1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CVTD TẠI SỞ GIAO DỊCH I

19 498 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chât Lượng CVTD Tại Sở Giao Dịch I
Trường học Sở Giao Dịch I
Chuyên ngành Kinh tế ngân hàng
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản Không rõ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 31,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.2 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CVTD CỦA SỞ GIAO DỊCH I – NHCT Năm 2007 là một năm mà Sở giao dịch I – NHCT gặt hái được nhiều thành công, tuy nhiên đây cũng là năm có nhiều thách thức

Trang 1

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CVTD TẠI SỞ

GIAO DỊCH I - NHCT

3.1 CVTD – ĐOẠN THỊ TRƯỜNG TIỀM NĂNG CỦA NHTM

Tuy mới được quan tâm trong những năm gần đây, nhưng có thể thấy CVTD đang trở thành xu hướng tất yếu của hoạt động kinh doanh ngân hàng Trên thế giới, các ngân hàng chủ yếu thực hiện CVTD, còn ở Việt Nam thì chỉ vài năm gần đây các NHTM mới bắt đầu chú trọng đến, nhưng có thể nhận thấy đây là đoạn thị trường tiềm năng của các NHTM, được thể hiện qua những số liệu sau :

* Sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam

Nền kinh tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO đã có bước tăng trưởng rõ rệt, theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê, về sơ bộ cho thấy GDP 2007

là 1143442 tỷ đổng tăng 8,48% so với 2006, tăng trưởng kinh tế của nước ta đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực (Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển Châu Á-ADB thì năm 2007 kinh tế Trung Quốc tăng 11,2%; Việt Nam tăng 8,3%; Xin-ga-po tăng 7,5%; Phi-li-pin tăng 6,6%; In-đô-nê-xi-a tăng 6,2%; Ma-lai-xi-a tăng 5,6%; Thái Lan tăng 4%) Điều này cho thấy, sự phát triển không ngừng của nền kinh tế sẽ kéo theo

sự phát triển của xã hội, đời sống người dân được cải thiện, do thu nhập tăng

* Thu nhập của người dân

Cũng theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê năm 2006, thu nhập bình quân 1 người 1 tháng chung cả nước theo giá hiện hành đạt 636.000 đồng, tăng 31,3% so với năm 2004 Thu nhập ở khu vực thành thị và nông thôn đều tăng Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng ở khu vực thành thị đạt 1.058.000 đồng, tăng 29,8%; khu vực nông thôn đạt 506.000 đồng, tăng 33,8% so với năm

2004 và tăng nhanh hơn khu vực thành thị Tuy nhiên thu nhập của hộ gia đình

Trang 2

thành thị vẫn cao hơn nông thôn Chênh lệch thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2002; 2004, 2006 của khu vực thành thị so với khu vực nông thôn tương ứng các năm là: 2,26; 2,15 và 2,09 lần và có xu hướng thu hẹp dần

* Sự phát triển của dân số Việt Nam

CVTD là một thị trường mới phát triển trong những năm gần đây, chủ yếu để tập trung phục vụ đối tượng có thu nhập, thường là những người trong

độ tuổi lao động Dân số Việt Nam hiện nay là khoảng 85 triệu dân, trong đó có khoảng 60% dân số thuộc độ tuổi lao động, có thể thấy rõ Việt Nam là một thị trường tiềm năng cho rất nhiều ngành kinh tế, trong đó có CVTD Theo dự báo, năm 2010 dân số Việt Nam sẽ đứng thứ 4 trong khu vực châu Á sau Trung Quốc và vượt qua Nhật Bản

* Nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của người dân ngày càng cao

Công ty dịch vụ nghiên cứu toàn cầu McKinsey vừa công bố một báo cáo

về thái độ, quan điểm của người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ, đối với các dịch vụ ngân hàng Báo cáo này là một phần nghiên cứu về thị trường ngân hàng bán

lẻ được thực hiện tại 11 quốc gia và vùng lãnh thổ ở châu Á như Trung Quốc,

Ấn Độ, Thái Lan với 13.000 khách hàng

Mặc dù phát triển mạnh trong những năm gần đây, lĩnh vực ngân hàng bán lẻ của Việt Nam vẫn còn nhỏ bé Tài sản của các ngân hàng tính đến thời điểm năm 2006 mới chỉ đạt khoảng 75 tỷ USD ( tương đương 123% GDP), trong khi con số này ở Thái Lan là 226 tỷ USD (110%) và ở Malaysia là 302 tỷ USD (195%) Ngoài ra, chỉ chưa đầy 10% dân số của Việt Nam có sử dụng dịch vụ ngân hàng

