốt hận vào trong lòng, uống để quên đi thực tại và nén sâu nỗi xót xa tủi
nhục Hơi men làm thức dậy những kỉ niệm của ngày xưa, khiến Mị thấy “phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước”
-> Cảm giác vui sướng nhất của Mị trong suốt cả quãng đời
Trang 4- Mị ý thức rõ về mình:
+ “Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ Mị muốn đi chơi”
+ “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không còn buồn nhớ lại nữa”
-> Sự phản kháng quyết liệt với hoàn cảnh bi đát của mình
-> Ý thức để rồi thấm thía cho nỗi đau thân phận
- Hàng loạt hành động có ý nghĩa:
+ “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, sắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng” Ánh
sáng của ngọn đèn trong căn buồng Mị là ánh sáng của sự sống Nó được chắt chiu trong cáikhắc nghiệt của hoàn cảnh Mị đã lấy ánh sáng trong lòng mình để thắp sáng cuộc đời
+ “Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách.”
-> Sức sống được miêu tả qua sự trở về của nữ tính Khát vọng về hạnh phú, về tự dođang trỗi dậy trong Mị
- Sức sống của Mị ngay lập tức bị A Sử đàn áp: “A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà”
-> Hành động chặn đứng khao khát của Mị, càng tô đậm hơn nỗi cơ cực, cay đắng, tủi
nhục của Mị khi ở nhà thống lí Pá Tra
3 Đặc sắc nghệ thuật của cây bút Tô Hoài:
- Nghệ thuật khắc họa nhân vật:
+ Khi khắc họa nhân vật, ngòi bút Tô Hoài đã diễn tả tinh tế, chân thực những biểu hiệntâm lí phức tạp, đầy mâu thuẫn của nhân vật, đặc biệt là nhân vật Mị
+ Ngòi bút của Tô Hoài cũng có khả năng cá tính hóa nhân vật Nhà văn đã quan sátnhân vật từ các góc nhìn khác nhau Nhân vật Mị được miêu tả chủ yếu ở đời sống nội tâm và
Mị là kiểu nhân vật tâm trạng
- Nghệ thuật trần thuật hấp dẫn Truyện được kể chủ yếu ở ngôi thứ ba, từ điểm nhìncủa những người ở Hồng Ngài Nhip kể chậm, giọng kể trầm lắng chứa đầy cảm thông, xót
xa Giọng trần thuật nhiều khi đã hòa vào tiếng nói bên trong nhân vật
- Sáng tạo các chi tiết đặc sắc: chi tiết tiếng sáo…
- Thành công trong việc miêu tả bức tranh thiên nhiên, am hiểu phong tục tập quán củangười dân vùng cao
III Đánh giá:
Ngòi bút của Tô Hoài rất tinh tế khi miêu tả sức sống bền bỉ trong tâm hồn Mị Sứcsống đó như một hạt mầm căng tràn, xuyên qua lớp đất đá để thấy bầu trời tự do khi mùaxuân về.Qua đây ta càng thêm cảm phục tài năng của Tô Hoài
Trang 52 ĐẤT NƯỚC “NGUYỄN KHOA ĐIỂM”CHUYÊN BẮC GIANG LẦN 2
Câu 2 (4.0 điểm):
Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân được Nguyễn Khoa Điềm thể hiện như thế nào trong
đoạn thơ sau:
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước
những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
(Đất nước - Trích Trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm, SGK Ngữ
Văn 12 Cơ Bản - tr 120)
Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân được Nguyễn Khoa Điềm thể hiện như thế nào
trong đoạn thơ 1 Giới thiệu chung:
- Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống
Mĩ Thơ ông giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén thể hiện tâm tư người trí thức
- Trường ca Mặt đường khát vọng được sáng tác năm 1971 tại chiến khu Trị- Thiên, in
lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị miềnNam vùng tạm chiếm về nonsông đất nước và ý thức đấu tranh giải phóng dân tộc
- Đoạn trích Đất Nước (thuộc phần đầu của chương V) thể hiện một cách cảm nhận mới
về Đất Nước: Đất Nước của Nhân dân Tư tưởng đó được thể hiện rõ qua đoạn thơ:
"Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta "
2 Nội dung chính:
2.1 Giải thích:
Trang 6- Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân là tư tưởng nhằm xác định chủ quyển lãnh thổ:
Nhân dân là người làm chủ Đất Nước -> Tư tưởng tiến bộ, thể hiện tinh thần dân chủ của xãhội mới
- Đất Nước của Nhân dân là tư tưởng nhằm đề cao vai trò của Nhân dân đối với lịch sử,
ghi nhận những đóng góp hi sinh to lớn của Nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựngĐất Nước
2.2 Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân được thể hiện trong đoạn thơ:
a Về nội dung:
* Đây là tư tưởng chủ đạo của toàn bộ trường ca, được cô đúc trong Chương V, đặc biệt
là đoạn thơ này
- Trước đoạn thơ, tư tưởng đó đã được thể hiện ở cách cảm nhận mới mẻ và độc đáo:Đất Nước được cảm nhận từ những sự vật nhỏ bé, bình dị, gần gũi (búi tóc của mẹ, miếngtrầu của bà, cái kèo, cái cột ); ở cách diễn tả những cảm nhận đó bằng thứ ngôn ngữ đậmchất dân gian
- Đến đoạn thơ này, tư tưởng đó tiếp tục được cảm nhận một cách tập trung và sâu sắchơn trên bình diện không gian địa lí
-> Đoạn thơ đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: Đất nước do ai tạo dựng?
* Học sinh có thể phân tích theo nhiều cách khác nhau nhưng cần chỉ ra được các ý cơ
bản sau:
- Tám câu đầu: Nhân dân đã góp phần tạo dựng vóc dáng, gương mặt, hình hài ĐấtNước:
+ Những người vợ nhớ chồng -> Núi Vọng Phu
+ Cặp vợ chồng yêu nhau -> Hòn Trống Mái
+ Gót ngựa Thánh Gióng -> Ao đầm
+ 99 con voi -> Đất Tổ Hùng Vương
+ Những con rồng -> Dòng sông
+ Người học trò nghèo -> Núi Bút, non Nghiên
+ Con cóc, con gà -> Thắng cảnh Hạ Long
+ Những người dân -> Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
=> Nhân dân đã góp - tạo lập - tạo dựng Đất Nước
- Hai câu tiếp: Đoạn thơ đi đến một khái quát:
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Trang 7=> Tất cả vóc dáng, hình hài, gương mặt của Đất Nước là dáng hình, ao ước, lối sốngcủa ông cha
1000 bài tập môn Ngữ Văn - chọn lọc theo chuyên đề & dạng
(File word có lời giải)
Hướng dẫn đăng ký trọn bộ:
Cách 1: Truy cập link
http://tailieudoc.vn/1000-bai-tap-van-van-dung.html để đăng ký trực tiếp.
Cách 2: Soạn tin “ Đăng ký 1000 văn ” gửi đến số 0982.563.365
- Hai câu kết bay bổng trong cảm xúc tự hào "Những cuộc đời": không phải ai khác
chính là Nhân dân
=> Đây là một cái nhìn mới mẻ, mang tính phát hiện
* Tóm lại: Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân đã chi phối cảm xúc, tư tưởng của đoạn
thơ nói riêng và cả trích đoạn nói chung
b Về nghệ thuật: Tư tưởng đó đã chi phối cả yếu tố hình thức: ngôn ngữ của đoạn thơ:
- Tác giả khai thác triệt để chất liệu dân gian để sáng tạo ra cách nói
- ngôn ngữ của riêng mình: gợi lại gương mặt, hình hài Đất Nước, tác giả không nóibằng bờ cõi, lãnh thổ mà nói bằng núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, gót ngựa của ThánhGióng
-> Vừa gợi không gian dân dã vừa góp phần tô đậm tư tưởng Đất Nước của Nhân dân
Trang 8- Qua đó Nguyễn Khoa Điềm bày tỏ niềm tin của mình vào thắng lợi của cuộc khángchiến chống Mĩ và thắng lợi của Đất Nước
- Đất Nước của Nhân dân sẽ cùng Nhân dân trường tồn đến muôn đời
3 SÓNG XUÂN QUỲNH CHUYÊN HẢI DƯƠNG LẦN 1
Câu 2 ( 4 điểm)
Cảm nhận về vẻ đẹp của đoạn thơ sau:
“Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn khóc Dẫu xuôi về phương bắc Dẫu ngược về phương nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh – một phương”
( Trích Sóng – Xuân Quỳnh, Dẫn theo Ngữ văn 12, tập một, NXB
Giáo dục Việt Nam, 2014)
2 Cảm nhận về vẻ đẹp của một đoạn thơ trong “Sóng” của Xuân Quỳnh
2.1 Giới thiệu chung
- Tác giả: Xuân Quỳnh (1942 – 1988) - một trong những gương mặt tiêu biểu cho cácnhà thơ nữ thời chống Mĩ Con đường thơ của chị gần một phần tư thế kỉ, khá phong phú về
số lượng và tươi rói chất hiện thực đời sống Thơ chị thấm đượm tình người và thể hiện mộttrái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành nhiều lo âu và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúcđời thường
- Sóng: một trong những bài thơ tình hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ ca VNhiện đại nói chung
- Đoạn trích: Khổ 5,6 của bài Mượn hình ảnh sóng, Xuân Quỳnh đã bộc bạch nỗi niềmcủa người phụ nữ đang yêu -> vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ
2.2 Cảm nhận:
a/ Khái quát chung:
- Tình yêu là một tình cảm thiêng liêng cao cả và huyền diệu nhất của con người, nhất
là tình yêu ở trái tim người phụ nữ Bằng hình tượng độc đáo, nhịp thơ, ngôn ngữ thơ đặc sắc,
Trang 9nữ thi sĩ Xuân Quỳnh đã diễn tả được một cách tinh tế và duyên dáng tâm hồn của người phụ
nữ đang yêu
- “Sóng” là nhan đề của bài thơ và cũng là hình tượng chủ đạo xuyên suốt cả bài Sóng
và em là 2 hình tượng đc miêu tả song song, khi tách rời, khi hòa quyện, đan xen, nhập vàolàm một Đó là một hình tượng ẩn dụ mang tính chất biểu tượng, biểu tượng cho trái timngười phụ nữ đang yêu
b/ Phân tích:
b.1: Khổ 5: Khổ thơ đặc biệt nhất trong bài: có 6 câu thơ
* 4 câu đầu: Hình tượng sóng trong không gian và thời gian
