1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của công làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá

22 441 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của công làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 36,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với mỗi nghề được xếpvào các nghề thủ công truyền thống, nhất thiết phải có các yếu tố sau: Một là, đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta hoặc là mộtnghề mới từ địa

Trang 1

Vai trò của công làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Nói đến làng nghề ta thường nghĩ ngay đến những làng làm nghề thủcông truyền thống như làng nghề lụa Vạn Phúc, làng gốm Bát Tràng, làng tranhĐông Hồ Nghề thủ công là nghề sản xuất chủ yếu bằng tay và công cụ giản đơnvới con mắt và bộ óc của nghệ nhân và thợ kỹ thuật Đối với mỗi nghề được xếpvào các nghề thủ công truyền thống, nhất thiết phải có các yếu tố sau:

Một là, đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta hoặc là mộtnghề mới từ địa phương khác mang đến song được các nghệ nhân ở nơi cũtruyền đạt lại kinh nghiệm và kỹ sảo kinh nghiệm

Hai là, sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề

Ba là, có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề

Bốn là, kỹ thuật sản xuất tinh vi, chứa nhiều yếu tố kinh nghiệm từ đờisang đời khác và công nghệ khá ổn định

Năm là, sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếunhất Nhìn chung nghề truyền thống được hình thành gắn liền với điều kiện tựnhiên của vùng (đất đai, khí hậu, môi trường…) và như vậy nó gắn bó với vùngnguyên liệu có tình đặc thù cho sản xuất

Sáu là, sản phẩm sản xuất ra mang tính chất độc đáo vừa là hàng hoá, vừa

là sản phẩm văn hoá văn nghệ kỹ thuật mỹ thuật mang bản sắc văn hoá dân tộc,

Trang 2

có giá trị chất lượng cao và có vị trí cạnh tranh trên thị trường trong nước vàquốc tế.

Bảy là, là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng, cóđóng góp đáng kể về kinh tế và ngân sách nhà nước, dồng thời nó còn sử dụnglao động nhàn rỗi trong nông nghiệp nông thôn và lao dộng thành thị

Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công, ở đâykhông nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ côngcũng đồng thời là người làm nghề nông Làng nghề là trung tâm sản xuất rahàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghềmang tính chất truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ nhau trong sản xuất,

kỹ thuật, đào tạo thợ trẻ và bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu doanhnghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề và các thành viên luôn có ý thức tuân thủnhững ước chế xã hội và gia tộc

Làng nghề thủ công được công nghiệp hoá, có những nét khác biệt so vớidoanh nghiệp nghề nghiệp Trước hết, doanh nghiệp nghề nghiệp là một tổ chứckinh tế có tư cách pháp nhân, sản xuất tập trung theo một kế hoạch chung, có cơcấu tổ chức chặt chẽ, còn làng nghề không có tư cách pháp nhân, các hộ giađình trong làng không được tổ chức phối hợp chặt chẽ, sản xuất phân tán, mạnh

ai lấy làm, tuy nhiên lại tận dụng được nhân lực rỗi rãi, thời gian rỗi rãi và địađiểm sản xuất

1.1.1.2 Đặc điểm

Thứ nhất, rất nhiều nghề thủ công truyền thống đã ra đời và phát triển rực

rỡ trên các miền quê thuộc đồng bằng Bắc Bộ, làng nghề thường gắn liền vớinông thôn, các làng nghề thủ công tách dần khỏi nông nghiệp nhưng không táchkhỏi nông thôn

Thứ hai, kỹ thuật công nghệ sản xuất được truyền từ đời này sang đờikhác có tính chất gia truyền Công cụ lao động trong làng nghề đa số là công cụthủ công truyền thống, thô sơ