Tuy nhiên, theo ước tính, doanh số của lĩnh vực ngân hàng bán lẻ ở Việt Nam có thể tăng trưởng lên 25% trong vòng 5-10 năm tới, đưa Việt Nam trở thành một trong những thị trường ngân hàng bán lẻ có tốc độ tăng trưởng cao nhất ở Châu Á Đây là kết quả của sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, thu nhập của các hộ gia đình tăng lên và mức độ thâm nhập hiện còn thấp của các dịch vụ

Trang 3

ngân hàng.

Các chuyên gia của McKinsey cho rằng, những người Việt Nam trong độ tuổi từ 21-29 sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình thị trường ngân hàng bán lẻ tại đây Điều tra cho thấy, những khách hàng có độ tuổi 21-29

sử dụng 2,3 dịch vụ ngân hàng mỗi người, trong khi đối tượng khách hàng lớn tuổi chỉ sử dụng 1,9 dịch vụ Có 91% số người trong nhóm tuổi này có tài khoản tiết kiệm, so với mức 55% ở nhóm người ở tuổi 30 trở lên 89% trong số khách hàng trẻ này có thẻ ghi nợ, so với tỷ lệ 40% trong đối tượng tuổi già hơn Đặc biệt, những người trẻ tuổi ở Việt Nam cũng tỏ ra thích thú hơn với việc vay tiền ngân hàng so với thế hệ đi trước 45% trong số được hỏi cho rằng, việc vay tiền

có thể giúp họ cải thiện phong cách sống, so với 31% số người ở độ tuổi già hơn

Những con số này cho thấy, tiềm năng của thị trường CVTD là rất lớn, điều này cũng lí giải vì sao, có rất nhiều ngân hàng đã định hướng phát triển thành những ngân hàng bán lẻ như Sacombank, Techcombank Không chỉ những ngân hàng trong nước, mà các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam cũng đang mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình trong đoạn thị trường này như ngân hàng ANZ, HSBC Chính vì vậy, có thể khẳng định, CVTD là đoạn thị trường tiềm năng của NHTM

3.2 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CVTD CỦA SỞ GIAO DỊCH I – NHCT

Năm 2007 là một năm mà Sở giao dịch I – NHCT gặt hái được nhiều thành công, tuy nhiên đây cũng là năm có nhiều thách thức đối với Sở giao dịch

I, để đối mặt với những thách thức đó Sở giao dịch I đã đề ra một số định hướng hoạt động trong thời gian tới:

- Đẩy mạnh các biện pháp huy động vốn, đặc biệt là nguồn tiền gửi dân cư

- Tăng trưởng tín dụng trong tầm kiểm soát, đảm bảo an toàn, hiệu quả,

- Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng của các sản phẩm dịch vụ, nhằm tạo được

sự khác biệt của sản phẩm và có tính cạnh tranh cao

Trang 4

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chú trọng đào tạo chuyên sâu theo từng loại nghiệp vụ, trong đó tăng cường đào tạo tại chỗ

- Tiếp tục củng cố và mở rộng mạng lưới kinh doanh Trang bị đầy đủ phương tiện làm việc phù hợp với từng nghiệp vụ, trên cơ sở tiết kiệm chi phí

- Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát bảo đảm an toàn mọi mặt hoạt động

Từ những định hướng chung và nhận thấy CVTD là đoạn thị trường tiềm năng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, Sở giao dịch I đã chú trọng và đẩy mạnh hoạt động CVTD

