Thực trạng Đô la hoá tại Việt Nam, ảnh hưởng và giải pháp khắc phục
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: 3
KHÁI QUÁT VỀ ĐÔ LA HOÁ 3
1.Khái niệm: 3
2 Phân loại: 4
3.Tác động của Đô la hoá tới nền kinh tế: 5
4 Nguyên nhân dẫn tới đô la hoá nền kinh tế: 8
5 Những nước đã tiến hành Đô La hoá: 9
5.1 Panama 9
5.2 Ecuador 10
5.3 El Salvador 10
5.4 Các trường hợp khác 11
CHƯƠNG 2: 12
THỰC TRẠNG ĐÔ LA HOÁ Ở VIỆT NAM 12
1 Thực trạng đôla hoá ở Việt Nam: 12
2 Nguyên nhân dẫn đến đôla hoá ở Việt Nam: 21
CHƯƠNG 3: 23
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ ĐÔLA HÓA TẠI VIỆT NAM 23
1 Tạo môi trường đầu tư trong nước có khả năng hấp thụ được số vốn ngoại tệ hiện có trong dân bằng những biện pháp : 24
2 Những giải pháp trong lĩnh vực tiền tệ 24
4 Các giải pháp trong chính sách quản lý ngoại hối 26
KẾT LUẬN 28
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
“Ngoại tệ hóa” hay “Đô la hoá” là tình trạng khó tránh khỏi đối với cácnước có xuất phát điểm thấp, đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế vàđẩy mạnh hội nhập quốc tế như Việt Nam Tâm lý lo ngại về lạm phát, về sựmất giá của đồng nội tệ, thói quen sử dụng tiền mặt trong giao dịch không thểmột sớm, một chiều xoá bỏ hay giảm triệt để được
Nghị quyết IV của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá 8) trong phần
đề cập những chủ trương chính sách lớn, riêng trong lĩnh vực tiền tệ - ngânhàng một lần nữa khẳng định yêu cầu "Đẩy nhanh tiến độ thực hiện nguyên tắctrên đất nước Việt Nam phải thanh toán bằng tiền Việt Nam"
Việc xem xét thực trạng Đôla hóa tại Việt Nam trong điều kiện hội nhậpkinh tế quốc tế là việc làm không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, mà còn có ýnghĩa về mặt thực tiễn Do đó, nhóm 3 lớp cao học 17G xin được lựa chọn đề
tài: “Thực trạng Đôla hóa tại Việt Nam, ảnh hưởng và giải pháp khắc phục” làm đề tài thảo luận của nhóm mình.
Kết cấu của đề tài
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, các công đề tài đượckết cấu như sau:
Chương 1: Khái quát về Đô la hóa
Chương 2: Thực trạng Đô la hóa tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp cho hạn chế Đô la hóa tại Việt Nam
Trang 3CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT VỀ ĐÔ LA HOÁ1.Khái niệm:
Theo tiêu chí của IMF đưa ra, một nền kinh tế được coi là có tình trạng đô
la hoá cao khi mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm từ 30% trở lên trongtổng khối tiền tệ mở rộng (M2); bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửikhông kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, và tiền gửi ngoại tệ Theo đánh giá của IMFnăm 1998 trường hợp đô la hoá cao có 19 nước, trường hợp đô la hoá cao vừaphải với tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/M2 khoảng 16,4% có 35 nước, trong số đó cóViệt Nam
Hiện tượng đô la hoá bắt nguồn từ cơ chế tiền tệ thế giới hiện đại, trong đótiền tệ của một số quốc gia phát triển, đặc biệt là đô la Mỹ, được sử dụng tronggiao lưu quốc tế làm vai trò của "tiền tệ thế giới" Nói cách khác, đô la Mỹ làmột loại tiền mạnh, ổn định, được tự do chuyển đổi đã được lưu hành khắp thếgiới và từ đầu thế kỷ XX đã dần thay thế vàng, thực hiện vai trò tiền tệ thế giới.Ngoài đồng đô la Mỹ, còn có một số đồng tiền của các quốc gia khác cũngđược quốc tế hoá như: bảng Anh, mác Đức, yên Nhật, Franc Thuỵ Sỹ, euro củaEU nhưng vị thế của các đồng tiền này trong giao lưu quốc tế không lớn; chỉ
có đô la Mỹ là chiếm tỷ trọng cao nhất (khoảng 70% kim ngạch giao dịchthương mại thế giới) Cho nên người ta thường gọi hiện tượng “ngoại tệ hoá” là
Trang 4Ở nước ta, "đô la hóa" được nhận thức là việc sử dụng USD trong giaodịch thương mại và dịch vụ song song với VND Trên thế giới, "đô la hóa" cókhái niệm rộng hơn: khi dân cư một nước sử dụng rộng rãi ngoại tệ song songvới đồng nội tệ hoặc thay thế đồng nội tệ.
