1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH Ở CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

36 558 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Chung Về Công Tác Kế Toán Tài Sản Cố Định Ở Các Doanh Nghiệp Sản Xuất
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Báo cáo tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 43,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là những tư liệu lao động TLLĐ chủ yếu được sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp trong quá trình sản xuất kinh doanh như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng, các công t

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH Ở CÁC

DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

I Đặc điểm, vai trò và yêu cầu quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp.

1.Khái niệm và đặc điểm TSCĐ

1.1.Khái niệm :

Một bộ phận tư liệu lao động sản xuất giữ vai trò chủ yếu trong quá trình sản xuất, được coi là cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đó là các TSCĐ

Là những tư liệu lao động (TLLĐ) chủ yếu được sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp trong quá trình sản xuất kinh doanh như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng, các công trình kiến trúc, các khoản chi phí đầu tư mua sắm các TSCĐ vô hình trong quá trình đó mặc dù TSCĐ bị hao mòn nhưng nó vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu Thông thường, khi TSCĐ bị hỏng thì được sửa chữa khôi phục để kịp thời sản xuất, chỉ khi nào nó

đã bị hao mòn hư hỏng hoàn toàn hoặc xét thấy không có lợi về mặt kinh tế thì

nó sẽ được đem đi thanh lý hoặc nhượng bán.

Theo quy định mới nhất số: 166 TC/QĐ/CSTC của Bộ tài chính mọi TLLĐ

là từng tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời cả hai tiêu chuẩn dưới đây :

+ Phải có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên

+Có giá trị từ 5.000.000đồng (năm triệu đồng) trở lên

thì được coi là TSCĐ.

Trang 2

Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó mà do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó được coi là một TSCĐ hữu hình độc lập.

Những TLLĐ không đủ các tiêu chuẩn trên được coi là công cụ lao động nhỏ, được tính toán và phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp

I.2 Đặc điểm TSCĐ

TSCĐ có những đặc điểm riêng biệt như thời gian sử dụng lâu dài, tham gia nhiều chu kỳ sản xuất, vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu nhưng giá trị sử dụng giảm dần cho đến khi hư hỏng phải loại bỏ Về mặt giá trị : TSCĐ được biểu hiện dưới hai hình thái :

+Một bộ phận giá trị tồn tại dưới hình thái ban đầu gắn với hiện vật TSCĐ +Một bộ phận giá trị TSCĐ chuyển vào sản phẩm và bộ phận này sẽ chuyển hoá thành tiền khi bán được sản phẩm.

Bộ phận thứ nhất ngày càng giảm, bộ phận thứ hai ngày càng tăng cho đến khi bằng giá trị ban đầu của TSCĐ khi kết thúc quá trình vận động của vốn Như vậy khi tham gia vào quá trình sản xuất nhìn chung TSCĐ không bị thay đổi hình thái hiện vật nhưng tính năng công suất giảm dần tức là nó bị hao mòn và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng thì giá trị nó cũng giảm đi

Bộ phận giá trị hao mòn đó chuyển vào giá trị sản phẩm mà nó sản xuất ra gọi

là trích khấu hao cơ bản, khi TSCĐ tiêu thụ thì phần khấu hao đó chuyển thành vốn tiền tệ Theo định kỳ vốn này được tích luỹ lại thành nguồn vốn XDCB để tái sản xuất TSCĐ khi cần thiết.

2.Vai trò và yêu cầu quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp

2.1.Vai trò TSCĐ trong doanh nghiệp:

Trang 3

Trong lịch sử phát triển nhân loại, các cuộc đại cách mạng công nghiệp đều tập trung vào giải quyết các vấn đề về cơ khí hoá, điện khí hóa,

tự động hoá của quá trình sản xuất mà thực chất là đổi mới về cơ sở vật chất kỹ thuật của quá trình sản xuất Yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển ở các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là uy tín chất lượng sản phẩm của mình đưa ra thị trường nhưng đó chỉ là biểu hiện bên ngoài còn thực chất bên trong là các máy móc thiết bị, quy trình công nghệ sản xuất chế biến có đáp ứng được yêu cầu sản xuất hay không, đó là TSCĐ

là điều kiện quan trọng để tăng năng suất lao động xã hội và phát triển nền kinh tế quốc dân Nó thể hiện một cách chính xác nhất năng lực và trình độ trang bị cơ sở vật chất của mỗi doanh nghiệp Các TSCĐ được cải thiện đổi mới và sử dụng có hiệu quả sẽ là một trong những yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.

