1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế RRTD tại SGDI

24 114 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế RRTD tại SGDI
Thể loại Đề án
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 34,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hạn chế và giảm dần tín dụng đối với những trường hợp khách hàng có dấu hiệu kinh doanh không an toàn.. Để tạo điều kiện cho cán bộ tín dụng có thể hiểu biết khách hàng một cách sâu sắc,

Trang 1

Giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế RRTD tại

SGDI-NHCT VN.

3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA SGDI-NHCT VN TRONG THỜI GIAN TỚI.

Năm 2003 tuy có những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và

trong nước song với phương châm “phát triển - an toàn - hiệu quả”, được

sự quan tâm chỉ đạo của NHNN VN, NHNN HN, NHCT VN và sự ủng hộ giúp

đỡ của các cơ quan trong và ngoài ngành từ TW đến địa phương trên toàn địa bàn, Đảng ủy và ban giám đốc SGDI luôn thống nhất hướng chỉ đạo các mặt nghiệp vụ với mục tiêu và giải pháp kinh doanh cụ thể, chủ động, sáng tạo do đó đã huy động mọi nguồn lực và phát huy cao nhất yếu tố nội lực để thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh năm 2003 Nhờ vậy, hoạt động kinh doanh của Sở trong năm 2003 đã đạt được kết quả nổi bật, phát triển đồng đều và toàn diện trên tất cả các mặt công tác, góp phần đáng kể vào kết quả kinh doanh của hệ thống NHCT VN, cũng như sự phát triển trên địa bàn thủ đô.

Bước vào năm 2004, trên cơ sở kết quả kinh doanh năm 2003; căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ và các biện pháp kinh doanh của NHCT Việt Nam SGDI

đề ra nhiệm vụ kinh doanh năm 2004, cụ thể như sau:

Các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh.

1 Nguồn vốn huy động tăng từ 5%-10% so với năm 2003.

2 Dư nợ cho vay tăng 15%-20% so với năm 2003

3 Lợi nhuận hạch toán nội bộ tăng 5% so với kế hoạch

4 NQH dưới 3% tổng dư nợ.

5 Xử lý nợ tồn đọng cũ 5 tỷ đồng.

Trang 2

Chủ động nắm bắt tình hình phát triển kinh tế trên địa bàn, diễn biến cung cầu vốn trên thị trường để có phương án huy động vốn thích hợp Áp dụng chính sách khách hàng linh hoạt trong khuôn khổ cho phép của NHCT Việt Nam, nhất là chính sách ưu đãi đối với những khách hàng có số dư tiền gửi , tiền vay lớn Chú trọng phong cách giao dịch văn minh của cán bộ NHCT để tạo ấn tượng tốt đẹp đối với khách hàng

2 Tiếp tục củng cố và phát triển quan hệ với khách hàng truyền thống, cho vay không phân biệt thành phần kinh tế Chú trọng cho vay tiêu dùng, cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân Không đầu tư tập trung vào một số doanh nghiệp lớn Từng bước cơ cấu lại khách hàng vay vốn bằng cách tăng cường tiếp thị thu hút khách hàng mới có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả để đầu tư vốn Phân tích và đánh giá toàn diện khách hàng, phân loại khách hàng dựa trên kết quả và uy tín trong kinh doanh để có giải pháp đầu tư tín dụng hợp lý, hiệu quả Hạn chế và giảm dần tín dụng đối với những trường hợp khách hàng có dấu hiệu kinh doanh không an toàn

3 Tiếp tục bám sát chương trình cơ cấu lại nợ theo chủ trương của NHNN và hướng dẫn của NHCT VN, tranh thủ sự ủng hộ và phối hợp chăt chẽ với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng trong việc xử lý tài sản

Trang 3

để thu hồi nợ tồn đọng, bằng mọi biện pháp tích cực để thu hồi NQH, NKĐ, phấn đấu hạ tỷ lệ NQH thời điểm 31/12/2004 xuống dưới 3% tổng dư nợ.