2 Phân loại:
Có hai cách phân loại đô la hoá:
Cách thứ nhất: Đô la hoá được chia làm 3 loại: đô la hoá chính thức, đô
la hoá không chính thức, đô la hoá bán chính thức
- Đô la hoá chính thức (hay còn gọi là đô la hoá hoàn toàn) xẩy ra khi
đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành Nghĩa là đồngngoại tệ không chỉ được sử dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữa các bên tưnhân, mà còn hợp pháp trong các khoản thanh toán của Chính phủ Nếu đồngnội tệ còn tồn tại thì nó chỉ có vai trò thứ yếu và thường chỉ là những đồng tiền
xu hay các đồng tiền mệnh giá nhỏ Thông thường các nước chỉ áp dụng đô lahoá chính thức sau khi đã thất bại trong việc thực thi các chương trình ổn địnhkinh tế Một số vùng lãnh thổ như Virgin islands, Greenland và một số quốc giađộc lập như Panama sử dụng USD hoặc đồng tiền nước khác làm đồng tiềnchính thức, trong đó có nước không còn đồng nội tệ, có nước vẫn duy trì đồngnội tệ, nhưng đóng vai trò phụ thuộc Điển hình là ngày 9/1/2000, Tổng thốngEcuado công bố quyết định lấy USD làm đồng tiền chính thức của nước này
Đô la hoá chính thức không có nghĩa là chỉ có một hoặc hai đồng ngoại tệđược lưu hành hợp pháp Tuy nhiên, các nước đô la hoá chính thức thường chỉchọn một đồng ngoại tệ làm đồng tiền hợp pháp
- Đô la hoá không chính thức: là trường hợp đồng đô la được sử dụng
rộng rãi trong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừanhận Đô là hóa" không chính thức lúc đầu là phương tiện cất trữ (kho chứa giátrị), tiếp theo là phương tiện thanh toán (thay thế đồng nội tệ), cuối cùng đượcđánh giá tương quan về giá cả giữa ngoại tệ và nội tệ, được chỉ số hóa bằng tỷ
Trang 5giá hối đoái Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF) xếp Việt Nam vào nhóm nước "đô lahóa" không chính thức
Đô la hoá không chính thức có thể bao gồm các loại sau:
• Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài
• Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài
• Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước
• Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi
- Đô la hoá bán chính thức là những nước có hệ thống lưu hành chính
thức hai đồng tiền Ở những nước này, đồng ngoại tệ là đồng tiền lưu hành hợppháp, và thậm chí có thể chiếm ưu thế trong các khoản tiền gửi ngân hàng,nhưng đóng vai trò thứ cấp trong việc trả lương, thuế và những chi tiêu hàngngày Các nước này vẫn duy trì một ngân hàng trung ương để thực hiện chínhsách tiền tệ của họ Khác với các nước " đô la hóa" chính thức, ngân hàng trungương những nước đó phát hành đồng nội tệ và điều hành chính sách tiền tệ củađất nước Trên thế giới, có khoảng 12 nước như Bahamas, Haiti, Liberia… ápdụng " đô la hóa" bán chính thức
Cách thứ hai: Đô la hoá toàn phần, đô la hóa từng phần:
Đô la hoá toàn phần bao gồm đô la hoá chính thức
Đô la hoá từng phần bao gồm đô la hoá không chính thức và đô la hoá
bán chính thức
3.Tác động của Đô la hoá tới nền kinh tế:
Tình trạng "đô la hoá" nền kinh tế có tác động tích cực và tác động tiêucực
a Những tác động tích cực:
- Tạo một cái van giảm áp lực đối với nền kinh tế trong những thời kỳ lạmphát cao, bị mất cân đối và các điều kiện kinh tế vĩ mô không ổn định Do cómột lượng lớn đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng, sẽ là một công cụ tự bảo vệ
Trang 6chống lại lạm phát và là phương tiện để mua hàng hoá ở thị trường phi chínhthức.
