Cũng như nhiều tỉnh ở phía Bắc, lịch sử phát triển kinh tế của Thanh Hoá đã để lại một cơ cấu kinh tế không mấy thuận lợi cho sự phát triển nhanh với một cơ cấu kinh tế hiện nay: 37 % GD
Trang 1THỰC TRẠNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦATỈNH THANH HOÁ TRONG THỜI KỲ 1996 ĐẾN 2002
I.TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH THANH HOÁ.
1 Tăng trưởng kinh tế.
Sau năm 1991, nền kinh tế của cả nước đã đi vào ổn định và có tăng trưởng khá, từng bước hoà nhập và phát triển theo cơ chế thị trường có sự định hướng xã hội chủ nghĩa Trong những năm đầu của mở cửa, Thanh Hoá
đã đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,7%, giải quyết cơ bản vấn đề lương thực, thu ngân sách đã đạt 500 tỷ đồng, thu hút được các dự án đăng kỹ đầu tư nước ngoài: 500 triệu USD Phát huy được những thành tựu đạt được, nền kinh tế của tỉnh tiếp tục tăng trưởng: 1996-2000 đạt 7,3%/năm Song do xuất phát điểm thấp, GDP bình quân đầu người của Thanh Hoá mới chỉ bằng 70-75% mức trung bình cả nước, nên nếu duy trì tốc độ tăng trưởng như trên
sẽ tụt hậu so với cả nước Do vậy đến năm 2002 tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh đạt 9,25%, nó báo hiệu theo chiều hướng tốt cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Cũng như nhiều tỉnh ở phía Bắc, lịch sử phát triển kinh tế của Thanh Hoá đã để lại một cơ cấu kinh tế không mấy thuận lợi cho sự phát triển nhanh với một cơ cấu kinh tế hiện nay: 37 % GDP là từ nông nghiệp, công nghiệp với
sự giới hạn về số lượng xí nghiệp và quy mô chỉ chiếm 29,8% GDP, còn dịch vụ chiếm 33,2% so với tổng sản phẩm (GDP) của tỉnh.
Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng bình quân về nông nghiệp và công nghiệp của tỉnh Thanh Hoá đã từng bước đuổi kịp mức trung bình của cả nước, nhưng chưa đạt tốc độ cao và đồng bộ Do vậy nó hạn chế đến sự phát triển nhanh của ngành dịch vụ Cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có bước chuyển dịch theo xu hướng chung của cả nước là giảm tỷ trọng GDP nông lâm ngư, tăng tỷ trọng GDP công nghiệp, xây dựng và dịch vụ song tốc độ chuyển đổi còn chậm,
cơ cấu chưa thật hợp lý.
Trang 23 Đầu tư phát triển.
Tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh thời kỳ 1996-2000 là 14.620 tỉ đồng Đến năm 2002 tổng đầu tư trên địa bàn là 35.000 tỷ đồng Cơ cấu huy động vốn đầu tư có những thay đổi đáng kể, tỷ lệ huy động đầu tư ngoài ngân sách ngày một tăng
Cùng với sự thay đổi của cơ cấu huy động vốn là sự thay đổi của cơ cấu vốn đầu tư Trước kia, khi mới bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới đầu
tư chủ yếu tập trung cho các công trình sản xuất chiếm 75%; tập trung cho
cơ sơ hạ tầng chiếm 74% tổng vốn đầu tư; thời kỳ 1996-2000 tập trung cho sản xuất công nghiệp chiếm tỉ lệ 61%, đầu tư một tỷ lệ thoả đáng cho cơ sở
hạ tầng.Cơ cấu đầu tư chuyển dịch theo hướng tích cực, tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, tạo thêm năng lực sản xuất mới đáp ứng ngày càng tốt hơn đời sống của nhân dân Sự thay đổi cơ cấu vốn đầu tư đã bước đầu góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đưa kinh tế của tỉnh Thanh Hóa dần dần hoà nhập với xu thế chung của cả nước và các tỉnh Công tác đầu tư nhìn chung đúng hướng, nhiều công trình đã phát huy được hiệu quả, thu hồi được vốnvà đã có đóng góp cho ngân sách Tuy vậy bên cạnh đó còn những tồn tại yếu kém: tổng vốn đầu tư chưa đạt với mục tiêu
đề ra, tiến độ thi công các công trình còn chậm nên hiệu quả chưa cao, một
số công trình hiệu qủa thấp.
4 Hoạt động xuất nhập khẩu.
Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2000 đạt 34,5 triệu USD, năm 2002 ước tính là 57,5 triệu USD Những năm gần đây tỉnh có xuất khẩu được một số mặt hàng nhưng nhìn chung hoạt động xuất khẩu vẫn là trì trệ kéo dài chỉ đạt 18% so với mục tiêu đề ra, mặt hàng xuất khẩu không vững chắc, thị trường còn nhỏ Thương nhân tham gia xuất khẩu còn ít Đầu tư cho các cơ sở sản xuất kinh doanh và chế biến hàng xuất khẩu chưa được như ý đúng mức, các thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu chưa nhiều Mặt hàng xuất khẩu còn nghèo nàn, nặng về thu gom, chưa có mặt hàng chủ lực, phần lớn là nông sản chưa qua chế biến.