Trong năm 2008, mục tiêu của Sở giao dịch I – NHCT là dư nợ cho vay đầu tư tăng 20%, lợi nhuận trên 10% Nâng cao năng lực thẩm định, kiểm tra, giám sát tín dụng và quản lý rủi ro để đảm bảo an toàn và hiệu quả tiền vay, không phát sinh nợ xấu giảm tỉ lệ nợ quá hạn xuống dưới 1% Tiếp tục làm việc với các cơ quan chức năng để xử lý thu hồi các khoản nợ tồn đọng cũ

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CVTD TẠI SỞ GIAO DỊCH I – NHCT

3.3.1 Xây dựng hệ thống tính điểm tín dụng đối với hoạt động CVTD

Lý luận cơ sở của hệ thống này là Sở giao dịch I có thể định dạng được các yếu tố về tài chính, kinh tế và mục đích của khách hàng để tách riêng các khoản vay loại tốt với loại không tốt thông qua việc quan sát, thu thập và tổng kết từ số đông khách hàng vay nợ từ trước đến nay

Việc chấm điểm tín dụng được thực hiện theo phương pháp xếp loại và phương pháp so sánh Cách thức sử dụng là CBTD dựa vào hệ thống tính điểm này để đánh giá về điểm số cho các nhu cầu vay vốn khác nhau từ phía khách hàng Dựa vào kết quả điểm số, ngân hàng có thể đưa ra quyết định trong việc

áp dụng chính sách khách hàng phù hợp Tuy nhiên, cần phải khẳng định, đây là những chỉ tiêu định lượng, để quản lý khoản vay được hiệu quả hơn, các CBTD cần đề xuất các phương án quản lý đi kèm

Trang 5

Như vậy, hệ thống tính điểm có những ưu thế sau:

- Loại bỏ bớt những đánh giá mang tính chủ quan

- Có thể giải quyết một số lượng lớn yêu cầu đơn xin vay của khách hàng mà không cần nhiều sức người, từ đó giúp giảm chi phí

- Thời gian xét duyệt một khoản vay sẽ nhanh hơn

- So sánh và đánh giá vị thế của phương án vay vốn với mặt bằng chung các khoản vay có tính chất tương tự, giúp cho việc ra quyết định đối với khoản vay được chính xác và khách quan hơn

Tuy nhiên, hệ thống tính điểm cũng có những hạn chế riêng, nó mang nhiều tính máy móc, không phân biệt được những trường hợp đặc biệt cần đánh giá riêng Thêm vào đó, chúng ta thấy rằng việc sử dụng hệ thống tính điểm tức

là chúng ta đã dùng những thông tin của quá khứ để đánh giá hiện tại và tương lai , cơ sở thông tin để xây dựng hệ thống tính điểm là những số liệu từ quá khứ

Do vậy, sai sót của hệ thống tính điểm có thể mang tính hệ thống Biện pháp nhằm hạn chế những nhược điểm trên là Sở giao dịch I cần thường xuyên kiểm tra và xem xét lại hệ thống tính điểm để luôn có số liệu linh hoạt, chính xác

Có nhiều hệ thống tính điểm khác nhau, sau đây là một hệ thống tính điểm áp dụng cho khách hàng vay tiêu dùng Hệ thống tính điểm cho kết quả chấm điểm như sau :

- Từ 85 – 100 điểm : Khách hàng xếp loại 1

- Từ 70 – 84 điểm : Khách hàng xêp loại 2

- Từ 50 – 69 điểm : Khách hàng xếp loại 3

- Từ 30 – 49 điểm : Khách hàng xếp loại 4

- Dưới 30 điểm : Khách hàng xếp loại 5

Chính sách tín dụng áp dụng cho từng nhóm khách hàng như sau :

- Khách hàng loại 1 : đây là đối tượng khách hàng tiềm năng Ngoài sản phẩm tín dụng, Sở có thể cung cấp cùng lúc nhiều sản phẩm và dịch vụ đối với khách hàng này : tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, các dịch vụ bảo lãnh

- Khách hàng loại 2 : đây là đối tượng khách hàng có nhiều triển vọng với

Trang 6

Sở giao dịch Các dịch vụ bảo lãnh, tín dụng cần xem xét điều kiện cho vay theo từng phương án cụ thể Đối với loại khách hàng này, ngân hàng cũng có thể cung cấp các sản phẩm dịch vụ khác