Ở các nước đô la hoá chính thức, bằng việc sử dụng đồng ngoại tệ, họ sẽduy trì được tỷ lệ lạm phát gần với mức lạm phát thấp làm tăng sự an toàn đốivới tài sản tư nhân, khuyến khích tiết kiệm và cho vay dài hạn Hơn nữa, ởnhững nước này ngân hàng trung ương sẽ không còn khả năng phát hành nhiềutiền và gây ra lạm phát, đồng thời ngân sách nhà nước sẽ không thể trông chờvào nguồn phát hành này để trang trải thâm hụt ngân sách, kỷ luật về tiền tệ vàngân sách được thắt chặt Do vậy, các chương trình ngân sách sẽ mang tính tíchcực hơn
- Tăng cường khả năng cho vay của ngân hàng và khả năng hội nhập quốc
tế Với một lượng lớn ngoại tệ thu được từ tiền gửi tại ngân hàng, các ngânhàng sẽ có điều kiện cho vay nền kinh tế bằng ngoại tệ, qua đó hạn chế việcphải vay nợ nước ngoài, và tăng cường khả năng kiểm soát của ngân hàngtrung ương đối với luồng ngoại tệ Đồng thời, các ngân hàng sẽ có điều kiện
mở rộng các hoạt động đối ngoại, thúc đẩy quá trình hội nhập của thị trườngtrong nước với thị trường quốc tế
- Hạ thấp chi phí giao dịch Ở những nước đô la hoá chính thức, các chiphí như chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi chuyển từ đồng tiền này sangđồng tiền khác được xoá bỏ Các chi phí dự phòng cho rủi ro tỷ giá cũng khôngcần thiết, các ngân hàng có thể hạ thấp lượng dự trữ, vì thế giảm được chi phíkinh doanh
- Thúc đẩy thương mại và đầu tư Các nước thực hiện đô la hoá chính thức
có thể loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soát mua ngoại tệ,khuyến khích tự do thương mại và đầu tư quốc tế Các nền kinh tế đô la hoá cóthể được, chênh lệch lãi suất đối với vay nợ nước ngoài thấp hơn, chi ngân sáchtiảm xuống và thúc đẩy tăng trưởng và đầu tư
- Thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức và phí chínhthức Tỷ giá chính thức càng sát với thị trường phi chính thức, tạo ra động cơ
Trang 7để chuyển các hoạt động từ thị trường phi chính thức (bất hợp pháp) sang thịtrường chính thức (thị trường hợp pháp).
- Làm giảm hiệu quả điều hành của chính sách tiền tệ :
• Gây khó khăn trong việc dự đoán diễn biến tổng phương tiện thanh toán,
do đó dẫn đến việc đưa ra các quyết định về việc tăng hoặc giảm lượng tiềntrong lưu thông kém chính xác và kịp thời
• Làm cho đồng nội tệ nhậy cảm hơn đối với các thay đổi từ bên ngoài, do
đó những cố gắng của chính sách tiền tệ nhằm tác động đến tổng cầu nền kinh
tế thông qua việc điều chỉnh lãi suất cho vay trở nên kém hiệu quả
• Tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá Đô la hoá cóthể thực thi chính sách tỷ giá Đô la hoá có thể làm cho cầu tiền trong nướckhông ổn định, do người dân có xu hướng chuyển từ đồng nội tệ sang đô la
Mỹ, làm cho cầu của đồng đô la Mỹ tăng mạnh gây sức ép đến tỷ giá
Khi các đối thủ cạnh tranh trên thị trường thế giới thực hiện phá giá đồngtiền, thì quốc gia bị đô la hoá sẽ không còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranhcủa khu vực xuất khẩu thông qua việc điều chỉnh lại tỷ giá hối đoái
• Ở trong các nước đô la hoá không chính thức, nhu cầu về nội tệ không
ổn định Trong trường hợp có biến động, mọi người bất ngờ chuyển sang ngoại
tệ có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát Khingười dân giữ một khối lượng lớn tiền gửi bằng ngoại tệ, những thay đổi về lãisuất trong nước hay nước ngoài có thể gây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiềnnày sang đồng tiền khác (hoạt động đầu cơ tỷ giá) Những thay đổi này sẽ gây
Trang 8khó khăn cho ngân hàng trung ương trong việc đặt mục tiêu cung tiền trongnước và có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống ngân hàng.