- Không gian: lòng sâu, mặt nước
- Thời gian: ngày - đêm
- Trạng thái: “nhớ bờ” “không ngủ được”
-> Tình yêu luôn đồng hành với nỗi nhớ Càng yêu nồng nàn, đắm say, thì càng nhớ dadiết cháy bỏng Đó là hai mặt của tình yêu, giống như 2 mặt của 1 tờ giấy
=> Trong bài thơ này, nỗi nhớ niềm thương của người đang yêu được Xuân Quỳnh diễn
tả thật cảm động và đầy nghệ thuật Bằng phép ẩn dụ nhân hóa, các cặp từ đối lập “trên – dưới”, “ngày – đêm” và điệp từ “con sóng” láy lại 3 lần
=> Nỗi nhớ như bao trùm cả không gian bao la Nó chiếm cả tầng sâu, bề mặt của tâmhồn Và nó khắc khoải da diết trong mọi thời gian Ta cảm nhận được tình yêu cồn cào, mãnhliệt, say đắm của sóng với bờ
* 2 câu sau:
- Nỗi nhớ đầy ắp, tràn ngập không gian, thời gian nhưng dường như chỉ nói bằng 4 câu
thơ là không đủ Nhà thơ tiếp tục bộc lộ nỗi nhớ của mình bằng 2 câu thơ sau: Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Hai câu thơ đã diễn tả được một cách thật xúc động và chân
thực cõi lòng của người phụ nữ đang yêu bằng một tình yêu thật trong sáng và mãnh liệt
“Em” nhớ “anh” từ cõi thực đến cõi mơ Cái thức trong giấc mơ mới là tình cảm thật nhất,sâu sắc nhất của cõi lòng
- Nhưng ở đây, “thức” không chỉ vì nỗi nhớ mà với 1 ng phụ nữ nhiều trải nghiệm, đãtừng, mất mát, đổ vỡ trong tình yêu như XQ thì dường như trong cái thức ấy còn chất chứa cảnhững lo âu, thấp thỏm Nỗi lo ấy hơn 1 lần ta bắt gặp trong thơ XQ:
Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn Hôm nay yêu mai có thể xa rồi Niềm đau đớn tưởng như vô tận Bỗng có ngày thay thế một niềm vui
Trang 10Hay:
“Lời yêu mỏng mảnh như màu khói
Ai biết tình anh có đổi thay”
=> Qua những cung bậc cảm xúc đó, ta cảm nhận đc tình yêu chân thành, cháy bỏngcủa nhà thơ
b.2: Khổ 6: Khẳng định tấm lòng thủy chung, son sắt
* 2 câu đầu:
- Danh từ chỉ hướng trong không gian: Nam – Bắc -> sự xa xôi, cách trở
- Cách nói rất lạ “xuôi Bắc – ngược Nam”: gợi sự gian truân, vất vả, hé mở những éo le,
ngang trái, trắc trở có thể tiềm ẩn trong cuộc đời, trong tình yêu
- Điệp cấu trúc: khiến tất cả những xa xôi, khó khăn, trắc trở ấy dường như nhân lên
- Điệp từ “dẫu”: thường mở đầu câu ghép chính phụ với 2 vế tương phản Dẫu khó
khăn….thì e vẫn … => bản lĩnh mạnh mẽ, cứng cỏi của ng phụ nữ
* 2 câu sau:
- Khẳng định chắc nịch trái tim thủy chung, son sắt Tình yêu ấy đã làm nên sự sáng tạo
ngôn từ: “phương anh”
- Nếu những câu trên tô đậm nỗi nhớ -> “nghĩ”, tức là cảm xúc -> suy tư “Anh” đã trở
thành một ám ảnh trong em
=> Vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ VN trong tình yêu Sự chung thủy, bản lĩnhmạnh mẽ, cứng cỏi, kiên cường chính là sức mạnh để tình yêu có thể vượt qua mọi trắc trở,đến bến bờ hạnh phúc
c/ Tiểu kết:
Kết cấu song hành giữa “sóng” và “em”, thể thơ năm chữ, các sử dụng từ ngữ sáng tạo,giàu sức gợi, nhịp thơ cuộn trào trong khổ 5 => thể hiện sinh động và chân thực những cảmxúc trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu
3 Tổng kết:
- Vẻ đẹp hồn thơ Xuân Quỳnh
- Sức sống mãnh liệt của bài thơ
4 VIỆT BẮC - TỐ HỮU CHUYÊN HÙNG VƯƠNG
Câu 2: (4,0 điểm)
Phong vị dân gian được thể hiện như thế nào trong đoạn thơ sau:
Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Trang 11Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy
Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…
(Trích Việt Bắc – Tố Hữu, SGK Ngữ văn 12 Nâng cao, tập 1, trang 84)
Phong vị dân gian được thể hiện như thế nào trong đoạn thơ sau:
1000 bài tập môn Ngữ Văn - chọn lọc theo chuyên đề & dạng
(File word có lời giải)
Hướng dẫn đăng ký trọn bộ:
Cách 1: Truy cập link
http://tailieudoc.vn/1000-bai-tap-van-van-dung.html để đăng ký trực tiếp.
Cách 2: Soạn tin “ Đăng ký 1000 văn ” gửi đến số 0982.563.365
1 Giới thiệu chung:
- Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng với phong cách trữ tình, chính trị
- "Việt Bắc" là một thành công xuất sắc của ông Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công
đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu Bài thơ viết về cuộc chia tay lớn - cuộc chia tay lịch sử giữangười về xuôi với Việt Bắc vào tháng 10 năm 1954, thể hiện một cách tinh tế tình cảm cáchmạng giữa những người kháng chiến và người dân Việt Bắc
- Dẫn đoạn trích và khẳng định đoạn trích mang đậm phong dân gian
2 Giải thích:
Trang 12- “Phong vị dân gian”: Là chất dân gian, là màu sắc hương vị dân gian Một bài thơ nóichung và một đoạn thơ nói riêng mang phong vị dân gian có nghĩa là trong đoạn thơ ấy, trongbài thơ ấy có dấu ấn của thơ ca dân gian
- Phong vị dân gian trong đoạn thơ thấm sâu ở nôi dung tư tưởng và phong vị dân giancòn được tạo nên từ cách vận dụng nhuần nhuyễn những yếu tố nghệ thuật quen thuộc từ khotàng văn học dân gian
3 Phân tích, chứng minh:
3.1 Phong vị dân gian trước hết thấm sâu trong nội dung tư tưởng của đoạn thơ:
- Đoạn thơ diễn tả nỗi nhớ hướng đến cảnh sắc Việt Bắc, cuộc sống con người ở ViệtBắc, những địa danh ở Việt Bắc, từ đó khẳng định tình cảm khăng khít gắn bó keo sơn
- Đây là 1 cách sống đã trở thành truyền thống của dân tộc và được thể hiện sâu đậmtrong ca dao, dân ca (Trong ca dao chúng ta thường xuyên gặp những câu thể hiện nghĩa tình
gắn bó sâu nặng: Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đống lửa như ngồi đống rơm )
- Ở đoạn thơ trong bài Việt Bắc, chúng ta gặp lại những tình cảm, cảm xúc đó: tình cảmtha thiết, nghĩa tình sâu nặng với thiên nhiên, quê hương đất nước, với cuộc sống của đồngbào, với những địa danh, những mảnh đất mình từng gắn bó; là tình cảm của những ngườicán bộ về xuôi – những con người của thời đại hôm nay đã có gốc rễ trong truyền thống -> Được thể hiện nhiều trong những áng thơ ca dân gian
3.2 Biểu hiện qua nghệ thuật: Trong đoạn thơ tác giả đã sử dụng rất linh hoạt các yếu
tố nghệ thuật quen thuộc của thơ ca dân gian
* Thể thơ: Thể thơ lục bát truyền thống rất phù hợp trong việc thể hiện nghĩa tình cáchmạng Đây cũng là thể thơ được sử dụng phổ biến nhất trong ca dao
* Kết cấu: Kết cấu đối đáp trong khung ảnh chia tay lưu luyến -> mô típ quen thuộctrong ca dao, dân ca, khiến cho cấu tứ đoạn thơ, bài thơ giống như cấu tứ của ca dao: cuộc
chia tay Việt Bắc giống như cuộc chia tay của đôi lứa với 2 nhân vật “mình” và “ta” -> giãi
bày tâm tư, tình cảm
* Ngôn ngữ, hình ảnh:
- Ngôn ngữ:
+ Đại từ xưng hô “mình”, “ta” và cấu trúc lời thơ gợi nhớ đến những câu ca dao về
tình cảm lứa đôi Ở đây nhà thơ vận dụng ngôn ngữ của ca dao nhưng lại thể hiện tình cảmcủa con người trong thời đại mới -> mang nét nghĩa mới
+ Bên cạnh đại từ “mình”, “ta” còn sử dụng những từ ngữ giống lời ăn tiếng nói của
nhân dân -> giản dị, mộc mạc những cũng rất sinh động để diễn tả cảnh sắc Việt Bắc, conngười Việt Bắc
Trang 13- Hình ảnh: nhiều hình ảnh quen thuộc của ca dao, dân ca; rất thích hợp với khung cảnh
và tâm trạng: “trăng”, “núi”, “sương”, “khói”…
* Âm điệu, giọng điệu:
- Âm điệu ngọt ngào, tha thiết, quyến luyến
- Giọng điệu trữ tình ngọt ngào như những lời ru trong ca dao, dân ca, đưa người đọcvào thế giới của kỉ niệm
Bộ 200 đề thi thử THPT Quốc Gia năm 2019 môn Ngữ Văn
(Có lời giải chi tiết)
- Đây là yếu tố làm nên phong cách thơ Tố Hữu: đậm đà tính dân tộc
5 NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ - CHUYÊN NGHỆ AN
Câu 2: (5 điểm)
Hùng vĩ của sông Đà không phải chỉ có thác đá Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng thành vách, mặt sông chỗ ấy chỉ đúng lúc ngọ mới có mặt trời Có chỗ vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia
Trang 14vách Có quãng con nai, con hổ đã có lần vọt từ bờ này qua bờ kia Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở một hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà cao thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện
Lại như quãng mặt ghềnh Hát Lống, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra
Lại như quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tong thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu Nước ở đây thở
và kêu như cửa cống cái bị sặc Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô to sang số nhấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu, những cái giếng sâu ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào Nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vút biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới…”
(Nguyễn Tuân, Người lái đò sông Đà, SGK Ngữ văn 12, tập 1, trang 186, NXB GD,
2007)
Cảm nhận của anh, chị về vẻ đẹp của dòng sông Đà trong đoạn trích trên? Từ đó, hãychỉ ra những đặc điểm của phong cách nghệ thuật tùy bút Nguyễn Tuân