Trang 3

Thứ ba, hình thức tổ chức sản xuất hộ gia đình, người chủ gia đìnhthường đồng thời là thợ cả mà trong số họ không ít nghệ nhân, còn những thànhviên trong hộ được huy động vào làm những việc khác nhau trong quá trình sảnxuất kinh doanh phụ thuộc vào khả năng kỹ thuật của từng người, vào giới tínhhay lứa tuổi Gia đình có thể thuê mướn lao động trong và ngoài làng Cá biệt

có những lao động ở ngoại tỉnh thường xuyên hoặc theo thời vụ, tạo thành một

số làng nghề ở vùng lân cận

Thứ tư, làng nghề thường ở các làng quê gắn liền với sản xuất nôngnghiệp nông thôn nên nguồn vốn trong dân không nhiều Hơn nữa, hệ thống tíndụng ở các vùng này hầu như chưa phát triển nên vốn đầu tư mở rộng quy môsản xuất, hiện đại hoá trong thiết bị sản xuất, tìm và nghiên cứu thị trường, tiêuthụ sản phẩm ở các làng nghề còn hạn chế

Thứ năm, các loại sản phẩm thường có một số sản phẩm mang tính nghệthuật cao Mặt khác, sản phẩm thường không phải do sản xuất hàng loạt mà cótính đơn chiếc nên có tính độc đáo và khác biệt cao Các sản phẩm của làngnghề truyền thống là sự kết tinh, sự bảo lưu và phát triển của các giá trị văn hoá,văn minh lâu đời của dân tộc

bà Lã Thị Nga - tổ nghề - truyền dạy cho dân làng Tính đến nay đã tồn tại vàphát triển khoảng 1700 năm Làng Gốm Bát Tràng có lịch sử hình thành, pháttriển đã 500 năm nay

Trang 4

LNTT ra đời và phát triển nhằm đáp ứng một nhu cầu của xã hội Ví dụnhư ở Thăng Long có làng nghề Nghĩa Đô chuyên làm giấy sắc rồng vì các triềuvua có nhu cầu viết giấy chiếu sắc, hay La Khê có nghề dệt the phục vụ cho nhucầu may mặc.

Ngày nay, sự biến động của thị trường có tác động mạnh mẽ tới các làngnghề, các LNTT phát triển theo các xu thế:

 Nhóm các làng nghề dần bị mai một do sản phẩm không đáp ứng đượcnhu cầu của thị trường hoặc nhu cầu thị trường về sản phẩm làng nghề bị hạnchế như làng Chuông, làm nón lá, làng nghề đan quạt nan, mành cọ, đan rổ rá,làng pháo Bình Đa

Nhóm này có hai xu thế có thể phát triển Thứ nhất, nếu không thể khôiphục và phát triển nghề cũ thì làng nghề có thể chuyển sang làm các nghề mới,

có đặc điểm sản xuất phù hợp với người thợ thủ công Thứ hai, có thể tìm thịtrường tiêu thụ mới, hoặc giá trị sử dụng mới cho sản phẩm làng nghề

 Nhóm các LNTT cần được bảo tồn như làng nghề đúc đồng, nghề nặn

Tò He, làng vẽ tranh dân gian…Sản phẩm không có tính hàng hoá, thị trườngnhưng mang yếu tố truyền thống văn hóa dân tộc cần phải có chính sách bảo tồn

để không bị thất truyền

 Nhóm các LNTT phát triển tốt do sản phẩm phù hợp với nhu cầu củathị trường như các làng dệt, làng nghề chế biến nông sản, làm đồ gỗ nội thất giađình, hàng mây tre đan…

Tuy nhiên, không phải cứ ngành nghề nào kém phát triển thì mọi làngnghề làm nghề đó đều bị mai một, tan rã đi, mà có thể có làng nghề sản xuấtmặt hàng đó vẫn tồn tại và có khi còn phát triển được Ví dụ như trong khi lànggốm Thổ Hà (Bắc Ninh) bị sa sút mạnh mẽ thì làng nghề Gốm Bát Tràng (HàNội) lại phát triển lan toả ra cả một vùng lân cận tạo nên xã nghề Mặt khác,những làng nghề có xu hướng phát triển tốt cũng luôn phải đối diện với nhữngkhó khăn như sự cạnh tranh khốc liệt của lụa tơ tằm Vạn Phúc với lụa tơ tằmcông nghiệp của Trung Quốc về mẫu mã cũng như chất lượng vải và các đặc

