1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lí luận và thực tiễn về Kinh tế hợp tác và hợp tác xã

23 1,3K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái niệm, bản chất và các loại hình Kinh tế hợp tác và hợp tác xã
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 49,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự hợp tác trong lao động sản xuất của con người diễn ra từ rất sớm vì sựhợp tác trong lao động sản xuất là bản tính xã hội của con người Các Mácthực tiễn cho thấy trong quá trình sản x

Trang 1

Cơ sở lí luận và thực tiễn về Kinh tế hợp tác và hợp tác xã

I khái niệm, bản chất và các loại hình Kinh tế hợp tác và hợp tác xã.

1.Kinh tế hợp tác

1.1 Khái niệm, bản chất và vai trò của kinh tế hợp tác (KTHT).

Sự hợp tác trong lao động sản xuất của con người diễn ra từ rất sớm vì sựhợp tác trong lao động sản xuất là bản tính xã hội của con người ( Các Mác)thực tiễn cho thấy trong quá trình sản xuất con người buộc phải liên kết vớinhau để thực hiện những hoạt động mà từng người tách riêng ra không thể thựchiện được hay thực hiện kém hiệu quả

Nông nghiệp là hoạt động sản xuất vật chất đầu tiên mà con người tiếnhành, sản xuất nông nghiệp diễn ra trên không gian rộng và chịu ảnh hưởng rấtlớn bởi các điều kiện khách quan, trong đó có nhiều tác động tự nhiên tiêu cựcnhư hạn hán, bão lụt chỉ có thể được hạn chế và khắc phục khi có sự chung sứccủa nhiều người sản xuất Sản xuất nông nghiệp còn mang tính thời vụ nêntrong nhiều trường hợp đòi hỏi sự tập trung sức lao động và công cụ lao động đểhoàn thành một số công việc trong khoảng thời gian nhất định Mặt khác, nhữngngười sản xuất nông nghiệp lại chủ yếu là các hộ nông dân với nguồn lực rất cóhạn Do vậy khác với các ngành sản xuất khác, sản xuất nông nghiệp luôn đòihỏi sự liên kết, sự chung sức tự nguyện giữa những người sản xuất để hỗ trợ vàgiúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất Tuy nhiên trong nông nghiệp dođiều kiện sản xuất cũng như nội dung, tính chất của các hoạt động sản xuất kinhdoanh rất đa dạng mà sự liên kết giữa những người sản xuất cũng đa dạng vàđược thực hiện với những hình thức, quy mô và nội dung khác nhau

Trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau, do các hoạt động kinh tế có nhữngđặc điểm riêng mà kinh tế hợp tác có đặc điểm khác Trong công nghiệp hợp tácgiữa những người lao động sản xuất có thể thực hiện trong mọi khâu của quátrình sản xuất, từ đảm bảo các yếu tố đầu vào đến khâu trực tiếp sản xuất và tiêuthụ sản phẩm Ngược lại trong nông nghiệp, đối tượng của sản xuất nông nghiệp

Trang 2

là những cơ thể sống chịu ảnh hưởng trực tiếp thường xuyên và rất mẫn cảm vớicác tác động của tự nhiên và của con người, chúng luôn đòi hỏi sự chăm sóc tỉ

mỉ và thường xuyên của những người chủ thực sự và trực tiếp của đồng ruộng

và chuồng trại Vì vậy trong nông nghiệp hợp tác giữa những người lao độngsản xuất thường là hợp tác trong các khâu cung ứng các yếu tố đầu vào cho sảnxuất và tiêu thụ sản phẩm đầu ra, còn khâu sản xuất trực tiếp thì do các hộ nôngdân đảm nhiệm

Traianôp cho rằng: Hợp tác xã nông nghiệp là bổ sung cho các hộ nôngdân xã viên, phục vụ nó và nếu không có nó thì kinh tế hợp tác không có ýnghĩa Nhà lý luận người Mỹ Êmiliannôp quan niệm rằng: Hợp tác xã khôngphải là một xí nghiệp tập thể mà là tập hợp xí nghiệp các hộ thành viên vẫn giữđược tính độc lập của mình, khác với các bộ phận của một xí nghiệp phụ thuộchoàn toàn vào xí nghiệp