Trường hợp tiền gửi của dân cư bằng ngoại tệ cao, nếu khi có biến độnglàm cho người dân đổ xô đi rút ngoại tệ, trong khi số ngoại tệ này đã được ngânhàng cho vay, đặc biệt là cho vay dài hạn, khi đó ngân hàng nhà nước của nước
bị đô la hoá cũng không thể hỗ trợ được vì không có chức năng phát hành đô laMỹ
- Chính sách tiền tệ bị phụ thuộc nặng nề vào nước Mỹ Trong trường hợp
đô la hoá chính thức, chính sách tiền tệ và chính sách lãi suất của đồng tiền khi
đó sẽ do nước Mỹ quyết định Trong khi các nước đang phát triển và một nướcphát triển như Mỹ không có chu kỳ tăng trưởng kinh tế giống nhau, sự khácbiệt về chu kỳ tăng trưởng kinh tế tại hai khu vực kinh tế khác nhau đòi hỏiphải có những chính sách tiền tệ khác nhau
- Đô la hoá chính thức sẽ làm mất đi chức năng của ngân hàng trung ương
là người cho vay cuối cùng của các ngân hàng Trong các nước đang phát triểnchưa bị đô la hoá hoàn toàn, mặc dù các ngân hàng có vốn tự có thấp, songcông chúng vẫn tin tưởng vào sự an toàn đối với các khoản tiền gửi của họ tạicác ngân hàng Nguyên nhân là do có sự bảo lãnh ngầm của Nhà nước đối vớicác khoản tiền này Điều này chỉ có thể làm được đối với đồng tiền nội tệ, chứkhông thể áp dụng được đối với đô la Mỹ Đối với vác nước đô la hoá hoàntoàn, khu vực ngân hàng sẽ trở nên bất ổn hơn trong trường hợp ngân hàngthương mại bị phá sản và sẽ phải đóng cửa khi chức năng người cho vay cuốicùng của ngân hàng trung ương đã bị mất
4 Nguyên nhân dẫn tới đô la hoá nền kinh tế:
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đô la hoá nền kinh tế song có 3 nguyênnhân chính sau:
Thứ nhất, do nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao, sức mua của đồng bản tệ
giảm sút người dân phải tìm các công cụ dự trữ giá trị khác, trong đó có các
Trang 9đồng ngoại tệ có uy tín Song song với chức năng làm phương tiện cất giữ giátrị, dần dần đồng ngoại tệ sẽ cạnh tranh với đồng nội tệ trong chức năng làmphương tiện thanh toán hay làm thước đo giá trị.
