Theo quyết định số 33/HĐBT ngày 13/11/1981 và Chỉ thị bổsung số 125/HĐBT ngày 2/6/1983 của Hội Đồng Bộ Trưởng nay là Chính Phủ về việc tổ chức triển lãm thành tựu kinh tế kỹ thuật Việt N
Trang 1THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM HỘI CHỢ
TRIỂN LÃM VIỆT NAM
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRUNG TÂM HỘI CHỢ TRIỂN LÃM VIỆT NAM (VEFAC)
1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
VEFAC là Trung tâm Hội chợ Triển lãm quốc gia Việt nam, được thànhlập theo quyết định 06/HĐBT ngày 18/1/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay làChính phủ) là một đơn vị trực thuộc Bộ Văn hoá-Thông tin Hoạt động theophương thức lấy thu bù chi, có con dấu và tài khoản tiền Việt nam và ngoại tệtại Ngân hàng
Trụ sở đặt tại khu Triển lãm Giảng Võ - đường Giảng Võ, Quận Ba Đình,
Hà nội
Tên giao dịch quốc tế: VIETNAM EXHIBITION - FAIR CENTRE
Viết tắt: VEFAC
1.1 Từ năm 1975 đến 1981.
Khu Triển lãm Giảng Võ được Nhà nước khởi công xây dựng từ năm
1962, nhưng do chiến tranh nên cho đến sau ngày giải phóng miền Nam, Tổngcục Thông tin mới đước nhận bàn giao và giao cho khu Triển lãm Trung Ương(thuộc Tổng Cục Thông tin) quản lý và tổ chức hoạt động
Trong giai đoạn này hoạt động chủ yếu là tổ chức các cuộc triển lãm vềchính trị nhằm tuyên truyền biểu dương thắng lợi của dân tộc, động viên tàinăng sáng tạo trong lao động, sản xuất và chiến đấu, khuyến khích động viênnhân dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội vàbảo vệ tổ quốc
Về kinh phí hoàn toàn do Nhà nước cấp
Cuộc triển lãm lớn đầu tiên tại Giảng Võ được khai mạc nhân dịch ngàyquốc khánh 2-9-1975 với chủ đề "30 năm thành lập nước Việt Nam dân chủcộng hoà", tiếp theo là triển lãm "Nước Việt Nam là một" tổ chức năm 1976,chào mừng sự kiện bầu cử Quốc hội chung của đất nước Việt Nam thống nhất,triển lãm "Chiến thắng Trung Quốc xâm lược" tổ chức tháng 4/1979 phản ánh
âm mưu bành trướng bá quyền của ngoại xâm và cuộc chiến đấu anh dũng củaquân dân ta chống trả cuộc xâm lược biên giới phía Bắc vào tháng 2/1979 Một
Trang 2số triển lãm lớn của nước ngoài theo hiệp ước trao đổi và hợp tác văn hoá như:
"Nghề cá Liên Xô", "Địa chất Liên Xô" cũng được tổ chức tại đây
1.2 Từ năm 1982 - 1989
Đây là giai đoạn của các Hội chợ - Triển lãm về thành tựu kinh tế, kỹthuật toàn quốc Theo quyết định số 33/HĐBT ngày 13/11/1981 và Chỉ thị bổsung số 125/HĐBT ngày 2/6/1983 của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Chính Phủ)
về việc tổ chức triển lãm thành tựu kinh tế kỹ thuật Việt Nam.Nhà nước chủtrương "Xây dựng Trung tâm Triển lãm Giảng Võ thành một Trung tâm hoạtđộng kinh tế kỹ thuật thường xuyên, tổ chức định kỳ hàng năm các cuộc hội chợtriển lãm tổng hợp của cả nước, nhằm tạo điều kiện cho các nghành, các địaphương trong cả nước và khách quốc tế đến trưng bày, giao dịch, ký kết hợpđồng kinh tế (Trích chỉ thị 153/HĐBT)
Chính vì vậy, Trung tâm Triển lãm Giảng Võ được đổi tên thành Trungtâm Triển lãm thành tựu kinh tế kỹ thuật Việt nam (1982)
Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau các cuộc hội chợ triển lãm quốc giakhông được tổ chức định kỳ hàng năm mà phải 2 năm một lần, đó là:
+ Triển lãm thành tự kinh tế kỹ thuật Việt nam lần thứ nhất (22/3/1982 1/6/1982) chào mừng Đại hội V
+ Triển lãm thành tựu kinh tế kỹ thuật Việt nam lần thứ hai (1/11/1982 15/2/1983)
+ Hội chợ Triển lãm kinh tế kỹ thuật Việt nam lần thứ nhất (30/12/1983 29/2/1984)
+ Hội chợ Triển lãm kinh tế kỹ thuật Việt nam lần thứ hai (2/9/1985 29/2/1984) chào mừng 40 năm thành lập nước
+ Hội chợ Triển lãm kinh tế kỹ thuật Việt nam lần thứ ba (5/12/1986 31/1/1987) chào mừng Đại hội VI
+ Hội chợ Triển lãm kinh tế kỹ thuật Việt nam lần thứ tư (1/10/1988 15/11/1988)
-Các cuộc hội chợ triển lãm trên đều nhằm mục đích biểu dương thànhtích của các ngành, các địa phương, thúc đẩy phong trào thi đua cải tiến kỹthuật, chất lượng, khuyến khích phát triển các ngành nghề truyền thống, đẩymạnh sản xuất hàng xuất khẩu
Trang 3Trong bối cảnh khi đất nước vừa thống nhất sau nhiều năm chia cắt, nềnkinh tế hai miền phát triển không đồng đều, những cuộc hội chợ triển lãm nóitrên là nơi giao lưu thông tin, mở ra khả năng hợp tác, ký kết hợp đồng muabán, trao đổi nguyên liệu, sản phẩm và công nghệ, liên kết liên doanh trongnước Bạn bè nước ngoài cũng có dịp được biết về bức tranh toàn cảnh của nềnkinh tế Việt Nam, bước đầu tạo điều kiện để tìm hiểu, thăm dò và đi đến nhữngbước phát triển làm ăn cho những năm sau.
Ngoài những Hội chợ-Triển lãm nói trên, trong giai đoạn này còn có một
số cuộc triển lãm chuyên đề được tổ chức tại Giảng Võ như "40 năm bảo vệchính quyền cách mạng" do Bộ Nội vụ phối hợp tổ chức, "Hội chợ triển lãm HàNội" chào mừng 30 năm giải phóng thủ đô (10/1984) do Uỷ ban nhân dân thànhphố Hà Nội tổ chức "Hội thi triển lãm tuổi trẻ sáng tạo" do Trung ương đoànthanh niên phối hợp tổ chức, Hội thi triển lãm thủ công mỹ nghệ toàn quốc(1986) ,Triển lãm quốc gia Liên Xô (10/1987) tổ chức vào dịp kỷ niệm 70 nămcách mạng tháng 10
Về chi phí hoạt động của Trung tâm triển lãm thành tựu kinh tế kỹ thuậtViệt Nam trong thời kỳ này vẫn hoàn toàn được Nhà nước bao cấp, mỗi cuộcHCTL toàn quốc, Ngân sách Nhà nước phải chi rất lớn, nếu cả ngân sách Nhànước ở các tỉnh, thành phố và các bộ nghành cấp để tổ chức các gian hàng thamgia hội chợ thì chi phí thật khổng lồ Để phục vụ nhiệm vụ chính trị không baogiờ có hoạch toán mà sẵn sàng chi bằng mọi giá
1.3 Giai đoạn 1990 đến nay
Theo Quyết định 06/HĐBT ngày 18/1/1989 của Hội đồng Bộ trưởng,Trung tâm được mang tên "Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt nam", là một đơn
vị kinh doanh độc lập trực thuộc Bộ Văn hoá-Thông tin, hoạt động theo phươngthức hoạch toán kinh doanh lấy thu bù chi và có trách nhiệm nộp các khoản thuếcho ngân sách Nhà nước
2.CHỨC NĂNG
Trung tâm Hội chợ Triển lãm là một Trung tâm quốc gia của Nhà nước,
có chức năng là một công cụ của Nhà nước, thông qua việc tổ chức hoạt độngHội chợ Triển lãm để thông tin về kinh tế, kỹ thuật, tuyên truyền cổ động giáodục về chính trị tư tưởng, kích thích phát triển sản xuất, mở rộng quan hệ kinh
tế, thương mại trong nước và quốc tế, giới thiệu, xúc tiến hoạt động đầu tư vàđáp ứng nhu cầu về văn hoá xã hội cho nhân dân
Trang 4Trung tâm Hội chợ Triển lãm là một doanh nghiệp Nhà nước hoạch toánkinh tế độc lập.