4 Tiếp tục hoàn thiện chương trình INCAS Có phương án triển khai nối mạng giao dịch với khách hàng lớn, nhằm cập nhập thông tin giao dịch với khách hàng Tăng cường khảo sát, lắp đặt thêm máy ATM tại nhưng địa điểm thích hợp đi đôi với việc tuyên truyền, quảng cáo rộng rãi việc sử dụng thẻ ATM

và các dịch vụ Ngân hàng điện tử, để các dịch vụ Ngân hàng mới trở nên quen thuộc đối với mọi đối tượng khách hàng

5 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ, kiểm tra chuyên sâu các nghiệp vụ kế toán; tín dụng; thanh toán quốc tế; nguồn vốn Bằng nhiều hình thức kiểm tra, phúc tra nhằm nâng cao ý thức chấp hành cơ chế, chính sách, chế độ của cán bộ, hạn chế thấp nhất sai sót, đảm bảo kinh doanh an toàn

- hiệu quả.

6 Tăng cường đào tạo và đào tạo lại trình độ nghiệp vụ cho cán bộ, trong đó chú trọng nghiệp vụ giao dịch theo chương trình HĐH Ngân hàng, nghiệp vụ kiểm tra, kiểm soát; nghiệp vụ tín dụng, vi tính, ngoại ngữ, các dịch

vụ Ngân hàng mới…, nhằm nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ trực tiếp giao dịch với khách hàng, đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ ngày càng cao.

7 Chăm lo đời sống cán bộ, nhân viên, phối hợp chặt chẽ và phát huy tốt vai trò của các tổ chức đoàn thể Thường xuyên phát động các phong trào thi đua gắn với nhiệm vụ kinh doanh, nhằm động viên toàn thể cán bộ, nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Tạo mọi điều kiện để các phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, tự vệ … hoạt động tốt, nhằm khơi dậy khí thế

và động lực thúc đẩy hoàn thành tốt nhiệm vụ kinh doanh Đoàn kết nội bộ, tăng cường và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức đoàn

Trang 4

thể, động viên toàn thể cán bộ nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ kinh doanh năm 2004.

Trước những yêu cầu và đòi hỏi của xu thế toàn cầu hoá, chặng đường mới có nhiều cơ hội để phát triển và cũng đầy thách thức khó khăn Nhưng với truyền thống không ngừng đổi mới và phát triển, SGDI-NHCT VN quyết tâm phấn đấu hoàn thành mọi chỉ tiêu kế hoạch đề ra, với phương châm

hoạt động “phát triển-an toàn-hiệu quả”.

3.2 GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RRTD TẠI SGDI-NHCT VN

RRTD không chỉ là vấn đề nan giải ở các ngân hàng Việt Nam mà còn đối với tất cả các ngân hàng trong khu vực và trên toàn thế giới Đối với Việt Nam, các NHTM VN đang ở trong tình trạng NQH nặng nề và có xu hướng gia tăng trong những năm tới Mặc dù các NHTM đã áp dụng những biện pháp phòng tránh NQH mới phát sinh và các biện pháp thu hồi NQH cũ, tuy nhiên kết quả đạt được là rất khiêm tốn Vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện các giải pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế và xử lý RRTD là rất cần thiết Sau một thời gian nghiên cứu vấn đề này tại SGDI-NHCT VN Em xin được đưa ra một

Trang 5

Để làm được việc đó, đòi hỏi cần phải chuyên môn hoá cán bộ tín dụng Bởi một cán bộ tín dụng dù tài giỏi đến đâu cũng không thể có hiểu biết sâu sắc về mọi lĩnh vực kinh doanh của nền kinh tế Sự gia tăng các khoản nợ quá hạn của Sở trong những năm qua, tất nhiên là có nhiều nguyên nhân, nhưng phải khẳng định rằng nguyên nhân cơ bản là khả năng dự đoán thị trường và trình độ xử lý thông tin tín dụng của cán bộ tín dụng còn yếu Do

đó chuyên môn hoá đối với từng cán bộ tín dụng là cần thiết.

Khi chuyên môn hoá, Sở cần chia khách hàng theo từng nhóm có đặc điểm riêng Trên cơ sở đó, căn cứ vào năng lực sở trường của từng cán bộ tín dụng (hay nhóm cán bộ tín dụng) cụ thể để phân công mỗi người thực hiện cho vay một loại khách hàng nhất định.

Đối với các khách hàng truyền thống, những khách hàng có uy tín và tình hình tài chính ổn định có thể phân theo ngành nghề kinh doanh Đối với những khách hàng vay vốn lần đầu hoặc không thường xuyên vay vốn tại Sở,

có độ tin cậy chưa cao, cần coi trọng các điều kiện vật chất đảm bảo.