Thời gian trước đây, giá trị nhập khẩu liên tục tăng, các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là ô tô, sắt thép, xe máy, phân đạm, máy thu thanh, dầu thực
Trang 3vật , trong tổng kim ngạch nhập khẩu tỉnh đã giành 82,5% để nhập khẩu tư liệu sản xuất Đến giai đoạn 1996-2000 tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh có tăng lên đôi chút, bình quân năm trong giai đoạn này đạt 25,76 triệu USD/năm.
Trong những năm qua kinh tế Thanh Hoá tuy đã có sự chuyển dịch theo
cơ chế thị trường, song mức độ trao đổi hàng hoá của kinh tế Thanh Hoá đối với thị trường còn thấp (kể cả trong nước) đặc biệt là thị trường quốc tế.
5 Thu chi ngân sách.
Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh tăng đều qua các năm: năm 1990 tổng thu 113 tỷ đồng, năm 1995 là 512,8 tỷ đồng, năm 2000 đạt 565 tỷ đồng, năm
2002 ước tính là 651,2 tỷ đồng Nguồn thu chủ yếu là từ kinh tế quốc doanh chiếm tới 60%-70%, trong đó doanh nghiệp nhà nước trung ương thu gấp 3 đến 4 lần doanh nghiệp nhà nước địa phương Nguồn thu từ thuế công thương nghiệp từ 8-10%, còn nguồn thu từ thuế sử dụng đất nông nghiệp chiếm khoảng 11%-13% Các ngành công nghiệp, dịch vụ có tỉ lệ nộp ngân sách và tỉ
lệ động viên tài chính trong GDP lớn, còn các ngành khác thì thấp hơn Trong những năm gần đây, lĩnh vực thu khá như là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh, thu cấp quyền sử dụng đất, thu phí và lệ phí.
Tổng chi ngân sách trên địa bàn hàng năm trong thời kỳ 1996-2000 là trên 1000 tỷ đồng, bằng 1,4 lần tổng thu ngân sách: thu không đủ chi Cũng trong thời kỳ này do tỉnh đầu tư nhiều cho xây dựng cơ sở hạ tầng, một số công trình hoàn thành chậm, các chính sách về thu có những thay đổi nên thu ngân sách thấp, có năm còn giảm., không tăng cùng chiều với phát triển kinh
tế Trong đó nhu cầu chi ngân sách địa phương ngày một tăng, phải vào ngân sách trung ương trợ cấp ngày càng lớn.
6 Đời sống kinh tế và xã hội
Đời sống nhân dân trong tỉnh Thanh Hoá nhìn chung ngày càng ổn định
và từng bước được cải thiện do sản xuất phát triển, giá cả thị trường ổn định; các mặt văn hoá xã hội ngày càng được phát triển phục vụ đời sống tinh thần văn hoá ngày càng được nâng cao.
Trang 4Năm 1994 tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm tỷ lệ 23,6% đến cuối năm 2000 tỷ lệ
hộ đói nghèo còn 14% Mức sống dân cư trong tỉnh theo thu nhập bình quân đầu người hiện tại vẫn ở dưới mức trung bình của cả nước Thu nhập bình quân của các tầng lớp dân cư giữa các khu vực thành thị và nông thôn, giữa vùng đồng bằng và miền núi có khoảng chênh lệch khá lớn Tỷ lệ hộ đói nghèo chủ yếu ở nông thôn và ở miền núi.
II THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA TỈNH THANH HOÁ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2002.
1.Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nói chung.
Để đánh giá đúng thực trạng cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, đề tài sẽ đi phân tích thực trạng cơ cấu ngành và sự chuyển dịch của nó trên các mặt sau:
1.1 Cơ cấu ngành kinh tế theo GDP.
Trong những năm qua, các ngành kinh tế của tỉnh Thanh Hoá đã có sự chuyển dịch đúng hướng: Nâng cao tỷ trọng và tốc độ phát triển công nghiệp (công nghiệp và xây dựng) và dịch vụ, giảm tỷ trọng của nông nghiệp Nhưng giá trị sản lượng nông nghiệp vẫn tăng lên Số liệu ở bảng 1 phần nào thể hiện
xu thế biến đổi tích cực của cơ cấu ngành kinh tế ở Thanh Hoá.
Bảng 1: Cơ cấu ngành kinh tế của Thanh Hoá trong
Nguồn: Cục thống kê Thanh Hoá
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế được thể hiện trên cơ sở có sự tăng trưởng khá và đều của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và của cả ba ngành
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy ngành nông nghiệp liên tục giảm tỷ trọng từ 44% năm 1996 xuống còn 37% vào năm 2002 Tỷ trọng ngành công nghiệp trong GDP tăng từ 21,9% lên đến 29,8% Ngành dịch vụ liên tục tăng từ năm 1996 đến năm 1999 nhưng từ năm 2000 đến nay lại bị giảm sút xuống
Trang 5còn có 33,2%, tuy nhiên không có nghĩa là giá trị của ngành dịch vụ giảm mà
nó vẫn tăng lên so với các năm trước đây Song đây cũng là một điều trở ngại đối với tỉnh
Có được sự chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng tích cực nói trên là do trong những năm qua, thực hiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới Thanh Hoá đã vận dụng triệt để và có tính sáng tạo vào tình hình thực tế của địa phương
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế trong
Nguồn: - Niên giám thống kê 1996- 2000, 2001 tỉnh Thanh Hoá
- Định hướng phát triển kinh tế xã hội tỉnh năm 2003
Vào năm 1997, là năm xảy ra khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, do vậy nền kinh tế của các nước trong khu vực đều bị giảm sút Nhưng vào năm này Việt Nam chưa chịu ảnh hưởng nhiều của cuộc khủng hoảng này, do vậy tốc độ phát triển vẫn tăng Đặc biệt là nông nghiệp, vào năm này tốc độ phát triển của ngành nông nghiệp đạt tới 12% Đến năm 1998, 1999 hậu quả của cuộc khủng hoảng mới phát huy Theo đó, tốc độ tăng trưởng của Thanh Hoá cùng với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế của cả nước bị giảm sút mạnh, tốc
độ tăng trưởng của các ngành lần lượt là 6%,5,1% Năm 2002 là năm có tốc
độ tăng trưởng cao nhất từ trước tới nay, đạt tốc độ là 9,25% Đây là một sự khởi sắc mới cho Thanh Hoá.
