b, Những nét chính về công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam.VINARE là doanh nghiệp được phép hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tái bảo hiểm theo luật pháp của Nhà nước và theo các quy
Trang 1Thực trạng tái bảo hiểm kỹ thuật ở VINARE I-/ MỘT VÀI NÉT VỀ VINARE
1-/ Giới thiệu chung về VINARE.
a, Sự ra đời của công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE)
Sau hơn 10 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có được những bước tiến đáng kể Từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước kinh tế Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng GDP khá cao và tương đối ổn định (từ năm 1988 đến năm 1998, tốc độ tăng GDP hàng năm là 7%) Theo đà phát triển của cả nền kinh tế, ngành bảo hiểm Việt Nam cũng đang dần khởi sắc Ngày 18/12/1993 Nghị định 100CP của Chính phủ ra đời
đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển của ngành Bảo hiểm Việt Nam, kết thúc gần 30 năm độc quyền của Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) Dựa vào Nghị định này hàng loạt công bảo hiểm mới ra đời như Bảo Long, Bảo Minh, PJICO, PVIC đã đáp ứng nhu cầu bảo hiểm ngày càng cao cả
về chất lượng và số lượng của thị trường.
Do sự phát triển của nền kinh tế nói chung và các công ty bảo hiểm Việt Nam nói riêng, tất yếu phát sinh nhu cầu về tái bảo hiểm và để đáp ứng nhu cầu đó đòi hỏi phải có 1 công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp Ngày 27/9/1994, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ra quy định số 920/CP/TCCB về việc thành lập công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE) Theo đó VINARE là một pháp nhân hạch toán kinh tế độc lập được Nhà nước cấp vốn điều lệ, tự chủ về tài chính và hoạt động kinh doanh, được mở tài khoản bằng tiền Việt Nam và ngoại tệ tại Ngân hàng theo quy định của Nhà nước, có con dấu riêng và có trách nhiệm thực hiện mọi nghĩa vụ tài chính với Ngân Sách Nhà nước theo luật hiện hành Ngày 1/11/1995 công ty đã chính thức đi vào hoạt động với số vốn pháp định là 40 tỷ đồng Sau 5 năm đầu hoạt động, có thể nói sự ra đời của VINARE là một quyết định đúng đắn, kịp thời, phù hợp với hoàn cảnh và sự có mặt của VINARE thực sự dã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam như ngày nay Trong 5 năm qua, VINARE đã hoà cùng sự sôi động của thị trường bảo hiểm trong nước nhằm đưa thị trường bảo hiểm Việt Nam dần phát triển, từng bước hội nhập với thị trường bảo hiểm khu vực và thế giới.
Trang 2b, Những nét chính về công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam.
VINARE là doanh nghiệp được phép hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tái bảo hiểm theo luật pháp của Nhà nước và theo các quy định trong điều lệ tổ chức hoạt động của công ty do Bộ Tài chính ban hành Do vị trí của mình là một công ty tái bảo hiểm duy nhất đang hoạt động trên thị trường Việt Nam nên VINARE có các đặc điểm sau:
- Giúp đỡ và tư vấn về việc thu xếp tái bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước.
- Tổ chức tiếp nhận và cung cấp các thông tin về thị trường bảo hiểm, tái bảo hiểm Thế giới (quy tắc, hợp đồng, điều khoản, hoa hồng bảo hiểm, tái bảo hiểm ) cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước.
- Nghiên cứu và tiến hành các biện pháp tăng cường khả năng tài chính của công ty để đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước và khách hàng, đồng thời có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn theo quy định hiện hành.
- Thông tin tuyên truyền, mở rộng và phát triển kinh doanh tái bảo hiểm.
- Tăng cường các cơ hội tuyển dụng và đào tạo về tái bảo hiểm cho các nhà bảo hiểm và khách hàng Nhà nước.
* Nhiệm vụ cơ bản:
- Kinh doanh tái bảo hiểm nhằm điều tiết hoạt động kinh doanh của thị trường, ngoài phần giữ lại dịch vụ trong nước, giảm phí ngoại tệ chuyển ra nước ngoài.
- Hỗ trợ giúp đỡ thị trường trong nước phát triển, đặc biệt là các doanh nghiệp mới thành lập.
* Quyền hạn của công ty:
Trang 3- Quan hệ với các công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm trong nước và ngoài nước trong lĩnh vực kinh doanh tái bảo hiểm.
- Ký kết và thực hiện các hợp đồng liên quan đến hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm với các khách hàng trong và ngoài nước.
- Nhận làm đại lý, môi giới về hoạt động bảo hiểm và tái bảo hiểm cho các tổ chức bảo hiểm trong và ngoài nước.
- Được liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo quy định của Nhà nước.
- Được phép vay vốn bằng tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ của các ngân hàng và huy động vốn của các tổ chức kinh tế khác theo quy định của Nhà nước khi cần thiết để phục vụ hoạt động kinh doanh.
- Được phép đầu tư vốn theo quy định của Nhà nước.
- Yêu cầu các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp các tài liệu liên quan đến việc thu xếp tái bảo hiểm cho các dịch vụ bảo hiểm, tiến hành giám định và đánh giá về giá trị bảo hiểm, tổn thất về tài sản được bảo hiểm tại các doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thu xếp tái bảo hiểm và thực hiện nghĩa vụ của mình đối với doanh nghiệp bảo hiểm.
- Khởi kiện các tranh chấp trong quan hệ với khách hàng trước cơ quan Toà
án kinh tế.
2-/ Kết quả hoạt động của VINARE trong 5 năm.