Để tạo điều kiện cho cán bộ tín dụng có thể hiểu biết khách hàng một cách sâu sắc, việc thay đổi cán bộ tín dụng phụ trách cho vay vốn khách hàng trong quá trình sắp xếp, phân công nhân viên cũng cần đặc biệt hạn chế Tóm lại việc chuyên môn hoá đối với từng cán bộ tín dụng vẫn đảm bảo được khả năng đa dạng hoá đầu tư của Sở để tránh rủi ro khắc phục được mâu thuẫn giữa chuyên môn hoá và đa dạng hoá, làm tăng chất lượng tín dụng đồng thời giảm chi phí trong công tác điều tra tìm hiểu khách hàng, thậm chí phân tích tín dụng, giám sát khách hàng trong quá trình sử dụng tiền vay.

3.2.2 Đa dạng hoá hoạt động đầu tư, tín dụng

Trang 6

Đây là biện pháp mang tính chất chủ động cao nhằm phân tán RRTD Thực chất của đa dạng hoá đầu tư là đầu tư vào nhiều loại tài sản có mức

độ lợi tức khác nhau, tức là phân tán mức độ rủi ro trên tài sản có thể gặp phải Qua đó ngân hàng không tập trung quá nhiều vốn vào một dự án nào

đó Việc giảm mức độ rủi ro có thể gặp phải cho từng dự án cũng chính là việc giảm thiểu rủi ro cho hoạt động tín dụng.

Đa dạng hoá hoạt động tín dụng đầu tư cũng chính là thực hiện nguyên tắc “không nên bỏ tất cả trứng vào một giỏ” Thời gian qua, cơ cầu vốn vay của Sở còn không đều, phần lớn tập trung vào một số khách hàng truyền thống sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công thương nghiệp như tổng công ty Bưu chính viễn thông, công ty Dược phẩm TW 1, công ty thực phẩm

Hà Nội Do hoạt động tín dụng của Sở tập trung trong lĩnh vực truyền thống

và chủ yếu là các DNQD nên cho tới nay Sở chưa có được khách hàng truyền thống là các DN NQD.

Mặc dù năm 2003, với chính sách khách hàng hợp lý, Sở đã thu hút được nhiều khách mới là các doanh nghiệp lớn hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả và các khách hàng tư nhân, mở rộng đối tượng khách hàng Thực hiện cho vay sinh viên, cho vay tiêu dùng đối với cán bộ CNV Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp còn thấp Vậy nên trong những năm tới, Sở cần chú trọng hơn để nâng cao chất lượng cũng như khối lượng tín dụng Trong thời gian tới phù hợp với định hướng phát triển kinh tế thủ đô, Sở có thể mở rộng cho vay các dự án lớn có vốn đầu tư nước ngoài với trình độ kỹ thuật hiện đại như liên doanh sản xuất lắp ráp xe máy, đầu tư cho vay xây dựng bệnh viện, trường học tư nhân, đây là khu vực có nhu cầu lớn trong tương lai Đa dạng hoá đối tượng khách hàng nhưng vẫn duy trì cho vay có trọng điểm đối với các DNNN, các tổng công ty sẽ giúp cho Sở hạn chế rủi ro

Trang 7

trong cho vay đối với khu vực quốc doanh cũng như khai thác được tiềm năng vốn có của khu vực kinh tế khác.

Bên cạnh các phương thức cho vay như: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, Sở cần phát triển các phương thức khác như cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, chiết khấu các giấy tờ có giá Ngoài ra, Sở cần phát triển hình thức dịch vụ trọn gói từ mở tài khoản, cho vay, mua bán ngoại tệ, thanh toán việc cung cấp loại hình dịch vụ này sẽ giúp đem lại sự thuận tiện cho khách hàng, tăng cường mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng và giúp cho ngân hàng có một lượng thông tin đầy đủ hơn về khách hàng.