2.2.Yêu cầu quản lý TSCĐ

Xuất phát từ đặc điểm trên, TSCĐ phải được quản lý chặt chẽ cả về hiện vật và giá trị:

- Phải quản lý TSCĐ như là yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh góp phần tạo năng lực sản xuất cho đơn vị do đó kế toán phải cung cấp thông tin

về số lượng tài sản hiện có tại đơn vị, tình hình biến động tăng giảm của TSCĐ trong đơn vị

- Cung cấp thông tin về các loại vốn đã đầu tư cho tài sản và chi tiết vốn đầu tư cho chủ sở hữu, phải biết được nhu cầu vốn cần thiết để đầu tư mới cũng như để sửa chữa TSCĐ

- Phải quản lý chặt chẽ tình hình hao mòn tức là phải tính đúng, tính đủ mức khấu hao tích luỹ từng thời kỳ kinh doanh theo mục đích: thu hồi được vốn đầu tư hợp lý, khoa học để đảm bảo khả năng bù đắp được chi phí và phục

vụ cho việc tái đầu tư TSCĐ

Trang 4

- Quản lý TSCĐ còn là bảo vệ tài sản cho doanh nghiệp không những đảm bảo cho TSCĐ “sống” mà là “sống có ích” cho doanh nghiệp đồng thời phải xác định giá trị còn lại của TSCĐ để giúp cho công tác đánh giá hiện trạng TSCĐ để có phương hướng đầu tư đổi mới TSCĐ.

Trang 5

2.3.Nhiệm vụ hạch toán TSCĐ trong doanh nghiệp:

Để đáp ứng yêu cầu quản lý, kế toán TSCĐ cần thực hiện tốt các nhiệm

vụ sau:

- Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu một cách chính xác, đầy đủ

về số lượng, hiện trạng và giá trị TSCĐ hiện có, tình hình tăng giảm và di chuyển TSCĐ trong nội bộ doanh nghiệp, việc hình thành và thu hồi các khoản đầu tư, bảo quản và sử dụng TSCĐ ở doanh nghiệp

- Phản ánh kịp thời giá trị hao mòn TSCĐ trong quá trình sử dụng, tình hình trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn, tính toán phân bổ hoặc kết chuyển chính xác số khấu hao và các khoản dự phòng vào chi phí sản xuất kinh doanh

- Tham gia lập kế hoạch sửa chữa và dự toán chi phí sửa chữa TSCĐ phản ánh chính xác chi phí thực tế về sửa chữa TSCĐ

-Tham gia kiểm kê , kiểm tra định kỳ hay bất thường TSCĐ, đầu tư dài hạn trong đơn vị , tham gia đánh giá lại tài sản khi cần thiết, tổ chức phân tích tình hình bảo quản và sử dụng TSCĐ trong đơn vị

II.Phân loại và đánh giá TSCĐ

1.Phân loại TSCĐ

Phục vụ cho sản xuất kinh doanh, TSCĐ trong doanh nghiệp có nhiều loại, có đặc điểm khác nhau về tính năng kỹ thuật, kiểu cách, công dụng Để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán TSCĐ cần sắp xếp TSCĐ vào từng Nhóm theo đặc trưng nhất định, tuỳ theo mục đích quản lý và yêu cầu kế toán

mà chọn những tiêu thức phân loại khác nhau

1.1.Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện kết hợp với đặc trưng kỹ thuật.

1.1.1.TSCĐ hữu hình: là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể gồm các

loạị

Trang 6

Nhà cửa, vật kiến trúc: là TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành sau quá trình thi công xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, đường xá, cầu cống, đường sắt

- Máy móc, thiết bị : là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây chuyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ

- Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải gồm phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường ống và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện

- Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị , dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính phục vụ quản lý, thiết bị điện, thiết bị dụng cụ đo lường

- Vườn cây lâu năm , súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm: là các vườn cây lâu năm, vườn cà phê , vườn chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả, thảm cây xanh, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm như đàn ngựa , voi, bò

- Các TSCĐ khác : là toàn bộ các tài sản khác chưa liệt kê vào các loại trên.