Lênin cho rằng “Nếu chúng ta tổ chức được toàn thể nông dân vào hợp tác xãthì chúng ta đã đứng được hai chân trên miếng đất xã hội chủ nghĩa”

1.2 Những nguyên tắc cơ bản của kinh tế hợp tác.

Có thể nêu ra nhiều nguyên tắc cơ bản của kinh tế hợp tác, dưới đây chỉ xinnêu ra một số nguyên tắc cơ bản nhất:

- Nguyên tắc tự nguyện: Người nông dân trên cơ sở lợi ích của mình màhoàn toàn tự nguyện, tự quyết định việc gia nhập và ra khỏi các tổ chức kinh tếhợp tác nguyên tắc tự nguyện có vị trí hết sức quan trọng đối với kinh tế hợptác vì chỉ có dựa trên sự tự nguyện của những người tham gia thì sự liên kếtgiữa những người tham gia với nhau mới là thực chất và do đó kinh tế hợp tácmới có cơ sở vững chắc để hình thành và tồn tại Lênin luôn nhấn mạnh nguyêntắc tự nguyện và ngưòi coi tự nguyện là nguyên tắc tiên quyết của kinh tế hợptác

- Nguyên tắc cùng có lợi: Theo nguyên tắc này lợi ích của các thành viêntham gia kinh tế hợp tác đều được đảm bảo Lợi ích kinh tế thiết thân là độnglực, là căn cứ thúc đẩy các hộ nông dân tham gia các tổ chức kinh tế hợp tác

Trang 3

Đây là nguyên tắc cơ bản nhất có ý nghĩa quyết định nhất đối với kinh tế hợptác.

- Nguyên tắc quản lý dân chủ: Theo nguyên tắc này tổ chức và hoạt độngcủa các đơn vị kinh tế hợp tác phải thực sự dân chủ Tập thể thành viên của các

tổ chức hợp tác phải là người quyết định mọi vấn đề về tổ chức và hoạt độngcủa đơn vị hợp tác mà họ tham gia

- Nguyên tắc giúp đỡ của Nhà nước: Để hình thành và phát triển kinh tếhợp tác thì không thể thiếu sự giúp đỡ của Nhà nước về tài chính, kỹ thuật…Tuy vậy do bản chất của kinh tế hợp tác mà sự giúp đỡ của Nhà nước phải tôntrọng các nguyên tắc trên thì sự giúp đỡ của Nhà nước mới phát huy hết tácdụng

1.3 Các hình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp.

Sản xuất nông nghiệp rất đa dạng nên nhu cầu hợp tác trong sản xuất kinh doanh cũng đa dạng, từ đó dẫn tới tính đa dạng của các hình thức hợp tác

trong nông nghiệp Các hình thức hợp tác này phân biệt với nhau bởi tính chất,nội dung hoạt động, quy mô hoạt động, quy mô và trình độ tổ chức Có thể nêu

ra một số hình thức chủ yếu của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp

- Tổ hợp tác: Tổ hợp tác thường có quy mô nhỏ, có nội dung hoạt động hẹp,đơn mục tiêu, hình thành và hoạt động trên cơ sở hợp tác giản đơn, chưa có tổchức chặt chẽ, thường có vốn quỹ chung, hoạt động chưa có điều lệ, không phảiđăng ký kinh doanh nên chưa phải là pháp nhân kinh tế Các tổ hợp tác trongnông nghiệp thường không cố định

- Hợp tác xã: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ, có cơ cấu tổ chức chặtchẽ, có vốn quỹ chung, được cấp đăng ký kinh doanh và có tư cách pháp nhân.Luật HTX nước ta quy định “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do nhữngngười lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập

ra theo quy định của pháp luật” ở nước ta HTX được xem là hình thức cơ bảncủa KTHT