Tình trạng đô la hoá bao gồm cả ba chức năng thuộc tính của tiền tệ, đó là:
• Chức năng làm phương tiện thước đo giá trị
• Chức năng làm phương tiện cất giữ
• Chức năng làm phương tiện thanh toán
Thứ hai, trong điều kiện của thế giới ngày nay, hầu hết các nước đều thực
thi cơ chế kinh tế thị trường mở cửa; quá trình quốc tế hoá giao lưu thươngmại, đầu tư và hợp tác kinh tế ngày càng tác động trực tiếp vào nền kinh tế vàtiền tệ của mỗi nước, nên trong từng nước xuất hiện nhu cầu khách quan sửdụng đơn vị tiền tệ thế giới để thực hiện một số chức năng của tiền tệ Đô lahoá ở đây có khi là nhu cầu, trở thành thói quen thông lệ ở các nước
Thứ ba, Mức tiết kiệm thấp và thời hạn tương đối ngắn của tiền gửi, trái
phiếu, v.v (kỳ hạn trung bình chưa tới một năm) đã buộc các nước đi vay bênngoài bằng đồng ngoại tệ, gây đô-la hoá các khoản nợ Các chuyên gia kinh tế
đã mô tả hiện tượng này là ''sai lầm đầu tiên'', khiến quốc gia vay tiền phơinhiễm với các cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế
5 Những nước đã tiến hành Đô La hoá:
5.1 Panama
Nước đầu tiên tiến hành đô la hoá toàn phần là Panama Từ năm 1904, sau khi tách ra khỏi Colombia, Panama đã dùng đồng xanh Việc này đã có ảnh hưởng rất tốt đến nền kinh tế của Panama Ví dụ trong suốt những năm
1990 lạm phát hầu như không vượt quá 1% một năm Nhưng đồng thời đô la hoá vẫn không giúp Panama được hoàn toàn độc lập với trợ giúp của các tổ chức bên ngoài Từ năm 1973 Panama tiếp nhận hơn 15 chương trình của Quỹ
Trang 10Tiền tệ quốc tế, và đô la hoá cũng không ngăn được việc Panama mất khả năng trả nợ nước ngoài vào giữa những năm 1980.
5.2 Ecuador
Ecuador bắt đầu thực hiện chuyển đổi vào đầu năm 2000 Đô la hoá là phương cách cuối cùng của Ecuador khi nước này cố vượt qua một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, với một hệ thống ngân hàng suy sụp, đồng nội tệ (đồng sucre) mất giá, và sự chống đối của người dân bản xứ Khi Tổng thống Jamil Mahuad thông cáo ý định đô la hoá vào tháng 1 năm 2000, quá trình này
đã bắt đầu được tiến hành, đất nước đã đang trong quá trình đô la hoá một cách mạnh mẽ Tuy nhiên thông cáo của tổng thống đã dẫn đến một cuộc đảo chính, và tổng thống đã phải từ chức Chính quyền dân sự được tái lập vào tháng 2, nghị viện Ecuador thông qua luật cho phép được đô la hoá toàn phần Trước khi đổi hệ thống tiền sang đô la, Ecuador đã thử tiến hành nhiều biện pháp hối đoái khác nhau như tỉ giá cố định, chính sách ghìm tỉ giá Tất cả các biện pháp này đều không có hiệu quả và đến nay quyết định đô la hoá vẫn được coi là hợp lý đối với Ecuador.
5.3 El Salvador
Cuối tháng 11 năm 2000 nghị viện El Salvador thông qua luật thực hiện đô la hoá toàn phần trong cả nước Bắt đầu từ ngày mùng 1 tháng 1 năm 2001 các máy đếm tiền tự động đều được nạp chương trình để phát ra đồng đô la và tất cả các tài khoản ngân hàng đều chuyển sang đô la Sự thay đổi này không hẳn do nguyên nhân khủng hoảng kinh tế trầm trọng như trường hợp của Ecuador Trên thực tế, lạm phát
ở Salvador thấp, chỉ khoảng 1.3% trong vòng 1 thập kỷ trước Đô la hoá thật ra la để thu hút đầu tư nước ngoài vào El Salvador.
Cũng như người dân Ecuador, người Salvador không ngạc nhiên mấy khi nghe quyết định đô la hoá vì tỉ giá giữa đồng nội tệ colon và đô la đã được cố định
Trang 11trong suốt 8 năm Ngân hàng trung ương Salvador ước tính gần 70% số tiền đang được sử dụng tại thời điểm đó là đô la Cũng như trường hợp trên, lợi ích của đô la hoá còn cần được xem xét thêm Tuy nhiên cũng đã có những dấu hiệu tốt: ngày El Salvador tiến hành chuyển đổi sang đồng tiền mới lãi suất tiêu dùng và vay mua nhà giảm từ 17% xuống 11%.