3 NHIỆM VỤ CỦA TRUNG TÂM HỘI CHỢ TRIỂN LÃM
- Chuyển sang một cơ chế hoạt động mới, cơ chế thị trường Trung tâmHội chợ Triển lãm xác định cho mình tính chất mới, quy mô và hình thức hoạtđộng mới, phát triển các cuộc hội chợ triển lãm cả về số lượng và chất lượng
- Lấy các doanh nghiệp Nhà nước và các thành phần kinh tế khác làm đốitượng phục vụ chủ yếu, từng bước có chính sách khuyến khích các doanhnghiệp sử dụng hội chợ triển lãm như một công cụ không thể thiếu trong quátrình sản xuất kinh doanh
- Lấy việc thúc đẩy sản xuất trong nước, xúc tiến giao lưu kinh tế và tăngcường các hoạt động hợp tác đầu tư trong nước và quốc tế làm mục tiêu hoạtđộng Mặt khác, tổ chức các cuộc hội chợ triển lãm mang tính thương mại, đồngthời Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt nam cung không quên tổ chức các cuộctriển lãm chính trị, văn hoá xã hội, văn hoá nghệ thuật góp phần vào sự nghiệpchung của cả nước
- Mở rộng các mối quan hệ quốc tế, phát triển thị trường, đảm bảo cânbằng thu chi và hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước và có lãi, nâng cao đờisống người lao động
- Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, từng bước hiện đại hoáTrung tâm, xây dựng đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn cao để đáp ứngyêu cầu phát triển và hội nhập của doanh nghiệp trong điều kiện mới
Trang 5- Chi nhánh Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt nam tại TP Hồ Chí Minh.
Ngoài ra Trung tâm còn có một số đại lý và đại diện của mình ở nướcngoài như: Pháp, Đức, Nhật, Hồng kông, Thailan, Singapo, Hàn quốc, Trungquốc, Ba lan
Phương thức tổ chức bộ máy quản lý:
- Giám đốc quản lý các phòng ban theo chức năng của phòng ban đó
Nhận xét:
Hiện nay, phương thức quản lý này là phù hợp với đặc điểm của đơn vị:
- Quyết định được truyền trực tiếp đến từng phòng ban và các phòng banthể hiện được tinh thần tự chủ, phát huy được nội lực của mình
- Tạo được mối quan hệ toàn diện giữa các phòng ban với nhau
- Các Phó tổng giám đốc giữ vai trò tham mưu cho Tổng giám đốc, từ đóchia xẻ bớt gánh nặng công việc cho Tổng giám đốc
Trang 76 NHÂN SỰ
Biểu 1: Kết cấu nhõn sự của TTHCTL VN
Số nhõn sự(người)
Trong số cỏn bộ cụng nhõn viờn ở Trung tõm cú trỡnh độ Đại học và sauĐại học chiếm khoảng 40% Ngoài ra là tốt nghiệp Cao đẳng, Trung cấp Điều
đú được thể hiện ở biểu đồ dưới đõy:
Biểu đồ 1: Tỷ lệ cán bộ nhân viên có trình độ ở Trung tâm
Để đỏp ứng nhu cầu ngày càng cao, Trung tõm Hội chợ Triển lóm Việtnam đó cú chủ trương chớnh sỏch khuyến khớch, tạo điều kiện cho nhõn viờn củamỡnh nõng cao trỡnh độ như: mời giỏo viờn Ngoại ngữ, trang bị thờm kiến thức
Trang 8sử dụng máy vi tính Vừa qua Trung tâm đã có danh sách 6 người sang bồidưỡng tại Đức về "Quy hoạch và Tổ chức Hội chợ chuyên đề" vào tháng12/2000.