1.1.2.TSCĐ vô hình : là những TSCĐ không có hình thái vật chất , thể hiện

một lượng giá trị đã được đầu tư liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp và được phân loại như sau:

- Quyền sử dụng đất: là giá trị đất, mặt nước, mặt biển hình thành do phải bỏ chi phí để mua, đền bù, san lấp, cải tạo nhằm mục đích có được mặt bằng SXKD.

-Chi phí thành lập doanh nghiệp: là các chi phí phát sinh để thành lập doanh nghiệp như chi phí thăm dò, lập dự án đầu tư, chi phí huy động vốn ban đầu

Trang 7

-Bằng phát minh sáng chế: các chi phí doanh nghiệp phải trả cho các công trình nghiên cứu, sản xuất thử được nhà nước cấp bằng phát minh, sáng chế hoặc số tiền doanh nghiệp mua lại bản quyền bằng sáng chế, phát minh.

- Chi phí nghiên cứu , phát triển: là các chi phí doanh nghiệp tự thực hiện hoặc thuê ngoài thực hiện các công trình có quy mô lớn về nghiên cứu, phát triển lâu dài cho doanh nghiệp.

-Lợi thế thương mại: là các chi phí tính thêm ngoài giá trị các TSCĐ hữu hình gắn liền do có thuận lợi về vị trí thương mại, sự tín nhiệm với bạn hàng hoặc danh tiếng của doanh nghiệp.

-TSCĐ khác : bao gồm các loại TSCĐ vô hình khác chưa được quy định phản ánh ở trên như : quyền đặc nhượng, quyền thuê nhà, bản quyền tác giả, quyền sử dụng hợp đồng, độc quyền nhãn hiệu hoặc tên hiệu

Cách phân loại này giúp doanh nghiệp có các biện pháp quản lý tài sản , phương pháp khấu hao và tính toán khấu hoa khoa học, hợp lý đối với từng loại, nhóm TSCĐ Ngoài ra còn giúp cho người quản lý có một cái nhìn tổng thể

về cơ cấu đầu tư của doanh nghiệp để có các quyết định đầu tư phù hợp tình hình thực tế.

1.2.Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu:

-TSCĐ tự có là các TSCĐ được xây dựng, mua sắm và hình thành từ nguồn vốn ngân sách cấp hoặc cấp trên cấp, nguồn vốn vay, nguồn vốn liên doanh, các quỹ của doanh nghiệp và các TSCĐ được biếu tặng Đây là những TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và được phản ánh trên Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.

-TSCĐ thuê ngoài là TSCĐ đi thuê để sử dụng trong một thời gian nhất định theo hợp đồng thuê tài sản Tuỳ theo điều khoản của hợp đồng thuê mà TSCĐ đi thuê được chia thành TSCĐ thuê tài chính và TSCĐ thuê hoạt động

+TSCĐ thuê tài chính: là các TSCĐ đi thuê nhưng doanh nghiệp có quyền kiểm soát và sử dụng lâu dài theo các điều khoản của hợp đồng thuê Theo

Trang 8

thông lệ Quốc tế, các TSCĐ được gọi là thuê tài chính nếu thoả mãn một trong các điều kiện sau đây:

sử dụng và trích khấu hao như các TSCĐ tự có của doanh nghiệp.

+TSCĐ thuê hoạt động: là TSCĐ thuê không thoả mãn bất cứ điều khoản nào của hợp đồng thuê tài chính Bên đi thuê chỉ được quản lý, sử dụng trong thời hạn hợp đồng và phải hoàn trả cho bên cho thuê khi kết thúc hợp đồng.

Ngoài các cách phân loại nói trên, trong kế toán quản trị còn có các cách

phân loại TSCĐ khác nhằm đáp ứng các yêu cầu quản trị cụ thể của doanh nghiệp như phân loại TSCĐ theo công dụng kinh tế, phân loại TSCD theo tình hình sử dụng.

2.Đánh giá TSCĐ

Đánh giá TSCĐ là việc xác định giá trị ghi sổ của TSCĐ tại từng thời điểm nhất định Xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu quản lý TSCĐ trong quá trình sử dụng, TSCĐ được đánh giá theo nguyên giá, giá trị hao mòn, giá trị còn lại

2.1.Nguyên giá TSCĐ

Trang 9

Nguyên giá TSCĐ (còn gọi là giá trị ghi sổ ban đầu) là toàn bộ các chi phí bình thường và hợp lý mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có tài sản đó và đưa TSCĐ đó vào quá trình hoạt động.