Trong 5 năm đầu đi vào hoạt động, với số vốn được Nhà nước cấp ban đầu là
40 tỷ VNĐ, công ty đã thu được những kết quả khả quan thể hiện ở bảng sau:
BẢNG KẾT QUẢ KINH DOANH
Trang 4Như vậy, nhìn vào bảng trên có thể thấy doanh thu phí tái bảo hiểm của VINARE đang ngày càng tăng lên với tốc độ nhanh, trung bình mỗi năm tăng 36,25% Thêm vào đó là kết quả thu được từ hoạt động đầu tư khá ổn định đã giúp cho doanh thu của công ty năm sau luôn cao hơn năm trước Đồng thời thu nhập cao đã giúp công ty thực hiện nghĩa vụ của mình với ngân sách Nhà nước bằng số nộp ngân sách đều, ổn định và được lãnh đạo Bộ Tài chính đánh giá cao Sau 5 năm hoạt động, số nộp ngân sách của VINARE đã lên tới hơn 30 tỷ VNĐ Và chỉ tiêu phương án rõ nhất kết quả hoạt động kinh doanh của công ty là số lợi nhuận trước thuế của công ty tăng trung bình hàng năm khoảng 25,5% Để tìm hiểu rõ hơn hiệu quả kinh doanh của công ty, cần xem xét đến từng khâu nghiệp vụ.
* Nhận tái bảo hiểm.
Trong tái bảo hiểm, việc nhận tái bảo hiểm là khâu đặc biệt quan trọng Nhận thức được điều này, VINARE đã luôn cố gắng thực hiện tốt khâu này Hiện nay việc nhận tái bảo hiểm ở VINARE được thực hiện theo 3 cách
_ Nhận tái bảo hiểm bắt buộc.
Theo quy định của Bộ Tài chính, công ty được nhận 20% tái bảo hiểm bắt buộc đối với những nghiệp vụ có tái bảo hiểm Tuy nhiên quy định này chỉ được áp dụng trên cơ sở từng đơn bảo hiểm Đối với các dịch vụ tạm thời, một số dịch vụ do sức ép của các công ty bảo hiểm phụ thuộc (captive), do cạnh tranh quốc tế và trong nước nên tỷ lệ tái bảo hiểm cho công ty tái bảo hiểm thấp hơn theo quy định Theo các số liệu có thể thấy rằng tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc qua VINARE thực sự chưa nhiều và có ảnh hưởng đến việc điều tiết lại dịch vụ cho thị trường trong nước, ảnh hưởng tới việc tổng hợp, thống kê, đánh giá tình hình phát triển chung của cả thị trường So với các nước trong khu vực và các nước đang phát triển quy định tái bảo hiểm bắt buộc của ta hiện nay còn rất hạn chế Ví dụ ở Trung Quốc tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc là 20% trên cơ sở tất cả các loại hình dịch
vụ (kể cả bảo hiểm nhân thọ); ở Phillippin, là 10% khác với các nhiệm vụ có tái bảo hiểm Ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ phí tái bảo hiểm trong tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ chỉ chiếm 6,8%
Trang 5- Nhận tái bảo hiểm tự nguyện Đơn vị: NghìnUSD
Năm Phí nhận tái bảo hiểm Tốc độ tăng trưởng
an toàn về tài chính, thu hồi bồi thường nhanh đảm bảo ổn định kinh doanh cho cả hai bên.
- Nhận tái bảo hiểm từ thị trường ngoài nước:
Việc kinh doanh nhận tái bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế do vốn hoạt động thấp, uy tín chưa nhiều Vì vậy VINARE coi việc kinh doanh nhận tái bảo hiểm từ thị trường ngoài nước cũng là một nhiệm
vụ trọng tâm và lâu dài của công ty Để thực hiện mục tiêu này, ngay từ năm 1996, công ty đã nhận dịch vụ từ các nước trên thế giới, đặc biệt từ thị trường Châu Á: Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore Do vốn hoạt động còn hạn chế, thị trường bảo hiểm quốc tế cạnh tranh nên kết quả nhận tái bảo hiểm từ thị trường quốc tế còn hết sức khiêm tốn, phí nhận chỉ đạt 500000 USD đến 700000 USD/năm Nhưng nhờ công tác nhận tái bảo hiểm từ nước ngoài, công ty đã có điều kiện trao đổi dịch vụ, kỹ thuật, đào tạo và nâng dần uy tín công ty đối với thị trường quốc tế.
* Nhượng tái bảo hiểm.
Với số vốn ít ỏi của mình, trong những năm đầu hoạt động gần như VINARE phải nhượng tái phần lớn đơn tái bảo hiểm đã nhận được nhằm đảm bảo an toàn cho chính mình, và đây cũng là công cụ để VINARE thực hiện nhiệm vụ điều tiết thị trường Nếu làm tốt công tác này, không những đảm bảo ổn định kinh doanh cho
Trang 6mình, VINARE còn góp phần đảm bảo an toàn cho khách hàng mua bảo hiểm Vì vậy công ty luôn chú ý tìm những nhà tái bảo hiểm uy tín để nhượng đi phần trách nhiệm đã nhận (Trong năm đầu tiên hoạt động, vì trên thị trường Việt Nam chỉ có
2 công ty bảo hiểm hoạt động là Bảo Việt, Bảo Minh nên phần lớn VINARE chuyển tái cho Munich Re (Đây là công ty luôn được xếp vào danh sách 10 tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới, vì vậy độ tin cậy gần như tuyệt đối) Đồng thời công ty luôn
đề cao mối quan hệ tốt với các tập đoàn Tái Bảo Hiểm lớn trên thế giới nhằm tạo
ra mạng lưới các bạn hàng đáng tin cậy.Vì vậy VINARE đã tạo được lòng tin cho các công ty bảo hiểm gốc và với đội ngũ chuyên môn có trình độ cao, hoạt động nhượng tái bảo hiểm luôn được VINARE tiến hành rất hiệu quả theo đúng nguyên tắc quốc tế khiến cho uy tín của công ty luôn được các đối tác đánh giá cao Và chính cơ cấu này đã giúp Nhà nước giảm lượng ngoại tệ chuyển ra nước ngoài một cách đáng kể.