7 CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CÁC PHÒNG BAN TRONG TRUNG TÂM HỘI CHỢ TRIỂN LÃM
Trang 9- Cung cấp các dịch vụ tổng hợp: cho thuê phòng họp, hội thảo, hội nghị,đám cưới
- Cho thuê văn phòng, ki ốt, cửa hàng
- Tổ chức, ký kết các hợp đồng biểu diễn văn hoá, văn nghệ
7.9 Phòng Bảo vệ:
Đảm bảo an ninh trật tự, bảo vệ an toàn tài sản của Trung tâm trước,trong và sau hội chợ triển lãm Đảm bảo an toàn hang hoá cho khách tham dựhội chợ
8 CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM HỘI CHỢ TRIỂN LÃM VIỆT NAM
Cũng như hầu hết các doanh nghiệp tồn tại trong thời kỳ bao cấp, việc tổchức hội chợ - triển lãm trong điều kiện kinh tế thị trường là một thử thách rấtlớn và Trung tâm Hội chợ Triển lãm đã gặp không ít khó khăn Dưói sự quản lýcủa Bộ Văn hoá Thông tin, Trung tâm Hội chợ Triển lãm đã kịp thời đề ranhững chủ trương hoạt động:
- Tổ chức kinh doanh trong hoạt động hội chợ, triển lãm trong nước vàquốc tế
- Cùng với các đơn vị tổ chức các hội thảo, hội nghị trong nước và quốc tế
- Tổ chức các hoạt động văn hoá nghệ thuật, thể thao vui chơi giải trí chonhân dân trong khu vực hội chợ triển lãm Việt nam
- Tổ chức thực hiện các loại hình quảng cáo, quản lý và khai thác kinhdoanh thông tin trên mạng Internet
Trang 10- Duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng, dần từng bước hiện đại hoá Trungtâm đạt tiêu chuẩn quốc tế.
II TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC HỘI CHỢ TRIỂN LÃM TẠI TRUNG TÂM HỘI CHỢ TRIỂN LÃM VIỆT NAM.
1 TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG NỀN KINH TẾ.
Tối đa hoá lợi nhuận là một trong những mục tiêu hàng đầu của cácdoanh nghiệp kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, mọi doanh nghiệpmuốn tồn tại và phát triển thì phải dựa vào tiềm lực và sự khôn ngoan của chínhmình Nhưng cái đích của mọi doanh nghiệp đều là những khách hàng, mọi bộphận, mọi chức năng của doanh nghiệp hoạt động đều hướng tới đích ưu tiênnày: Đó là thoả mãn khách hàng Thoả mãn được khách hàng cũng có nghĩa làdoanh nghiệp tiêu thụ được sản phẩm
Môi trường nền kinh tế bao gồm những nhân tố mà doanh nghiệp khônglàm chủ được nhưng phải biết phân tích, nghiên cứu, dự báo để hướng hoạtđộng kinh doanh của mình theo chiều hướng có lợi nhất Mọi nhân tố trong môitrường nền kinh tế đều có những ảnh hưởng đến thị trường của doanh nghiệptuỳ theo tính chất từng lĩnh vực hoạt động