Như vậy, nguyên giá TSCĐ được đánh giá theo nguyên tắc giá phí (mua hoặc tự sản xuất), bao gồm toàn bộ các chi phí liên quan đến mua hoặc xây dựng, chế tạo, kể cả các chi phí vận chuyển lắp đặt, chạy thử và các chi phí hợp

lý, cần thiết khác trước khi sử dụng, cụ thể là:

Nguyên giá = Giá mua + Thuế nhập khẩu (nếu có) + Chi phí vận chuyển, lắp đặt , chạy thử trước khi sử dụng - Số tiền giảm giá (nếu có)

Các chi phí sau đây thường không được tính vào nguyên giá TSCĐ (trừ phí có liên quan trực tiếp đến việc đưa TSCĐ vào sử dụng):

-Chi phí khởi công

-Chi phí chung và chi phí hành chính

Trong trường hợp mua TSCĐ thanh toán chậm, có phát sinh lãi về tín dụng (như trường hợp thuê mua TSCĐ ), nguyên tắc xác định nguyên giá TSCĐ

là giá trị hiện tại hoá còn phần chênh lệch (tiền lãi tín dụng) được tính vào chi phí trả trước trong suốt thời hạn tín dụng Tuy vậy, chuẩn mực kế toán Quốc tế

23 cho phép vốn hoá lãi tín dụng vào giá phí TSCĐ

-Trường hợp TSCĐ do doanh nghiệp tự xây dựng, chế tạo để sử dụng : Nguyên giá TSCĐ cũng được xác định theo những nguyên tắc giống như trường hợp xác định nguyên giá của TSCĐ được mua sắm bao gồm toàn bộ các chi phí liên quan đến sản xuất, xây dựng hay chế tạo tài sản đó Tiền lãi trên các khoản vay dùng vào đầu tư TSCĐ cũng có thể được tính vào nguyên giá (chuẩn mực 23).

Nguyên giá TSCĐ nhận góp liên doanh, liên kết : là giá trị thoả thuận giữa các bên liên doanh cộng (+) với chi phí vận chuyển, lắp đặt, chạy thử (nếu có) Nguyên giá TSCĐ được cấp là giá ghi trong “Biên bản bàn giao TSCĐ” của đơn vị cấp và các chi phí lắp đặt, chạy thử (nếu có)

Trang 10

-Nguyên giá TSCĐ được biếu tặng, viện trợ : là giá được tính toán trên cơ

sở giá thị trường của TSCĐ đó hoặc TSCĐ tương đương

Kế toán TSCĐ phải triệt để tôn trọng nguyên tắc ghi theo nguyên giá Nguyên giá của từng đối tượng TSCĐ trên sổ và báo cáo kế toán chỉ được xác định một lần khi tăng TSCĐ và không thay đổi trong suốt thời gian tồn tại của TSCĐ ở doanh nghiệp, trừ các trường hợp sau :

+ Đánh giá lại TSCĐ

+ Xây dựng, trang bị thêm TSCĐ

+ Cải tạo, nâng cấp làm tăng năng lực hoạt động và kéo dài tuổi thọ của TSCĐ

+ Tháo dỡ bớt các bộ phận làm giảm nguyên giá TSCĐ

Trang 11

2.2.Đánh giá theo giá trị đã hao mòn

Trong quá trình sử dụng và bảo quản TSCĐ bị hao mòn do đó hao mòn TSCĐ là một tất yếu khách quan trong quá trình sử dụng, nó làm giảm giá trị

và giá trị sử dụng TSCĐ Phần giá trị của TSCĐ tương ứng với mức hao mòn

đó được tính như một khoản chi phí và được ghi nhận vào giá thành sản phẩm, chi phí kinh doanh để thu hồi lại vốn đầu tư ban đầu Quá trình ghi nhận giá trị giảm dần đó của TSCĐ trong mỗi năm sử dụng được gọi là khấu hao TSCĐ Sau khi sản phẩm, hàng hoá được tiêu thụ số tiền khấu hao được trích lại và tích luỹ thành quỹ khấu hao TSCĐ

*Các phương pháp khấu hao TSCĐ

Có nhiều phương pháp khấu hao TSCĐ được áp dụng rộng rãi và phổ biến trên thế giới, đặc biệt ở các nước có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt nam hiện nay chủ yếu áp dụng một phương pháp - phương pháp khấu hao bình quân (phương pháp khấu hao tuyến tính )

Phương pháp này là bắt buộc đối với các doanh nghiệp nhà nước theo Quyết định 166 BT- BTC ban hành ngày 30/12/1999 thay cho Quyết định 1062 ban hành ngày 14/11/1996.