Bảng số liệu dưới đây cho thấy tốc độ tăng của lượng phí tái bảo hiểm ra nước ngoài hàng năm thấp hơn tốc độ tăng của lượng phí VINARE nhận được.
BẢNG PHÍ TÁI BẢO HIỂM RA NƯỚC NGOÀI CỦA VINARE.
3-/ Vị trí của nghiệp vụ kỹ thuật trong hoạt động kinh doanh của công ty.
Do đặc điểm của bảo hiểm kỹ thuật đã đề cập ở trên, VINARE luôn chú trọng đến việc triển khai nghiệp vụ tái bảo hiểm của mình Cụ thể, ngay từ khi thành lập, trong cơ cấu của công ty, các nghiệp vụ liên quan nhiều đến kỹ thuật đã được tổ chức thành một phòng ban riêng biệt là phòng kỹ thuật và dầu khí, không như các công ty khác, thông thường nghiệp vụ tái bảo hiểm kỹ thuật được ghép cùng với nghiệp vụ tài sản nói chung.
Qua thời gian 5 năm hoạt động, với tư cách là 1 trong năm nghiệp vụ chính của VINARE, tái bảo hiểm kỹ thuật đã đóng góp một phần to lớn vào kết quả hoạt động kinh doanh của VINARE thể hiện qua các kết quả cụ thể về tỷ trọng doanh thu, lợi nhuận đem lại được trình bày ở bảng sau:
Trang 7BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ KINH DOANH NGHIỆP VỤ KỸ THUẬT
THEO NĂM NGHIỆP VỤ
(Nguồn: Annual Report 95- 99)
II-/ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM KỸ THUẬT Ở VIỆT NAM.
Năm 1994 là năm đánh dấu bước phát triển vượt bậc của thị trường bảo hiểm Việt Nam sau khi Nghị định 100/CP được ban hành kéo theo sự xuất hiện của nhiều công ty bảo hiểm gốc và 1 công ty tái bảo hiểm Vì vậy, để xem xét một cách toàn diện về nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật cần dựa vào mốc lịch sử này.
Trang 8hoạt động của công ty chỉ dừng ở mức độ 1 quỹ dự trữ nhỏ, các nghiệp vụ còn rất hạn chế Ngược lại với xu thế đó, thị trường bảo hiểm miền Nam Việt Nam với hơn
50 công ty bảo hiểm mà hầu hết thuộc SH tư nhân lại rất sôi động.
Sau ngày 30/4/1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, chế độ XHCN được áp dụng trên phạm vi toàn quốc Theo quy định của Chính phủ, Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (BV) là tổ chức bảo hiểm duy nhất được phép hoạt động tại Việt Nam Trong điều kiện đó với đặc trưng của sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm của nền kinh tế thị trường nên ngành bảo hiểm Việt Nam thực sự không có nhiều thành tựu hoặc bước tiến đáng kể.
Năm 1986, Đảng và Nhà nước đã quyết định chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Đến năm
1989, nhiều yếu tố của nền kinh tế thị trường đã thực sự xuất hiện, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu khởi sắc, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam không ngừng tăng nhanh, hàng loạt các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng được thực hiện bằng lượng vốn này và tất yếu phải có các loại hình bảo hiểm nhằm đảm bảo an toàn về vốn cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng như góp phần tạo ra một môi trường đầu tư an toàn, thuận lợi ở Việt Nam Bảo hiểm kỹ thuật là một loại hình bảo hiểm đáp ứng được những nhu cầu trên Đơn bảo hiểm kỹ thuật được cấp lần đầu tiên ở Việt Nam là đơn bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt (EAR) co trạm thu phát vệ tinh mặt đất Láng Trung của Bảo Việt Đây là công trình liên doanh giữa tổng công
ty bưu chính viễn thông Việt Nam và hãng Telstra - Úc vào năm 1988 Kể từ đó đến nay bảo hiểm kỹ thuật ở Việt Nam đã không ngừng phát triển với nhiều loại hình bảo hiểm khác nhau, đóng góp không nhỏ vào việc phục vụ cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước ổn định kinh doanh và sản xuất tại Việt Nam.
Trong những năm đầu bảo hiểm kỹ thuật đã có tốc độ phát triển rất cao Từ tổng số khoảng 131.000 USD phí thu được năm 1988 thì năm 1993 tổng số phí thu được khoảng 2.429.000 USD đạt tốc độ phát triển trung bình hàng năm 78,5% Cụ thể tốc độ tăng hàng năm được thể hiện ở bảng sau:
Trang 91994 2.790.000 15 Với tốc độ tăng trưởng như vậy, nghiệp vụ này luôn được đánh giá cao trong việc góp phần tăng lợi nhuận kinh doanh của Bảo Việt.
2-/ Sau năm 1994.
Bước vào năm 1995, thị trường BH Việt Nam đã xuất hiện nhiều thành viên mới, trong đó có Công ty Tái Bảo Hiểm quốc gia Việt Nam khiến cho thị trường càng trở nên sôi động hơn Đặc biệt cùng với tốc độ tăng nhanh và mạnh của vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thì ngành BH Việt Nam cũng có những bước tiến hết sức khả quan.Trong số những nghiệp vụ BH được coi là phát tiển nhanh nhất phải kể đến BH Kỹ thuật Như trên phần trước đã đề cập, tổng số phí thu được của nghiệp vụ trong năm đầu tiên triển khai là 131.000 USD thì đến năm 1998 con số này là 11.927.000 USD _ tăng hơn 90 lần Và tốc độ tăng trưởng hàng năm của nghiệp vụ được đưa ra trong bảng sau:
BẢNG TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG NGHIỆP VỤ BHKT
Tuy nhiên ưu điểm này hiện nay đang là một vấn đề bức xúc trên thị trường.