2 Cảm nhận của anh, chị về vẻ đẹp của dòng sông Đà trong đoạn trích trên? Từ
đó, hãy chỉ ra những đặc điểm của phong cách nghệ thuật tùy bút Nguyễn Tuân
2.1 Giới thiệu chung:
- "Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ tài hoa"(Nguyễn Minh Châu) Toàn
bộ cuộc đời cũng như gần 5000 trang viết của ông đã tạo nên một "huyền sử" - huyền sử củamột người ưu lối chơi "độc tấu"
- "Người lái đò sông Đà" được coi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất trong “ Tùy bút sông Đà” Trong tác phẩm, Nguyễn Tuân đã khắc họa thành công hình tượng con sông
Đà vừa hung bạo, dữ dội, là "kẻ thù số một" của con người, vừa là một công trình nghệ thuậttuyệt vời của tạo hóa - trữ tình, thơ mộng, làm say đắm lòng người
- Đoạn trích trên thuộc phần đầu tác phẩm, miêu tả một Sông Đà hung bạo, dữ dằn,đồng thời thể hiện rõ đặc điểm phong cách tùy bút Nguyễn Tuân
Trang 152.2 Cảm nhận vẻ đẹp của sông Đà:
- Vách đá “đá bờ sông dựng vách thành” và những bức thành vách đá cao chẹt chặt lấy
lòng sông hẹp Cái hẹp của lòng sông tác giả tả theo đủ cách:
+ “Mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời”
+ “Con hổ con nai có thể vọt qua sông, và chỉ can nhẹ tay thôi cũng có thể ném hòn đá
từ bờ bên này qua bên kia vách…” -> So sánh vừa chính xác, tinh tế, vừa bất ngờ và lạ lùng
- Gió trên sông Đà: “Dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn
luồng gió gùn ghè suốt năm …” -> bằng lối viết tài hoa, những câu văn diễn đạt theo kiểu
móc xích, cấu trúc câu trùng điệp, gợi hình ảnh con sông Đà cuồng nộ, dữ dằn như lúc nàocũng muốn tiêu diệt con người
- Những hút nước ở quãng Tà Mường Vát: “nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái
bị sặc”, “chỗ giếng nước sâu ặc ặc lên …” những cái hút nước lôi tuột bè gỗ xuống hoặc hút
những chiếc thuyền xuống rồi đánh chúng tan xác” -> Lối so sánh độc đáo khiến con sông Đàkhông khác gì loài thủy quái với những tiếng kêu ghê rợn như muốn khủng bố tinh thần và uyhiếp con người
=> Sông Đà với vẻ đẹp hung bạo, mạnh mẽ, như sẵn sàng thách thức tất cả, là kẻ thùcủa con người
2.3 Đặc điểm phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân:
- Phong cách nghệ thuật là nét riêng, nét đặc sắc trong cách cảm nhận và khám phá thếgiới của nhà văn, thể hiện qua nội dung và hệ thống bút pháp nghệ thuật độc đáo NguyễnTuân gọi nghề văn là nghề sáng tạo trên pháp trường trắng, để lại dấu ấn riêng của mình trêntrang viết
- Nội dung của tác phẩm Nguyễn Tuân là hướng đến những cái đẹp và thể hiện nhữngcảm xúc mãnh liệt: đẹp đến độ con người thì phải là tài hoa nghệ sĩ, cảnh vật cũng phải cómột không hai
- Vận dụng kiến thức phong phú, nhất là ngôn từ ở các ngành quân sự, võ thuật, điệnảnh, để miêu tả con sông ở nhiều góc độ
- Sử dụng thể văn tùy bút phóng khoáng, thể hiện sự tài hoa, uyên bác của nhà văn: + Sông Đà được khắc họa bằng biện pháp nghệ thuật nhân hóa, cùng hệ thống từ vựngphong phú, giàu có
+ Sử dụng nhiều câu văn dài, nhịp nhàng, uyển chuyển, hình ảnh so sánh độc đáo, mới
lạ
2.4 Tổng kết:
- Đoạn văn tuy ngắn nhưng thể hiện đậm nét phong cách nghệ thuật tùy bút của tác giả
Trang 16- Khẳng định tình yêu quê hương đất nước của nhà văn
6 SÓNG - XUÂN QUỲNH CHUYÊN LÀO CAI
Câu 2 (4,0 điểm)
Bàn về đặc điểm cái tôi trong bài thơ Sóngcủa Xuân Quỳnh, có ý kiến cho rằng: Đó là cái tôi có khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành mãnh liệt Lại có ý kiến khẳng định: Bài thơ đã thể hiện một cái tôi nhạy cảm, day dứt về giới hạn của tình yêu và sự hữu hạn của kiếp người
Từ cảm nhận về cái tôi của nhà thơ Xuân Quỳnh trong bài thơ Sóng, anh/chị hãy làmsáng tỏ ý kiến trên
Cảm nhận về cái tôi của nhà thơ Xuân Quỳnh trong bài thơ Sóng
1 Giới thiệu chung:
- Là một trong những người viết thơ tình có sức hấp dẫn nhất trong thơ Việt nam từ đầuthập kỉ 60(của TK XX), Xuân Quỳnh vừa choinh phục bạn đọc bằng một tiếng nói dungdị,chân thành vừa giàu trực cảm vừa lắng sâu trải nghiệm
- Bài thơ "Sóng" được Xuân Quỳnh viết năm 1967 tại biển Diêm Điền
- Thái Bình, in trong tập “Hoa dọc chiến hào” Đây là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và
phong cách thơ Xuân Quỳnh
tưởng của nhà thơ trước cuộc đời
- Khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành mãnh liệt: là những mong muốn, khát khao
trong cuộc sống và tình yêu được đẩy lên đến cao độ, nồng nàn
- Cái tôi nhạy cảm, day dứt về giới hạn của tình yêu và sự hữu hạn của kiếp người: là
cái tôi tinh tế trong cảm nhận, trăn trở suy tư khi nhận ra sự mong manh trong tình yêu và sựngắn ngủi của đời người
=> 2 ý kiến, 2 góc nhìn khác nhau song đều hướng vào khám phá thế giới tâm hồn củanhà thơ
b Cảm nhận về cái tôi trong bài "Sóng":
Hình ảnh cái tôi Xuân Quỳnh được thể hiện song hành, gắn bó với hình tượng "sóng",
khi tách rời, khi nhập vào làm một
* Cái tôi có khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành mãnh liệt:
Trang 17- Cái tôi với nhiều cung bậc cảm xúc trong tình yêu giống như qui luật của sóng trên
biển cả: lúc mạnh mẽ lúc dịu dàng, đầy nữ tính: dữ dội và dịu êm/ ồn ào và lặng lẽ Cái tôi ấy
luôn khát khao được sống đúng với cá tính của mình, được thấu hiểu và được yêu thương nên
đã dấn thân vào hành trình gian truân tìm kiếm hạnh phúc, hướng tới tình yêu chân thành,
đích thực: sông không hiểu nổi mình/ sóng tìm ra tận bể
- Cái tôi còn khát vọng khám phá bản chất, nguồn gốc của tình yêu, để rồi nhận ra rằngtình yêu là bí ẩn như là sóng và không thể nào lí giải được.(Khổ 3,4)
- Cái tôi mang nỗi nhớ nồng nàn da diết vượt qua mọi khoảng cách không gian, mọigiới hạn thời gian, không chỉ tồn tại trong ý thức mà còn len lỏi cả vào trong tiềm thức, xâmnhập cả vào những giấc mơ (Khổ 5,6)
- Cái tôi khát vọng và tin tưởng tình yêu chung thuỷ sẽ vượt qua những biến động củacuộc sống, những thăng trầm của cuộc đời để đến được bến bờ hạnh phúc (Khổ 7,8)
* Cái tôi nhạy cảm day dứt về giới hạn của tình yêu và sự hữu hạn của kiếp người:
- Giả thiết: “dẫu xuôi”, “dẫu ngược” chất chứa dự cảm về những trắc trở trong tình yêu “Phương Bắc”, “phương Nam”: gợi không gian xa cách, ẩn giấu những phấp phỏng lo
âu về sự cách trở Như vậy, ngay cả khi tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, say đắm, lòng ngườiphụ nữ vẫn không tránh khỏi những dự cảm không lành
- Cái tôi tìm cách hoá giải nghịch lý và nỗi day dứt ấy bằng khát vọng hoá thân vàosóng, hoà nhập vào biển lớn tình yêu để tình yêu được bất tử hóa, vượt qua sự hữu hạn củađời người (Khổ 9)
* Nghệ thuật thể hiện:
- Cái tôi trong Sóng được thể hiện bằng thể thơ ngũ ngôn với nhịp thơ linh hoạt, giọng
điệu chân thành, da diết, riêng khổ 5 là khổ duy nhất trong bài gồm 6 câu thơ, như một sự phácách để thể hiện một trái tim yêu tha thiết, nồng nàn
- Ngôn ngữ bình dị với thủ pháp nhân hoá, ẩn dụ, các cặp từ tương phản, đối lập, cácđiệp từ; cặp hình tượng sóng và em vừa sóng đôi, vừa bổ sung hoà quyện vào nhau cùng diễn
tả vẻ đẹp tâm hồn của cái tôi thi sĩ
3 Bình luận, lí giải 2 ý kiến:
- Hai ý kiến tuy khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau thể hiện sự nhìn
nhận toàn diện về cái tôi của thi sĩ; giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc và thấu đáo hơn về vẻđẹp của tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu Đặt bài thơ vào hoàn cảnh ra đời của nó - đó lànhững năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang vô cùng căng thẳng và đặt trong cảnh ngộriêng của nhà thơ - từng đổ vỡ trong tình yêu, chúng ta sẽ thấu hiểu vì sao trong cái tôi XuânQuỳnh lại có những thái cực cảm xúc tưởng chừng đối lập như vậy
Trang 18- Đây là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân Quỳnh Với trái tim yêunồng nàn, tha thiết, Xuân Quỳnh mãi là nhà thơ tình được nhiều độc giả trong và ngoài nướcyêu thương, mến mộ
Bộ 200 đề thi thử THPT Quốc Gia năm 2019 môn Ngữ Văn
(Có lời giải chi tiết)
Hướng dẫn đăng ký trọn bộ:
Cách 1: Truy cập link http://tailieudoc.vn/de-thi-thu-ngu-van-2019.html
để đăng ký trực tiếp.
Cách 2: Soạn tin “ Đăng ký bộ đề 2019 văn ” gửi đến số 0982.563.365
7 VIỆT BẮC - TỐ HỮU NGUYỄN HUỆ LẦN 1
Câu 2 (4,0đ)
Có ý kiến cho rằng: Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu vừa là khúc tình ca ca ngợi nghĩa tình cách mạng sâu nặng, sắt son; vừa là bản hùng ca tráng lệ về một Việt Bắc anh hùng trong kháng chiến Qua đoạn trích đã học, anh /chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu vừa là khúc tình ca ca ngợi nghĩa tình cách mạng sâu nặng, sắt son; vừa là bản hùng ca tráng lệ về một Việt Bắc anh hùng trong kháng chiến.
Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn
học để tạo lập văn bản Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiệnkhả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính
tả, từ ngữ, ngữ pháp
Yêu cầu cụ thể:
1 Giới thiệu chung:
- Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng với phong cách trữ tình, chính trị
Trang 19- "Việt Bắc" là một thành công xuất sắc của ông Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công
đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu Bài thơ viết về cuộc chia tay lớn - cuộc chia tay lịch sử giữangười về xuôi với Việt Bắc vào tháng 10 năm 1954, thể hiện một cách tinh tế tình cảm cáchmạng giữa những người kháng chiến và người dân Việt Bắc
- Nêu ý kiến: Bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu vừa là khúc tình ca ca ngợi nghĩa tình cách mạng sâu nặng, sắt son; vừa là bản hùng ca tráng lệ về một Việt Bắc anh hùng trong kháng chiến
3 Phân tích, chứng minh:
3.1 “Việt Bắc” là khúc tình ca ca ngợi nghĩa tình cách mạng sâu nặng, sắt son:
- Bài thơ ra đời gắn với một sự kiện chính trị: Cơ quan TƯ của Đảng và chính phủ rờiViệt Bắc về Hà Nội Tố Hữu đã sáng tạo thành khúc hát giao duyên, câu chuyện tâm tình Vìthế, bài thơ như một khúc tình ca, bao trùm là nỗi nhớ thiết tha
- Việt Bắc được kết cấu theo lối đối đáp giao duyên của ca dao: Giữa hai nhân vật
“mình – ta” (lời đối đáp giữa người đi và kẻ ở) Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy
thiết tha mặn nồng → Nhắc lại những kỉ niệm, hồi ức đẹp của những tháng ngày gian khổ
trong “mười lăm năm kháng chiến” gắn bó với vùng đất cách mạng
- Khắc sâu trong nỗi nhớ của người cán bộ cách mạng về xuôi là hình ảnh ảnh và ngườiViệt Bắc:
+ Thiên nhiên Việt Bắc vừa thực, vừa thơ mộng: Có ánh trăng lên đầu núi, sương sớm, nắng chiều; Có núi, rừng, sông, suối,…với những cái tên quen thuộc; với cảnh đẹp bốn mùa: đông, xuân, hạ, thu
+ Con người Việt Bắc: Bình dị, cần cù trong lao động; thủy chung, ân nghĩa với cáchmạng Đó là sự đồng cam cộng khổ, cùng chung niềm vui và cùng gánh vác những nhiệm vụnặng nề của cách mạng, của dân tộc
- Âm điệu thơ lục bát nhẹ nhàng, ngân nga; ngôn ngữ giản dị mà giàu hình ảnh; nhữngbiện pháp nghệ thuật quen thuộc trong thơ ca dân tộc (ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, liệt kê, lặp,đối…) đã làm sáng lên vẻ đẹp trong truyền thống đạo lí của dân tộc Việt Nam: Uống nướcnhớ nguồn; đùm bọc, yêu thương; đoàn kết…
3.2 “Việt Bắc” là bản hùng ca tráng lệ về một Việt Bắc anh hùng trong kháng chiến:
- Cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện được tái hiện sinh động Việt Bắc hiện lên nhưmột dũng sĩ hiên ngang; các ngả đường tiến quân “rầm rập” như gọng kìm xiết chặt quân thù
- Bức tranh Việt Bắc ra quân giữa một không gian núi rừng rộng lớn: Những đoànngười tấp nập: Bộ đội, dân công, những đoàn xe… Tiến ra trận có đủ mọi tầng lớp, là khốiđoàn kết toàn dân tộc:
Trang 20Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay
→ Hình ảnh kì vĩ, âm thanh hào hùng, sôi nổi, khí thế náo nức, khẳng định sức mạnh
lại biến hóa từ giọng điệu tha thiết, êm ái thành giọng điệu hào hùng, sảng khoái → sáng tạo
hiếm có ở thể thơ này
4 Đánh giá, kết thúc vấn đề:
- Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến trên và sáng tạo độc đáo của nhà thơ Tố Hữu
- Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích nói riêng, của thơ Tố Hữunói chung và sức sống của tác phẩm trong lòng độc giả
8 NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ - NGUYỄN TUÂN CHUYÊN NGUYỄN HUỆ LẦN
2
Câu 2 (4,0 điểm)
Anh/chị hãy phân tích hình tượng người lái đò trong cuộc chiến với con sông hung dữ
trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân Từ đó, hãy cắt nghĩa vì sao, trong con
mắt của tác giả, thiên nhiên Tây Bắc quý như vàng, nhưng con người Tây Bắc mới thật xứngđáng là vàng mười của đất nước ta
Anh/chị hãy phân tích hình tượng người lái đò trong cuộc chiến với con sông hung
dữ trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân Từ đó, hãy cắt nghĩa vì sao,
trong con mắt của tác giả, thiên nhiên Tây Bắc quý như vàng, nhưng con người Tây Bắc mới thật xứng đáng là vàng mười của đất nước ta
1 Giới thiệu chung:
- "Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ tài hoa" (Nguyễn Minh Châu) Toàn
bộ cuộc đời cũng như gần 5000 trang viết của ông đã tạo nên một "huyền sử" - huyền sử của một người ưu lối chơi "độc tấu Ông được mệnh danh là "Người suốt đời đi tìm cái đẹp"
Trang 21- "Người lái đò sông Đà" được coi là một trong những tác phẩm thành công xuất sắc
nhất trong tùy bút "Sông Đà”
- Tác giả đã khắc họa thành công hình tượng người lái đò - chất "vàng mười" của Tây
Bắc nói riêng và đất nước ta nói chung
Bộ 200 đề thi thử THPT Quốc Gia năm 2019 môn Ngữ Văn
(Có lời giải chi tiết)
Hướng dẫn đăng ký trọn bộ:
Cách 1: Truy cập link http://tailieudoc.vn/de-thi-thu-ngu-van-2019.html
để đăng ký trực tiếp.
Cách 2: Soạn tin “ Đăng ký bộ đề 2019 văn ” gửi đến số 0982.563.365
2 Phân tích hình tượng người lái đò trong cuộc chiến với con sông Đà hung dữ:
- Thoạt nhìn đó là cuộc đấu không cân sức Bởi đó là trận đấu mà ở bên này là mộtthiên nhiên lớn lao, dữ dội và hiểm độc, với sức mạnh được nâng lên hàng thần thánh, cósóng nước hò reo quyết vật ngửa mình thuyền, có thạch trận với ba lớp trùng vi vây bủa,được trấn giữ bởi những hòn đá ngỗ ngược, hỗn hào và nham hiểm; còn bên kia là con người
bé nhỏ, không hề có phép màu, vũ khí trên tay chỉ là chiếc cán chèo-những chiếc que thậtmỏng manh trước nguy nga sóng thác-trên một con đò đơn độc hết chỗ lùi
- Vậy mà thác dữ không chặn bắt được con thuyền Cuối cùng vẫn là con người chiếnthắng sức mạnh thần thánh của tự nhiên, vẫn là con người cưỡi lên thác ghềnh, xé toang hếtlớp này đến lớp kia của trùng vi thạch trận, để những thằng đá tướng phải lộ sự tiu nghỉu, thấtvọng qua bộ mặt xanh lè Người lái đò đã đè sấn được sóng gió, nắm chặt cái bờm sóng màthuần phục sự hung hãn của dòng sông
- Nguyễn Tuân cho thấy, nguyên nhân làm nên chiến thắng của con người không hề bí
ẩn Đó chính là sự ngoan cường, chí quyết tâm, và nhất là kinh nghiệm đò giang sông nước,
Trang 22lên thác xuống ghềnh đã giúp cho con người nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá, để
từ đó khuất phục dòng thác hồng hộc hơi thở của hùm beo
- Để miêu tả cho thật hùng tráng và hấp dẫn cuộc thủy chiến giữa ông lái đò với thác dữsông Đà, Nguyễn Tuân đã tung ra đạo binh ngôn từ hùng hậu cùng tất cả sự tài hoa, uyên báctrong ngòi bút của mình
3 Lí giải:
- Từ việc làm rõ sức mạnh, sự ngoan cường, chí quyết tâm, kinh nghiệm đò giang củangười lái đò-một người lao động bình thường trên mảnh đất Tây Bắc nước ta- qua cuộc đấutranh chinh phục thiên nhiên, chúng ta hiểu rằng, chẳng phải tình cờ khi, để nói về màu sắc
của núi sông, Nguyễn Tuân chỉ dùng một chữ vàng Để rồi sau đó, ông sẽ dùng chữ vàng mười để gọi tên vẻ đẹp và giá trị quý báu của con người lao động Điều đó chứng tỏ, trong cảm xúc thẩm mĩ của tác giả Người lái đò sông Đà, con người đẹp hơn tất cả và quý giá hơn
tất cả
- Người lái đò sông Đà chính là khúc hùng ca ca ngợi con người, ca ngợi ý chí của con
người, ca ngợi lao động vinh quang đã đưa con người tới thắng lợi huy hoàng trước sức mạnhtựa thánh thần của dòng sông hung dữ Đấy chính là yếu tố làm nên chất vàng mười của nhândân Tây Bắc và của những người lao động nói chung
9 TÂY TIẾN - QUANG DŨNG NGUYỄN HUỆ LẦN 3
Câu 2: (4 đ):
Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau:
1 Giới thiệu chung:
- Quang Dũng là gương mặt tiêu biểu của thơ ca kháng chiến chống Pháp với hồn thơhào hoa, lãng mạn thấm đượm tình đồng bào đồng chí
Trang 23- “Tây Tiến” là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng Bài thơ được Quang
Dũng viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị Tây Tiến một thời gian
- Đoạn trích là bức tượng đài về người lính Tây Tiến với vẻ đẹp vừa bi tráng vừa lãngmạn
2 Cảm nhận đoạn trích:
a Hình tượng người lính Tây Tiến:
* Vẻ đẹp vừa bi thương vừa hào hùng của đoàn quân Tây Tiến:
- Cái bi thương của người lính được gợi lên từ ngoại hình ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da
dẻ xanh như màu lá:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
+ Sở dĩ người lính Tây Tiến đầu trọc danh xanh là do hậu quả của những tháng ngàyhành quân vất vả vì đói và khát, là dấu ấn của những trận sốt rét ác tính
+ Những cơn sốt rét rừng ấy không chỉ có trong thơ Quang Dũng mà còn để lại dấu ấnđau thương trong thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung
- Cái hào hùng:
+ Thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa ngoại hình ốm yếu và tâm hồn bên trong đã làm nên