- Khách hàng loại 3 : với đối tượng khách hàng này, thì áp dụng chính sách đãi ngộ bình thường Các phương án cho vay cần nghiên cứu kĩ tình hình thực tế tại thời điểm cho vay, điều kiện quản lý khoản vay cần chặt chẽ

- Khách hàng loại 4 : đối tượng khách hàng này có năng lực tài chính yếu,

Sở chỉ cung cấp các sản phẩm : tiền gửi tiết kiệm, thẻ ATM Các sản phẩm tín dụng chỉ cấp khi phương án cho vay thực sự hiệu quả, nguồn trả nợ rõ ràng, tài sản đảm bảo có tính thanh khoản cao

- Khách hàng loại 5: Chỉ cung cấp các sản phẩm, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, thẻ ATM Không cung cấp sác sản phẩm tín dụng, bảo lãnh

3.3.2 Hoàn thiện qui trình CVTD

Qui trình CVTD là tổng hợp các nguyên tắc, qui định của ngân hàng trong việc cấp tín dụng tiêu dùng Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể, theo một trình tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng Đây là một quá trình gồm nhiều giai đoạn mang tính chất liên hoàn, theo một trật tự nhất định, có quan hệ chặt chẽ và gắn bó với nhau Sở giao dịch I nên thiết kế và hoàn thiện qui trình CVTD để quá trình cho vay được tiến hành nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm an toàn cho ngân hàng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát bảo đảm an toàn mọi mặt hoạt động Kết hợp nhiều hình thức kiểm tra định kỳ, đột xuất, phát hiện và chấn chịnh kịp thời những sai sót, nâng cao ý thực chấp hành cơ chế, qui trình nghiệp vụ Cụ thể là :

* Giảm thời gian thẩm định hồ sơ vay

Hiện nay, các ngân hàng đang đua nhau trong việc giảm thời gian xem xét hồ sơ cho vay đối với khách hàng vay tiêu dùng Có những ngân hàng phấn đấu thời gian cho vay chỉ còn 8 tiếng, điều này đồng nghĩa với việc, khách hàng

Trang 7

không phải chờ đợi lâu để có được khoản vay sau khi đã đáp ứng đủ điều kiện cho vay Nhu cầu vay vốn của khách hàng là để phục vụ cho nhu cầu cá nhân, mua các sản phẩm tiêu dùng, vì vậy họ rất muốn vay được sớm Do đó, giảm thời gian thẩm định hồ sơ vay là một giải pháp mà các ngân hàng khác đang áp dụng nhằm lôi kéo khách hàng

* Tăng cường công tác kiểm tra trong quá trình phát tiền vay

Kiểm tra mục đích, đối tượng vay vốn từng lần xem có phù hợp với mục đích đối tượng vay vốn trong hợp đồng tín dụng hay không Kiểm tra mức cho vay Kiểm tra tình hình đảm bảo nợ vay thông qua các tài sản thế chấp với Ngân hàng làm đảm bảo hoặc tư cách của người bảo lãnh tiền vay Mục đích khi thực hiện công tác kiểm tra này sẽ có tác dụng phát hiện ra những sơ hở, yếu kém của những khâu trước giúp CBTD đưa ra những biện pháp khắc phục kịp thời, hạn chế ngăn ngừa nợ quá hạn phát sinh Căn cứ vào định hướng của NHCT, chương trình phát triển kinh tế Hà Nội và diễn biến của thị trường để cho vay đúng hướng Tiếp tục bổ sung tài sản đảm bảo vốn vay, nâng cao năng lực thẩm định, kiểm trả, giám sát tín dụng và quản lí rủi ro để đảm bảo an toàn và hiệu quả tiền vay, không phát sinh nợ xấu

* Tăng cường kiểm tra sau khi giải ngân:

Kiểm tra sau là một khâu của thực hiện qui trình tín dụng, điều này càng quan trọng đối với CVTD Do đặc điểm của các món vay tiêu dùng thường phát sinh không thường xuyên, các món vay xảy ra một lần và kéo dài tới vài ba năm, do vậy nên công tác kiểm tra và thăm hỏi khách hàng không được thực hiện thường xuyên Việc kiểm tra sau khi giải ngân không chỉ nhằm mục đích truyền thống là kiểm tra tính trung thực trong việc sử dụng vốn vay theo đề xuất khi vay mà còn nhằm đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng cũng như phát hiện nhu cầu mới của khách hàng Mở rộng khách hàng mới bằng việc khai thác khách hàng cũ là một việc nên làm Đồng thời việc thường xuyên sử thăm hỏi khách hàng sẽ là một kênh thông tin phản hồi rất chính xác về chất lượng và vị

Trang 8

thế của sản phẩm Các thông tin này sẽ giúp cho việc cải thiện chất lượng dịch vụ và làm cơ sở để mở rộng CVTD

3.3.3 Đa dạng hoá sản phẩm CVTD

Trong điều kiện cạnh tranh kinh doanh ngân hàng ngày càng gay gắt; thực hiện mục tiêu mở rộng hoạt động CVTD là một yêu cầu tất yếu Điều đó, trước hết thực hiện đa dạng hoá và tăng tính cạnh trang của sản phẩm CVTD

Thứ nhất, triển khai sản phẩm cho vay mua nhà chung cư, nguồn trả nợ

là thu nhập hàng tháng, tài sản đảm bảo là chính ngôi nhà hình thành từ vốn vay Đối tượng này hiện nay là rất lớn Tuy nhiên, triển khai sản phẩm này trong thực tế còn gặp khá nhiều khó khăn, như giá nhà chung cư, thời hạn cho vay, nguồn thu nợ… do vậy khi triển khai sản phẩm này, bước đầu nên làm thử nghiệm một số đối tượng; sau đó sơ tổng kết rút kinh nghiệm triển khai toàn diện Thực hiện giải pháp này, bao gồm các nội dung chủ yếu sau :

* Yêu cầu thực hiện cho vay:

- Xác định nhu cầu về sản phẩm : Theo xu hướng hiện nay, người tiêu

dùng có xu hướng muốn mua nhà chung cư để có chỗ an cư Giá cả của những tài sản này khá đa dạng, từ dạng cao cấp cho đến dạng trung bình nên đáp ứng được nhu cầu của nhiều đối tượng Người có nhu cầu mua thường là giới trẻ tuổi đời trên 30, đa phần làm việc tại các công ty tư nhân hoặc nước ngoài, mới lập gia đình

- Thời gian : Giá trị của một căn nhà thường khá lớn nên với thời gian ngắn

thì những người sử dụng nguồn thu nhập hàng tháng để trả nợ sẽ khó có khả năng tiếp cận với sản phẩm này

- Tỷ lệ cho vay : Nhiều ngân hàng đang khống chế tỷ lệ cho vay tối đa ở

mức 60% giá trị căn nhà Trong khi đó người tiêu dùng lại có xu hướng muốn vay với một tỷ lệ cao hơn

- Thị trường này hiện còn rất lơn nên có rất nhiều tổ chức tín dụng khác

cũng đang tiến hành nghiên cứu triển khai sản phẩm này Đây là một trong

Trang 9

những sản phầm mà Sở giao dịch I có thể đẩy mạnh khai thác trong thời gian tới

* Đối tượng áp dụng :

Giai đoạn đầu , đối tượng khách hàng có thể được giới hạn trong khối cán

bộ công nhân viên chức có thu nhập trung bình khá Các cá nhân này phải làm việc tại các doanh nghiệp nhà nước thực hiện trả lương qua NHCT Đồng thời các cá nhân này phải đáp ứng được các điều kiện sau:

- Có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội hoặc là đối tượng KT3

- Có thời gian làm việc ổn định tại các doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng

có thời gian làm việc ổn định từ 03 năm trở lên…

- Có vốn tự có tham gia vào phương án tối thiểu là 30%.