-Phương pháp khấu hao(KH) tuyến tính

KH bình quân năm = nguyên giá TSCĐ tỷ lệ khấu hao

Trang 12

khấu hao nữa) vì thế số khấu hao giữa các tháng chỉ khác nhau có sự biến động về tăng giảm TSCĐ

Số KHTSCĐ phải trích tháng này = Số KHTSCĐ đã trích tháng trước + Số KHTSCĐ tăng trong tháng này - Số KHTSCĐ giảm trong tháng này

Ngoài cách tính KH theo thời gian như trên thì nước ta còn tính KHTSCĐ theo sản lượng Công thức tính:

Mức KHTSCĐ phải trích trong tháng = Sản lượng thực tế mức KH bình quân

trên 1 đơn vị sản lượng Mức KH bình quân (Nguyên giá - Giá trị tận dụng (nếu có))

trên 1 đơn vị sản lượng Sản lượng tính theo công suất thiết kế (ước tính) -Phương pháp KH nhanh theo số dư giảm dần (phương pháp KH theo giá trị ghi sổ còn lại)

Tỷ lệ KH nhanh = 2 tỷ lệ KH trung bình

Mức KHTSCĐ phải tính hàng năm = tỷ lệ KH nhanh giá trị ghi sổ còn lại của

TSCĐ -Phương pháp KH nhanh theo tổng các số năm : Theo phương pháp này năm hữu dụng của TSCĐ được cộng lại với nhau tổng của chúng trở thành mẫu số của dãy các tỷ số được dùng để phân bổ tổng mức KH cho các năm trong thời gian hữu dụng của TSCĐ Tử số của các tỷ số này là số thứ tự của năm hữu dụng của TSCĐ theo thứ tự ngược lại :

Tổng dãy số tự nhiên của năm hữu dụng TSCĐ = n(n+1) / 2

2.3.Đánh giá theo giá trị còn lại của TSCĐ

Giá trị còn lại (còn gọi là giá trị kế toán) của TSCĐ là hiệu số giữa nguyên giá TSCĐ và số khấu hao luỹ kế

Giá trị còn lại = Nguyên giá - Khấu hao luỹ kế

Trường hợp nguyên giá TSCĐ được đánh giá lại thì giá trị còn lại của TSCĐ cũng được xác định lại.

Trang 13

Thông thường, giá trị còn lại của TSCĐ sau khi đánh giá lại được điều chỉnh theo công thức:

Giá trị còn lại của Giá trị còn lại Giá trị đánh giá lại của TSCĐ TSCĐ sau khi của TSCĐ

đánh giá lại đánh giá lại Nguyên giá của TSCĐ

Ngoài phương pháp chuẩn nói trên, ở chuẩn mực 16 còn quy định phương pháp thay thế được chấp nhận:

Giá trị còn lại = Giá trị đánh giá lại - Khấu hao luỹ kế

III Kế toán TSCĐ tại các doanh nghiệp theo chế độ hiện hành.

1.Kế toán chi tiết TSCĐ:

Kế toán chi tiết TSCĐ là công việc không thể thiếu được trong quản lý TSCĐ ở doanh nghiệp TSCĐ là cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp, do đó cần phải quản lý chặt chẽ và phát huy được hiệu quả cao nhất trong quá trình sử dụng TSCĐ, vì vậy trong công tác quản lý cần phải thực hiện các yêu cầu sau:

-Nắm chắc được toàn bộ TSCĐ hiện có đang sử dụng ở doanh nghiệp cả

về hiện vật và giá trị

-Nắm được tình hình sử dụng TSCĐ trong bộ phận của doanh nghiệp

Tổ chức công tác kế toán chi tiết TSCĐ trong DN bao gồm các công việc đánh số hiệu TSCĐ và thực hiện kế toán chi tiết TSCĐ ở bộ phận kế toán các địa điểm

sử dụng

1.Đánh số: là quy định cho mỗi TSCĐ số hiệu tương ứng theo những nguyên

tắc nhất định Nhờ có đánh số TSCĐ mà thống nhất được giữa các bộ phận liên quan trong việc theo dõi và quản lý sử dụng TSCĐ theo các chỉ tiêu quản lý tiện cho tra cứu khi cần thiết cũng như tăng cường trách nhiệm vật chất của các đơn vị và cá nhân trong khi bảo quản và sử dụng TSCĐ.