Tốc độ tăng trưởng bình quân của các nhóm ngành lớn của tỉnh đều có
sự khác nhau, tăng trởng mạnh nhất thuộc về nhóm ngành công nghiệp, sau đó đến dịch vụ và thấp nhất là nông nghiệp Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp cao nhất đạt được 27,4% năm 2000, đây là tốc độ cao nhất trong tất cả các ngành và từ trước đến nay trong ngành công nghiệp Tốc độ tăng GDP của ngành nông nghiệp nói chung là thấp và không đều Từ chỗ -3% năm 1996 lên
Trang 612% năm 1997 và chỉ còn có 2,3% năm 2000 Từ những nhận định trên ta thấy rằng tuy ở điểm xuất phát thấp nhưng cơ cấu ngành kinh tế đã và đang dịch chuyển đúng hướng với quy luật phát triển kinh tê của các nước trên thế giới cũng như các tỉnh bạn khi bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy nhiên so với trung bình cả nước thì Thanh Hoá vẫn đang là tỉnh kém phát triển, các ngành chưa phát triển mạnh, chưa đuổi kịp mức trung bình cả nước Điều này được thể hiện ở trong bảng 3 sau đây:
Bảng 3: Cơ cấu ngành của Thanh Hoá và cả nước.
nghiệp
Công nghiệp Dịch vụ
46,0 39,9 36,8 37,0
20,1 26,4 30,5 29,8
33,9 33,7 32,7 33,2
29,04 24,3 23,3
29,8 36,6 37,75
41,88 39,1 38,95
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Thanh Hoá
1.2 Cơ cấu vốn đầu tư theo ngành.
Qua thời gian đổi mới vừa qua, Thanh Hoá đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, đạt được sự ổn định và tốc độ tăng trưởng khá, trong
đó góp phần quan trọng của quá trình đa dạng hoá, đa phương hoá và phát triển kinh tế đối ngoại, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và các nguồn phát triển chính thức Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá trong thời gian qua đã có sự tăng trưởng, mặc dù còn chậm và chưa đạt yêu cầu của kế hoạch đề ra Giai đoạn 1996- 2000, tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh đạt 14.622,6 tỷ đồng, bình quân năm đạt 2924,4 tỷ đồng Riêng năm
Trang 72002 ước đạt 3500 tỷ đồng Cơ cấu nguồn vốn đầu tư , bằng những chính sách huy động tổng lực, hầu hết các nguồn vốn đầu tư ở Thanh Hoá từ tất cả các thành phần kinh tế đều tăng hàng năm Cơ cấu huy động cho đầu tư phát triển ngày càng đa dạng và có những thay đổi về tỷ lệ qua các năm Tỷ lệ huy động ngoài ngân sách ngày một tăng Do nguồn vốn ngân sách có hạn nên những năm gần đây, Tỉnh đã có chủ trương khuyến khích các tầng lớp dân cư, kể cả trong và ngoài nước bỏ vốn đầu tư để phát triển sản xuất kinh doanh và xây dựng cơ sở hạ tầng.Trong huy động và cân đối các nguồn vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá trong những năm qua, nguồn vốn trong nước giữ vai trò quyết định Năm năm 1996-2000 nguồn vốn trong nước chiếm 62,39%, vốn
đầu tư nước ngoài chiếm 37,61%, đặc biệt là trong năm 2002 vốn đầu tư trong
nước đạt tới 93,2% Vốn đầu tư phát triển xã hội toàn tỉnh huy động được của dân là 1.170.000 triệu đồng, chiếm tới 48% trong tổng toàn bộ số vốn đầu tư của toàn tỉnh Vốn tự có của các doanh nghiệp nhà nước là rất ít, chỉ chiếm1,3% Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tăng liên tục trong các năm từ
1996 đến năm 1999, nhưng những năm gần đây do sự biến động của thị trường thế giới và bên cạnh đó là tỉnh đã huy động được khối lượng lớn từ nhân dân, vì vậy nguồn này giảm mạnh từ chỗ 1.565.000 triệu đồng năm 1999 xuống còn 235.000 triệu đồng năm 2001.Đây cũng là một xu hướng tốt, bởi vì không phải phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn từ bên ngoài.