- Hội (câu lạc bộ) nghề nghiệp: Hội (câu lạc bộ) nghề nghiệp là một hìnhthức hợp tác có phạm vi hoạt động linh hoạt, thường gắn với một loại sản phẩm

Trang 4

trồng trọt, chăn nuôi hay một lĩnh vực hoạt động nào đó (nhu hội sinh vật cảnh,hội làm vướn, hội nuôi ong), song không phải là một tổ chức sản xuất kinhdoanh, không có tư cách pháp nhân Các thành viên tham gia chủ yếu là để traođổi, giúp đỡ nhau về kinh nghiệm sản xuất, kỹ thuật sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm

- Hiệp hội theo sản phẩm hay nhóm sản phẩm: Đây là hình thức hợp tác cóphạm vi hoạt động rộng, có thể là phạm vi một vùng, một miền hay cả nước.Thành viên của hiệp hội là những chủ thể kinh tế (có thể thuộc các thành phầnkinh tế khác nhau) tham gia hiệp hội nhằm phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau trong sảnxuất kinh doanh Hiệp hội có điều lệ hoạt động song không phải là đơn vị sảnxuất kinh doanh

Mỗi hình thức KTHT nêu trên đều có vị trí, vai trò quan trọng thích hợptrong những điều kiện nhất định mà khi hình thức hợp tác nào có thể thay thế.Bât kỳ một sự áp đặt hình thức hợp tác không phù hợp nào cũng đều dẫn đếnlàm giảm hiệu quả hoạt động và làm suy yếu kinh tế hợp tác

2 Hợp tác xã:

2.1 Khái niệm.

- Theo liên minh HTX quốc tế (International cooperative alliance- ICA):

“HTX là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứngcác nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thôngqua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ”

- Tổ chức lao động quốc(TLO) định nghĩa HTX là sự liên kết của nhữngngười đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết lạitrên cơ sở bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyểngiao vào HTX phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết khó khăn đó chủyếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năngkinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích và tinh thần chung

- Ngày 20/3/1996 Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namthông qua Luật HTX Tại Điều 1 Luật khẳng dịnh:” HTX là tổ chức kinh tế tựchủ do những người lao động có nhu cầu lợi ích chung, tự nguyện cùng góp

Trang 5

vốn, góp sức lập ra để phát huy sức mạnh tập thể, cùng giúp nhau thực hiện cóhiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh “.

- HTX kiểu mới là tổ chức kinh tế tự chủ của những người lao động có nhucầu, lợi ích chung tự nguyện

2.2 Những đặc điểm cơ bản của HTX kiểu mới ở Việt Nam.

góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnhcủa tập thể và của từng xã viên, nhằm giúy nhau thực hiện có hiệu quả hơn cáchoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần pháttriển kinh tế- xã hội của đất nước Hợp tác xã có tư cách pháp nhân, có tổ chứcchặt chẽ, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình vàđược đối xử bình đẳng như các thành phần kinh tế khác

- Nguyên tắc tổ chức hoạt động của hợp tác xã: Khi xây dựng HTX kiểumới phải đảm bảo 5 nguyên tắc cơ bản: Tự nguyện gia nhập và ra khỏi HTXtheo quy định của điều lệ HTX; quản lý dân chủ và bình đẳng, mỗi xã viên đều

có quyền ngang nhau trong biểu quyết; tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; chialãi bảo đảm kết hợp lợi ích của xã viên với sự phát triển của HTX

- Quan hệ sở hữu và phân phối trong HTX: Khi ra nhập HTX mỗi xã viênbắt buộc phải góp vốn theo quy định của điều lệ Phần vốn góp của xã viênthuộc sở hữu của từng thành viên, các nguồn khác thuộc sở hữu chung củaHTX Sau khi làm xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi của HTX được phân phối nhưsau: Thanh toán các khoản bù lỗ; trích lập các quỹ của HTX; chia lãi theo vốngóp và công sức đóng góp của xã viên có tính đến mức độ sử dụng dịch vụ củaHTX