khí chất mạnh mẽ của người lính “Không mọc tóc” là cách nói ngang tàng rất lính, hóm hỉnh
vui đùa với khó khăn gian khổ của mình
+ Thể hiện qua cách dùng từ Hán Việt “đoàn binh” Chữ “đoàn binh”chứ không phải
là đoàn quân đã gợi lên được sự mạnh mẽ lạ thường của sự hùng dũng, Ba từ “dữ oai hùm”
gợi lên dáng vẻ oai phong lẫm liệt, oai của chúa sơn lâm Qua đó ta thấy người lính Tây Tiếnvẫn mạnh mẽ làm chủ tình hình, làm chủ núi rừng, chế ngự mọi khắc nghiệt xung quanh, đạp
bằng mọi gian khổ “Mắt trừng” là đôi mắt dữ tợn, căm thù, mạnh mẽ, nung nấu quyết đoán
làm kẻ thù khiếp sợ
- Cái chết được nhắc đến qua cái nhìn đậm chất lãng mạn, cách thể hiện giàu chất sửthi Ấn tượng hãi hùng, nặng nề về cái chết được thay thế bằng ấn tượng tự hào, nhẹ nhóm,
thư thái, thanh thản “Áo bào thay chiếu anh về đất” Với những người lính Tây Tiến, khi
ngã xuống là trở về với vòng tay bao bọc, chở che bao dung của đất mẹ
- Câu thơ tiến đưa thấm đẫm tinh thần bi tráng “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
Dòng sông Mã trở thành con ngựa chiến mã gầm lên khúc độc hành bi phẫn, làm kinh động
cả chốn rừng thiêng Lời thơ như làm sống lại không khí chiến trận trong những bài anh hùng
ca thời cổ -> cảm giác tiếc thương, tự hào, kiêu hãnh chứ không chìm trong buồn đau, chánnản, bi quan
Trang 24* Họ cũng là những chàng trai Hà Nội lãng mạn, hào hoa:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
- “ Mắt trừng gửi mộng qua biên giới” là đôi mắt thao thức nhớ về quê hương Hà Nội,
về một dáng kiều thơm trong mộng
Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông
mà giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động, nhớ nhung về vẻ đẹp của
Hà Nội: đó có thể là phố cũ, trường xưa,… hay chính xác hơn là nhớ về bóng dáng của nhữngngười bạn gái Hà Nội yêu kiều, diễm lệ Đó chính là động lực tiếp thêm sức mạnh để họ vững
vàng tay súng, sẵn sàng cống hiến, hi sinh để bảo vệ Tổ quốc, đúng như tinh thần “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
b Nghệ thuật:
- Hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến được xây dựng bằng bút pháp lãngmạn với khuynh hướng tô đậm những cái phi thường; sử dụng thủ pháp đối lập để tác độngmạnh vào cảm quan, kích thích trí tưởng tượng, liên tưởng của người đọc
- Hình ảnh giàu sức biểu cảm, ngôn ngữ chọn lọc vừa góc cạnh vừa tinh tế… Đánh giáthành công của đoạn thơ: Góp thêm những hình ảnh chân thực và đẹp đẽ về những ngườilính, làm phong phú đề tài người lính Đoạn thơ tiêu biêu cho bút pháp tài hoa, lãng mạn củaQuang Dũng
3 Đánh giá:
- Đây là đoạn thơ đặc sắc nhất trong bài
- Khẳng định tác phẩm Tây Tiến xứng đáng là "đứa con đầu lòng tráng kiện và hàohoa" của nền thơ ca kháng chiến Việt Nam và sức hấp dẫn của ngòi bút Quang Dũng
10 NGƯỜI LÁI ĐỒ SONG ĐÀ - NGUYỄN TUÂN CHUYÊN QUANG TRUNG Câu 2 (4,0 điểm)
Tùy bút Sông Đà là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân đã thu hoạch được trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi của Tổ quốc, nơi ông đã khám phá ra… “thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở tâm hồn của những người lao động
Anh (chị) hãy làm rõ “thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở nhân vật người lái đò trong tùy
bút “ Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân Qua đó cho biết nét độc đáo trong quan niệm
của Nguyễn Tuân về người lao động ở thời đại mới
Trang 25Anh (chị) hãy làm rõ “thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở nhân vật người lái đò trong tùy bút “ Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân Qua đó cho biết nét độc đáo
trong quan niệm của Nguyễn Tuân về người lao động ở thời đại mới
2.1 Giới thiệu chung:
- Nguyễn Tuân là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi hiện đại ViệtNam Sở trường của ông là thể loại tùy bút Nói đến ông là người ta nghĩa đến một cây bút tàihoa, uyên bác đạt đến độc đáo, hiếm có
- “Người lái đò sông Đà” là một tùy bút đặc sắc của Nguyễn Tuân, được rút từ tập tùy bút "Sông Đà" 1960
- Trích dẫn ý kiến
2.2 Phân tích nhân vật người lái đò:
a/ Đó là ông lái trí dũng song toàn:
- Cách đánh giá đối thủ: Theo quan niệm truyền thống, người anh hùng phải là người
“dám cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ” Người lái đò cũng phải thường xuyên phảicưỡi gió, đạp sóng Sông Đà chính là kẻ thù số 1 mà con người phải đấu tranh hết sức quyếtliệt để giành lại sự sống từ tay nó Trước khi giao chiến với sông Đà, ông luôn tự nhắc mìnhkhông được một phút nghỉ ngơi khi đối mặt với con sông hiểm ác Con sông Đà ghê gớm đòihỏi rất nhiều phẩm chất của đối thủ: phải nhanh nhẹn, tinh tường, dẻo dai và nhất là dũngcảm
- Trận thủy chiến: Đây là cuộc chiến không cân sức: 1 bên là thần sông, thần đá vớilựclượng hùng hậu của sóng thác và đá; 1 bên là người lái đò với con thuyền vẻn vẹn 6 tay chèo.Quan sát trận thủy chiến này mới thấy Nguyễn Tuân chú tâm miêu tả cái hung bạo, dữ dộicủa Đà giang, còn để tạo nên 1 địch thủ tương xứng để tôn vinh con người
+ Trùng vi thứ nhất: Sông Đà dàn ra 5 cửa đá thì có đến 4 cửa tử, cửa sinh duy nhấtnằm sát bờ trái và huy động hết sức mạnh của sóng thác đánh vỗ mạn thuyền Luồng sóng
hung tợn “liều mạng vào sát nách mà đá trái, mà thúc gối vào bụng, vào hông thuyền” thậm
chí còn nhằm vào người cầm lái mà đánh đòn tỉa, đòn âm Người lái đò bình tĩnh giữ chắc
mái chèo giúp con thuyền “khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình” Ngay
cả lúc trúng đòn hiểm, “mặt méo bệch vì đau đớn ông vẫn tỉnh táo chỉ huy các bạn chèo đưa con thuyền lách vào đúng luồng sinh”
+ Trùng vi thứ hai: Sông Đà thay đổi sơ đồ phục kích và cả chiến thuật nhưng ông đò
đã “nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá” nên lập tức nhận ra cạm bẫy của bọn thủy quân nơi ải nước này Ông không né tránh mà đưa con thuyền cưỡi lên sóng thác “nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi ông đò ghì cương lái, bám chặt lấy luồng nước lún mà
Trang 26phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết 1 đường chéo về phía cửa đá ấy” Trên đường đi,
người lái đò tả xung hữu đột như một chiến tướng dày dặn kinh nghiệm trận mạc và có thừa
lòng quả cảm “Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà giảm bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến” Cuối cùng, ông đã đưa đươc con thuyền
vượt qua cả một tập đoàn cửa tử khiến cho những bộ mặt đá hung hăng dữ tợn phải xanh lèthất vọng
+ Ở trùng vi thứ 3: Thạch trận ít cửa hơn nhưng 2 bên đều là luồng chết Cửa sinh lạinằm giữa lòng sông và có bọn đá hậu vệ canh giữ nhưng ông đò không bất ngờ trước mưu môhiểm ác của chúng Dưới bàn tay chèo lái điêu luyện của ông, con thuyền khi thì khéo léo
tránh luồng sóng dữ, khi thì phóng thẳng vào cửa đá có 3 tầng cổng “cánh mở cánh khép” Con thuyền như bay trong không gian “vút vút cửa ngoài cửa trong lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước”
=> Miêu tả 3 lần phá vây này, Nguyễn Tuân đã tạo nên một trường đoạn hào hùng vớinhân vật trung tâm là người lái đò chiến đấu quyết liệt, gian lao trên chiến trường sông Đà
- Để tô đậm sự vĩ đại, phi thường của người anh hùng trên sông nước, Nguyễn Tuân đã
miêu tả một sở thích thật bình dị, tự nhiên của người lái đò sau khi đã vào sinh ra tử “Đêm
ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá nướng cơm lam và tòa bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh…” mà không một lời nào nói về những chiến thắng vừa qua Đối với họ, chiến đấu với
dòng sông hung dữ là chuyện thường nhật như cơm ăn nước uống hàng ngày, không có gìđáng gọi là chiến công nhưng chính vì thế mà vẻ đẹp của họ lại càng trở nên rạng rỡ, ngờisáng hơn
b/ Đó là người nghệ sĩ sông nước:
- Tuy chỉ là một người lao động bình thường, làm một công việc cực nhọc nhưng ông
đò lại có những sở thích rất nghệ sĩ Ông yêu sông Đà một cách say mê, đặc biệt là nhữngđoạn lắm thác ghềnh Hình như có một sự đồng điệu giữa Nguyễn Tuân và nhân vật củamình Ngưới lái đò thích cảm giác phi thường, mãnh liệt cũng giống như Nguyễn Tuân khôngthích những gì đơn điệu, bằng phẳng
- Động tác lái đò điêu luyện, thuần thục được nâng lên trình đô nghệ thuật độc đáo Vớicái nhìn của Nguyễn Tuân, con người tài giỏi trong bất cứ nghề nghiệp nào cũng được coi lànghệ sĩ Nguyễn Tuân say mê và thán phục khi viết những câu văn tái hiện những động tác
khéo léo của ông đò: “nắm chặt cái bờm sóng”, “ghì cương lái”… Dòng thác hùm beo dưới
sự điều khiển tài tình của ông lái đò bỗng trở nên hiền lành, ngoan ngoãn giống như một contuấn mã dưới sự chỉ huy của người kị sĩ Vượt thác ghềnh vốn là công việc lao động vất vả,