Về cơ cấu đầu tư, cơ cấu đầu tư xã hội chịu sự chi phối mạnh mẽ của cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu ngành kinh tế, đồng thời cũng tích cực góp phần vào chuyển dịch cơ cấu ngành và định hướng lại nền kinh tế của tỉnh Cơ cấu đầu tư đã tạo ra được một số ngành sản xuất mới Cơ cấu đầu tư được định hướng theo cơ cấu ngành và có vai trò quyết định trong chuyển dịch cơ câú ngành trong những năm qua.Dựa vào điều kiện tự nhiên và điểm xuất phát thấp của nền kinh tế Thanh Hoá đã có chiến lược đầu tư đúng đắn trong từng giai đoạn cho phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh:
+Thời kỳ 1986-1990, đầu tư tập trung chủ yếu cho các công trình sản xuất, chiếm tới 75% tổng vốn đầu tư.
+ Thời kỳ 1991-1995, tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng chiếm tỷ
lệ 74% tổng vốn đầu tư.
Trang 8+ Thời kỳ 1996-2000, đầu tư tập trung cho sản xuất công nghiệp chiếm
tỷ lệ 61% tổng vốn đầu tư Điều này lý giải rằng tại sao ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao vọt vào năm 2000 là 27,4%.
+ Trong hai năm trở lại đây, cơ cấu đầu tư tương đối được cân đối, năm
2002 vốn đầu tư cho khu vực sản xuất chiếm 52%, vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng là 48%.
Với phạm vi nghiên cứu, đề tài xin được đề cập đến khía cạnh vồn đầu tư cho khu vực sản xuất hay vốn đầu tư theo các ngành Sau đây là bảng số liệu về vốn đầu tư cho các ngành trong những năm qua.
Trang 9Bảng 3: Vốn đầu tư cho các ngành của tỉnh Thanh Hoá
giai đoạn 1996-2002
Đơn vị: Triệu đồng Tổng số Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
1996 1.182.512
100,0
121.841 10,3
755.649 63,9
305.022 25,8
1997 1.478.305
100,0
213.230 14,3
827.536 55,9
437.539 29,8
1998 2.306.585
100,0
238.046 10,3
1.654.531 71,7
414.008 18,0
1999 2.408.367
100,0
265.433 11,0
1.774.556 73,7
368.378 15,3
2000 2.631.365
100,0
189.393 7,2
2.072.540 78,7
369.432 14,1
2001 2.400,000
100,0
265.000 11,1
1.830.000 76,2
305.000 12,7
2002 1.820.000
100,0
385.000 21,2
1.270.000 69,8
165.000 9,1 Nguồn: - Sở Kế hoạch và Đầu tư Thanh Hoá
- Các con số bên góc phải, ở dưới của các ô là
tỷ trọng vốn đầu tư của các ngành.
Qua bảng số liệu ta thấy từ năm 1996 đến năm 2002 tỷ trọng vốn đầu tư của các ngành có sự tăng gỉam khác nhau Trong cơ cấu vốn đầu tư cho các ngành thì ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất Trong những năm qua, vốn đầu tư dành cho ngành này luôn chiếm trên 60% Riêng có năm 1997, tỷ trọng đầu tư cho công nghiệp giảm sút do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Đây là một xu hướng tích cực, phù hợp với cả nước Ngành dịch vụ chỉ có năm 1997 là có tỷ trọng vốn đầu tư tăng so với các năm trước, còn các năm sau đó đều bị giảm sút Nguyên nhân chủ yếu là do trong những năm qua, Thanh Hoá chưa chú trọng cho phát triển ngành dịch vụ Vốn đầu tư dành cho ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất vào năm 2002 Có thể nhận thấy rằng, không phải Thanh Hoá chỉ chú trọng đầu tư cho công nghiệp mà xem nhẹ nông nghiệp.
Năm 2002, vốn đầu tư cho sản xuất công nghiệp trong tổng vốn đầu tư cho khu vực sản xuất chiếm tới 69,8%; nông nghiệp là 21,2% và dịch vụ chiếm 9%.Tuy tỷ trọng vốn đầu tư của từng ngành đều có sự tăng giảm, song số tuyệt
Trang 10đối của vốn đầu tư dành cho các ngành đều tăng lên qua các năm Từ chỗ chỉ
có 1.182.512 triệu đồng năm 1996 đã tăng lên đến 2.631.635 triệu đồng năm
2000 Tuy nhiên trong những năm gần đây nhất do tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn có sự giảm sút cho nên vốn đầu tư cho các ngành cũng bị giảm sút theo.
Để có được sự tăng trưởng của các ngành, Thanh Hoá tập trung nhiều cho lĩnh vực công nghiệp, nhất là công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và chế biến sản phẩm để nâng dần cơ cấu hai ngành công nghiệp và dịch vụ Từ đó làm cho GDP của các ngành tăng lên và GDP của tỉnh cũng tăng lên Trong khi
tỷ trọng đầu tư dành cho nông nghiệp có xu hướng giảm xuống so với các ngành khác thì GDP của nông nghiệp vẫn tăng qua các năm, chứng tỏ việc đầu
tư cho nông nghiệp đã có hướng đi đúng Từ chỗ chỉ đạt trên 80 vạn tấn lương thực trong những năm 80 thì đến nay, Thanh Hoá đã tự cung tự cấp được lương thực trong toàn tỉnh với sản lượng 1,4 triệu tấn và còn dành một phần cho xuất khẩu và đảm bảo an ninh lương thực.