Đó là việc cung đang lớn hơn cầu BH dẫn đến tình trạng cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn Hậu quả tất yếu xảy ra là các nhà BH sẽ tiến hành giảm phí tối đa và mở rộng điều khoản vượt quá giới hạn bình thường Thêm vào đó thị trường BHKT ở
Trang 10Việt Nam còn khan hiếm các chuyên viên giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực kỹ thuật nên đã không đánh giá được đầy đủ và chính xác các rủi ro dẫn đến việc đưa ra mức phí và điều khoản không tương xứng.
Đó là khâu khai thác, còn tình hình thực hiện công tác bồi thường lại đưcj các công ty tiến hành khá tốt.
Như vậy có thể thấy nghiệp vụ BHKT đã góp một phần không nhỏ vào công cuộc CNH_HĐH đát nước, và với tình hình kinh tế xã hội hiện nay, BHKT được đánh giá là nghiệp vụ có nhiều tiềm năng phát triển.
III-/ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ KỸ THUẬT.
1-/ Nhận tái bảo hiểm.
Quá trình tái bảo hiểm cho một hợp đồng bao gồm các khâu: nhận tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm Tham gia đề phòng hạn chế tổn thất và bồi thường tổn thất Vì vậy để đánh giá một cách toàn diện về nghiệp vụ tái bảo hiểm kỹ thuật ở VINARE cần tiến hành phân tích từng khâu nhỏ của nghiệp vụ.
Nhận tái bảo hiểm là khâu đầu tiên của nghiệp vụ có vai trò chi phối quyết định trực tiếp đến các khâu tiếp theo của nghiệp vụ và do đó ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của nghiệp vụ.
Nhận tái bảo hiểm còn có ý nghĩa quyết định đến việc đảm bảo quy luật số đông - quy luật quyết định sự thành bại của nghiệp vụ.
Như vậy nhận tái bảo hiểm giống như khâu khai thác trong nghiệp vụ bảo hiểm gốc có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm.
VINARE được phép nhận tái bảo hiểm bắt buộc từ các công ty bảo hiểm gốc trong nước Đây là một yếu tố hết sức thuận lợi trong việc triển khai các nghiệp vụ trong đó có nghiệp vụ tái bảo hiểm kỹ thuật.
Tuy nhiên là một pháp nhân kinh doanh hạch toán độc lập nên VINARE xác định mục tiêu khi triển khai các nghiệp vụ nói chung, nghiệp vụ tái bảo hiểm kỹ thuật nói riêng là phải thu hút tối đa tái bảo hiểm tự nguyện từ các công ty bảo hiểm trong và ngoài nước.
Trước tiên cần xem xét quy trình nhận tái bảo hiểm nghiệp vụ tái bảo hiểm kỹ thuật của VINARE Do sự khác nhau về bản chất và thủ tục của hình thức tái bảo hiểm tạm thời và cố định nên quy trình nghiệp vụ tái bảo hiểm kỹ thuật có thể tách riêng theo từng hình thức.
Trang 111.1 Quy trình nhận tái bảo hiểm cố định:
a, Ký kết hợp đồng:
Việc thu xếp nhận hợp đồng cố định được thực hiện bằng thương lượng trực tiếp mà không cần công ty bảo hiểm gốc phải gửi bản chào tái Sở dĩ như vậy là vì VINARE được phép nhận tái bảo hiểm bắt buộc và các công ty bảo hiểm gốc có trách nhiệm tái bảo hiểm cho VINARE một phần trách nhiệm của nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật Hiện nay các công ty bảo hiểm đều được phép triển khai nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật và để thuận tiện hầu hết các công ty đều thu xếp một hợp đồng
cố định với VINARE ngay từ khi bắt đầu triển khai nghiệp vụ.
Như vậy ngay từ khi các công ty bảo hiểm gốc triển khai nghiệp vụ, các cán
bộ nghiệp vụ của VINARE đã chủ động gặp gỡ các công ty gốc để đàm phán ký kết hợp đồng.
Nếu như công ty bảo hiểm gốc chỉ tái bảo hiểm cho VINARE theo đúng tỷ lệ quy định của Bộ Tài chính thì hoa hồng cũng xác định theo tỷ lệ do Bộ Tài chính quy định và hợp đồng sẽ là hợp đồng số thành
Trong trường hợp công ty bảo hiểm gốc và VINARE đạt được thoả thuận về phần tái bảo hiểm ngoài bắt buộc (tự nguyện) thì phần tái bảo hiểm tự nguyện được thu xếp trong cùng một hợp đồng mà không tách riêng Nếu phần tự nguyện được nhượng cũng theo phương thức số thành thì thường áp dụng tỷ lệ hoa hồng chung cho cả phần bắt buộc và tự nguyện Tỷ lệ này cao hơn so với tỷ lệ quy định
và phụ thuộc vào phần nhượng tự nguyện Nếu phần tự nguyện thực hiện theo phương thức mức dôi thì áp dụng tỷ lệ hoa hồng riêng.
b, Quản lý hợp đồng:
+ Hàng quý các công ty bảo hiểm gốc phải gửi bảng kê và bảng thanh toán và tổn thất cho VINARE trong vòng 2 tuần sau khi hết quý Việc thu phí và thanh toán bồi thường dựa trên các bảng kê và bảng thanh toán
+ Các cán bộ nghiệp vụ kiểm tra các bảng kê và các bảng thanh toán và phải xác nhận trong vòng hai tuần Nếu phát hiện thấy có gì không bình thường hoặc chưa rõ VINARE có thể yêu cầu các công ty kiểm tra lại.
+ VINARE sẽ thanh toán cho công ty gốc ngay nếu như được yêu cầu trong trường hợp tổn thất xảy ra lớn mà công ty gốc phải trả tiền bồi thường mà số tiền
đó lớn hơn một mức quy định trong hợp đồng, thường quy định là 10.000 USD Trong trường hợp đó công ty bảo hiểm gốc phải gửi ngay cho VINARE bảng thông báo tổn thất, biên bản giám định Trong những trường hợp xảy ra tổn thất lớn VINARE thường cử đại diện tham gia vào việc giải quyết bồi thường.