Trang 5

tính nổi trội như độ bóng, độ nhàu, độ dai… Chính vì vậy, đòi hỏi các làng nghềcần phải luôn luôn cố gắng đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng,

hạ giá thành sản phẩm, cải tiến mẫu mã để đáp ứng nhu cầu thị trường tiêu thụsản phẩm

Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sảnxuất cho ai, đều do thị trường quyết định Hay nói cách khác, là sản xuất và báncái mà người ta cần chứ không phải sản xuất và bán cái mà mình có.Vậy cáichính ở đây là sản phẩm của làng nghề phải đáp ứng được nhu cầu của thịtrường về kiểu dáng, chất lượng, giá cả thì mới có cơ hội phát triển được

1.1.2.2 Làng nghê mới

Làng nghề mới được hình thành bằng nhiều con đường, nhưng chủ yếu

do sức ép về kinh tế, đây cũng là nguyên nhân thúc đẩy sự hình thành làng nghềmới ra đời Các làng nghề mới thường có vị trí địa lý, nằm ở nơi có đất chật,người đông, chất đất hoặc khí hậu không phù hợp nên nghề nông khó có điềukiện phát triển, không đảm bảo thu nhập cho người nông dân Với tốc độ đô thịhoá như hiện nay, các làng nghề ven đô, làng ven thị trường bị mất đất sản xuất

để xây dựng các khu đô thị, nhà máy, xí nghiệp, đường giao thông và các côngtrình khác Cần phải tạo ra công ăn việc làm cho những người nông dân bị thấtnghiệp này để họ ổn định cuộc sống và không trở thành gánh nặng cho xã hội.Nghề thủ công truyền thống (TCTT) là một trong những lựa chọn phù hợp nhất

vì nghề này có nhiều công đoạn cần sử dụng nhiều lao động, thời gian đào tạo

để biết làm nghề về cơ bản là ngắn và thích hợp với mọi đối tượng, mọi lứa tuổilao động Mặt khác, đặc điểm của nghề nông là sau khi trồng trọt, chăm bón cầnmột khoảng thời gian cho cây hấp thụ tăng trưởng, đó chính là những lúc ngườinông dân rỗi rãi, nông nhàn Tận dụng thời gian này để làm nghề thủ công tăngthu nhập thì thật là thích hợp Các con đường hình thành nghề mới:

 Một số làng nghề hình thành trên cơ sở sự lan toả dần từ một sốLNTT, tạo thành một số làng nghề ở vùng lân cận LNTT

Trang 6

 Một số làng nghề gần dây mới hình thành một cách có chủ ý do chủtrương phát triển nghề phụ hay còn nói là cấy nghề mới Các nghệ nhân, thợthủ công lành nghề ở địa phương khác về dạy nghề và phổ biến kinh nghiệm sảnxuất cho dân địa phương.

 Một số làng nghề cổ truyền cũ bị mai một chuyển sang làm nghề mớinhằm tận dụng các điều kiện sẵn có và kỹ thuật tay nghề khéo léo của đội ngũthợ thủ công trong làng để bù đắp khoản thu nhập đã bị mất do nghề cũ