Trang 27cực nhọc đã được người lái đò nâng lên thành một nghệ thuật Bàn tay ông lái đò như đang vẽtranh, đề thơ trên sóng nước, sáng tao cái đẹp cho đời
2.3 Nét độc đáo trong quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân về người lao động thời đại mới:
- Nguyễn Tuân tìm thấy phẩm chất tài hoa của người nghệ sĩ ở con người lao động bìnhthường, gần gũi, giản dị chứ không phải là những con người của một thời vang bóng trướcCách mạng
- Ông quan niệm, mỗi người lao động đều là một người nghệ sĩ tài hoa khi biết đẩy kĩthuật của mình đạt đến mức nghệ thuật
=> Miêu tả ông lái đò đời thường với phẩm chất tài hoa nghệ sĩ của mình Nguyễn Tuânthể hiện niềm trân trọng, cảm phục, ngưỡng mộ, ngợi ca những con người cống hiến góp sứcmình vào công cuộc xây dựng đất nước trong thời đại mới Có nghĩa là Nguyễn Tuân kiêu bạt
ở thời vang bóng nay đã lột xác, gắn bó, hòa hợp với cuộc đời chung Đây chính là hành trìnhcủa người nghệ sĩ chân chính “phá cô đơn ta hòa hợp với người”
11 VỘI VÀNG - XUÂN DIỆU -CHUYÊN QUỐC HỌC HUẾ
Câu 2 (4 điểm):
Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
(Trích Vội vàng, Xuân Diệu, Ngữ văn 11, Tập hai, NXB GDVN, 2015, tr.23)
Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu
Trang 28Để ngàn năm còn vỗ (Trích Sóng – Xuân Quỳnh, Ngữ văn 12, Tập một NXB GDN, 2015, tr.156)
Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
2.1 Giới thiệu chung:
- Xuân Diệu - một trong ba đỉnh cao của phong trào Thơ Mới 1932
- 1945 Ông được đánh giá là "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới" bởi những cáchtân cả về tư tưởng và bút pháp nghệ thuật "Vội vàng" là bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệutrước cách mạng tháng Tám, được coi là tuyên ngôn sống, tuyên ngôn nghệ thuật của nhà thơ
- Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ thời chống Mĩcứu nước Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ nhiều trắc
ẩn, hồn nhiên, chân thành, đằm thắm, da diết trong khát vọng đời thường Bài thơ “Sóng”
được sáng tác năm 1967, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là bàithơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh
- Cả 2 đoạn thơ trên đều là đoạn kết của hai tác phẩm, thể hiện những khát vọng mãnhliệt
+ Thể hiện một cái tôi ham sống, muốn tận hưởng cuộc đời một cách mãnh liệt, trực
tiếp (ôm, say, thâu, cắn…)
+ Ý thức chiếm lĩnh, tận hưởng cuộc sống ở mức độ cao nhất (chếnh choáng, dã đầy,
no nê…) với những gì tươi đẹp nhất của trần gian (mùi thơm, ánh sáng, thời tươi…)
Trang 29+ Đoạn thơ thể hiện khát vọng cao cả đầy nữ tính của người phụ nữ đang yêu, muốnhòa cái tôi nhỏ bé vào cái chung rộng lớn, muốn tình yêu của mình trở lên bất tử (mơ ước
được “tan ra” như trăm con sóng nhỏ giữa biển lớn tình yêu, nghĩa là quên mình, hi sinh cho
người mình yêu và tình yêu của mình)
- Nghệ thuật:
+ Thể thơ 5 chữ với câu thơ ngắn gọn ,sử dụng thành công biện pháp ẩn dụ
+ Tạo nên 2 hình tượng tuy hai mà một, nhà thơ sử dụng hình ảnh con sóng nhẹ nhàngnhưng đầy nữ tính để thể hiện khát vọng mãnh liệt trong tình yêu của mình
+ Mỗi nhà thơ có một phong cách nghệ thuật riêng để lại ấn tượng khác nhau tronglòng độc giả (cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật và thể thơ)
12 VIỆT BẮC - TỐ HỮU - CHUYÊN SƯ PHẠM LẦN 1
Câu 2: (4 điểm)
Phân tích đoạn thơ và chỉ ra bản sắc dân tộc trong những vần thơ dưới đây của nhà thơ
Tố Hữu:
“- Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn ?
- Tiếng ai tha thiêt bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay ”
(Việt Bắc- SGK Ngũ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục)
Trang 30Phân tích đoạn thơ và chỉ ra bản sắc dân tộc trong những vần thơ dưới đây của nhà thơ Tố Hữu:
2.1 Giới thiệu chung:
- Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ ông luôn theo sát những chặng đường lịch sửcách mạng dân tộc Dù viết về đề tài gì thì đều mang đậm tính dân tộc cả trong nội dung lẫnhình thức Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu Bài thơ viết
về cuộc chia tay lớn - cuộc chia tay lịch sử giữa người về xuôi với Việt Bắc vào tháng 10năm 1954
- Đoạn thơ trên nằm ở phần mở đầu của tác phẩm, là lời đối đáp của kẻ ở, người đi, bộc
lộ tình cảm lưu luyến, bâng khuâng trong giờ phút chia tay Đoạn thơ mang đậm tính dân tộc
2.2 Phân tích đoạn thơ:
a Khổ 1: Lời người ở lại:
- Người ở lại - người tiễn đưa cất tiếng nói trước, bộc lộ tình cảm lưu luyến, khôngmuốn xa rời
- Điệp từ "nhớ" luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tràn đầy thương nhớ
- Cách xưng hô "mình - ta" mộc mạc, thân gần gợi liên tưởng ca dao: "Mình về tachẳng cho về
- Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ"
- Người Việt Bắc hỏi, gợi ra những kỉ niệm:
+ "15 năm" là chi tiết thực chỉ độ dài thời gian từ năm 1940 thời kháng Nhật và tiếptheo là phong trào Việt Minh, "thiết tha mặn nồng" bởi đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi suốt
"15 năm năm ấy"
+ "Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?": Tái hiện không gian Việt Bắc - nơi đãnuôi giấu cán bộ miền xuôi thuở kháng chiến gian khó Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến,bao hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cội nguồn Việt Bắc - cội nguồn cách mạng
b Khổ 2:
- Lời người về xuôi:
- "Tiếng ai" - chỉ tiếng hát của người ở lại
- Từ láy “tha thiết” là sự luyến láy lại lời ướm hỏi của người Việt Bắc diễn tả sự đồngđiệu nhớ nhung, lưu luyến Các từ láy liên tiếp "Bâng khuâng, bồn chồn" giàu giá trị gợi cảm,diễn tả trạng thái tâm lí tình cảm hụt hẫng, bịn rịn, luyến tiếc, vương vấn, nhớ thương đanxen cùng một lúc
- Hình ảnh "Áo chàm đưa buổi phân li" là một ẩn dụ nghệ thuật đặc sắc Hai chữ “phânli” đã cổ điển hóa cuộc chia tay này, làm cho thời khắc tháng 10/ 1954 (các cơ quan Trung
Trang 31ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đô) vốn đầy màu sắc chính trịtrở thành chuyện muôn đời của thi ca
- Câu thơ "Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay " đầy tính chất biểu cảm Nhịp ngắt phácách 3/3/2 (thông thường thơ lục bát sử dụng nhịp chẵn để tạo nên sự nhịp nhàng, hài hòa)không chỉ tăng tính nhạc mà còn góp phần thể hiện sự ngập ngừng, nghẹn ngào trong giâyphút chia tay
- Ba dấu chấm lửng đặt cuối câu là một dấu lặng trên khuôn nhạc để tình cảm ngân dài,sâu lắng
2.3 Bản sắc dân tộc trong đoạn thơ trên:
Tính dân tộc thấm đẫm trong đoạn thơ trên nói riêng và trong thơ Tố Hữu nói chung
Nó trở thành đặc trưng phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu
Tính dân tộc thể hiện cả ở 2 phương diện nội dung và hình thức của đoạn trích:
* Nội dung:
- Cảnh sắc thiên nhiên, không gian quen thuộc: sông, núi, nguồn
- Thể hiện được vẻ đẹp của tính cách dân tộc: giàu yêu thương, lối sống nghĩa tình, thủychung, son sắt
* Nghệ thuật:
- Đề tài: chia ly -> quen thuộc
- Thể thơ lục bát truyền thống, lối đối đáp, xưng hô mình - ta quen thuộc, mang đậmmàu sắc ca dao
- Cách nói giàu hình ảnh, giọng điệu ngọt ngào, giàu nhạc tính, mang chất liệu dângian
2.3 Đánh giá:
- Qua đoạn thơ, ta thấu hiểu và trân trọng nghĩa tình cách mạng của những con ngườiViệt Bắc và những người cán bộ Cách mạng miền xuôi Đó chính là nguồn sức mạnh đặc biệtgiúp Cách mạng của ta giành thắng lợi dù phải trải qua muôn vàn gian khó
- Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc
13 VỢ NHẶT - KIM LÂN CHUYÊN SƯ PHẠM LẦN 2
Câu 2: (4 điểm)
Phân tích nhân vật Tràng và vợ Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim
Lân (SGK Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục) trong đoạn sáng hôm sau ngày Tràng “nhặt”được vợ
Trang 32Phân tích nhân vật Tràng và vợ Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân (SGK Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục) trong đoạn sáng hôm sau ngày Tràng “nhặt” được vợ
2.1 Khái quát chung:
- Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn, là nhà văn “một lòng đi về với đất, với người, với cái thuần hậu, nguyên thủy của đời sống nông thôn”
- “Vợ nhặt” là tác phẩm tiêu biểu của ông, có tiền thân từ tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”
Kim Lân viết từ trước cách mạng tháng Tám
- Cảnh sáng hôm sau ở nhà Tràng nằm ở phần cuối tác phẩm, là một đoạn văn đặc sắc,góp phần không nhỏ vào thành công của tác phẩm (Học sinh tóm lược diến biến câu chuyệntrong tác phẩm đến trước đoạn cần phân tích) Đoạn văn có sự xuất hiện của cả ba nhân vật:Tràng, vợ Tràng, bà cụ Tứ
2.2 Phân tích:
a Nhân vật Tràng:
- Sáng hôm sau, Tràng dậy muộn “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra” Việc hắn có vợ đến lúc ấy hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải Lững thững bước ra sân, chớp mắt liên hồi mấy cái, Tràng “bỗng vừa chợt nhận ra quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới lạ" Quả thực, mọi thứ xung quanh hắn thay đổi nhưng chính hắn cũng