Trong thực tế có nhiều cách quy định đánh số hiệu TSCĐ :

Trang 14

-Có thể dùng chữ số la mã, chữ số ký hiệu loại, chữ cái làm ký hiệu nhóm

và kèm theo một số thứ tự để chỉ đối tượng TSCĐ.

-Mỗi loại TSCĐ được dành riêng một dãy chữ số nhất định trong dãy số

Đối với chứng từ bắt buộc như: “Biên bản giao nhận TSCĐ”, “Thẻ TSCĐ”,

“Biên bản đánh giá lại TSCĐ”, nhà nước hướng dẫn các chỉ tiêu đặc trưng , DN trên cơ sở đó vận dụng vào từng trường hợp cụ thể thích hợp.

*Sổ kế toán :

Các DN tuỳ theo hình thức kế toán áp dụng để mở ra các sổ kế toán cần thiết Nhưng việc tổ chức sổ kế toán phải đảm bảo nguyên tắc với các sổ tổng hợp kế toán TSCĐ phải mở đúng mẫu của Bộ tài chính quy định Còn sổ chi tiết TSCĐ tuỳ theo yêu cầu quản lý hạch toán của DN để thiết kế mẫu sổ cho phù hợp nhưng phải đảm bảo những nội dung cơ bản theo quy định.

*Nội dung kế toán chi tiết:

Bộ phận kế toán căn cứ và chứng từ mở thẻ TSCĐ, thẻ TSCĐ được mở cho từng đối tượng ghi TSCĐ để theo dõi chi tiết từng TSCĐ của đơn vị, tình hình thay đổi nguyên giá và giá trị hao mòn đã trích từng năm của TSCĐ

Đồng thời để quản lý chi tiết từng TSCĐ riêng biệt, cũng như từng bộ phận sử dụng và người chịu trách nhiệm vật chất, kế toán còn mở hệ thống kế toán sổ chi tiết gồm “sổ TSCĐ” dùng để theo dõi toàn bộ TSCĐ trong từng DN

và sổ TSCĐ theo dõi đơn vị sử dụng.

Trang 15

2 Kế toán tổng hợp tình hình biến động TSCĐ

2.1.Hạch toán biến động TSCĐ hữu hình

2.1.1.Hạch toán tình hình biến động tăng TSCĐ hữu hình:

TSCĐ hữu hình của doanh nghiệp tăng do rất nhiều nguyên nhân như tăng do mua sắm, xây dựng, cấp phát Kế toán cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để ghi sổ cho phù hợp Đối với các doanh nghiệp tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ, các nghiệp vụ tăng TSCĐ được hạch toán như sau (với doanh nghiệp tính thuế VAT theo phương pháp trực tiếp, cách hạch toán tương

tự , chỉ khác số thuế VAT đầu vào không tách riêng mà hạch toán vào nguyên giá TSCĐ):

a, Tăng do mua ngoài không qua lắp đặt :

Kế toán phản ánh các bút toán:

+ Ghi tăng nguyên giá TSCĐ:

Nợ TK211: Nguyên giá TSCĐ

Nợ TK133(1332) : Thuế VAT được khấu trừ

Có TK331 : Tổng số tiền chưa trả người bán

Có TK341,111,112 : Thanh toán ngay (kể cả phí tổn mới )

+ Kết chuyển tăng nguồn vốn tương ứng (trường hợp đầu tư bằng vốn chủ sở hữu)

Nợ TK414(4141) : Nếu dùng quỹ đầu tư phát triển

Nợ TK431(4312) : Nếu dùng quỹ phúc lợi để đầu tư

Nợ TK441 : Đầu tư bằng vốn XDCB

Có TK411: Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động kinh doanh

Có TK431(4313) : Nếu dùng cho hoạt động phúc lợi

Nếu đầu tư bằng vốn khấu hao cơ bản thì ghi :

Có TK009

Trang 16

Nếu đầu tư bằng nguồn vốn kinh doanh khác thì không phải kết chuyển nguồn vốn.

b,Trường hợp mua sắm phải thông qua lắp đặt trong thời gian dài :

Kế toán phải tiến hành tập hợp chi phí mua sắm, lắp đặt theo từng đối tượng Khi hoàn thành, bàn giao mới ghi tăng nguyên giá TSCĐ và kết chuyển nguồn vốn :