 Một số làng nghề hình thành từ một số cá nhân hay gia đình có những

kỹ năng và có sự sáng tạo nhất định Từ sự sáng tạo đó, quy trình sản xuất vàsản phẩm của họ không ngừng được hoàn thiện, Tiêu biểu cho hình thức này là

sự phát triển của tranh thêu Đà Lạt

Những làng nghề mới được hình thành chủ yếu là những nghề có tiềmnăng phát triển nên sản phẩm ít nhiều đã có chỗ đứng trên thị trường Tuynhiên, như ta đã biết chất lượng của sản phẩm nghề truyền thống chịu ảnhhưởng rất lớn vào tay nghề kỹ thuật của các nghệ nhân Làng nghề mới thì độingũ nghệ nhân lành nghề được đào tạo bài bản không nhiều, trong khi đó các bíquyết công nghệ kỹ thuật ở các LNTT thường được truyền từ đời này sang đờikhác có tính chất gia truyền Do đó, sản phẩm của các làng nghề mới sản xuất rathường không tinh tế bằng sản phẩm của làng nghề gốc làm ra, dẫn đến giá trịsản phẩm trên thị trường cũng thấp hơn hẳn

1.1.3 Các tiêu chí xác định làng nghề

Khái niệm về tiêu chí: Tiêu chí là một thuật ngữ khoa học xuất hiện vàđược sử dụng nhiều trong khoảng 30 năm nay Tiêu chí là đặt ra những điềukiện cần và đủ làm cơ sở xem xét sự vật

Xây dựng tiêu chí làng nghề là tìm ra những điều kiện cần, những cơ sởchuẩn mực để từ đó xem xét đánh giá một làng nghề

Cơ sở khoa học và thực tiễn để xác định tiêu chí làng nghề là dựa trênnhững thành tố cơ bản để liên kết bên trong ở các làng nghề, đồng thời dựa vàođặc điểm các làng nghề CN-TTCN, cho phép chúng ta nhận thấy rằng trong các

Trang 7

làng nghề gồm sáu thành tố gắn kết chặt chẽ với nhau để tạo thành những tiềmnăng vững chắc cho sự phát triển mỗi làng nghề.

Một là, biên độ dao động số hộ làm nghề TTCN các làng nghề trên chiếm60%-80% số hộ trong làng

Hai là, biên độ dao động số hộ làm một nghề chính ở làng chiếm từ 90% so với tổng số hộ làm nghề TTCN Tên của làng nghề được gọi bằng chínhtên của nghề chính đó

65%-Ba là, có ý kiến cho rằng cần xem xét tỷ trọng giá trị doanh thu củaTTCN trong tổng doanh thu của làng trong năm, coi đó là một tiêu chuẩn xemxét công nhận một làng nghề Thực tiễn cho thấy, xác định tỷ trọng TTCN ởlàng trong tổng giá trị kinhh tế trong một năm là rất khó, bởi lẽ sản phẩm củalàng nghề luôn luôn biến động theo mùa vụ, những con số đưa ra chỉ là ướctính

Bốn là, ở những LNTT, những người cùng làm nghề có mối quan hệ gắnkết chặt chẽ với nhau trong tình cảm cộng đồng, làng xóm Một số làng xã đã tổchức ra hội ngành nghề giữ vai trò liên kết những người làm nghề dịch vụ liênquan đến nghề, làng nghề Đồng thời quy tụ những người cùng nghề, tổ chứcsinh hoạt văn hoá nghề ở nhà thờ tổ, hoặc đình làng, đền

Năm là, thực tiễn cho thấy ở các làng nghề, quá trình lao động, làm ra sảnphẩm, lực lượng lao động đã tự phân công thành các lớp thợ với trình độ taynghề khác nhau Lớp thợ giỏi được người thợ tôn vinh là thợ cả, có nơi tôn vinh

là nghệ nhân Dưới thời bao cấp, nhà nước đã phong tặng một số các nghệ nhândanh hiệu “bàn tay vàng” Số thợ giỏi của các làng nghề chiếm từ 5%-20% laođộng chính Số thợ cả, nghệ nhân ở các làng nghề đóng vai trò rất quan trọngtrong việc bảo lưu yếu tố truyền thống cũng như cách thức đẩy nghề phát triển,

họ cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm Từ thực tiễn lao động, tự họgây được uy tín đối với người làng, góp phần truyền nghề cho lớp trẻ, giữ gìn sựđoàn kết, tham gia điều hành các vấn đề KT-XH ở làng, uy tín của một làng

Trang 8

nghề gắn với vai trò, trách nhiệm của lớp thợ và các nghệ nhân dày dặn kinhnghiệm, tinh thông nghề nghiệp.