3.2.3 Trích lập dự phòng đối với các khoản nợ có vấn đề và sử dụng chỉ tiêu nợ có vấn đề để phân loại các khoản cho vay.

Nợ có vấn đề là chỉ tiêu phản ánh RRTD ở dạng tiềm năng Dự phòng là việc trích ra từ thu nhập theo một tỷ lệ quy định để trang trải một phần hoặc toàn bộ các khoản mất mát vốn, trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro đối với từng khoản đã cho vay và toàn bộ danh mục cho vay Như vậy, việc trích lập dự phòng là cần thiết Tuy nhiên điều cần quan tâm là việc đánh giá các khoản tín dụng như thế nào để có thể đánh giá đựợc mức độ rủi ro lại là điều quan trọng Hiện nay, Sở đang thực hiện phân loại tín dụng theo thời gian và trích lập dự phòng theo thời gian (khoản cho vay trong hạn hay quá hạn) Việc phân loại này làm cho RRTD không được nhìn nhận một cách chính xác theo đúng mức độ rủi ro của nó, làm giảm vai trò to lớn của việc trích lập dự phòng Dựa trên cách phân loại này, khoản cho vay được chia thành nhiều cấp, theo thứ tự từ chất lượng tốt nhất đến nợ không có khả năng thu hồi Khoản cho vay có hiệu quả được trích dự phòng ở tỷ lệ chung; khoản cho vay được liệt vào danh sách theo dõi bao gồm khoản cho vay có dấu hiệu rủi ro (thể hiện qua tiêu thức như khả năng trả nợ, giá trị tài sản

Trang 8

thế chấp không hợp lý, trì hoãn trả nợ); khoản vay bị nghi ngờ (khi các tiêu thức trên được xác thực và có dấu hiệu xấu đi); cuối cùng là khoản cho vay khó thu hồi được và có khả năng phải xoá nợ Trong đó trọng tâm là việc sử dụng chỉ tiêu nợ có vấn đề để thống kê các khoản vay nào còn trong hạn nhưng đã tiềm ẩn rủi ro.

Để phân loại tín dụng đúng ở mức độ rủi ro của nó, Sở cần dựa vào các chỉ tiêu: lịch sử quan hệ tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng; luồng tiền

và dư nợ của khách hàng tại ngân hàng; chất lượng quản lý của đội ngũ lãnh đạo; xu hướng của mặt hàng kinh doanh Việc phân loại này giúp nâng cao trách nhiệm của cán bộ tín dụng trong việc theo dõi chặt chẽ đánh giá rủi ro của từng khoản tín dụng tại từng thời điểm, từ đó ngân hàng có thể đánh giá mức độ rủi ro hợp lý của mỗi danh mục đầu tư, giám sát nguồn vốn phân bổ hiệu quả hơn Việc trích lập dự phòng của Sở một mặt tuân thủ theo quy định của NHNN, song không nên quá máy móc Hiện nay, Sở chỉ trích lập dự phòng đối với các khoản nợ quá hạn còn các khoản vay trong hạn theo quy định tỷ lệ trích lập DPRR là 0%.

Song có những khoản vay đã xuất hiện dấu hiệu rủi ro, Sở cần trích lập

dự phòng đối với cả những khoản này, căn cứ vào mức độ rủi ro để đưa ra một tỷ lệ hợp lý Hay nói cách khác cần cụ thể hoá tỷ lệ trích lập dự phòng đối với từng khoản vay theo mức độ rủi ro.

3.2.4 Chủ động phân tán rủi ro thông qua cho vay đồng tài trợ và bán rủi ro.

Trong hoạt động tín dụng, việc phân tán rủi ro được thực hiện thông qua nhiều biện pháp, trong đó có cho vay đồng tài trợ và bán rủi ro.

Thời gian qua Sở đã thực hiện thành công một số hoạt động đồng tài trợ như dự án đuôi hơi Phú Mỹ Đó là những khoản tín dụng lớn, khó xác

Trang 9

định được mức độ rủi ro mà một mình ngân hàng không đủ khả năng cho vay Việc các ngân hàng tham gia đồng tài trợ hay hợp vốn tạo ra một thế mạnh như mỗi ngân hàng có một hệ thống khách hàng quen thuộc, có lĩnh vực am hiểu tường tận, hay nói cách khác, có thế mạnh riêng Việc đồng tài trợ sẽ tập trung và phân bổ cho nhau thế mạnh của, hạn chế mặt yếu, tạo sự kiểm soát đồng bộ về khách hàng, bổ sung vốn, bổ sung nghiệp vụ và học hỏi lẫn nhau Do đó ngân hàng cần kêu gọi các ngân hàng và các nhà đầu tư khác cùng tham gia đánh giá khách hàng, thẩm định dự án và tài trợ Biện pháp này tuy phải chia sẻ lợi nhuận đầu tư cho các nhà đầu tư khác nhưng