1.1 Môi trường văn hoá-xã hội.
Tổ chức kinh doanh hoạt động trong môi trường xã hội nhất định Xã hội
là nguồn cung cấp các nguồn nhân lực mà doanh nghiệp cần và tiêu thụ nhữnghàng hoá dịch vụ do nó sản xuất Các yếu tố của môi trường xã hội gồm có dân
số, thu nhập, lứa tuổi, giới tính, mức sống và các điều kiện giáo dục đào tạo.Nắm bắt được những đặc điểm ảnh hưởng của môi trường xã hội tới hoạt độngcủa doanh nghiệp sẽ giúp xác định được những khách hàng tiềm năng, sức mua
và cách thức quyết định của họ Chẳng hạn như nắm vững mật độ dân cư, mứcthu nhập bình quân, nhà doanh nghiệp có thể quyết định phát triển chi nhánh tạinhững khu dân cư, bán sản phẩm dịch vụ ngay tại nơi đặt chi nhánh Trongnhững năm gần đây, thu nhập của người dân được nâng cao, sức mua tăng lên
rõ rệt, làm gia tăng nhu cầu đối với các loại hàng hoá, dịch vụ do các doanhnghiệp cung cấp
Trình độ dân trí, hiểu biết của người dân tăng lên làm ảnh hưởng đếncách thức mua sắm của người tiêu dùng và làm chuyển dịch nhu cầu tiêu dùngđối với nhiều loại hàng hoá và dịch vụ Nhu cầu tìm hiểu về các đặc tính sảnphẩm, tận tay tận mắt đánh giá so sánh các sản phẩm để lựa chọn tiêu dùngcũng tăng lên theo trình độ hiểu biết
Trang 111.2 Môi trường công nghệ.
Ngày nay, có lẽ công nghệ là nguồn thay đổi năng động nhất trong kinhdoanh Sự thay đổi này mang lại những thách thức cũng như những đe doạ đốivới nhà doanh nghiệp Những sản phẩm mới thay thế những sản phẩm cũ diễn
ra rất nhanh và thường xuyên Tự động hoá và điện toán hoá đã làm thay đổiphương pháp làm việc của con người trong các văn phòng và xưởng máy Trongthời gian qua khoa học và công nghệ của nước ta đã có những bước phát triểnmới Chúng ta đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trong
sự nghiệp đổi mới và phát triển của nước ta, về khoa học tự nhiên và công nghệ
đã chú trọng hơn việc nghiên cứu ứng dụng tập trung vào các lĩnh vực côngnghệ ưu tiên như vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin Việcứng dụng các kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ tiến bộ vào sản xuấtkinh doanh được đẩy mạnh hơn trước
1.3 Môi trường kinh tế.
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội do Đại hội Đảng lần thứ VIII thôngqua tiếp tục khẳng định tiến trình đổi mới, phát triển kinh tế, xây dựng CNXH ởnước ta: "tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyếtnhững vấn đề bức xúc trong xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đờisống của nhân dân, nâng cao tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vữngchắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ sau" (Văn kiện đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VIII) Đến nay, chúng ta đã đạt được nhiều thành công vềkinh tế và ngoại giao, nước ta giữ được mức tăng trưởng cao về kinh tế, là thànhviên năng động trong khối ASEAN, tham gia ASEM và APEC, đặc biệt ViệtNam đang tích cực xúc tiến việc gia nhập chính thức vào WTO Mặc khác ViệtNam còn nhận được những khoản tài trợ chính cho những dự án phát triển cơ sở
hạ tầng từ các định chế tài chính quốc tế như WB, IMF, ADB Mặc dù cònnhiều khó khăn trên con đường đi tới thịnh vượng nhưng giờ đây thế và lực củanền kinh tế nước ta rất vững chắc
1.5 Môi trường cạnh tranh
Trang 12Trong một vài năm gần đây, sự gia tăng về số lượng các doanh nghiệptham gia kinh doanh trong lĩnh vực hội chợ triển lãm đã làm cho tính chất cạnhtranh trong nghành trở nên căng thẳng và phức tạp Do cường độ cạnh tranh lớn
đã làm cho thị phần lĩnh vực hội chợ triển lãm bị xé nhỏ Để đối phó với tìnhhình này doanh nghiệp cần phải nắm bắt được những thông tin về đối thủ, phântích được lợi thế cũng như điểm yếu của họ để từ đó đề ra những chến lược phùhợp Đồng thời cũng cần có những kiến nghị đối với cơ quan có chức năng chấnchỉnh lại tình trạng hoạt động của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này tạo rahành lang pháp lý hoạt động
2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC HỘI CHỢ TRIỂN LÃM TRONG VÀI NĂM GẦN ĐÂY.