có những đổi thay to lớn ở bên trong Mẹ hắn đang rẫy cỏ ngoài vườn Vợ hắn quét sân, tiếng
chổi kêu sàn sạt, “cảnh tượng thật đơn giản bình thường nhưng đối với hắn lại rất thắm thìa, cảm động" Thật là một cảm nhận sâu sắc và tinh tế những tưởng sẽ không thể có ở một người
đàn ông vụng về, thô mộc như Tràng
- Bỗng nhiên, “hắn thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hăn lạ lùng” Giờ thì hắn
đã có một gia đình, hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Lần đầu tiên người đàn ông nghèokhổ ấy nhận thấy cái nhà là tổ ấm, một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập tronglòng Tràng đã trở nên sâu sắc hơn rất nhiều sau khi có vợ Lần đầu tiên, người đàn ôngnghèo khổ, sống như loài cỏ mọc hoang ấy có ý thức về bổn phận với gia đình Đó là một
biểu hiện về sự trưởng thành trong suy nghĩ, chính tỏ Tràng đã thực sự “nên người”
- Trong bữa cơm gia đình đầu tiên từ khi có vợ, Tràng vâng dạ với bà cụ Tứ “rất ngoan ngoãn” Thái độ của hắn góp phần tạo nên không khí đầm ấm hòa hợp của gia đình Và miếng cháo cám bà cụ Tứ đưa vào miệng, mặt Tràng chun lại “miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ” “Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người”
- Đúng lúc ấy, ngoài đình dội lên một hồi trống dồn dập Tràng thần mặt ra nghĩ ngợi
Hắn nghĩ đến những người đi phá kho thóc Nhật Nhớ lại lúc đó, “tự dưng hắn thấy ân hận,
Trang 33tiếc rẻ, ngẩn ngơ” Có lẽ hắn tiếc tại sao mình không nhập vào đám người đó Tác phẩm khép lại khi trong óc Tràng vẫn thấy “đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”
=> Tóm lại, nhân vật chính của câu chuyện "nhặt" được vợ, Tràng, đã được Kim Lân
khắc họa sinh động trong đoạn trích Niềm hạnh phúc to lớn khi có vợ, có gia đình đã khiếnhắn có nhiều thay đổi, trở nên tinh tế, sâu sắc hơn Tâm trạng cảm xúc của Tràng còn tạo nênmàu sắc lạc quan cho tác phẩm
b Vợ Tràng:
- Sáng ngày đầu tiên ở nhà chồng, trong vai trò của một nàng dâu mới, người đàn bàdậy sớm thu dọn, quét tước nhà cửa sạch sẽ gọn gàng: đem quần áo ra sân hong, kín đầy haiang nước, dọn sạch đống mùn trên lối đi thị tỏ ra là một người vợ đảm đang, chăm chỉ, biết
vun vén cho gia đình Sự thay đổi ở người đàn bà rõ rệt đên mức Tràng cũng nhận thây “nom thị hôm nay khác lắm” hiền hậu đúng mức, không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn giống như
khi Tràng gặp thị ở ngoài tỉnh Sự xuất hiện của người đàn bà đã khiến ngôi nhà của Tràngtràn ngập niềm vui
- Nhận bát cháo cám từ tay mẹ chồng, lúc đầu mắt người đàn bà tối lại nhưng rồi thịđiềm nhiên và vào miệng dù miếng cám đắng chát và nghẹn bứ Cử chỉ rất nhỏ này thể hiệnnét đẹp ở người đàn bà: giàu đức hy sinh, lòng vị tha Thị đã nuốt vào lòng những tủi cực cayđắng để thể hiện sự trân trọng, biết ơn đối với mẹ chồng
=> Tóm lại, nếu lúc trước: sự nghèo khổ biến người đàn bà thành chao chát, chỏng lỏnthì lúc này thị trở lại đúng với bản chất của mình, một người đàn bà hiền hậu đúng mực, đảmđang, hiếu thảo
2.3 Đánh giá:
- Đoạn văn không dài nhưng đã khắc họa nổi bật được tính cách của các nhân vật trongtác phẩm Qua đó, Kim Lân bộc lộ tài năng xây dựng nhân vật của mình Cùng một cảnhhuống, cùng chung tâm trạng vui sướng hạnh phúc xen lẫn tủi hờn nhưng mỗi nhân vật cócách biểu lộ cảm xúc riêng Sự am hiểu tâm lý con người đã giúp ông có được những trangvăn chân thực và cảm động
- Ngôn ngữ giản dị mộc mạc mà tinh tế của Kim Lân cũng góp phân không nhỏ vàothành công của đoạn văn cũng như tác phẩm
14 ĐẤT NƯỚC - NGUYỄN KHOA ĐIỀM CHUYÊN SƯ PHẠM LẦN 2
Câu 2 (4,0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ:
“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ chuyền lửa qua moi nhà, từ hòn than qua con cúi
Trang 34Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi ”
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu ”
(Nguyễn Khoa Điềm, trích chương V, trường ca Mặt đường khát vọng, Ngữ văn 12, tập
1, NXB Giáo dục Việt Nam)
Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ:
1 Giới thiệu chung:
- Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong nền thơ ca Việt Namthời chống Mĩ
- Đất Nước là chương V của trường ca Mặt đường khát vọng được sáng tác vào cuối
năm 1971 (đoạn trích trong SGK chỉ là một phần của chương này) Có thể nói đây là chươnghay nhất, thể hiện sâu sắc một trong những tư tưởng cơ bản nhất của bản trường ca – tư tưởng
“Đất Nước của Nhân Dân”
- Đoạn thơ trên đã khám phá, khẳng định và biểu dương vai trò lịch sử vĩ đại và sứcmạnh kỳ diệu của nhân dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
- Nhân dân là lực lượng chủ yếu tham gia vào những cuộc chiến đấu chống “nội thù” và
“ngoại xâm” và làm nên thắng lợi vẻ vang của những cuộc chiến đấu ấy
Trang 35- Kết tinh cảm hứng ngợi ca, tự hào, tôn vinh Nhân dân là hai dòng thơ giàu sức khái
quát: “Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân/ Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại ”
- Chính những đóng góp vô cùng lớn lao, vĩ đại ấy của nhân dân đã thể hiện rõ tính chấtdân chủ của thể chế chính quyền Đất Nước
- Từ đó, lời thơ khẳng định nhân dân chính là chủ nhân xứng đáng nhất của Đất Nước:
Những người làm nên “Đất Nước muôn đời” phải là đối tượng đầu tiên có quyền thụ hưởng
thành quả mà mình đã tạo nên trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc
- Những khám phá mới mẻ mà sâu sắc, toàn diện về Đất Nước được đặt trong mối quan
hệ hữu cơ với nhân dân; được thể hiện bằng một hệ thống chất liệu văn hóa, văn học dân gianđược người viết tái sinh sáng tạo và đầy nhiệt hứng tự hào về nền văn hóa truyền thống donhân dân sáng tạo ra
3 Đánh giá:
- Đoạn thơ chứa đựng và kết tinh trụ cột tư tưởng của chương V “Đất Nước”
- Thể hiện rõ cách khám phá và thể hiện Đất Nước mới mẻ, độc đáo gắn với cái nhìntổng thể, toàn vẹn của Nguyễn Khoa Điềm
15 RỪNG XÀ NU - NGUYỄN TRUNG THÀNH CHUYÊN KHOA HỌC TỰ NHIÊN LẦN 3
Câu 2 (4,0 điểm):
Anh (chị) hãy phân tích làm nổi bật vẻ đẹp sử thi của hình tượng nhân vật Tnú trong tác
phẩm "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành (Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo
dục, 2008)
2.1 Vài nét về tác giả, tác phẩm:
- Nguyễn Trung Thành vốn là một chiến sĩ, một phóng viên Đề tài sáng tác của ông:mảnh đất Tây Nguyên hoang dại, bí ẩn, cuộc sống chiến đấu anh dũng của nhân dân nơi đây.Phong cách nghệ thuật: đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn
- Tác phẩm: hoàn thành vào mùa hè năm 1965, đăng trên tạp chí Văn nghệ quân giải
phóng miền Trung Trung Bộ, sau này được đưa vào tập "Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc" Cảm hứng chủ đạo của tác phẩm: có áp bức có đấu tranh, chỉ có bạo lực cách
mạng mới là con đường sống duy nhất cho nhân dân miền Nam Việt Nam trong những nămkháng chiến chống Mĩ
2.2 Vẻ đẹp sử thi của hình tượng Tnú: a Vẻ đẹp sử thi của nhân vật văn học nói chung:
Trang 36- Nhân vật sử thi là mẫu nhân vật anh hùng mang lí tưởng của thời đại, số phận gắn vớinhững sự kiện lớn của cộng đồng, kết tinh những phẩm chất tiêu biểu nhất của cộng đồng vàlập nên những chiến công hiển hách
- Nhân vật sử thi thường được khắc họa trong những bối cảnh không gian kì vĩ, cáchtrần thuật trang trọng; giọng điệu thiết tha, hùng tráng
b Vẻ đẹp sử thi của hình tượng nhân vật Tnú: B1 Nội dung hình tượng:
* Nhân vật mang tầm vóc của người anh hùng, rất điển hình cho tính cách, sức mạnh và lí tưởng của nhân dân Tây Nguyên
- Tnú có một khí phách phi thường, một tinh thần chiến đấu quả cảm vô song:
+ Ngay từ khi còn nhỏ, lúc Tnú và Mai làm giao liên dẫn đường cho cán bộ, hai ngườiđược anh Quyết dạy cho cái chữ, học chữ thua Mai nhưng Tnú thể hiện một quyết tâm mạnh
mẽ để đưa được chữ vào đầu
+ Khi Tnú đối diện vớỉ kẻ thù, bị chúng khủng bố tỉnh thần, chúng chĩa súng và quát
hỏi anh: “Cộng sản ở đâu?”, anh đã chỉ tay vào bụng trả lời khẳng khái: “Cộng sản ờ đây.”,
mặc dù sau câu nói ấy lưng Tnú dọc ngang vết dao chém của giặc
+ Đi đường núi làm giao liên Tnú rất dũng cảm, Tnú tránh đi đường mòn, qua sôngcũng không thích lội chỗ nước êm mà thường lựa chọn dòng nước xiết, có lần đi qua một thácsông bị kẻ thù phục kích Tnú nhanh chóng nuốt luôn cái thư anh Quyết gửi
+ Hình ảnh đôi bàn tay Tnú gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc Đôi bàn tay ấy trướcđây lành lặn đã từng cầm phấn học cái chữ anh Quyết dạy, từng lấy đá ghè vào đầu như để tựtrừng phạt mình, là bàn tay nghĩa tình rưng rưng nắm lấy tay Mai, nhưng dữ dội nhất là khiđôi bàn tay bị giặc đốt, mười đầu ngón tay là mười ngọn đuốc bùng lên lửa căm thù