Trang 121.2 Quy trình nhận tái bảo hiểm tạm thời:
a, Ký kết hợp đồng.
* Khi nhận được bản đề nghị tái bảo hiểm (Reinsurance place) của công ty nhượng trước tiên các cán bộ nghiên cứu kỹ bản đề nghị Để quyết định có nhận hay không thì các yếu tố được xem xét là:
- Công ty nhượng:
Khi nhận tái bảo hiểm tạm thời cần thiết phải biết rõ khả năng tài chính, uy tín đội ngũ nhân lực của công ty nhượng từ đó có thể đánh giá phần nào về dịch vụ được nhượng.
Hiện nay các công ty bảo hiểm gốc trong nước đã trở nên rất quen thuộc đối với các cán bộ nghiệp vụ của VINARE Chính vì vậy việc nhận tái bảo hiểm từ các công ty trong nước có rất nhiều thuận lợi nhờ vào những hiểu biết của họ về khả năng tài chính của từng công ty, năng lực chuyên môn, tình hình triển khai nhiệm
vụ bảo hiểm kỹ thuật Thêm vào đó VINARE nhận tái từ các công ty nước ngoài trong nghiệp vụ kỹ thuật còn ít nên có thể nói công tác nhận tái ảo hiểm được thực hiện rất có hiệu quả.
- Bản thân dịch vụ được chuyển nhượng:
Các yếu tố mà các cán bộ nghiệp vụ của VINARE xem xét về dịch vụ:
+ Số tiền bảo hiểm.
+ Vị trí, địa điểm công trình (có gần sông, biển hay không, vùng đó có chịu bão, lũ lụt thường xuyên hay không.
+ Đặc trưng của công trình: đó là công trình thuộc lĩnh vực nào, chẳng hạn ngành công nghiệp hoá chất, khách sạn hay văn phòng.
+ Các nhà thầu chính và phụ, đơn vị thi công.
+ Điều kiện, điều khoản của đơn bảo hiểm áp dụng cho dịch vụ (rộng hay hẹp), các quy định về loại trừ hoặc điều khoản mở rộng, tỷ lệ phí áp dụng.
+ Tỷ lệ hoa hồng đề nghị.
+ Mức giữ lại của người nhượng.
Đó là những căn cứ để đánh giá mức độ rủi ro Dựa trên các yếu tố đó các cán
bộ nghiệp vụ xác định tổn thất tối đa có thể xảy ra (PML - Possible Maximum Loss) Sau khi xem xét đánh giá các cán bộ nghiệp vụ sẽ quyết định nhận hay không nhận.
Trang 13* Sau khi VINARE xác nhận chấp nhận dịch vụ, công ty nhượng sẽ phải gửi cho VINARE hai bản chào (Reinsurance Slip) giống nhau Các cán bộ của VINARE sẽ kiểm tra bản chào Nếu thấy bản chào không đúng hoặc không chính xác các cán
bộ nghiệp vụ của VINARE sẽ yêu cầu công ty gốc xem xét lại Khi nào thấy bản chào đúng thì các cán bộ nghiệp vụ sẽ ký vào hai bản chào và gửi lại cho công ty nhượng một bản Bản chào có giá trị như hợp đồng tái bảo hiểm.
* Trong trường hợp VINARE nhượng tái dịch vụ cho một công ty khác (nhượng theo hình thức tạm thời) thì VINARE lại lập hai bản chào giống như quy trình vừa mô tả trên.
- Khi người nhượng yêu cầu bồi thường thì phải gửi đầy đủ các tài liệu theo quy định.
Trên đây là những nét khái quát nhất về quy trình nghiệp vụ của nhận tái bảo hiểm nghiệp vụ tái bảo hiểm kỹ thuật ở VINARE.
Để có thể đánh giá về kết quả của quy trình trên cần thiết phải xem xét các
kết quả đạt được trong việc nhận tái bảo hiểm Bảng 1: Tình hình nhận tái theo
hình thức hợp đồng sau đây cho thấy cơ cấu nhận tái theo hình thức hợp đồng.
Trang 14Trong các năm đầu tỷ trọng phí thu được theo hình thức cố định chiếm tỷ lệ khá lớn, thường 70% nhưng có thể thấy xu hướng tăng dần tỷ trọng phí nhận tái bảo hiểm theo hình thức tạm thời Năm nghiệp vụ 1998 tỷ trọng phí nhận tái bảo hiểm tạm thời tính đến hết tháng 3/99 là hơn 36% trong khi đó tỷ lệ này trong năm nghiệp vụ 97 là 29%, các năm trước nữa cũng chỉ đạt 30% Nếu như tính theo năm tài chính thì tỷ trọng phí nhận tái bảo hiểm tạm thời năm 98 khá cao, theo thống kê của phòng nghiệp vụ thì phí tạm thời năm 98 chiếm khoảng 54% tổng phí nhận Và đến năm 99 tỷ lệ này là gần 10% Về hoa hồng tái bảo hiểm hiện nay việc chi trả hoa hồng của VINARE không hoàn toàn cố định vì trong thực tế hoa hồng tái bảo hiểm phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Chi phí liên quan tới khai thác, quản lý dịch vụ bình quân trên thị trường và của chính công ty nhượng (ước tính).
- Tỷ lệ hoa hồng trên thị trường.
- Tỷ lệ hoa hồng các công ty gốc nhận được từ các công ty nước ngoài.
- Mức chuyển nhượng của công ty nhượng.