Từ việc phân tích các thành tố gắn kết trong làng nghề đã giúp chúng tatìm ra một mẫu số chung định hình khá rõ ở các làng nghề điển hình Từ đó,chúng ta có thể có được những tiêu chí xác định về một làng nghề như sau:

- Số hộ và số lao động làm nghề TTCN ở làng đạt từ 50% trở lên so với số

hộ và lao động của làng

- Số hộ làm nghề chính ở làng chiếm tỷ lệ trên 50% tổng thu nhập của làngtrở lên so với hộ làm nghề TTCN và nghề chính ấy là tên gọi của làngnghề

- Có tỷ trọng giá trị thu nhập TTCN ở làng đạt trên 50% trong một năm laodộng

- Có tổ chức điều phối các hoạt động KT –XH ở làng nghề, phường hội,HTX, câu lạc bộ, ban quản lý mang tính tự quản do người trong làng bầu

Về tiêu chí nghề truyền thống, LNTT thì cho đến nay chưa có những tiêuchí được quy định một cách chính thức để xác định thế nào là nghề truyềnthống, LNTT, song cách hiểu phổ biến hiện nay là:

Trang 9

 Nghề truyền thống: bao gồm những nghề tiểu thủ công có từ trước thờiPháp thuộc, còn đến nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng máymóc hiện đại trong sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống.

 LNTT: là những làng có 50 hộ hoặc có từ 1/3 số hộ hoặc lao độngcùng làm một nghề truyền thống

 Xã nghề truyền thống: là một xã mà ở đó không chỉ có một làng mà cónhiều làng cùng làm một nghề truyền thống

 Phố nghề truyền thống: là những LNTT được đô thị hoá hoặc do nhiềulao động từ LNTT ra đô thị lập nghiệp tập trung lại thành phố nghề Xã nghềtruyền thống, phố nghề truyền thống thường được gọi chung là LNTT

LNTT là một vấn đề lớn, cần nghiên cứu để có các chủ trương, chínhsách thích hợp, thúc đẩy hình thành các làng nghề phù hợp với tính chất củangành nghề thủ công và tập quán của nhân dân ta

Từ những phân tích ở trên có thể hiểu rằng, ngành nghề truyền thống lànhững ngành nghề TTCN đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế củanước ta còn tồn tại đến ngày nay Bao gồm cả ngành nghề mà phương pháp sảnxuất được cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuấtnhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống

Do sự phát triển của khoa học công nghệ nên nhiều sản phẩm mới ra đời

ưu thế hơn những sản phẩm truyền thống Vì thế mà ngành nghề truyền thốngdần dần bị mất đi, và một số ngành nghề mới xuất hiện để phù hợp với sự đòihỏi khách quan của thị trường về cơ cấu, chất lượng, chủng loại sản phẩm

Đối với những nghề được xếp vào ngành nghề TCTT cần phải có nhữngyếu tố sau:

- Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta

- Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề

- Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề

- Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam

- Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, chủ yếu là trong nước

Trang 10

- Sản phẩm làm ra mang tính chất truyền thống độc đáo, bản sắc của ViệtNam.