- Xã viên HTX: Có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình, mỗi xã viên có thểđồng thời là thành viên cuả nhiều HTX, không phân biệt ngành, nghề, địa giớihành chính Mỗi xã viên đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ

- Quan hệ giữa HTX và xã viên: HTX tôn trọng quyền độc lập tự chủ kinh

tế của xã viên Sự hình thành và phát triển HTX nông nghiệp không phá vỡ tínhđộc lập tự chủ của kinh tế hộ, trang trại gia đình Nó có tác đụng tạo điều kiện

Trang 6

phát triển tăng thu nhập cho kinh tế của các hộ xã viên Trên cơ sở đó mà thúcđẩy sự phát triển của kinh tế HTX.

- Điều kiện thành lập, hoạt động, giải thể HTX: Khi thành lập HTX cầnphải có điều lệ, phương án sản xuất kinh doanh cụ thể có tính khả thi, được đạihội xã viên thông qua và cơ quan có trách nhiệm phê duyệt Trong trường hợpgiải thể theo nghị quyết của đại hội xã viên, hoặc bị buộc phải giải thể theoquyết định của pháp luật, HTX phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với cơ quan cóthẩm quyền Đại hội xã viên hoặc đại hội đại biểu xã viên có thẩm quyền quyếtđịnh cao nhất đối với mọi hoạt động của HTX

- HTX là một tổ chức kinh tế do các thành viên tự nguyện lập ra, nó khôngphải là một tổ chức xã hội HTX hoạt động theo luật pháp quy định trước hết vềmục tiêu kinh tế HTX chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ xã hội đối với các

xã viên của chính HTX, không thể biến HTX thành một tổ chức xã hội, hoặc bắtbuộc HTX làm nhiệm vụ như một tổ chức thành viên trong hệ thống chính trịcủa địa phương

2.3 Các loại hình HTX

Căn cứ vào điệu kiện cụ thể của Việt Nam việc phan loại HTX thườngđược dựa vào: Chức năng hoạt động, tính chất trình độ xã hội hoá, quy mô vàđặc điểm hình thành HTX

- HTX dịch vụ: Bao gồm 3 loại: HTX dịch vụ từng khâu, HTX dịch vụtổng hợp đa chức năng và HTX dịch vụ “đơn mục đích” hay HTX “chuyênngành” HTX dịch vụ từng khâu có nội dung hoạt động tập chung vào từng lĩnhvực trong quá trình tái sản xuất hoặc từng khâu công việc trong qua trình sảnxuất HTX dịch vụ tổng hợp - đa chức năng có nội dung hoạt động đa dạng,gồm nhiều khâu dịch vụ cho sản xuất cung ứng vật tư đầu vào, tiêu thụ sảnphẩm …HTX dịch vụ “đơn mục đích” hay HTX “chuyên ngành” thường đượchình thành từ nhu cầu của các hộ thành viên cùng sản xuất – kinh doanh mộtloại hàng hoá tập trung, hoặc cùng làm một nghề giống nhau

Trang 7

- HTX sản xuất kết hợp dịch vụ: HTX loại này có đặc điểm nội dung hoạtđộng sản xuất là chủ yếu, dịch vụ là kết hợp Thường phù hợp trong các ngànhnghề tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, nghề đánh cá, nghề làm muối.

- HTX sản xuất – kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện: Đặc điểm cơ bảncủa mô hình HTX này là: cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động, bộ máy quản lýtheo nguyên tắc của HTX kiểu mới; sở hữu tài sản trong HTX gồm hai phần sởhữu tập thể và sở hữu cổ phần; HTX hoạt động sản xuất – kinh doanh vì mụctiêu lợi nhuận nhằm phát triển kinh tế HTX và đem lại lợi ích cho xã viên; HTXloại này thích hợp với lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, khai thác

II.khái niệm và đặc điểm Hợp tác xã nông nghiệp.

cả nuôi thuỷ sản

2 Đặc điểm của hợp tác xã nông nghiệp.