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế được thực hiện với sự phát triển các ngành theo hướng đa dạng hoá, dần hình thành ngành trọng điểm và mũi nhọn, nhờ vậy tỉnh xác định được trọng điểm đầu tư cho từng ngành và xác định được các mặt hàng chiến lược Bên cạnh đó, Thanh Hoá cũng chủ trương
và tiến hành phát triển đa dạng, đa phương hoá, khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dưới nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là ngành nông nghiệp
Việc xác định chiến lược đầu tư đúng hướng trong từng thời kỳ nhằm tạo ra cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật ban đầu cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nó không chỉ tập trung phát triển công nghiệp mà xem nhẹ nông nghiệp Nếu như vậy sẽ làm hạn chế sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế Thanh Hoá vốn dĩ là một tỉnh có nền nông nghiệp lạc hậu, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi Thanh Hoá phải ưu tiên phát triển nông nghiệp Nông nghiệp là nguồn nội lực có tính bền vững, nó cũng chính là cầu nối quan trọng cho phát triển công nghiệp dài hạn, phát triển nông nghiệp sẽ đảm bảo an toàn lương thực, tạo việc làm, nâng cao thu nhập
Trang 111.3 Cơ cấu lao động theo ngành
Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cũng chính là quá trình phân công lại lao động và xã hội Chuyển dịch cơ cấu lao động theo xu hướng chuyển từ ngành có năng suất lao động và hiệu quả thấp sang ngành có năng suất lao động và hiệu quả cao Vì vậy, phân tích cơ cấu về lao động sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn thực trạng và xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Qua biểu và kết quả tổng hợp điều tra dân số của tỉnh cho thấy, dân số tỉnh Thanh Hoá đến năm 2001 là 3,592triệu người, trong đó số nữ chiếm 51,14%, dân số thành thị chiếm 9,27%, nông thôn 90,73%.
Bảng 5: Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế từ năm
1996- 2002 ở Thanh Hoá
Dân số(1000 người) 3.377 3.426 3.467 3.519 3.567 3.592 3629 Lao động làm việc
1409,9
80,8 7,79 1,55 9,87
1445,4
82,22 6,57 1,56 9,65
1746, 2
81,6 6,84 1,53 10,02
1503,1
81,35 7,05 1,56 10,04
1523,2
80,25 7,11 1,97 10.67
1643,4
79,85 6,98 2,01 10,63
Nguồn: Cục thống kê Thanh Hoá
Qua bảng trên ta thấy dân số Thanh Hoá là dân số trẻ, tỷ lệ tăng tự nhiên
vẫn còn cao do đó lực lượng lao động khá dồi dào Lực lượng lao động trong khu vực sản xuất vật chất chiếm đại đa số, lao động dịch vụ còn thấp so với tổng số lao động đang làm việc trong các ngành, mới chỉ chiếm 10,63% Có thể nhận thấy, số lao động trong ngành công nghiệp và xây dựng có xu hướng giảm từ 9,31% năm 1996, đến nay còn 8,99% Điều này nói lên công nghiệp và xây dựng của Thanh Hoá trong những năm qua dù có phát triển nhưng tốc độ còn chậm Đáng lý ra ngành công nghiệp và dịch vụ phải là hai ngành thu hút
Trang 12nhiều lao động chuyển từ ngành nông nghiệp sang Tỷ trọng làm việc trong ngành nông nghiệp có xu hướng giảm, nhưng mức giảm qua các năm còn rất chậm, từ 81,53% năm 1996 xuống 79,85% năm 2002, qua 7 năm mà chỉ giảm đúng có 1,68% có nghĩa là một năm chỉ giảm được có 0,24%.Trong khi đó tỷ trọng lao động làm việc trong các ngành dịch vụ đã phát triển theo chiều hướng thuận lợi, phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế theo công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ 9,16% năm 1996 lên 10,63% năm 2002 Song cũng phải thấy rằng tỷ trọng lao động trong các ngành dịch vụ vẫn còn thấp so với các nước phát triển, chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Về chất lượng lao động: năm 1996 số lao động có chuyên môn kỹ thuật của tỉnh so với nguồn lao động mới chỉ đạt 13,01% trong đó đại học, cao đẳng
và trung học chuyên nghiệp chiếm tỷ lệ 7,3%, công nhân kỹ thuật chiếm tới 5,71% Đến năm 2002 lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật đã tăng lên
là 19,6% trong đó đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp chiếm tỷ lệ 9,2%, công nhân kỹ thuật có 10,4% Tuy nhiên với cơ cấu lao động như vậy, Thanh Hoá vẫn phải tiếp tục thu hút lao động làm việc trong các ngành nghề thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, giảm bớt lao động nông nghiệp nông thôn.
2 Thực trạng chuyển dịch nội bộ của các ngành: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ
Cùng với sự chyển dịch cơ cấu của ba nhóm ngành lớn, sự chuyển dịch
cơ cấu trong nội bộ ngành cũng có sự tích cực và đúng hướng, do đó góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành toàn bộ nền kinh tế theo hướng tích cực ở Thanh Hoá Để thấy rõ được sự tác động này, ta đi xét từng ngành:
2.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp.