- Là nghề nuôi sống bộ phận dân cư, cộng đồng, đóng góp đáng kể vàongân sách nhà nước

Có thể phân chia ngành nghề truyền thống ở nông thôn thành ba nhóm chính:

- Nhóm một: Chế biến nông lâm, thủy sản

- Nhóm hai: CN-TTCN & XD

- Nhóm ba: Dịch vụ

1.2 Vai trò của LNTT trong quá trình CNH, HĐH nông thôn

Vai trò của LNTT là một trong những vấn đề có tính thời sự cấp báchđang đặt ra hiện nay ở nông thôn nước ta Nông thôn Việt Nam với dân sốchiếm 73.2% dân số cả nước, nơi đây chiếm 56.8% lao động của cả nước Vànông thôn cũng chính là nơi có tỷ lệ nghèo đói chiếm phần lớn số người nghèocủa cả nước Một số vai trò của LNTT như sau:

1.2.1 Khôi phục và phát triển LNTT đã thu hút nhân lực, tạo thêm nhiều việc

làm cho người lao động, thúc đẩy quá trình phân công lao động ở nôngthôn

Giải quyết việc làm cho lao động là vấn đề bức xúc số một hiện nay, bởidân số và lao động gia tăng nhanh, diện tích đất canh tác trên đầu người thấp vàngày càng thu hẹp, khả năng thu hút lao động hiện rất thấp, tỷ lệ thất nghiệp vàbán thất nghiệp cao

Bảng 1: Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nôngthôn

Trang 11

Nguồn: TCTK.

Trong thời gian qua, ngoài kết quả tích cực nổi bật về mặt sử dụng sốlượng lao động ở thành thị: tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độtuổi khu vực thành thị đã liên tục giảm xuống thì chúng ta đã đạt được một sốkết quả tích cực khác về mặt sử dụng số lượng lao động và tỷ lệ sử dụng thờigian lao động trong tuổi lao động ở nông thôn đã liên tục tăng lên

Kết quả này càng có ý nghĩa khi đạt được trong điều kiện dân số và sốngười đến tuổi lao động thời gian qua vẫn còn rất lớn Mặc dù tốc độ tăng dân

số giảm từ 1.86% năm 1991 xuống còn 1.65% năm 1995, còn 1.36% (2000),1.33% (2005), nhưng quy mô dân số năm 2005 đã lên tới 83.127 nghìn người,tăng 15.879,3 nghìn người so với năm 1991 Bình quân một năm tăng 1.058,6nghìn người Số người đến tuổi lao động hàng năm vẫn còn rất lớn, lên đến trên

1 triệu người, tạo ra sức ép lớn về giải quyết việc làm, lao động

Như vậy, giải quyết việc làm cho số lao động đang thất nghiệp, thiếu việclàm, lao động đến tuổi lao động… là vấn đề bức xúc đang được đặt ra Đặc biệt,khu vực nông thôn với gần 75% dân số và với tỷ lệ thất nghiệp xấp xỉ 20%, thìvai trò của các làng nghề đống góp vào việc giải quyết việc làm cho người laođộng là rất quan trọng Bởi trong các ngành nghề TCTT, lao động sống thườngchiếm tỷ lệ tới 60%-65% giá thành sản phẩm, nên việc phát triển các làng nghề

sẽ phù hợp với yêu cầu giải quyết việc làm cho người lao động đang ngày càng

dư thừa một cách nhanh chóng ở nông thôn Sự phát triển làng nghề khôngnhững chỉ thu hút lao động dư thừa ở gia đình mình, làng xã mình, mà còn cóthể thu hút được nhiều lao động từ các địa phương khác đến làm thuê Khôngnhững thế, sự phát triển các làng nghề còn kéo theo sự phát triển của nhiềungành nghề dịch vụ khác, tạo được nhiều việc làm cho người lao động

Phát triển ngành nghề truyền thống ở nông thôn trong những năm quakhông những đã góp phần tăng trưởng, tạo ra khối lượng hàng hoá đa dạng,phong phú phục vụ người tiêu dùng và xuất khẩu, mà còn thu hút nhân lực, giảiquyết việc làm cho người lao động, thúc đẩy phân công lao động Giảm tỷ trọng

Ngày đăng: 08/10/2013, 07:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn. - Vai trò của công làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá
Bảng 1 Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w