1.1 Hoạt động hội chợ triển lãm.
Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế kéotheo sự gia tăng của hoạt động hội chợ triển lãm, trong đó hội chợ triển lãmthương mại chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động kinh doanh của Trung tâm Cáchoạt động này đã và đang phát triển và có xu hướng phản ánh ngày càng nhiềuhơn tới lĩnh vực kinh tế kỹ thuật Trong 10 năm qua Trung tâm Hội chợ Triểnlãm Việt Nam đã tổ chức và tham gia nhiều hội chợ triển lãm thương mại cầnthiết cho sự phát triển kinh tế
Biểu 2: Kết quả tổ chức các cuộc hội chợ triển lãm
Đơn vị tính: lầnNăm Số lượng Triển lãm Hội chợ Tốc dộ phát
Việc tăng lên không chỉ về số lượng các cuộc hội chợ triển lãm nói chung
mà còn ở số lượng các cuộc hội chợ triển lãm có quốc tế tham gia và chuyên đềquốc tế tại Việt Nam là dấu hiệu đáng mừng cho những thành công trong côngtác tổ chức của Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam
Trang 13Về hội chợ trong nước và trong nước có sự tham gia của quốc tế Trungtâm đã chú trọng phát triển và tổ chức được nhiều cuộc hội chợ triển lãm mangtính định kỳ hàng năm góp phần vào việc xúc tiến thương mại, thu hút được mộtlượng lớn khách tham quan và khách trưng bày, phát triển mạnh mẽ về quy môcủa các cuộc hội chợ này thực sự trở thành môi trường cho nhu cầu giao lưuhợp tác thương mại trong nước và quốc tế.
Cụ thể hàng năm Trung tâm vẫn thường tổ chức hội chợ hàng côngnghiệp, một trong những cuộc hội chợ có quy mô lớn nhất được tổ chức thườngxuyên ở Việt Nam trong những năm gần đây Tại hội chợ này thu hút nhiềukhách tham dự trong nước và quốc tế, cùng khách tham quan Mỗi năm số đó lạităng lên đánh dấu những thành công quan trọng và hiệu quả tổ chức năm saucao hơn năm trước của Trung tâm Khách tham gia vào hội chợ này đã thực sựtìm được cho mình một môi trường thuận lợi để giao lưu thương mại, theo đó gátrị hợp đồng được ký kết trong hội chợ có khi lên tới vài trăm triệu Doanh thu
mà Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam thu được từ cuộc hội chợ triển lãmhàng công nghiệp cũng rất lớn thông thường chiếm tới 1/4 doanh thu cả năm Ta
có thể thấy được sự tăng trưởng trong công tác tổ chức hội chợ hàng côngnghiệp qua biểu sau:
Biểu 3: Số lượng khách tham gia và khách tham quan trong Hội chợ hàng công
nghiệp
Stt Tên hội chợ Số đv trong
nước thamgia
Số đv nướcngoài thamgia
Kháchtham quan(người)
Trang 14Xuân ngày nay không những thu hút và phục vụ cho đông đảo công chúng thủ
đô mà còn thu hút những đối tượng ở nơi khác khi có dịp đều muốn ghé thăm,điều đó phần nào thể hiện từ sự tăng trưởng vượt bậc về số lượng khách thămquan như trong biểu sau:
Trang 15Biểu 4: Số lượng khách tham gia và khách thăm quan hội chợ Xuân.