bù lại nó đảm bảo chắc chắn hơn kết quả sẽ thu được từ việc đầu tư Mặt khác, với cùng một số vốn bằng biện pháp đồng tài trợ, ngân hàng có thể tham gia được nhiều hơn các dự án có quy mô lớn Không chỉ phân tán rủi

ro mà biện pháp này còn giúp ngân hàng mở rộng kinh doanh, phát triển uy tín trên thị trường, tiếp thu nhiều kinh nghiệm

Bán rủi ro: đó là chuyển rủi ro cho các chủ thể có khả năng chịu rủi ro

cao hơn Trong trường hợp khoản vay có rủi ro cao , ngân hàng khó có thể chịu nổi nếu rủi ro xẩy ra Ngân hàng sẽ “bán” khoản cho vay cho ngân hàng lớn hơn hoặc một trung gian tài chính khác để hưởng hoa hồng phí Như ta

đã biết, các biện pháp đa dạng hoá danh mục đầu tư nhằm phân tán rủi ro không có tác dụng đối với các rủi ro mang tính vĩ mô (rủi ro hệ thống) nên việc sử dụng kết hợp với biện pháp bán rủi ro cho các chủ thể khác nhau có thể là một giải pháp mang tính thiết thực cao Mặc dù thu nhập từ cho vay

có thể giảm sút nhưng bù lại ngân hàng lại đảm bảo khả năng an toàn, phòng tránh được những rủi ro lớn mà ngân hàng không chịu nổi Đây có thể là một hướng để Sở áp dụng.

3.2.5 Hoàn thiện quy trình tín dụng.

Trang 10

Trước hết Sở cần xây dựng chính sách tín dụng nhằm hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn trong kinh doanh tín dụng Trong đó nội dung quy mô và giới hạn tín dụng cần đặc biệt chú ý, tránh việc chạy theo mục đích lợi nhuận dẫn tới nguy cơ chất lượng tín dụng bị suy giảm Trong các quy định về tài sản thế chấp trong việc cho vay vốn, Sở không nên coi tài sản thế chấp là chỗ dựa hoàn toàn đảm bảo an toàn tín dụng Vấn đề là ai và hiệu quả sử dụng vốn như thế nào Nếu được Sở nên nhận tài sản thế chấp là các giấy tờ

có giá, dễ chuyển thành tiền, ít bị rủi ro hơn.

Trong công tác kiểm tra, giám sát khoản vay ngân hàng cần chủ động hơn Điều đó giúp ngân hàng sớm phát hiện các dấu hiệu rủi ro Không chỉ kiểm tra qua các báo cáo định kỳ do khách hàng cung cấp, cán bộ tín dụng phải chủ động xuống tận cơ sở để kiểm tra Việc kiểm tra không chỉ dừng lại

ở mức tối thiểu 1 lần/ 1 năm như hiện nay mà cần xác định phù hợp với ngành nghề kinh doanh của khách hàng và nên quy định thực hiện ít nhất 1 lần/1 quý Việc kiểm tra này không chỉ được thực hiện bởi cán bộ tín dụng phụ trách khoản cho vay mà cần quy định thêm việc thực hiện kiểm tra chéo giữa các cán bộ tín dụng và đối với những khoản vay lớn có thể có sự kiểm tra đánh giá của một bộ phận chuyên trách.

Sở cần quy định việc cán bộ tín dụng xuống cơ sở của khách hàng để thu nợ khi đến hạn Quy định này thể hiện sự quan tâm, theo dõi sát sao của ngân hàng, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng không phải tốn nhiều thời gian, mặt khác đảm bảo các khoản nợ được trả đúng hạn, buộc khách hàng nâng cao ý thức trách nhiệm đối với khoản vay.

Trong việc thực hiện quy trình tín dụng cần có sự phân công trách nhiệm rõ ràng về phía ban lãnh đạo, về các cán bộ nhân viên cũng như sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận Trong đó cùng với việc giao trách nhiệm cho cán bộ tín dụng cần quan tâm hơn đến quyền lợi của họ Cần có

Trang 11

sự động viên khuyến khích cả về tinh thần và vật chất kịp thời đối với những cán bộ tín dụng làm việc có hiệu quả.