2.1.Quyền hạn và nghĩa vụ của hợp HTX nông nghiệp.

- HTX nông nghiệp có quyền về lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực, quy môsản xuất kinh doanh, địa bàn hoạt động, quyết định cơ cấu tổ chức, thuê laođộng, xuất nhập khẩu, phân phối thu nhập, huy động vốn, được bảo hộ bí quyết

Trang 8

về công nghệ và quyền từ chối những can thiệp từ bên ngoài trái với quy địnhcủa pháp luật.

Cụ thể hơn chi tiết hơn một số nội dung đặc thù của HTX nông nghiệp: thứnhất chủ động tổ chức các hoạt động kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp theokhả năng, lợi thế và tập quán sản xuất Thứ hai, chủ động tìm kiếm các khả năngphát triển các ngành nghề khác nhau để đa dạng hoá kinh tế HTX, thoát dầnkhỏi tình trạng thuần nông và độc canh, hiệu quả thấp

- Về nghĩa vụ: Giống như các loại hình doanh nghiệp khác HTX phải tiếnhành các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ ngành nghề đã đăng ký, thựchiện các nghĩa vụ về việc bảo đảm các quyền của xã viên, thực hiện nghĩa vụđối với xã viên trực tiếp lao động cho HTX và người lao động làm thuê Ngoài

ra phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước và toàn xã hội

2.2 Điều kiện xã viên, quyền lợi, nghĩa vụ của xã của HTX nông nghiệp.

- Điều kiện để trở thành xã viên HTX nông nghiệp: Là công dân lao độngnông nghiệp hoặc lao động trong một số hoạt động gắn bó mật thiết với lĩnhvực nông nghiệp từ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, là ngườidân sống trong cùng cộng đồng nông thôn

- Quyền lợi của xã viên HTX nông nghiệp: Được làm việc cho HTX vàhưởng thù lao theo lao động, được hưởng phần lãi chia theo vốn góp, theo côngsức đóng góp và mức độ sử dụng dịch vụ HTX, được HTX cung cấp các thôngtin cần thiết, được bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ, được hưởng cácphúc lợi chung của HTX, được khen thưởng khi có nhiều đóng góp xây dựng vàphát triển HTX

- Nghĩa vụ của xã viên HTX nông nghiệp: Gồm hai mặt nghĩa vụ vật chất

và nghĩa vụ chính trị Cụ thể, chấp hành điều lệ, góp vốn theo quy định, cùngchịu rủi ro, thiệt hại và các khoản lỗ của HTX trong phạm vi vốn góp của mình,bồi thường thiệt hại cho mình gây ra cho HTX theo quy định của điều lệ

2.3 Quan hệ tài sản và tài chính của HTX nông nghiệp.

- Quan hệ tài sản trong HTX nông nghiệp: Tài sản của HTX nông nghiệpđược hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, đó là nguồn vốn góp của xã viên

Trang 9

dưới dạng tiền tệ hoặc hiện vật quy ra giá trị; nguồn vốn vay ngân hàng và các

tổ chức kinh tế; nguồn quà biếu theo tính chất kinh tế và pháp lý của nhuồn gốchình thành tài sản của HTX phân thành: nhóm tài sản từ nguồn nội tại và nhómtài sản từ bên ngoài Quan hệ tài sản trong HTX nông nghiệp rất đa dạng, nhữngtài sản mang tính cộng đồng là những tài sản có giá trị lớn thường là tài sảnthuộc về các công trình công cộng

Quan hệ tài chính trong HTX nông nghiệp: Quan hệ tài chính trong HTXnông nghiệp phản ánh sự vận động của các dòng tiền tệ diễn ra trong HTX trongquá trình sản xuất kinh doanh và dịch vụ Cụ thể là những nguyên tắc trong việchuy động vốn góp của xã viên các nguồn vốn khác để phát triển sản xuất kinhdoanh và phân phối lãi trong HTX nông nghiệp