Vì vậy, rất khó có thể đưa ra một tỷ lệ hoa hồng chính xác của nghiệp vụ Tuy nhiên tỷ lệ hoa hồng mà VINARE xác định so với hoa hồng mà các công ty nước ngoài trả cho các công ty bảo hiểm Việt Nam cùng điều kiện thường thấp hơn 3 - 5% Tỷ lệ cho hợp đồng cố định số thành trong khoảng 25 - 29%, cho hợp đồng mức dôi đầu tiên khoảng 22 - 26% Tỷ lệ hoa hồng cho phần tái bảo hiểm tự nguyện như vậy là khá cạnh tranh nếu đánh giá trên nhiều phương diện Tuy chỉ thấp hơn so với tỷ lệ hoa hồng do các công ty nước ngoài trả một chút nhưng rất thuận tiên trong việc giao dịch đàm phán, giảm được chi phí đáng kể Và xét trên góc độ vĩ mô vì sự phát triển của thị trường trong nước, giảm thất thoát ngoại tệ cho Nhà nước thì lợi ích là không nhỏ nếu như các công ty bảo hiểm Việt Nam không chỉ vì lợi ích trước mắt, lợi ích nhỏ của riêng công ty mình tái cho các công
ty nước ngoài Bởi vì tái cho VINARE các công ty trong nước sẽ nhận lại được mức chuyển nhượng lớn hơn rất nhiều, giảm đáng kể việc thất thoát dịch vụ vào tay các công ty bảo hiểm nước ngoài.
* Tiếp theo để có thể đánh giá hoạt động nhận tái bảo hiểm của công ty một cách toàn diện cả về thực hiện các chức năng nhiệm vụ của công ty cũng như hoạt động kinh doanh của công ty ta xem xét tình hình nhận tái bảo hiểm theo cơ cấu tái bảo hiểm bắt buộc và tự nguyện.
Tình hình nhận tái bảo hiểm nghiệp vụ kỹ thuật theo cơ cấu bắt buộc tự nguyện được thể hiện bảng 2.
Trang 15BẢNG TÌNH HÌNH PHÍ NHẬN TÁI BẢO HIỂM THEO CƠ CẤU
đồ tăng trưởng có sự biến động Như vậy phải chăng việc thực hiện nhận tái bảo hiểm không đạt được mục tiêu mà công ty đề ra ?.
Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào số liệu trên thì không thể đánh giá chính xác tình hình thực hiện nhận tái bảo hiểm Việc nhận tái bảo hiểm còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác Vì vậy cần thiết phải xem xét tình hình nhận tái bảo hiểm trong từng năm.
Năm 1995 là năm đầu tiên công ty triển khai nghiệp vụ nên gặp không ít khó khăn;
Quyết định tái bảo hiểm bắt buộc của Bộ Tài chính được đưa ra quá chậm lại chưa phù hợp với tình hình thực tế gây rất nhiều khó khăn cho cả VINARE và các công ty bảo hiểm gốc Văn bản đưa ra nhưng không có hướng dẫn cụ thể, không thông báo cho các đối tượng có liên quan biết để thực hiện.
Các công ty bảo hiểm gốc phối hợp với nhau chưa tốt, các môi giới và các công ty bảo hiểm nước ngoài đã lợi dụng sự cạnh tranh giữa các công ty gốc để kiếm lời.
Công ty mới đi vào hoạt động nên còn có nhiều trục trặc, đội ngũ cán bộ còn thiếu và mới nên chưa có kinh nghiệm.
Trang 16Tuy gặp nhiều khó khăn song các cán bộ của công ty đã tìm mọi cách khắc phục khó khăn để thực hiện mục tiêu đã đề ra.
Nhờ vậy VINARE đã tranh thủ được sự hợp tác của các công ty bảo hiểm gốc trong việc thực hiện quyết định tái bảo hiểm bắt buộc của Bộ Tài chính đồng thời được các công ty bảo hiểm mới ra đời như Bảo Minh, PJICO tin cậy tái cho VINARE 100% phần vượt mức giữ lại Bảo Việt cũng ký hợp đồng số thành tái cho VINARE một phần tự nguyện Kết quả tổng phí nhận tái bảo hiểm đạt 845.000 USD bằng 145% kế hoạch đề ra trong đó phần tái bảo hiểm tự nguyện nhận được chiếm hơn 60% Năm đầu tiên triển khai nghiệp vụ công ty đã thành công Đó thực sự là bước khởi đàu tốt đẹp.
Với kết quả đạt được của năm 95 công ty tự tin bước vào năm 96 với kế hoạch đề ra cho nghiệp vụ là đạt doanh số phí 900.000 USD.
Năm 96 là năm có nhiều thuận lợi:
- Các cán bộ đã có những kinh nghiệm nhất định.
- Nền kinh tế ổn định, tiếp tục phát triển với tốc độ cao Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng nhanh Phần lớn vốn đầu tư tập trung vào phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các nhà máy, khu công nghiệp, khách sạn lớn Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho bảo hiểm kỹ thuật, đặc biệt là bảo hiểm CAR, EAR.
- Thị trường xuất hiện thêm 2 công ty bảo hiểm gốc: Công ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam PVIC và Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế VIA khiến cho năng lực bảo hiểm nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật tăng lên, thị trường được khai thác có kết quả hơn.
- Quyết định tái bảo hiểm bắt buộc mới Bộ Tài chính ban hành đã phù hợp hơn với tình hình thực tế và có lợi cho VINARE do quyết định mới quy định phần tái bảo hiểm bắt buộc được tính trên giá trị hợp đồng/đơn bảo hiểm gốc (20%).
Tuy nhiên cũng có một số điểm không thuận lợi:
- Sự cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm gốc vẫn tiếp tục và có những biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh Hiện tượng các công ty bảo hiểm, môi giới nước ngoài hoạt động bất hợp pháp, vi phạm các quy định khai thác bảo hiểm xây lắp khá phổ biến.
- Quy định tái bảo hiểm bắt buộc không được thực hiện nghiêm chỉnh.
Để thực hiện kế hoạch đề ra các cán bộ nghiệp vụ đã có những biện pháp thích hợp để tận dụng cơ hội, vượt qua khó khăn Cụ thể:
Trang 17- Chủ động gặp gỡ, thương lượng với các khách hàng cũ Bảo Minh, PJICO để tái tục hợp đồng.