Ngành nông nghiệp bao gồm các phân ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và ngư nghiệp Ngành nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo đối với kinh tế Thanh Hoá Trong những năm vừa qua, các phân ngành của ngành nông nghiệp chuyển dịch được thể hiện ở bảng 6 sau:
Bảng 6: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp Thanh Hoá thời
kỳ 1996-2002
Trang 131996 tăng lên đến 9,95% năm 2002 Quá trình chuyển dịch đó thể hiện xu hướng chuyển đổi giống cây trồng vật nuôi của Thanh Hoá, chủ trương đóng cửa rừng và đẩy mạnh khoanh nuôi, tu bổ và trồng mới trong lâm nghiệp một cách tích cực, đã và đang đẩy mạnh hoạt động đánh bắt và nuôi trồng trong ngư nghiệp
Trên đây chỉ là những đánh giá chung nhất của ngành nông nghiệp Thanh Hoá, nội dung cơ bản của ngành thể hiện cụ thể ở các phân ngành đó
Để đi sâu hơn nữa vào các phân ngành của ngành nông nghiệp, đề tài xin được
đề cập đến một số phân ngành của ngành nông nghiệp như sau:
Trồng trọt
Là một phân ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Thanh Hoá nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung Trồng trọt trên địa bàn Thanh Hoá gồm các loại cây trồng như: cây lương thực, cây công nghiệp, câydược liệu, cây ăn quả,
Trang 14cây rau đậu và gia vị và các loại cây khác Xu hướng chuyển dịch của trồng trọt trong thời kỳ này là liên tục tăng về giá trị sản xuất.
Bảng7: Cơ cấu nông nghiệp theo giá trị sản xuất phân theo ngành
kinh tế trồng trọt Đơn vị tính: %
0
100, 0
100,0 100,0 100,0 100,0
Nguồn: Cục thống kê Thanh Hoá
Cơ cấu nội bộ ngành trồng trọt đã có sự chuyển đổi mạnh theo hướng tăng cây công nghiệp và cây ăn quả, giảm tương đối tỷ trọng cây lương thực Thực trạng chuyển dịch này phù hợp với xu hướng chuyển dịch trồng trọt theo hướng tích cực.
Trong trồng trọt của nông nghiệp Thanh Hoá, cây lương thực mà đặc biệt là cây lúa đóng vai trò quan trọng trong công tác đảm bảo đủ nguồn lương thực cho toàn tỉnh.
Nguồn: Phòng nông nghiệp
Sản lượng lúa trong thời kỳ chỉ có năm 1998 là bị giảm sút, còn lại các năm đều tăng.Lúa chiêm xuân và lúa thu mùa cũng có sự tăng giảm như vậy Riêng lúa thu mùa trong năm 2000 bị giảm sút, năm 1998 vẫn tăng Một số loại cây lương thực khác như: ngô , khoai cũng tăng đều, sản lượng ngô năm
2002 đạt 140017 tấn, với diện tích gieo trồng 49453 ha Trong những năm qua, về lương thực đã đảm bảo được nhu cầu cho tiêu dùng của nhân dân
Trang 15trong tỉnh, có dự trữ và đã có hàng hoá Năm 2002 sản lượng lương thực có hạt đạt 1,34 triệu tấn Tốc độ tăng bình quân hàng năm về sản lượng lương thực cao hơn nhiều so với tốc độ tăng dân số trung bình trong tỉnh (4,7% so với 1,25%), vì vậy bình quân lương thực đầu người tăng đều qua các năm: năm 2000 đạt 343 kg và năm 2002l à 370kg lương thực có hạt
Về phát triển cây công nghiệp do được quan tâm đầu tư nên diện tích tăng khá Các cây công nghiệp hàng năm như đay, cói, mía, lạc đậu tương, thuốc lá, vừng Năm 1996 diện tích gieo trồng cây công nghiệp cả ngắn và dài ngày toàn tỉnh là 31.959 ha, đến năm 2002 đã tăng lên tới hơn 76.0000 ha Trong các cây công nghiệp hàng năm, tăng khá nhất là cây mía Năm 1996 toàn tỉnh chỉ có 11.078 ha mía, năm 1999 là năm có diện tích mía cao nhất 29.698 ha, năm 2002 diện tích này đã bị giảm sút xuống còn 28.7238 ha do những năm gần đây đường Trung Quốc vào nhiều ở Việt Nam mà giá của chúng lại rẻ, cho nên lượng đường trong nước giảm xuống làm cho diện tích mía dần bị thu hẹp Sản lượng mía từ chỗ 1653742 tấn năm 1999 đến năm
2002 giảm xuống còn 1.557.088 tấn Hiện nay tỉnh đã hình thành các vùng chuyên canh trồng mía nguyên liệu cung cấp cho 3 nhà máy chế biến đường tổng công suất 14.000 tấn/ngày, trở thành tỉnh có năng lực sản xuất mía đường lớn nhất cả nước Cây công nghiệp hàng năm đứng sau cây mía là cây lạc, cói năm 2002 diện tích gieo trồng và sản lượng lần lượt là: 16171ha, 3827ha và 24681 tấn, 27482 tấn Các cây này cũng được tỉnh quan tâm đầu tư nhằm phục vụ cho công nghiệp chế biến các mặt hàng xuất khẩu.