3.2.6 Xử lý NQH bằng đồng tài trợ.

Trong những năm qua Sở đã thực hiện các biện pháp kiên quyết để thu hồi NQH, NKĐ, từng bước giảm tỷ lệ NQH trong tổng dư nợ Tuy nhiên có một số khoản NQH mà khả năng của Sở không đủ sức về vốn, về con người

và kinh nghiệm để giải quyết hoặc giải quyết không hiệu quả Nên chăng, Sở cần phối hợp với các ngân hàng khác theo dạng đồng tài trợ để xử lý NQH Như thế sẽ tập trung và phân bổ cho nhau thế mạnh, hạn chế mặt yếu, tạo

sự kiểm soát đồng bộ về khách hàng, bổ sung vốn, bổ sung nghiệp vụ.

Dưới đây là một số đề suất cụ thể để xử lý NQH bằng đồng tài trợ.

Xử lý NQH mới phát sinh, ta phải phân loại NQH này theo các

nguyên nhân khác nhau

+ Nếu là do ngân sách nợ: nên mời tham gia đồng tài trợ với các ngân hàng khác cho ứng vốn trước ngân sách dưới dạnh mua nợ và ngân hang cam kết khi có tiền sẽ trả cho ngân hàng mua nợ.

+Nếu là do xác định thời hạn không đúng

Dùng vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn nên mời các ngân hàng khác tham gia hợp đồng vốn, hoặc bán nợ trong một thời gian sau đó mua lại.

Nếu quay vòng vốn nhiều lần do kiểm soát khách hàng không tốt, không am hiểu lĩnh vực kinh doanh của khách hàng, Sở nên tham gia đồng tài trợ, hoặc bán nợ cho ngân hàng am hiểu lĩnh vực này Ví dụ: khách hàng vay để nhập khẩu, trong khi xuất khẩu lại ở ngân hàng khác, có thể tham gia đồng tài trợ giữa 2 ngân hàng để kết hợp 2 nguồn hoặc mua nợ.

Trang 12

+ Nếu do hàng chậm luân chuyển: Sở nên kết hợp với ngân hàng khác cho khách hàng mua hàng và có mạng lưới đại lý tốt vay vốn để mua hàng

và bán hàng chậm luân chuyển, hoặc các ngân hàng có khách hàng quen, có lĩnh vực tiêu thụ các mặt hàng này Ví dụ: Sở có khách hàng có mạng lưới bán mì ăn liền xuất khẩu tốt, trong khi ngân hàng khác có khách hàng sản xuất mì nhưng không bán được và khách hàng vay vốn đã vượt quá hạn mức sẽ phải tham gia đồng tài trợ để mua mì và xuất đi.

Xử lý NQH đã chuyển sang NKĐ.

Do coi trọng tài sản thế chấp hơn phương án vay vốn hoặc không kiểm soát được phương án kinh doanh hoặc giữ lô hàng mà ngân hàng không am hiểu, ngân hàng nên bán nợ hoặc đồng tài trợ với ngân hàng khác có khách

hàng quen thuộc am hiểu lĩnh vực này.

Để ngăn ngừa NQH

Sở có thể tham gia đồng tài trợ để cùng xây dựng một hạn mức và cùng kiểm soát để khách hàng không tăng quy mô kinh doanh quá sức của mình, chia sẻ rủi ro.

Có thể tham gia đồng tài trợ khi đang gia hạn nợ do kế hoạch kinh doanh không đúng như dự kiến, trong trường hợp này nên mời các ngân hàng có khách hàng là người mua hàng cùng đồng tài trợ, hoặc mua lại nợ Trên cơ sở ngân hàng khác kiểm soát được luồng tiền của khách hàng và chuyển trả nợ cho người bán.

Nếu vì nhu cầu vốn của doanh nghiệp quá lớn nhưng đã không cho vay đủ số vốn cần thiết dẫn đến không phù hợp với nhu cầu kinh doanh có khả năng dẫn đến NQH, mời ngân hàng khác tham gia bơm thêm vốn để tiếp sức cho khách hàng.

Ngày đăng: 08/10/2013, 07:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w