5.4 Các trường hợp khác
Vài năm trước đây, Mỹ thông báo là đô la sẽ được coi là đồng tiền chính thức của Đông Timor, nước vừa tuyên bố độc lập khỏi Indonesia Tháng 12 năm 2000, Guatemala thông qua luật cho phép được sử dụng đô la rộng rãi, tuy không tuyên bố hẳn là sẽ dô la hoá toàn phần Một loạt các nước khác cũng đã cân nhắc về quyết định đô la hoá ví dụ như Costa Rica, Honduras, Nicaragua Vài người đã đề nghị đô la hoá Afganistan, như một biện pháp tạm thời cho đến khi chính phủ được đặt trong một chế độ chính trị ổn định Trong khi nhiều nước vẫn sử dụng đồng đô la là chính, không có nước nào thay đổi chính sách đô la hoá toàn phần, và đây thường được coi là một chính sách cố định.
Trang 12CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG ĐÔ LA HOÁ Ở VIỆT NAM
1 Thực trạng đôla hoá ở Việt Nam:
Như đã đề cập ở chương I, ở nước ta, "đô la hóa" được nhận thức là việc
sử dụng USD trong giao dịch thương mại và dịch vụ song song với VND do ởViệt Nam USD là loại ngoại tệ được sử dụng phổ thông và nhiều nhất so vớicác ngoại tệ khác, trong khi trên thế giới, "đô la hóa" có khái niệm rộng hơn:khi dân cư một nước sử dụng rộng rãi ngoại tệ song song với đồng nội tệ hoặcthay thế đồng nội tệ Do vậy, trong phạm vi bài nghiên cứu này, chúng ta sẽ đisâu hơn về các số liệu liên qua tới đồng USD
Ở Việt Nam, theo thống kê, tỷ lệ đô la hóa luôn ở mức trên 20% trong khi
tỷ lệ này ở các nước trong khu vực thấp hơn rất nhiều, như: Indonesia, TháiLan, Malaysia chỉ khoảng 7-10% Mục tiêu của Ngân hàng nhà nước ViệtNam tới năm 2010 sẽ giảm tỷ lệ này xuống còn 15%
Những năm qua, lượng tiền gửi tuyệt đối bằng USD tại các ngân hàng đãkhông ngừng tăng lên, đặc biệt là ở hệ thống ngân hàng tại 2 thành phố lớn là
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Với nguồn vốn ngoại tệ đồ sộ đó, các ngânhàng thường có 2 cách lựa chọn: một là đem gửi ở ngân hàng nướcngoài_những nước có lãi suất tiết kiệm bằng đồng USD cao hơn trong nước đểkiếm lời bằng chênh lệch lãi suất hoặc thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệtrên thị trường ngoại tệ quốc tế; hai là đầu tư và cho các doanh nghiệp trongnước vay Cách thứ nhất buộc các ngân hàng phải có một lượng USD tương đốilớn, song, hiệu quả kinh tế không cao, lại luôn tiềm tàng nhiều rủi ro do giáUSD trên thị trường thế giới luôn biến đổi thất thường Điển hình là việc Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã từng có giai đoạn bị thua lỗ hàngchục triệu USD do kinh doanh ngoại tệ Chính vì vậy mà các ngân hàng thườngthực hiện theo cách thứ 2: đầu tư cho vay trong nước, và chính điều này đã làm
Trang 13gia tăng các giao dịch, thanh toán bằng USD trên nhiều loại thị trường Điềunày không những đẩy nhanh quá trình đô la hóa mà còn mang lại nhiều rủi rocho doanh nghiệp vay vốn bằng USD: họ kinh doanh bằng VNĐ nhưng phải trả
nợ ngân hàng bằng USD và nghiễm nhiên sẽ phải gánh chịu rủi ro về tỷ giá.Một lĩnh vực đô la hóa tương đối mạnh đó là bán hàng qua mạng, kinhdoanh các sản phẩm nhập khẩu, nhất là đồ điện tử Ta có thể thấy bằng trựcgiác việc niêm yết giá bằng cả VNĐ lẫn USD ở hầu như 100% các trang webbán đồ điện tử như: máy vi tính, các thiết bị gia dụng nhập ngoại v.v Mặc dùhai loại giá được đặt song song nhưng việc thanh toán thực tế thì luôn đượcthực hiện bằng USD, nếu khách hàng thanh toán bằng VNĐ thì giá của hànghóa sẽ dựa trên tỷ giá hối đoái giữa VN và USD ngày hôm thực hiện giao dịch.Những hàng hóa này thường là những hàng hóa mà doanh nghiệp Việt Namphải nhập khẩu toàn bộ hoặc nhập khẩu từng liên kiện, nên giá của chúng phụthuộc hoàn toàn vào USD, do vậy, các doanh nghiệp, để tránh rủi ro tỷ giá chomình, buộc phải niêm yết giá bằng USD Ngoài ra, doanh nghiệp niêm yết giábằng USD còn để tăng tính "hiện đại", "thương mại điện tử" Điều này rất đáng