- Giúp đỡ cho PVIC đạo tạo cán bộ nghiệp vụ và triển khai nghiệp vụ bảo hiểm
kỹ thuật nhờ đó đã được PVIC tái toàn bộ phần vượt mức giữ lại.
- Hợp tác với các công ty gốc để đàm phán tăng phần của phía Việt Nam trong các dịch vụ tái bảo hiểm theo chỉ định và các dịch vụ tạm thời có giá trị lớn
do vậy tăng phần tái bảo hiểm cho VINARE.
- Tiếp tục giúp đỡ các công ty gốc trong việc khai thác các công trình liên quan đến bảo hiểm kỹ thuật, đặc biệt là các công trình có nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước.
- Thông qua các cuộc hội thảo, tiếp xúc tuyên truyền giải thích cho VINARE để các công ty gốc thấy được những lợi ích cho thị trường, cho Nhà nước khi tái bảo hiểm cho VINARE.
Với những nỗ lực như vậy kết quả nhận tái bảo hiểm nghiệp vụ tái bảo hiểm
kỹ thuật năm 96 rất đáng khích lệ: Tổng phí nhận tái bảo hiểm đạt 1.507.000 USD tăng 78.45% so với năm 95, vượt mức kế hoạch 67.5% trong đó doanh số phí tự nguyện chiếm 46.55% tổng phí nhận
Năm 97, năm thứ ba triển khai nghiệp vụ việc nhận tái bảo hiểm có thêm những điểm không thuận lợi Ngoài những khó khăn trong các năm trước vẫn tồn tại thì cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực bắt đầu ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội Nhịp độ tăng trưởng giảm xuống, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cũng bắt đầu suy giảm Trên thị trường xuất hiện thêm một công ty bảo hiểm gốc: Công ty bảo hiểm liên hợp UIC - Liên doanh giữa Bảo Minh với hai công
ty bảo hiểm của Nhật Bản khiến cho năng lực khai thác bảo hiểm kỹ thuật tăng lên xong lại càng làm cho sự cạnh tranh diễn ra càng quyết liệt hơn Tốc độ tăng phí bảo hiểm kỹ thuật của thị trường năm 97 là 33% so với 63% năm 96.
Trong điều kiện ngày càng khó khăn như vậy, các cán bộ nghiệp vụ vẫn tiếp tục thực hiện các biện pháp đã sử dụng trong các năm trước đồng thời vận dụng thêm các biện pháp khác hỗ trợ Tổng kết năm 97, doanh số phí nhận tái nghiệp vụ đạt 2.373.300 USD tăng 57,4% so với năm 96 Đây là doanh số cao nhất trong các năm qua Phí nhận tái bảo hiểm tự nguyện giảm hơn so với năm 96 song giảm không đáng kể Nếu như không có các biện pháp tích cực chủ động của các cán bộ nghiệp vụ chắc chắn tỷ trọng phí nhận tái bảo hiểm tự nguyện còn giảm nhiều hơn nữa do các công ty gốc ngày càng có xu hướng tự thu xếp tái bảo hiểm và chỉ tái cho VINARE theo đúng phần trách nhiệm tái bảo hiểm bắt buộc Ngay cả công ty
Trang 18UIC là công ty mới ra đời và có triển khai nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật song UIC tự mình thu xếp tái bảo hiểm mà không cần sự hỗ trợ của VINARE.
Những dấu hiệu không thuận lợi cuối năm 97 báo hiệu một năm 98 sẽ có nhiều khó khăn trong triển khai nghiệp vụ.
Năm 98 nền kinh tế chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực Tốc độ tăng trưởng giảm mạnh, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giảm đi do các nhà đầu tư nước ngoài e ngại môi trường đầu tư bất ổn định vì sự tác động của cuộc khủng hoảng; nhiều dự án đang tiến hành phải tạm ngừng, một số dự án bị huỷ bỏ do các chủ đầu tư mà chủ yếu là các chủ đầu tư Châu Á gặp khó khăn về mặt tài chính Bảo hiểm kỹ thuật là một trong những nghiệp vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của tình hình đó.
Do xu hướng của các công ty bảo hiểm gốc là chỉ ký hợp đồng cố định theo tỷ
lệ do Bộ Tài chính quy định Các cán bộ nghiệp vụ xác định việc khai thác các hợp đồng là rất khó khăn Chỉ có thể tăng doanh số nhận tái bảo hiểm tự nguyện bằng cách khai thác các dịch vụ tạm thời Một thuận lợi cho việc khai thác các dịch vụ tạm thời là năm 98 Nhà nước bật đèn xanh cho thực hiện một số công trình lớn có nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước hoặc Nhà nước quản lý như công trình mở rộng nhà máy nhiệt điện Phả Lại với giá trị 550 triệu USD, nhà máy thuỷ điện Hàm Thuận Đami trị giá 155 triệu USD, v.v Các công trình này có giá trị rất lớn, theo thống kê của phòng nghiệp vụ Dầu khí - kỹ thuật thì phí bảo hiểm thu được từ các
dự án này chiếm hơn 50% tổng phí bảo hiểm nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật Do giá trị lớn như vậy nên các công ty bảo hiểm gốc thu xếp dưới hình thức tạm thời Kết quả nghiệp vụ năm 98 không nằm ngoài dự đoán của cán bộ nghiệp vụ.
So với năm 97 doanh số phí nhận tái giảm dần 15% trong đó phần tái bảo hiểm tự nguyện giảm mạnh chỉ còn chiếm 23% tổng doanh số phí nhận tái bảo hiểm Sự giảm sút một cách đột ngột như vậy chủ yếu là do mất đi Bảo Minh - khách hàng lớn thứ hai của VINARE trong nghiệp vụ tái bảo hiểm kỹ thuật Thêm vào đó một
số công trình lớn Bảo Việt không tái bảo hiểm theo đúng quy định, chỉ tái 10% thay
vì 20%.