2.4 Cơ sở khoa học về tổ chức quản lý HTX nông nghiệp

Các HTX nông nghiệp thực hiện quản lý dựa trên việc hình thành ba địnhchế cơ bản đi từ dân chủ đến tập trung đó là: Đại hội xã viên, ban quản trị, bankiểm soát Trong đó đại hội xã viên là cơ quan quyền lực cao nhất và thực hiệnquyền lực của mình dựa trên nguyên tắc dân chủ tổng hợp quyền lực của các xãviên, thể hiện ở chỗ có quyền quyết định mọi vấn đề về tổ chức, hoạt động củaHTX, có quyền lập ra ban quản trị, ban kiểm soát, chủ nhiệm HTX cũng nhưcác chức danh quan trọng khác

Ban quản trị HTX nông nghiệp có nhiệm vụ xây dựng và tổ chức thực hiện

kế hoạch sản xuất kinh doanh dịch vụ huy động vốn trong HTX nông nghiệp.Ban quản trị có quyền lựa chọn kế toán trưởng, cơ cấu tổ chức và các bộ phậnnghiệp vụ, chuyên môn HTX

Ban kiểm soát thực hiện quyền giám sát, kiểm tra ban quản trị và xã viêntrong việc thực hiện nghị quyết của đại hội xã viên

Chủ nhiệm HTX đại diện trước pháp luật để quan hệ đối ngoại, chủ độngđiều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, được quyền triệu tậpcác cuộc họp ban quản trị để thảo luận và quyết định các vấn đề phát sinh

2.5 Cơ sở khoa học của mối quan hệ giữa nhà nước với HTX nông nghiệp.

Trang 10

Nhà nước được xem như một nhân tố cơ bản trong việc nuôi dưỡng pháttriển những nhu cầu hợp tác, hỗ trợ sự hình thành và trưởng thành của từngHTX cũng như toàn bộ phong trào HTX Mối quan hệ nhà nước – HTX thườngđược thể hiện trên hai mặt:

Thứ nhất, quan hệ trực tiếp: quan hệ này thường bắt đầu từ chức năng củanhà nước trong lĩnh vực tổ chức các hoạt động kinh tế của xã hội, đó là tạokhung pháp lý cần thiết cho các lực lượng thị trường hoạt động có hiệu quả.Ngoài ra Nhà nước còn tổ chức các cơ quan hỗ trợ phát triển HTX với chứcnăng theo dõi giám sát việc thi hành luật pháp của HTX

Thứ hai, quan hệ gián tiếp: mối quan hệ này rất đa dạng nhiều cấp độ khácnhau tuỳ thuộc rất nhiều vào quan điểm, cách nhìn của từng chính phủ đối vớikhu vực kinh tế HTX Chẳng hạn, chính phủ có thể coi HTX là phương tiện đểthực hiện các chính sách kinh tế của mình, khi đó chính phủ sẽ có nhiều hỗ trợvật chất cụ thể để tác động lên hệ thống này, hoặc nếu chính phủ chỉ nhìn nhậnHTX là một trong nhiều tổ chức kinh tế của lực lượng thị trường khi đó chínhphủ sẽ không sử dụng các yếu tố tác động riêng hoặc ưu đãi nào đối với HTX

III tính tất yếu khách quan của kinh tế hợp tác và hợp tác xã ở Việt Nam

Lịch sử phát triển kinh tế xã hội thế giới đã chứng minh rằng: sự phát triểncủa chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau,song về mặt cơ cấu và tổ chức kinh tế thì trong mỗi giai đoạn đều tồn tại rõ nét

ba khu vực khác nhau với vai trò vị trí và quy mô của mỗi khu vực được biếnđổi theo sự phát triển ở mỗi giai đoạn Khu vực kinh tế cá thể tư nhân là khuvực có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế TBCN phát triển vớinhịp độ tăng trưởng cao, khu vực kinh tế nhà nước, nhìn chung hoạt động kinhdoanh trì trệ kém năng động, hiệu quả kinh tế thấp kém hơn khu vực tư nhân,song lại có vai trò tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân và các khu vực khác pháttriển Song song với hai khu vực kinh tế trên, hình thức tổ chức HTX ngày càngphát triển, tuy không phải là khu vực chính để tạo ra tăng trưởng kinh tế mà làkhu vực phụ trợ, song khu vực này có vai trò, vị trí qan trọng trong giải quyết