Stt Tên hội chợ Số đv trong
nước tham gia
Khách thămquan (người)
Hội chợ Xuân được tổ chức hàng năm mục đích phục vụ nhân dân đón tết
cổ truyền, thực chất hội chợ này mang tính truyền thống dân tộc, hàng hoá trưngbày và bán đa phần là những hàng hoá phục vụ cho những nhu cầu tiêu dùngđược sản xuất ở trong nước như: Bánh kẹo, mứt tết, hàng may mặc Một sốhàng hoá do nuớc ngoài sản xuất được đem đến thông qua các nhà đại lý, bán lẻ
ở Việt Nam
Hội chợ hàng tiêu dùng được tổ chức được tổ chức liên tục hàng năm vẫnchưa khẳng định được vai trò của nó Thực chất đây là một lĩnh vực rất quantrọng trong đời sống kinh tế đã được Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Namtìm hiểu và đề cập tới nhưng chưa quấn hút thật nhiều khách hàng trong nướctham gia Tuy là hội chợ hàng tiêu dùng nhưng lượng người tiêu dùng đến thămquan không lớn Tình hình đó là do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng nóichung thực tế vẫn phản ánh đúng tình trạng sản xuất và thị truờng chung, cũngkhông loại trừ khả năng thu hút khách hàng của Ban tổ chức và những hội chợcùng chủ đề hàng tiêu dùng được tổ chức nhiều trong năm do các đơn vị tổ chứchội chợ triển lãm khác nhau thực hiện
Bên cạnh đó, Trung tâm đã tổ chức đuợc rất nhiều các cuộc hội chợ triểnlãm chuyên nghành, tổng hợp, quốc tế, trong nước và địa phương với nhữngquy mô, tầm cỡ khác nhau đáp ứng được nhu cầu của nhiều nghành, nhiều lĩnhvực Điều đó thể hiện qua biểu 5 và 6 như sau:
Biểu 5: Số lượng đơn vị tham gia trong một số hội chợ
Stt Loại hội chợ Số đơn vị tham gia
Trang 17Biểu 6: Số lượng đơnvị tham gia trong một số triển lãm
Stt Loại triển lãm Số đơn vị tham gia
và phát triển kinh tế đối ngoại Đã ký kết nhiều hợp đồng hợp tác với nhiều đơn
vị tổ chức hội chợ triển lãm của hơn 20 nước Châu Á,Châu Âu, Châu Mỹ Thiếtlập nhiều đại lý, đại diện Mỗi năm Trung tâm tổ chức ngày càng nhiều số cuộchội chợ triển lãm, hội thảo hội nghị quốc tế và thu hút số lượng lớn khách quốc
tế làm việc trao đổi thông tin kinh tế xã hội Đó là sự khẳng định vượt bậc vềvai trò đóng góp trong quá trình hợp tác đầu tư vào Việt Nam, học tập tìm hiểu
và chuyển giao công nghệ
Đến nay Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam đã tổ chức định kỳ hàngnăm cho các hội chợ:
- Hội chợ quốc tế hàng công nghiệp từ năm 1993
- Hội chợ Xuân từ năm 1991
- Hội chợ Hàng tiêu dùng từ năm 1995
- Hội chợ thời trang
Ngoài ra Trung tâm còn phối hợp với các Bộ, nghành, các tổ chức quốc tế
và trong nước tổ chức định kỳ hàng năm hoặc 2 năm 1 lần các cuộc hội chợtriển lãm:
- Hội chợ Thương mại quốc tế (EXPO) với VINEXAD
- Triển lãm Viễn thông TELECOM
- Triển lãm máy móc xây dựng, khai thác mỏ HANNOVER
Trang 18- Triển lãm y tế quốc tế với GIMA Đức
- Hội chợ mùa Thu
- Triển lãm Tuần lễ tin học
Ngoài các cuộc hội chợ triển lãm định kỳ, hàng năm căn cứ vào nhu cầu
và điều kiện cụ thể, Trung tâm tổ chức hoặc phối hợp với các Bộ, Nghành tổchức nhiều hội chợ triển lãm khác như:
- Hội chợ Môi trường
- Triển lãm Hoá chất
- Triển lãm thiết bị y tế
- Triển lãm nông nghiệp
- Triển lãm xây dựng
- Hội chợ mùa thu Hữu nghị Lạng sơn 98
Quy mô của các cuộc hội chợ triển lãm phụ thuộc chủ yếu vào chủ đề vànội dung của nó Hiện nay, Trung tâm có 4 khu nhà chính A1, A2, A3 và A9với tổng diện tích 12000m2 dùng để làm các khu trưng bày, các hội chợ và triểnlãm định kỳ, tổng hợp thường có quy mô lớn như Hội chợ Quốc tế hàng Côngnghiệp, Hội chợ Xuân,Hội chợ EXPO sử dụng hết 4 khu trưng bày vad hàngnghìn m2 diện tích ngoài trời Trong khi đó, các hội chợ triển lãm chuyênnghành thường chỉ sử dụng nhà A1 hoặc A2
Về chất lượng hội chợ triển lãm, Trung tâm Hội chợ Triển lãm được đánhgiá là một trong những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hội chợ triển lãm có chấtlượng và uy tín nhất ở Việt Nam dựa trên các chỉ tiêu: Cơ sở vật chất, giá cả,chất lượng dàn dựng gian hàng, chất lượng các dịch vụ ngoại vi và phong cách
Trang 19- Từ năm 1998 Trung tâm hội chợ triển lãm Việt Nam là một trong nhữngđầu mối khai thác và cho thuê dịch vụ mạng thông tin Internet.
3 ĐÁNH GIÁ VỀ KHẢ NĂNG TỔ CHỨC HỘI CHỢ TRIỂN LÃM CỦA TRUNG TÂM
Với mục tiêu tổ chức được nhiều cuộc hội chợ triển lãm với quy mô ngàycàng lớn, chất lượng không ngừng được nâng cao nhằm đáp ứng nhu cầu của thịtrường, yêu cầu phát triển của nền kinh tế đất nước trong điều kện mới Trongnhững năm qua Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam đã thực hiện tốt nhữnghoạt động chính của mình, số lượng các cuộc hội chợ triển lãm tăng liên tụctheo từng năm, quy mô ngày càng lớn hơn, chất lượng liên tục được cải tiến, uytín tổ chức được tăng cao, doanh thu và đời sống người lao động được đảm bảo
Có được kết quả như vậy là nhờ Trung tâm đã không ngừng nâng cao cải tiếnchất lượng nội dung tổ chức của hoạt động này thông qua một số chính sách cụthể
3.1 Chính sách tiếp thị:
Tiếp thị là một khâu quan trọng và tốn công sức trong kết quả của hoạtđộng hội chợ triển lãm Tiếp thị trong hội chợ triển lãm là nhằm truyền tải thôngtin một cách nhanh chóng, đầy đủ, chính xác đến khách hàng, tư vấn và thuyếtphục để khách hàng tham gia Trung tâm thực hiện chính sách này thông quanhiều biện pháp và hình thức:
+ Giao cho phòng hội chợ triển lãm-bộ phận chức năng, khảo sát thịtrường, lên kế hoạch tổ chức, đến trực tiếp các doanh nghiệp quảng cáo và mờikhách hàng
+ Thiết lập các văn phòng đại diện ở nước ngoài và các thành phố lớntrong nước như: VEFAC Sài gòn, Văn phòng đại diện cho các tỉnh phía Nam,đại diện ở các nước Pháp, Đức, Nga, Hàn Quốc, Ba lan, Hồng Kông
+ Thiết lập một hệ thống công tác viên chuyên mời khách tham gia cáccuộc hội chợ triển lãm do Trung tâm tổ chức
+ Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng như: Báo nhân dân,Việt Nam news, báo Lao động, Đài truyền hình Việt Nam, các tạp chí kinh tế,Diễn đàn doanh nghiệp, Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, trên mạngInternet