- Tnú trung thành tuyệt đối và có niềm tin sắt đá vào chân lí cách mạng: Khi Tnú bị kẻ
thù thiêu đốt ngón tay, ngọn lửa dữ dội như cào xé gan ruột và cả hệ thần kinh của anh: "Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi, răng anh cắn nát môi anh rồi” Trong bi kịch ấy Tnú không hề kêu van nửa lời vì anh luôn tâm niệm lời dạy của anh Quyết: “Người cộng sản không thèm kêu van” Lòng trung thành vói cách mạng của Tnú còn hòa cùng niềm tin lớn lao như trong lời
cụ Mết: “Đảng còn, núi nước này còn”
- Tnú có một tình yêu lớn lao, sâu sắc với gia đình, quê hương xứ sở và một lòng cămthù giặc mãnh liệt:
+ Thuở thiếu thời, Tnú là người bạn nghĩa tình của Mai, lớn lên là người yêu chungthủy của Mai, sau này là người chồng, người cha đầy trách nhiệm với gia đình Khi chứngkiến giặc tàn sát Mai và đứa con nhỏ, mặc dù tay không tấc sắt, Tnú vẫn xông vào chống trả
Trang 37Vậy sức mạnh nào đã thôi thúc Tnú để anh bất chấp cả hiểm nguy, lao vào kẻ thù như mộtcon hổ xám? Động lực ghê gớm ấy xuất phát từ tình yêu thương vợ con tha thiết
+ Tnú còn rất nghĩa tình với buôn làng Xô Man, anh yêu mảnh đất quê hương, yêunhững cánh rừng xà nu, con đường, dòng suối; vì quê hương mà anh lên đường chiến đấu + Lòng căm thù ở Tnú cũng dữ dội và quyết liệt Trong anh tích tụ ba mối thù lớn: mốithù của bản thân, của gia đình, và của cả buôn làng Xô Man Lưng Tnú dọc ngang vết daochém, mười ngón tay bị đốt, đó là chứng tích tội ác kẻ thù mà anh phải mang thẹo suốt đòi;
vợ con anh chết thảm khốc dưới trận mưa gậy sắt; còn dân làng Xô Man bị kẻ thù tàn sát,chúng treo cổ anh Xút lên cây vả đầu làng, chặt đầu bà Nhan treo đầu mũi súng để răn đe Vìthế, dù chỉ còn đôi bàn tay thương phế nhưng Tnú vẫn đi truy lùng giặc để trả thù, kết thúcthiên truyện, anh đã dùng bàn tay quả báo bóp chết thằng chỉ huy đang cố thủ trong đền trú
ẩn
* Nhân vật có số phận gắn bó với những biến cố lớn của làng Xô Man, phản ánh cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào Tây Nguyên chống Mĩ ngụy, làm sáng tỏ chân lí thời đại: phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng
- Khi còn nhỏ, Tnú là đứa trẻ mồ côi được buôn làng cưu mang đùm bọc và trở thànhngười con ưu tú của làng Xô Man
- Khi kẻ thù giày xéo quê hương, Tnú phải chịu nhiều đau thương mất mát, tiêu biểucho nỗi đau thương mất mát lớn của dân tộc Ở Tnú cỏ thừa sức mạnh cá nhân: một thể chấtkhỏe khoắn; tinh thần, ý chí quyết liệt; sự gan góc, dũng cảm; kẻ thù tàn bạo không thể khuấtphục nổi anh Dù chúng tra tấn bằng lưỡi dao, mũi súng, dây trói, ngọn lửa nhưng Tnú taykhông lao vào cứu mẹ con Mai thì anh vẫn thất bại Mai và đứa con ngã xuống, bản thân Tnú
bị lửa thiêu đốt bàn tay
- Khi được giác ngộ cách mạng và vùng lên quật khởi, quá trình trưởng thành của Tnúcũng rất điển hình cho con đường đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên Người dân
Xô Man đã cầm vũ khí đứng lên sau bao ngày vào rừng dưới ánh lửa xà nu, họ rèn giáo mác,mài dao, mài rựa chuẩn bị vũ khí chờ ngày đồng khởi Họ ào ạt xông lên, dẫn đầu là cụ Mết,chém gục thằng Đục, giết cả tiểu đội ác ôn, cứu Tnú, giải phỏng quê hương Quá trình đấutranh của Tnú đi từ tự phát đến tự giác, tham gia lực lượng vũ trang đánh Mĩ cũng là condưòng đúng đắn của nhân dân Tây Nguyên
B2 Nghệ thuật khắc họa hình tượng:
- Không khí truyện được dựng như các cuộc kể khan truyền thống của các già làng thuởtrước; lối viết truyện ngắn hiện đại pha trộn nhiều yếu tố sử thi dân gian khiến một nhân vậtcủa thời đại chống Mĩ, lại phảng phất hình bóng những anh hùng sử thỉ cổ đại
Trang 38- Bút pháp nghệ thuật có sự kết hợp giữa tả thực và biểu tượng: nhân vật Tnú gắn liềnvới một biểu tượng về sức sống bất diệt của người Tây Nguyên đó là cây xà nu; hình ảnh đôibàn tay Tnú được miêu tả như một biểu tượng độc đáo cho cuộc đời và số phận của nhân vật;giọng điệu trang trọng, hào hùng; ngôn ngữ đầy chất tạo hình và chất thơ
- Không khí truyện được dựng như các cuộc kể khan truyền thống của các già làng thuởtrước; lối viết truyện ngắn hiện đại pha trộn nhiều yếu tố sử thi dân gian khiến một nhân vậtcủa thời đại chống Mĩ, lại phảng phất hình bóng những anh hùng sử thỉ cổ đại
- Bút pháp nghệ thuật có sự kết hợp giữa tả thực và biểu tượng: nhân vật Tnú gắn liềnvới một biểu tượng về sức sống bất diệt của người Tây Nguyên đó là cây xà nu; hình ảnh đôibàn tay Tnú được miêu tả như một biểu tượng độc đáo cho cuộc đời và số phận của nhân vật;giọng điệu trang trọng, hào hùng; ngôn ngữ đầy chất tạo hình và chất thơ
3 Đánh giá:
- Hình tượng nhân vật Tnú mang tính chất sử thi, tiêu biểu cho cả Tây Nguyên bấtkhuất Nếu như cụ Mết có khí thế hùng dũng, hành động quyết liệt như thác lũ thì Tnú lạikhỏe khoắn, vững chãi như một cây xà nu trưởng thành trên đất Tây Nguyên Đó là vẻ đẹp
của người anh hùng được nối tiếp từ những áng sử thi như Đăm San, Xinh Nhã,
16 VIỆT BẮC - TỐ HỮU CHUYÊN THÁI BÌNH
Câu 3 (4,0 điểm): Cảm nhận hai khổ thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc” để làm rõ hình
thức nghệ thuật đậm đà tính dân tộc của thơ Tố Hữu
Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không?
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.
……
Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi mình có nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.
1 Giới thiệu chung:
- Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, thơ ông luôn theo sát những chặng đường lịch sửcách mạng dân tộc Dù viết về đề tài gì thì đều mang đậm tính dân tộc cả trong nội dung lẫn
hình thức Bài thơ “Việt Bắc” là một thành công đặc biệt trong đời thơ Tố Hữu Bài thơ viết
Trang 39về cuộc chia tay lớn - cuộc chia tay lịch sử giữa người về xuôi với Việt Bắc vào tháng 10năm 1954
- Đoạn thơ trên nằm ở phần mở đầu của tác phẩm, là lời đối đáp của kẻ ở, người đi, bộc
lộ tình cảm lưu luyến, bâng khuâng trong giờ phút chia tay Đoạn thơ mang đậm tính dân tộc
2 Cảm nhận đoạn thơ:
a Khổ 1: Lời người ở lại:
- Người ở lại - người tiễn đưa cất tiếng nói trước, bộc lộ tình cảm lưu luyến, khôngmuốn xa rời
- Điệp từ "nhớ" luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tràn đầy thương nhớ
- Cách xưng hô "mình - ta" mộc mạc, thân gần gợi liên tưởng ca dao: "Mình về tachẳng cho về - Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ"
- Người Việt Bắc hỏi, gợi ra những kỉ niệm:
+ "15 năm" là chi tiết thực chỉ độ dài thời gian từ năm 1940 thời kháng Nhật và tiếptheo là phong trào Việt Minh, "thiết tha mặn nồng" bởi đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi suốt
"15 năm năm ấy"
+ "Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?": Tái hiện không gian Việt Bắc - nơi đãnuôi giấu cán bộ miền xuôi thuở kháng chiến gian khó Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến,bao hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cội nguồn Việt Bắc - cội nguồn cách mạng
b Lời người về xuôi:
- Câu thơ “Ta với mình, mình với ta" ngắt nhịp 3/3, cặp đại từ mình - ta lặp lại xoắn
xuýt để thể hiện sự quấn quýt, gắn bó, không thể chia cắt
- Câu thơ tiếp theo với nhịp ngắt 2/2/2/2 chắc khỏe là lời khẳng định chắc chắn “lòng ta-sau trước- mặn mà- đinh ninh”
- Tiếp đó, “Mình đi mình lại nhớ mình” là sự láy lại, là câu trả lời cho sự băn khoăn của người ở lại trong khổ thơ trên “Mình về mình có nhớ ta” Và để cụ thể cho nỗi nhớ ấy tác giả mượn cách so sánh, cách đo đếm đậm màu sắc dân gian: “Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”
Trang 40=> Hai khổ thơ nói riêng và cả bài thơ Việt Bắc nói chung đều mang đậm tính dân tộc.
4 Đánh giá:
- Khẳng định tình cảm cách mạng thủy chung son sắt giữa người Việt Bắc với đoàn cán
bộ miền xuôi Đó chính là sức mạnh tinh thần quý báu, góp phần làm nên thắng lợi lớn chocuộc kháng chiến chống Pháp và cũng là một truyền thống tốt đẹp trong lối sống của conngười Việt Nam
- Khẳng định đặc sắc thơ Tố Hữu: thơ trữ tình - chính trị mang đậm tính dân tộc
17 TÂY TIẾN QUANG DŨNG CHUYÊN VINH LẦN 1
Câu 2 (4,0 điểm)
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
(Trích Tây Tiến – Quang Dũng, Ngữ văn 12, Tập một, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2014,
tr 88)
Anh (chị) hãy rút ra những nhận định của mình về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơtrên và chứng minh rằng các nhận định đó là hoàn toàn có cơ sở
2.1 Giới thiệu chung:
- Quang Dũng là một người nghệ sĩ đa tài song ông được biết đến nhiều nhất với tưcách là một nhà thơ Ông cũng là một trong những tác giả tiêu biểu cho nền thơ ca khángchiến Việt Nam
- “Tây Tiến” (1948) là một trong những bài thơ xuất sắc, làm nên tên tuổi của Quang Dũng, cũng được coi là "đứa con đầu lòng tráng kiện và hào hoa của nền thơ ca kháng chiến"