* Tài sản đảm bảo:

- Ngôi nhà hình thành từ vốn vay, hiện tại thì một số khu chung cư cao

tầng đã đi vào giai đoạn khai thác ổn định Chất lượng nhà cũng như những giấy

tờ pháp lý của ngôi nhà đã được ổn địn nên có thể lựa chọn đây là tài sảm đảm bảo cho khoản vay

Thứ hai , phát triển sản phẩm cho vay du học Sản phẩm cho vay du học

đã được triển khai tại Sở giao dịch I tuy nhiên kết quả đạt được chưa nhiều Thời gian gần đây, các qui định về chuyển tiền ngoại tệ phục vụ thanh toán chi phí tiêu dùng hàng tháng của học viên tại nước ngoài đã thông thoáng hơn, các tổ chức phát triển du học đã mở rộng, nhiều tổ chức giáo dục đã thâm nhập vào thị trường Việt Nam và đã tạo thành một xu thế du học Đây chính là thời điểm thuận lợi cho Sở giao dịch I có thể phát triển sản phẩm này

Một số giải pháp cụ thể thực hiện như sau :

- Sở giao dịch I – NHCT sẽ hợp tác và duy trì ở cấp độ cao hơn ( cấp thẻ tín dụng miễn phí hoặc cấp thẻ thấu chi, giảm lãi và giảm thời gian thẩm định cho vay ) , đồng thời tích hợp các sản phẩm để làm việc với các công ty đơn vị có chức năng tư vấn và tổ chức cho học sinh, sinh viên đi du học để giới thiệu và quảng bá về sản phẩm cho vay du học của NHCT

Trang 10

- Đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các ngân hàng, các trường đại học tại các nước có du học sinh tạo điều kiện cho việc chuyển tiền được thuận lợi

- Phát triển dịch vụ thẻ thanh toán, thẻ tín dụng để tạo điều kiện cho du học sinh chủ động trong việc thanh toán phí cũng như chi tiêu

Thứ ba, đẩy mạnh cho vay trả góp mua ô tô, xe máy Ngày nay, cùng với

sự phát triển của nền kinh tế, đời sống người dân cũng được cải thiện, những khách hàng có thu nhập tương đối cao ở thành phố có nhu cầu mua sắm ô tô nhiều hơn, song vẫn chưa có điều kiện để trả một lần cho việc mua một chiếc ô

tô Do đó, ngân hàng nên triển khai việc cho vay để mua ô tô trả góp bằng số tiền thu nhập hàng tháng, với lãi suất hợp lí Thông qua việc hợp tác với các hãng xe sẽ giúp cho ngân hàng có nhiều thông tin hơn về nguồn gốc xuất xứ của

xe, nhà cung cấp, thị trường kinh doanh xe, xu hướng tiêu dùng hiện tại… Bên cạnh đó, sản phẩm cho vay mua xe máy cũng là một loại sản phẩm khá phổ biến với người dân Giá trị của khoản vay nhỏ, thời gian trả nợ nhanh, do vậy khi triển khai mở rộng loại sản phẩm này sẽ thu hút được nhiều đối tượng khách hàng

Thứ tư, một số sản phẩm khác như cho vay tiêu dùng trả góp, Sở giao

dịch I có thể liên kết với các công ty lớn, siêu thị, khi khách hàng mua đồ dùng nội thất hay điện máy tại công ty hay siêu thị liên kết với ngân hàng sẽ được hưởng lãi suất 100% cho khách hàng khi vay tại Sở giao dịch trong năm đầu tiên Từ năm thứ hai trở đi, khách hàng được tài trợ lãi suất là 50% một giá trị đơn hàng và năm thứ ba trở đi khách hàng sẽ tự trả lãi suất Với việc đa dạng hoá sản phẩm, Sở giao dịch tăng doanh thu, lợi nhuận mà còn đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Thứ năm, mở rộng sản phẩm cho vay tín chấp Đây là sản phẩm đang

được các ngân hàng chú trọng phát triển, đối tượng khách hàng được hướng đến

là CBCNV của các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn Hà nội, với mức thu nhập hàng tháng là 2 đến 3 triệu, có thể vay tối đa 200 triệu, với mức lãi suất cạnh tranh Đây là một sản phẩm mới đối với thị trường Việt Nam, song lại là sản

Ngày đăng: 07/10/2013, 16:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w