+ Tập hợp chi phí mua sắm, lắp đặt (Giá mua, chi phí lắp đặt, chạy thử và các chi phí khác trước khi dùng):

Nợ TK241(2411) : Tập hợp chi phí thực tế

Nợ TK 133 :Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ

Có TK331,341,111,112

+ Khi hoàn thành, nghiệm thu, đưa vào sử dụng:

Ghi tăng nguyên giá TSCĐ:

Nợ TK211(Chi tiết từng loại)

Có TK241(2411)

Kết chuyển nguồn vốn (Đầu tư bằng vốn chủ sở hữu)

Nợ TK4141,441,4312

Có TK411(hoặc 4313)

c, Trường hợp tăng do xây dựng cơ bản bàn giao:

Chi phí đầu tư XDCB được tập hợp riêng trên TK 241(2412), chi tiết theo từng công trình Khi hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng phải ghi tăng nguyên giá và kết chuyển nguồn vốn giống như tăng TSCĐ do mua sắm phải qua lắp đặt

d, Trường hợp tăng do nhận vốn góp liên doanh :

Căn cứ vào giá trị vốn góp do hai bên thoả thuận, kế toán ghi tăng vốn góp và nguyên giá TSCĐ

Nợ TK211 : Nguyên giá

Có TK411(chi tiết vốn liên doanh) : Giá trị vốn góp

Trang 17

e, Trường hợp nhận lại vốn góp liên doanh:

Căn cứ vào giá trị còn lại được xác định tại thời điểm nhận, kế toán ghi các bút toán:

+ Phản ánh nguyên giá TSCĐ nhận về

Nợ TK211 : Nguyên giá (Theo giá trị còn lại )

Có TK128,222 : Nhận lại vốn góp liên doanh ngắn hạn, dài hạn +Chênh lệch giữa giá trị vốn góp với giá trị còn lại (Nếu hết hạn liên doanh hoặc rút hết vốn không tham gia nữa vì liên doanh không hấp dẫn)

Nợ TK111,112,152,1388

Có TK222,128

g, Trường hợp tăng do chuyển từ công cụ, dụng cụ thành TSCĐ

Nếu công cụ, dụng cụ còn mới, chưa sử dụng

Nợ TK211 : Nguyên giá (giá thực tế)

Trang 18

Căn cứ vào nguyên nhân thừa cụ thể để ghi sổ cho phù hợp theo một trong các trường hợp đã nêu (nếu do để ngoài sổ sách chưa ghi sổ) Nếu TSCĐ đó đang

sử dụng, cần trích bổ sung khấu hao

Nợ TKliên quan(627,641,642)

Có TK214(2141)

Nếu không xác định được chủ tài sản thì báo cho cơ quan chủ quản cấp trên và

cơ quan tài chính cùng cấp để xử lý Trong thời gian chờ xử lý, kế toán ghi :

Nợ TK211 : Nguyên giá

Có TK214 : Giá trị hao mòn

Có TK3381 : Giá trị còn lại

2.1.2.Hạch toán tình hình giảm TSCĐ hữu hình

TSCĐ hữu hình của doanh nghiệp giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó chủ yếu do nhượng bán, thanh lý Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, kế toán sẽ phản ánh vào sổ sách cho phù hợp :

a, Nhượng bán TSCĐ: Doanh nghiệp nhượng bán các TSCĐ không cần dùng hoặc xét thấy sử dụng không có hiệu quả hay lạc hậu về mặt kỹ thuật để thu hồi vốn sử dụng cho mục đích kinh doanh có hiệu quả hơn Doanh nghiệp phải lập Hội đồng đánh giá thực trạng về mặt kỹ thuật, thẩm định giá trị của tài sản Tài sản đem nhượng bán phải tổ chức đấu giá, thông báo công khai Căn

cứ vào tình hình cụ thể, kế toán phản ánh các bút toán :

+Xoá sổ TSCĐ nhượng bán :

Nợ TK214(2141): Giá trị hao mòn

Nợ TK821: Giá trị còn lại

Có TK211 : Nguyên giá

+Doanh thu nhượng bán TSCĐ

Nợ TKliên quan(111,112,131): Tổng giá thanh toán

Có TK721 : Doanh thu nhượng bán

Có TK333(3331): Thuế VAT phải nộp

Ngày đăng: 08/10/2013, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w