Các cây công nghiệp lâu năm, đến năm 2002: cây chè ổn định diện tích được125 ha, cà phê 3405 ha, cây cao su là 7706 ha Cây cao su là cây ngày càng được chú trọng phát triển phục vụ cho công nghiệp, làm cho sản lượng cao su tăng từ chỗ khối lượng không đáng kể lên tới 4000 tấn vào năm 2002
Nhìn chung chỉ có cây mía tăng khá do có tác động mạnh của công nghiệp chế biến, nhưng cũng gặp khó khăn do trình độ thâm canh và năng suất mía thấp, công nghiệp sau đường chưa phát triển, giá thành đường cao, khó cạnh tranh được với hàng nhập lậu Các cây công nghiệp khác phát triển chậm
do không có cơ sở chế biến, thị tường tiêu thụ không ổn định, chưa được quan tâm phát triển đúng mức.
Trang 16Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thanh Hoá
Trong những con vật chủ yếu thì lợn chiếm số lượng lớn nhất với 977,3 nghìn con năm 1996 tăng liên tục trong suốt thời kỳ và lên tới 1290 nghìn con năm 2002 .Sau đó là trâu bò, tổng số lượng trâu bò năm 1996 là 432,9 nghìn con tăng lên 440,5 nghìn con Điều đáng chú ý là ở đây các con vật này được chăn nuôi chủ yếu là để lấy thịt cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng và một số thì làm sức kéo phục vụ cho sản xuất Sản lượng thịt hơi xuất chuồng cũng tăng đều qua các năm, năm 2002 đạt 55737 tấn trong đó chủ yếu là thịt lợn hơi chiếm đến 92% sản lượng Những năm gần đây do khoa học kỹ thuật phát triển và đã được áp dụng rộng rãi cho nên thức ăn gia súc, gia cầm tổng hợp được sản xuất và phục vụ người tiều dùng, vì vậy năng suất vật nuôi hàng năm liên tục tăng Ngoài ra, ngựa, dê chiếm tỷ trọng thấp Ngựa chủ yếu dùng để lấy sức kéo, dê dùng để lấy thịt
Bảng 10: Số lượng gia cầm của tỉnh Thanh Hoá thời kỳ 2002
Đơn vị: nghìn con
Gia cầm 6500,0 7544,1 7868,4 8084,6 10814,4 13132,0 14523,4
Nguồn: Cục thống kê Thanh Hoá
Đàn gia cầm trong thời kỳ cũng có chiều hướng tăng liên tục qua các năm Từ 6500 nghìn con năm 1996 lên 14523,4 nghìn con năm 2002 Các con vật chủ yếu được xác định trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá là: Gà, vịt, ngan,
Trang 17ngỗng chúng chủ yếu cho thịt, trứng phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh Những năm qua xu hướng chăn nuôi các loại gà công nghiệp, gà lai tam hoàng tăng lên liên tục Do đó sản lượng thịt, trứng cũng liên tục tăng lên.
Trong những năm qua cùng với việc đầu tư nâng cao chất lượng đàn gia súc là việc duy trì và mở rộng và khuyến khích phát triển các trang trại chăn nuôi ở các huyện, bước đầu đã xuất hiện một số mô hình chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với công nghiệp chế biến và thị trường Công tác thú y, kiểm dịch động vật được chỉ đạo kịp thời, vì vậy không có dịch bệnh xảy ra Dự
án về cải tạo tầm vóc đàn bò, phát triển nuôi bò sữa và lợn hướng nạc đang được triển khai thực hiện.
Ngành lâm nghiệp
Ngành lâm nghiệp có đóng góp đáng kể cho nền kinh tế của tỉnh: đảm bảo phần lớn cho nhu cầu về vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng từ thông thường đến cao cấp cho các gia đình trong tỉnh và xuất khẩu Giá trị lâm nghiệp xuất khẩu bình quân hàng năm khoảng 450 nghìn USD, bằng 5% tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh Ngành đã góp phần giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, chủ yếu là các huyện miền núi.
Bảng 11 : Cơ cấu giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp của tỉnh
Thanh Hoá thời kỳ 1996-2002
100, 0
100, 0
100, 0
100,0
Trồng và nuôi rừng 19,4 18,8 17,8 16,4 35,5 41,7 46,8 Khai thác gỗ và lâm sản 79,5 78,1 78,5 81,3 61,9 55,5 48,7 Lâm nghiệp khác 1,2 3,1 3,7 2,3 2,6 2,8 4,5
Nguồn: Phòng Nông nghiệp
Trong nội bộ ngành Nông nghiệp thì ngành Lâm nghiệp có khó khăn trong phát triển để chiếm vị trí xứng đáng trong cơ cấu GDP chung của toàn ngành Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong những năm gần đây đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp Chương trình
327 chủ trương giao đất lâm nghiệp, giao rừng đến các hộ gia đình và hiện đang thực hiện dự án 5 triệu ha rừng của cả nước đến năm 2010 Lâm nghiệp Thanh Hoá đã có bước phát triển mới, chuyển hẳn từ Lâm nghiệp Nhà nước
Trang 18sang phát triển theo hướng lâm nghiệp xã hội, trồng rừng nhân dân Do vậy gía trị trồng rừng và nuôi rừng ngày càng tăng từ 19,4% lên tới 46,8% năm
2002 Bên cạnh đó công tác khai thác bị kìm hãm bởi vậy, tỷ trọng khai thác gỗ
và lâm sản giảm từ 79,5% xuống 48,7% Nhưng nhìn chung khai thác gỗ và lâm sản là lĩnh vực chủ yếu trong ngành Lâm nghiệp tỉnh Thanh Hoá.