Năm 99 thực tế là một năm khó khăn đối với nghiệp vụ Kỹ thuật tại thị trường bảo hiểm Việt Nam, nếu như nìn vào tổng phí thị trường của nghiệp vụ này thì đây là năm đầu tiên có sự suy giảm sau 10 năm liền liên tục tăng trưởng Nhận thức được mức độ khó khăn của năm 1999, các cán bộ của nghiệp vụ Kỹ thuật đã
có một nỗ lực vượt bậc trong việc khai thác dịch vụ dẫn đến tỷ lệ nhận tự nguyện tăng đáng kể trong năm này.
Trang 19Qua việc đánh giá quá trình thực hiện nhận tái bảo hiểm của VINARE trong những năm qua có thể rút ra một số nhận xét:
Thứ nhất việc tái bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Bộ Tài chính được
các cán bộ thực hiện tốt Phí nhận tái bảo hiểm bắt buộc luôn tăng cùng với tốc độ tăng của phí bảo hiểm kỹ thuật của thị trường Ngay cả năm 98 mặc dù tổng phí nhận tái bảo hiểm giảm nhưng phí tái bảo hiểm bắt buộc vẫn tăng hơn so với năm 97.
Xu hướng chung là tỷ trọng phí tái bảo hiểm tự nguyện giảm dần Có hai nguyên nhân dẫn tới tình trạng này.
- Các công ty bảo hiểm gốc ngày càng trưởng thành, có thể triển khai nghiệp
vụ một cách ổn định không cần nhiều sự trợ giúp của các cán bộ nghiệp vụ VINARE Trình độ về kỹ thuật tái bảo hiểm cũng ngày càng vững, có thể tự thu xếp chương trình tái bảo hiểm Do vậy các công ty gốc giảm dần phần nhượng tự nguyện cho VINARE.
- Mức hoa hồng của VINARE không thực sự hấp dẫn đối với các công ty gốc Khi nhượng cho các công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm nước ngoài, ngoài khoản hoa hồng phí thông thường với tỷ lệ không thấp hơn 30% các công ty này còn nhận được khoản hoa hồng phí theo lãi Như vậy xét trên góc độ hiệu quả của công ty thì nhượng cho các công ty nước ngoài mang lại hiệu quả của công ty thì nhượng cho các công ty nước ngoài mang lại hiệu quả hơn.
Đây là hai nguyên nhân chính khiến cho VINARE không còn nhận được các hợp đồng cố định của các công ty bảo hiểm gốc nhượng tái bảo hiểm ngoài phạm
ra chắc chắn sẽ rất lớn và hậu quả sẽ rất nặng nề.
Việc đề phòng hạn chế tổn thất không chỉ thuộc trách nhiệm người được bảo hiểm và công ty bảo hiểm gốc Người nhận tái cũng cần phải chú trọng công tác đề phòng hạn chế tổn thất Hai khía cạnh khiến cho người nhận tái trong tái bảo hiểm
kỹ thuật phải quan tâm đến công tác đề phòng hạn chế tổn thất là:
Trang 20- Để có biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất hữu hiệu phải đánh giá được những nguy cơ tiềm ẩn, những khả năng rủi ro có thể xảy ra Đây là một trong những công việc khó khăn nhất trong bảo hiểm kỹ thuật đòi hỏi phải có những chuyên gia có trình độ và kinh nghiệm Và đây là một trong những lý do công ty bảo hiểm gốc cần tới người nhận tái Người nhận tái trong nhiều trường hợp phải trực tiếp cùng với người bảo hiểm đánh giá rủi ro và tư vấn cho người bảo hiểm, người được bảo hiểm các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất.
- Kết quả nghiệp vụ tái bảo hiểm phụ thuộc rất lớn vào kết quả của nghiệp vụ bảo hiểm gốc Người nhận tái và người bảo hiểm cùng chia sẻ rủi ro Như vậy việc
đề phòng hạn chế tổn thất liên quan trực tiếp đến người nhận tái, đặc biệt là những dịch vụ mà phần tham gia của người nhận tái lớn.
Ở Việt Nam, các công ty bảo hiểm Việt Nam hầu hết mới ra đời nên khả năng thực hiện việc đề phòng hạn chế tổn thất cho các công trình còn rất hạn chế, các công ty này mới chỉ dừng lại ở việc khai thác dịch vụ còn công việc đề phòng hạn chế tổn thất chủ yếu do các công ty nhận tái đảm nhận.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đề phòng hạn chế tổn thất trong nghiệp vụ tái bảo hiểm kỹ thuật, VINARE đã rất chú trọng tới công tác này Công tác đề phòng hạn chế tổn thất được thực hiện dưới các hình thức;
+ Tư vấn, hỗ trợ các công ty bảo hiểm gốc trong việc tăng cường công tác đề phòng hạn chế tổn thất cho các công trình được bảo hiểm.
+ Với những dịch vụ mà VINARE tham gia nhận tương đối lớn hoặc các dịch
vụ mà công ty là người đứng đầu nhận tái, các cán bộ nghiệp vụ của công ty phối hợp với các cán bộ nghiệp vụ của các công ty bảo hiểm gốc đến tận công trình để khảo sát đánh giá rủi ro từ đó đề xuất các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất mà người được bảo hiểm và các công ty bảo hiểm gốc phải thực hiện Chi phí cho những công việc như vậy là do VINARE tài trợ.
+ Phối hợp với công ty bảo hiểm gốc hoặc người tham gia bảo hiểm tổ chức các cuộc hội thảo về bảo hiểm cho các công trình lớn Chi phí cho các biện pháp đó chiếm tỷ trọng lớn trong mục khoản chi khác (80 - 85%) Khoản chi đó trong các năm được thể hiện qua bảng 3.
BẢNG CHI ĐỀ PHÒNG HẠN CHẾ TỔN THẤT.