Trang 11

việc làm đảm bảo đời sống cho đông đảo người lao động( nhất là ở các nướcđang phát triển) tạo sự ổn định xã hội và môi trường thuận lợi cho tăng trưởng

và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia

Quá trình phát triển kinh tế Việt Nam cũng cho thấy vai trò, vị trí của cáckhu vực kinh tế ở từng thời kỳ là khác nhau ở giai đoạn thực hiện cơ chế kếhoạch hoá tập trung và phân chia nền kinh tế thành hai khu vực: Khu vực kinh

tế XHCN và khu vực kinh tế phi XHCN thì khu vực kinh tế XHCN đóng góp58.8% thu nhập quốc dân, khu vực kinh tế phi XHCN đóng góp 41,19% thunhập quốc dân

Bước sang giai đoạn thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, so sánh giữavốn nắm giữ của các doanh nghiệp với kết quả đóng góp thấy khá rõ: Doanhnghiệp nhà nước nắm giữ tỷ trọng vốn lớn hơn 68% tổng vốn doannh nghiệpnhưng đóng góp trong tổng sản phẩm xã hội GDP là 40,29%, ngược lại khu vựcngoài quốc doanh chỉ nắm dưới 10% tổng số vốn các doanh nghiệp nhưng đónggóp đến 41,4% tổng GDP, HTX góp 8,9%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài 9,8% tổng GDP

Chúng ta thấy rõ KTHT và HTX không phải là khu vực đem lại lợi nhuậncao và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế vì mục tiêu hoạt động của khu vực nàykhông đơn thuần chạy theo lợi nhuận nhưng lại có vai trò to lớn trong việcmang lại lợi ích cho người lao động cá lẻ đảm bảo sự ổn định xã hội, thông qua

sự giúp đỡ hỗ trợ với mọi người lao động có cơ hội tham gia vào quá trình pháttriển kinh tế, bản thân họ và cộng đồng mà nếu để họ tự làm sẽ gặp không ít khókhăn Mặt khác, hình thức hợp tác này họ có thể tiếp nhận và sử dụng có hiệuquả hơn các nguồn hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức kinh tế xã hội đối với họ.Với đặc điểm kinh tế nước ta còn chưa phát triển và kinh tế nông thôn, nôngnghiệp chiếm tỷ trọng cao (cả về lực lượng lao động và giá trị đóng góp cho xãhội) bộ phận dân cư nghèo và yếu về kinh tế còn khá lớn Do đó đồng thời vớiquá trình tăng trưởng , thúc đẩy tăng trưởng vầ phát triển kinh tế phải hết sứccoi trọng xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với từng gia đình của lựclượng sản xuất KTHT và HTX đặc biệt đối với nông nghiệp , nông thôn có ýnghĩa vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế nước nhà

Ngày đăng: 08/10/2013, 14:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tài sản, vốn của HTX nông nghiệp chuyển đổi - Cơ sở lí luận và thực tiễn về Kinh tế hợp tác và hợp tác xã
Bảng 2 Tài sản, vốn của HTX nông nghiệp chuyển đổi (Trang 19)
Bảng 1: Quy mô HTX tính theo số liệu xã viên của HTX đã chuyển đổi. - Cơ sở lí luận và thực tiễn về Kinh tế hợp tác và hợp tác xã
Bảng 1 Quy mô HTX tính theo số liệu xã viên của HTX đã chuyển đổi (Trang 19)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w