lo ngại vì kinh doanh qua mạng sẽ trở thành loại hình kinh doanh chủ yếu trongtương lai
Từ khi nước ta chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập với thế giới,chính sách tiền tệ trở nên rất quan trọng Tín dụng, lãi suất và tỷ giá là các công
cụ chủ yếu điều tiết hoạt động kinh tế của đất nước Ngân hàng Nhà nước trởthành cơ quan có chức năng và quyền lực chi phối hoạt động kinh tế cả ở tầm
vi mô và vĩ mô
Ở Mỹ, Cục dự trữ liên bang (FED) đóng vai trò ngân hàng trung ương, là
cơ quan độc lập với Tổng thống và Quốc hội, quyết định lãi suất và tỷ giá đểkích thích hoặc kìm hãm tín dụng đầu tư, kinh doanh, xử lý các tình huống kinh
tế bằng tăng hoặc giảm lãi suất Chủ tịch FED, ông Ben Bernanke được tạp chíTime bình chọn là Nhân vật của năm 2009 do đã "bình tĩnh và khôn ngoan…
Trang 14đặt các phanh hãm sự tuột dốc của nền kinh tế Mỹ" như đánh giá của Tổngthống Barak Obama.
Việc biến động tỷ giá hối đoái trong những tháng gần đây có nhiềunguyên nhân gắn với tình trạng "đô la hóa" không chính thức ở nước ta Mặc
dù Chính phủ theo đuổi chính sách quản lý ngoại hối theo định hướng nhấtquán "trên thị trường Việt Nam chỉ giao dịch bằng đồng Việt Nam", nhưngthực tế, ngoại tệ và vàng được sử dụng khá phổ biến như các phương tiện thanhtoán trong giao dịch mua bán bất động sản, hàng hóa đắt tiền, vay, trả nợ, cấttrữ Mỗi khi có biến động về tỷ giá thì các ngoại tệ, nhất là USD gia tăng vaitrò trên thị trường
Tuy vậy, nguyên nhân chính của thực trạng đó là tình trạng lạm phát caotrong mấy năm liền đã làm cho giá trị thực của VND giảm sút, kéo theo độ tínnhiệm của người dân với VND giảm Giá cả trên thị trường thế giới biến động,một số hàng hóa như xăng dầu, sắt thép… tăng cao đã tác động đến giá cảtrong nước, làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng Đó là nhân tố khách quan
từ bên ngoài Nhân tố chủ yếu là quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và lưuthông tiền tệ Trong 2 năm 2005 và 2006, GDP của Việt Nam tăng 17%, tiềnlưu thông trên thị trường và tiền gửi ngân hàng - M2 tăng 73% Cũng trong hainăm đó, GDP của Trung Quốc tăng 22%, thì M2 chỉ tăng 36% Quan hệ giữatăng M2 và tăng GDP của nước ta là 4,3 lần, thì của Trung Quốc chỉ là 1,6 lần,điều đó giải thích vì sao CPI của Việt Nam cao gấp đôi Trung Quốc
Do vậy, mặc dù kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng cao, nhưngcũng xuất hiện mối lo ngại của các doanh nghiệp và người dân về tình trạnglạm phát cao, VND sụt giá và không ổn định
CPI liên tục tăng, năm 2004 là 7,71%, năm 2005 là 8,29%, năm 2006 là7,48%, năm 2007 là 8,30%, năm 2008 là 22,97% và năm 2009 là 6,88% Thựctrạng đó có liên quan đến mức chi tiêu danh nghĩa trong nước đã tăng nhanhkhi các khoản viện trợ chính thức (ODA), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vàđầu tư gián tiếp (FPI), kiều hối đổ vào nước ta ngày càng nhiều Nếu như năm