Cùng với công tác trồng rừng và nuôi rừng, khai thác gỗ và lâm sản tất yếu hình thành dịch vụ lâm nghiệp, nhằm thúc đẩy hơn nữa công tác trồng rừng, khai thác lâm sản tăng nhanh hơn nữa về giá trị sản xuất hàng năm.
Bảng 12: Sản phẩm chủ yếu của lâm nghiệp Thanh Hoá
Gỗ tròn Nghìn m² 68 51 42 38,8 37,5 32,1 32,5 Củi Nghìn ste 2140 2030 1718 1500 1457 1130 1125 Tre luồng Nghìn cây 11525 11600 11151 19000 12450 12500 15000 Nứa Tấn 36099 33070 33477 37000 48300 45000 33000 Nhựa
thông
Nguồn: Phòng nông nghiệp- Sở kế hoạch và Đầu tư Thanh Hoá
Khả năng khai thác gỗ tròn, củi từ năm 1996 đến năm 2001 có xu hướng giảm như sau: Gỗ tròn từ 68nghìn m² xuống còn32,1 nghìn m², củi từ 2140 ste xuống 1125 nghìn ste Tre luồng, giảm vào từ năm 1999 đến năm 2002 từ
19000 nghìn cây xuống còn 15000 nghìn cây; nứa có năm 2000,2001 tăng còn lại các năm đều giảm; nguyên nhân chính của hiện tượng trên là do chủ trương đóng cửa rừng, công tác khoanh nuôi trồng rừng được đẩy mạnh.Thời
kỳ này chỉ có khả năng khai thác nhựa thông liên tục tăng, từ chỗ sản lượng không đáng kể đến năm 2001 sản lượng có được là 203 tấn Điều đó chứng tỏ khả năng khai thác nhựa thông đã có xu hướng tăng lên liên tục, công tác khai thác của các lâm trường ngày càng được hoàn thiện.
Ngành ngư nghiệp
Vùng biền của Thanh Hoá được đánh giá là có tiềm năng về tài nguyên rất phong phú Nếu như khai thác được tiềm năng đó sẽ là một thuận lợi lớn trong công tác giải quyết việc làm cũng như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh nhà Thời gian qua khả năng khai thác thuỷ sản của Thanh Hoá đạt mức thấp so với tiềm năng hiện có Do vậy trong cơ cấu giá trị sản xuất của nhóm
Trang 19ngành nông nghiệp thì Thuỷ sản vẫn chiếm tỷ lệ thấp Vấn đề đặt ra là trong thời kỳ tới Thanh Hoá phải đầu tư hơn nữa cho công tác đánh bắt và nuôi trồng cũng như chế biến thuỷ sản Chỉ có như vậy mới có thế đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành ngư nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế của tỉnh Thanh Hoá nói chung trong thời kỳ tới.
Bảng 13 : Cơ cấu theo giá trị sản xuất thuỷ sản
Thanh Hoá thời kỳ 1996-2002
Nguồn: Cục thống kê Thanh Hoá
Trong khai thác và đánh bắt nuôi trồng Thuỷ sản, cơ cấu giá trị khai thác chiếm tỷ trọng 65%, nuôi trồng 23% (còn lại là giá trị dịch vụ Thuỷ sản 12%) Sản lượng khai thác và nuôi trồng tăng đều qua các năm Năm 2002 giá trị sản xuất của toàn ngành thuỷ sản khoảng 480,7 tỷ đồng Nuôi trồng thuỷ sản được quan tâm phát triển Tổng diện tích nuôi trồng đạt 15.000 ha, trong
đó nuôi diện tích nuôi chuyên canh 11.135 ha, nuôi không chuyên canh là 3865
ha Sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 14742 tấn (riêng tôm sú nuôi đạt 1862 tấn là năm có sản lượng tôm cao nhất từ trước đến nay) Cơ cấu nuôi trồng thuỷ sản đã được tập trung chỉ đạo chuyển dịch theo hướng tăng năng suất và hiệu quả Các sản phẩm chủ yếu của Thuỷ sản bao gồm: cá, tôm, mực Trong
đó sản lượng cá chiếm tỷ trọng cao nhất là trên 60% trong tổng số lượng toàn ngành thuỷ sản Trong những năm gần đây sản lượng tôm, mực có chiều hướng tăng lên Nhiều giống tôm, cá đã được đưa vào nuôi trồng như tôm càng xanh, cá rô phi đơn tính, cá chim trắng được đưa vào nuôi thâm canh làm cho lượng thuỷ sản tăng lên đáng kể về số lượng và chủng loại
Nhìn chung ngành nông nghiệp trong thời gian qua đã có bước phát triển đáng kể Ngành nông nghiệp đã góp phần vào việc gia tăng giá trị xuất khẩu với các sản phẩm chủ yếu như: lạc nhân, chè, gạo, thịt đông, dưa chuột